VĂN CHƯƠNG LÃNG MẠN PHÁP : ALPHONSE DE LAMARTINE (DƯƠNG TỬ)

 Lãng đãng trong văn chương. Nguồn internet.

Lãng đãng trong văn chương. Nguồn internet.

                           

Giai đoạn CỔ ĐIỂN (CLASSISISME) kéo dài, với những quan niệm, những luật lệ gò bó, chật hẹp , khiến cho văn chương, suốt hằng thế kỷ, thui chột, không phát triển được, phải đợi đến khi Cách Mạng 1789 bùng nổ tại Pháp, đem lại một luồng gió mới trong sinh hoạt văn chương tại đây. Những quan niệm, những luật lệ cũ như:

     -“Cái tôi đáng ghét” (Le moi est haissable) “xưa” quá rồi, giờ đây người ta đua nhau “nói”, “viết” về cái tôi, “càng thầm kín” bao nhiêu, càng éo le, càng rắc rối bao nhiêu , càng được “hoan nghênh”, “trọng vọng” bấy nhiêu.  Đó là một trong những đặc điểm của nền văn chương mới: ”NỀN VĂN CHƯƠNG LÃNG MẠN”

      -“Qui tắc tam qui ” (règle des trois unités) cũng không còn ai coi trọng nữa. Trong văn chương “kiển đổ” (cổ điển), một sự việc bắt buộc phải tuân theo 3 qui tắc: qui tắc “thời gian” ( règle de temps), nghĩa là không quá 24 giờ, qui tắc ”địa điểm”(règle de lieu) câu chuyện phải  xảy ra cùng một nơi chốn nhất định và qui tắc “chủ điểm“ (règle d’action), phải có một chủ đề duy nhất, không được có nhiều chủ đề cùng một lúc.

     Sau nầy, quả là có sự lạm dụng, người ta viết lung tung, lang tang, từ ngày nầy đến ngày khác, từ nơi nầy đến nơi khác, chưa hết chuyện nầy lại đến chuyện khác, càng “rối rắm” càng tốt, vì trên thực tế, thì cuộc đời không đơn giản mà cũng rắc rối như thế! 

     Đấy, giai đoạn “tự do” của thời “LÃNG MẠN, cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là như thế và 4 cây bút cột trụ của Thời kỳ văn học nầy của nước Pháp (theo thứ tự năm sanh)

         -ALPHONSE DE LAMARTINE (1790-1869)

         -ALFRED DE VIGNY ( 1797-1863)

         -VICTOR HUGO ( 1802- 1885)

         -ALFRED DE MUSSET ( 1810-1857)                 

ALPHONSE DE LAMARTINE:

        Alphonse de LAMARTINE mở đầu cho Phong trào Văn chương Lãng mạn Pháp cuối thế kỷ XIX với Tập thơ MÉDITATIONS POÉTIQUES (Mặc Niệm Thi Ca) năm 1820, với 24 thi phẩm tuyệt tác  mà  tiêu biểu là bài thứ 10:  Ode de Bourget tức LE LAC (Cái Hồ), thuộc loại tự truyện (autobiographique), Ông thuật lại chính kỷ niệm của Ông, khi dùng Đại danh từ “ta”, chi tiết mới mẻ nầy đưa Ông lên hàng Khai sáng ( précurseur) của Phong trào thi ca lãng mạn Pháp (Romantisme francais)

           1/ SƠ LƯỢC TIỂU SỬ TÁC GIẢ  (BIOGRAPHY) Lamartine có tên đầy đủ là Alphonse Marie Louis de Prat de LAMARTINE, Knight of Pratz , dài dòng như thế nên thường được gọi tắt là LAMARTINE. Ông sinh ngày 21/10/1790 tại Mâcon, Burgundy (Loire-Saône Dépt), cách PARIS  393 km về phía Đông –Nam (gần thành phố LYON), trong một gia đình Quý tộc Địa phương, không giàu lớn, thuở nhỏ sống ở Làng Milly, gần Mâcon, sau nầy khi phải bán ngôi nhà nầy đi, để thanh toán nợ nần, tránh bankrupsy, ông rất luyến tiếc và sáng tác thi phẩm “Milly Terre Natale’ với tình lưu luyến rất cảm động, được nhiều người khen:

              “Objets inanimés. avez-vous donc une âme? qui s’attache à notre âme et la force d’aimer”   (Hởi các vật vô tri, các người có linh hồn không? đã quyến luyến linh hồn chúng ta và làm chúng ta thương yêu các người)

       Ông theo học với các Thầy Dòng và có ₫ược một nền học vấn tiếng Anh và một nền giáo dục tôn giáo cổ điển, vững chắc. Tài năng về thi ca và chánh trị ở Ông phát triển rất sớm.

      Những năm 1811, 1812 nhân chuyến viếng thăm nước Ý, qua các thành phố Florence, Rome, Naples, Ông có yêu một thiếu nữ tên là Antoniella mà sau nầy Ông nhắc đến trong tác phẩm Graziella, cũng như những năm 1815, 1816 trong lúc có các xáo trộn chánh trị “100 Ngày” (Cent Jours ) do Napoléon Bonaparte cầm đầu, mong chiếm lại binh quyền, nhưng bại trận Waterloo Nam Bruxelles và thoái vị lần II)  Ông lánh mặt ở Thụy sĩ và Miền Savoie, phía Nam nước Pháp, rồi tình cờ cứu được người đẹp Julie Charles tức Elvire đắm thuyền ở Aix-les-Bains,  cách  Hồ Bourget 10 km, nơi có suối nước nóng cho người bệnh đến đó nghỉ  dưỡng bệnh. Julie Charles là vợ Bác sĩ danh tiếng Jacques Charles, vì bận việc chữa trị bệnh nhân, đã để cho vợ đi  một mình dưỡng bệnh phổi. Định mệnh trớ trêu khíến xảy  ra tai nạn đắm thuyền, một cơn gió mạnh nổi lên thình lình khiến thuyền của Nàng bị lất úp, may mắn lại được thi sĩ Lamartine cứu vớt. Định mệnh đã sắp đặt cho “tài tử gặp giai nhân”: một mối tình đẹp đẻ, cao thượng, lý  tưởng, trong sáng, thánh thiện (spirituel, pur, angélique) nhưng ngắn ngủi nẩy nở giữa 2 người, là đề tài của tuyệt tác phẩm Ode de Bourget tức LE LAC mà chúng ta sẽ phân tích ở phần sau. Đây là một mối tình cao đẹp , lý tưởng, “yêu để mà yêu”, không tầm thường là “yêu để được yêu”:

         “Aimer pour être aimé, c’est de l’homme, mais aimer pour aimer, c’est presque de l’ange” ( Yêu để được yêu là thường tình của người đời, nhưng yêu để mà yêu là tình yêu thánh thiện)    

       Ông vừa là một văn thi sĩ có tài, vừa là một nhà chánh trị nổi tiếng. Về văn tài, năm 1820. Ông cho xuất bản Tập thơ Méditations Poétiques gồm 24 thi phẩm, nổi bật là bài thứ 10 “Ode de Bourget” tức Le Lac (the Lake, Cái Hồ), danh tiếng Ông nổi lên như cồn và với việc “tự thuật tình cảm của mình”, khác với quan niệm cổ điểncho là “Le moi est haissable”  (Cái tôi đáng ghét ) . Ông được xem như  Người khai Sáng nền Văn Chương lãng mạn của Thế kỷ XIX tại Pháp, xứng đáng là  bậc Thầy của thế hệ trẻ. Xin nói thêm một chút về “mối tình thánh thiện” nầy, có gì tội lổi không khi một người đàn bà “ngoại tình”? và quyến rủ người đàn bà có chồng? Trước sự bùng nổ Cách Mạng 1789, và sự bùng nổ tư tưởng tự do trong xã hội & trong văn chương, tình yêu cũng được cởi trói: việc quyến rủ nhau, dù đã có gia đnh, được xem là ‘một thời thượng”.

 Không ai kết tội một người đàn bà sang trọng, quí phái ngoại tình. Trong tác phẩm “Princesse de Clèves, Hầu tước de Nemours dù biết Bá Tước de Clèves đã có chồng, vẫn ngày đêm săn đuổi, chiếm cho kỳ được trái tim của Nàng. Trong Madame Bovary, Bà Emma cô đơn vì Ông chồng Dược sĩ mãi lo bào chế dược phẩm, chữa bệnh cho thiên hạ mà quên chữa bệnh cô đơn cho vợ mình, nên bị bà nhà tặng cho mấy cập sừng to, hết Rodolphe rồi Léon, và sau cùng tự tử, không phải vì hối hận, mà vì nhàm chán cuộc đời. Truy tố Gustave Flaubert, tác giả, ra Tòa vì tội “công xúc tu sĩ”, Ông tự biện hộ tỉnh bơ: ”Tôi tin rằng mọi người đàn bà đều ngoại tình, sự khác nhau là có cơ hội hay không!”. Người ta đua nhau tổ chức các cuộc vui chơi, các salons littéraires, các salons de thé, de danse để mời mọc nhau, rủ rê, “đú đởn” với nhau, từ chối không đến dự là bất lịch sự, thiếu văn hóa, thiếu “quí phái’ “Noblesse oglige mà!”. Có ai kết tội Geoges SAND khi bà ngả vào vòng tay của tên Bác sĩ tâm thần, lắm bạc, nhiều tài quyến rủ đàn bà không, khi chữa bệnh cho A. De Musset? Xem việc nầy như “tự nhiên “là vậy”. Người đàn ông ‘bị cặm sừng phải tự nhận sự thua kém, sự bất tài, vô tướng của mình, phải biết nhịn nhục, câm nín, che đậy. Làm tùm lum ra “xấu thiếp hổ chàng”.

       Xin trở lại trường hợp của Lamartine: không ai kết tội mối tình của Ông với bà Julie Charles cả, mà trái lại người ta còn khen, còn say mê đọc tự truyện của Ông. Về sau, Ông kết hôn với bà Marie Ann Birch và bắt đầu tham gia những hoạt động chính trị, cùng lúc tiếp tục sáng tác văn nghệ.

     Năm 1825 Ông được đề cử chức vụ Sécrétaire đ’Ambassade tại Fl orence, nhưng lại không được chức vụ Ministre de 1   France.

Năm 1829, Ông được bầu vào Viện Hàn Lâm (Académie), năm 1833, Ông được bầu làm Dân Biểu. Ông liên kết với Nhóm “Bảo Hoàng THÁNG BẢY” (Monarchie de JUILLET). Cái  chết của ái nữ của Ông là đề tài sáng tác tác phẩm Gethsémani và làm xáo trộn niềm tin tôn giáo của Ông .

      Năm 1833, Ông đắc cử Dân biểu. Càng ngày Ông càng Thiên tả và năm 1848 trở thành Thủ lãnh Cộng Hòa, làm Bộ trưởng Ngoại giao và là người bênh vực cho lá cờ Tam Tài (xanh, trắng, đỏ).  Có một thờigian ngắn vài tuần lễ, Ông gần như “làm chủ” cả nước Pháp, nhưng không  thực thi được chính sách cởi mở vì Quốc hội Bảo thủ và ngày 24 tháng sáu Quốc hội bầu Tướng Cavaignac, Ông nầy dẹp tan Cách Mạng. Tháng 12, Lamartine ra tranh cử Chức vụ TỔNG THỐNG, nhưng tỉ lệ phiếu quá ít chấm dứt sự nghiệp chính trị của Ông.

         Từ năm 1850,  những ngày cuối đời, ở tuổi 60,  Ông sống gần như bị lãng quên., trong sự túng thiếu, vì tiền tranh cử và in sách,  Book after book, thậm chí có lúc phải viết Cours Familier de Littéreture 1856-1869 (Bài Giảng về văn vân chương ) để trả nợ và năm 1860  Ông phải đau  lòng bán đi tài sản ỏ Milly.

        Ông mất ngày 28/2/1869 tại PARIS,  thọ 79 tuổi.   
 

             2/ VĂN NGHIỆP :  Bibliography

- Saul 1818)

- Méditations Poétiques (son premier recueil lyrique gôm 24 thi phẩm trong đó có bài LE LAC) nói về cuộc tình của Ông với Elvire tức Julie Charles làm cho Ông nổi tiếng.-- Nouvelles Méditations (1823)

- Le dernier chant du pelerinage d’Hatold, Gethsumani, Milly la terre natale (1825)

- Harmonies poétiquesreligieuses (1830)  -- Sur la politique rationelle (1831 -- Voyage en ORIENT (1835) -- Joselyn 1836) -- Chute d’un ange 1838)

- Recueillements poétiques (1839)  -- Histoires des Girondins (1847) -- Histoire de la Révolution (1849)  -- L’histoire de la Russie (1849)  -- Raphael (1849)

- Cofidences (1849)  -- Geneviève (Histoire d’une servante 1851)  - Graziella (1852)  trong đó Ông có nhắc đến mốt tình của Ông với Antoniella.

- Les visions (1853)  -- Histoire de la Turquie (1854)

- Cours familier de Littérature ( 1856-1869) Năm 1850, 60 tuổi, Ông mắc nợ nhiều,  Theo tài liệu thì Ông viết “để trừ nợ vào cuối đời để chống lại việc

 “phá sản (bankrupsy)  do nợ nầng tranh cử và xuầt bản sách, livre après livre: Anta, Bossuet, Cristophe Colomb, Ciceron, Cromwell, Fénelon, Guillaume tell, Héloise & Abelard, Homère & Socrate, Jacquard, Jeanne d’Arc, Mme de Sevigny, Nelson, Nouvelles Confidences., Regina, Rustem, Toussaint Louverture...

       Tểng kết về Thi phẩm thì Lamartine 87, Alfred de Musset 98, Paul Verlaine 194, Alfred de Vigny 28 tác phẩm. A. De Vigny thuộc phái Khắc Kỷ (Stoicisme) Ông viết rất ít. Nổi tiếng nhất là bài La mort du Loup thuật lại cảnh Chó Sói Đầu đàn đã anh dũng chiến đấu chống lại bầy chó săn để bảo vệ bầy đến hơi thở cuối cùng

                                “Gémir, pleurer, prier, est également lâche

                               Fais énergiquement ta longue et lourde tâche

                               Dans la voie òu le sort a voulu t’appeler

                               Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler!”

                               ( Rên rỉ, khóc than, van xin, đều là hèn nhát cả

                               Hãy cương quyết thực hiện nhiệm vụ lâu dài và nặng nề

                               Trên con đường mà định mệnh đã kêu gọi anh

                                Và rồi sau đó hắt hơi & nhắm mắt, không một lời)

Và Bài Sonnet d’Arvers, chỉ một tác phẩm làm tác giả nổi danh

                               “Mon âme a son secret, ma vie a sa mystère

                                Un amour éternel en un moment concu...”

                                Le mal est sans espoirainsi j’ai du me taire

                                Et celle qui l’a fait n’en a jamais rien su....(à suivre)

                                “ Lòng ta chôn một mối tình

                                Tình trong giây phút mà thành thiên thu...     

                                    Tình tuyệt vọng, nỗi thảm sầu

                                 Mà người gieo thảm như hầu không hay ..(còn tiếp)

L EL A C


 

       “Hồ có nhớ, một chiều êm ả

              Ta với nàng thong thả dong thuyền

        Giữa trời mây nước mông mênh

              Con thuyền lên xuống bập bềnh du dương

              Mái chèo phu trạo nhẹ nương

              Vổ trên sóng nước chập chờn thanh âm”. 

PHÂN TÍCH 

    1/ Nguyên nhân sáng tác: Năm 1816, là một nhà thơ và một chính khách nổi tiếng, để lánh mặt trước những biến cố chính trí của Cuộc Cách mạng Pháp, Lamartine tạm lánh mặt về Miền Nam nước Pháp, Miền  SAVOIE, sát ranh giới Thụy sĩ, nơi có nhiều hồ đẹp dưới chân dãy núi Alpes hùng vĩ, như Hồ Bourget, dài 18 km, rộng 45 km2, cách Paris độ 550 km và hồ Aix-les-bains , cách hồ Bourget 10 km, có suối nước nóng, là nơi nghỉ mát, dưỡng bệnh, tình cờ Ông cứu được một mênh phụ trẻ đẹp, đến đây nghỉ dưỡng bệnh phổi, pneumonie, bị đắm thuyền, là Julie Charles, phu nhân của một Bác sĩ danh tiếng Jacques Charles.Hai người yêu nhau bằng một mối tình giai nhân tài tử, cao thượng, tinh thần (spirituel), cùng nhau  du ngoạn khắp mặt hồ, suốt kỳ nghỉ Hè, nhưng rồi Nàng phải trở về nhà, hẹn năm sau tái ngộ. Cũng nên nói rõ, đây là một trong những mối tình thời thượng của giới quí tộc lúc bấy giờ: một cái mode, người trong cuộc không thấy tội lỗi, người ngoài cũng không khắ khe, yêu để mà yêu, giữa đôi trai tài gái sắc, xóa bỏ những ràng buộc vô lý trước đây. Biết người ta có chồng, vẫn theo ve vãng một cách tự nhiên, người chồng hãnh diện khi vợ mình được người ta ve vãn, không thấy khó chịu hay nếu có khó chịu thì cũnh giữ kin vì thể diện, thời thượng mà, không ai lên án về việc ngoại tình cả. Trong tiểu thuyết, Mme  Bovary, Bà EMMA  liên tiệp cắm sừng lên đầu chồng, hết ngoại tình với Rodolphe rồi đến Léon, rốt cuộc rồi tự tử, không phải vì hối hận mà vì chán chường với cuộc sống buông thả của mình . Hầu tước De Nemours biết Nữ Bá tước De Clèves đã có chồng mà vẫn cứ đeo đuỗi, tán tỉnh cho bằng được. Ngoài đời, Nữ sĩ George SAND ngoại tình với tên BS tâm thần đang chữa bệnh cho Musset, Khiến Musset buồn bực sống bê tha rượu chè, trai gái khiến sự nghiệp văn chương tuột dóc luôn!. Ôi! “Đa tình thiên cổ lụy!”

     Tháng 8 năm 1817 thi sĩ đa tình nôn nóng trở lại nơi hen, đợi hoài không thấy giai nhân, tưởng đâu mình bị phụ bạc, buồn bực, đau khổ:

                                                 “Un seul être vous manque et tout est dépeuplé” Vắng một người, vũ trụ hóa hư không.

      Nhưng 4 tháng sau được tin Nàng đau phổi nặng không đến nơi hẹn đượcvà mất tháng 12/1817.  Thi sĩ bèn làm thơ thương tiếc người yêu, trách định mệnh phủ phàn, và kêu gọi thiên nhiên chứng giám cho mối tình của mình.

        2/ Phân tích bài thơ  Bài thơ gồm có 64 câu alexandrin chia làm 16 đoạn, mỗi đoạn 4 câu, toàn bộ chia làm 4 phần:

                 -Phần 1 : đoạn đầu:

   Triết lý về NHÂN SINH: Con người sống trên cõi đời nầy , trong cõi thời gian, không gian mênh mông, ví như một chiêc thuyền con trôi    bồng bềnh trên biển đêm, cứ bị đưa đấy trên sóng nước không biết đâu là bến bờ, có muốn ngừng lại cũng không được, có muốn thốilui cũng không được . Le constat douloureux de la fuite du temps, sự trôi qua nhanh của thời gian đôi khi thật sự làm con người đau khổ, nhất là những ai đanghạnh phúc

     Khi nói về thời gian , người ta thường dùng những từ như “obession du temps”, “irrésistible” để chỉ sự ‘không cưởng lại được”

            “L’homme n’a point de port ,le temps n’a point de rive, il coule et nous passons” ( Thế gian không bến, thời gian không bờ )

                                        -Phần 2: 3 đoạn kế tiếp :  

       Cảnh hồ vắng vẻ khi tác giả trở lại Hồ một mình, không người yêu và cảnh cũ của Hồ khi 2 người còn bên nhau. Lời phân trần của tác giả với cái Hồ được nhân cách hóa (personnification)

                 -Phằn 3 : 5 đoạn kế tiếp:

     Lời van xin của Elvire (Julie Charles) với THỜI GIAN hãy chậm lại, ngừng lại cho đôi nhân tình được hưởng phút giây hạnh phúc của họ và hãy qua mau, trôi nhanh hơn đối với những người đang khổ đau để họ sớm thoát khỏi sự đau khổ mà họ phải chịu, nhưng vô vọng., thời gian vẫn trôi qua, đi qua, cùng một vận tối đối với mọi người!.  Vậy hãy tận hưởng hạnh phúc đang có vì: “Thế nhân không bến, thời gian không bờ” ( il coule et nous passons)

                -Phần còn lại : 7 đoạn cuối: Le pouvoir de la nature, trên cả con người và thời gian

     Khi nói đến “nature”, người ta thường dùng những  từ như “refuge” nơi trú ẩn, “cadre du bonheur” khung của hạnh phúc, “conservstion d’une trace” sự gìn giữ một dấu tích...

      Lời người nam: Tác giả LAMARTINE: Như thế thì làm thế nào giữ lại dấu vết đã qua? Chỉ có thiên nhiên là không thay đổi ( quan niệm Á đông cũng vậy: thiên nhiên y cựu tại, kỷ độ bạch dương hồng) Vậy hãy nhờ cảnh trí của Hồ, đá, nước, sóng, cây rừng, hang động, gió, , sao trời, lao sậy, hãy chứng kiến và ghi nhớ “dùm”

Kỷ niệm đẹp đẻ của hai người yêu nhau hôm nay. Chỉ khi thốt lên được lời “gởi gắm” đó, tác giả mới có được sự “an ủi” (consolation) trong tâm hồn.

  NGUYÊN BẢN TIẾNG PHÁP (WIKIPEDIA) và BẢN TẠM DỊCH RA TIẾNG VIỆT                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                         LE LAC HỒ (tạm thoát dịch từ hồi còn là Sinh Viên)                         

Ainsi, toujours poussés vers de nouveaux rivages,               Cứ như thế, thuyền trôi đi mãi

Dans la nuit éternelle emportés sans retour,                       Trong đêm dài, trở lại được sao
Ne pourrons-nous jamais sur l'océan des ages                     Bể thời gian, một ngày nào
Jeter l'ancre un seul jour ?                                                 Thế nhân mơ được cắm sào được chăng?

Ô lac ! l'année à peine a fini sa carrière,                              Hồ hởi! Năm qua Hồ có nhớ?       
Et près des flots chéris qu'elle devait revoir,                        Bến nước xưa, trở lại mình ta! 
Regarde ! je viens seul m'asseoir sur cette pierre                 Ngồi lên phiến đá xót xa

Où tu la vis s'asseoir !                                                        Năm xưa Hồ thấy đôi ta cùng ngồi.

Tu mugissais ainsi sous ces roches profondes,                      Đá sâu thẳm mặc Hồ gào thét
Ainsi tu te brisais sur leurs flancs déchirés,                          Đập cho tan sóng cả của mình.
Ainsi le vent jetait l'écume de tes ondes                               Gió lùa bọt nước mông mênh   
Sur ses pieds adorés.                                                          Phủ lên tràn ngập đôi chân tôn thờ.                                                

Un soir, t'en souvient-il ? nous voguions en silence ;             Hồ nhớ chăng, chiều nao êm ả
On n'entendait au loin, sur l'onde et sous les cieux,               Ta với Nàng lặng lẽ bên nhau
Que le bruit des rameurs qui frappaient en cadence              Trạo phu đập nhẹ mái chèo

Tes flots harmonieux.                                                         Nhịp nhàng sóng nước, dạt dào tình yêu!  

Tout à coup des accents inconnus à la terre                           Bổng mặt Hồ lắng nghe say đắm
Du rivage charmé frappèrent les échos ;                               Bến bờ kia vang dội âm thanh

Le flot fut attentif, et la voix qui m'est chère                         Vang lên từ cõi xa xăm                                                                                                                                                                                        Laissa tomber ces mots                                                       Giọng Nàng xa lạ vượt tầm thế gian

" Ô temps ! suspends ton vol, et vous, heures propices !        “Thời gian ơi! Hãy ngừng ngay lại!
Suspendez votre cours :                                                      Hãy ngừng bay, ngừng lại đi thôi!   
Laissez-nous savourer les rapides délices                              Quên đi hạnh phúc chúng tôi
Des plus beaux de nos jours !                                              Xin cho tận hưởng cuộc đời thần tiên!
 

" Assez de malheureux ici-bas vous implorent,                       Đời lắm kể đau thương, vô phúc                                           
Coulez, coulez pour eux ;                                                     Hãy trôi đi, mang hết khổ đau
Prenez avec leurs jours les soins qui les dévorent ;                 Quên đi nhữnh kẻ yêu nhau
Oubliez les heureux.                                                             Cuộc đời say đấm dạt dào tình thương!

" Mais je demande en vain quelques moments encore,             Nhưng ta đã van xin vô ích
Le temps m'échappe et fuit ;                                                 Thời gian trôi, thoát khỏi tầm tay!   
Je dis à cette nuit : Sois plus lente ; et l'aurore                       Bóng đêm nhường chỗ ban mai
Va dissiper la nuit.                                                                Vầng hồng ló dạng, cố nài uổng công!

" Aimons donc, aimons donc ! de l'heure fugitive,                    Hãy tận hưởng ngày xuân ngắn ngủi
Hâtons-nous, jouissons !                                                       Hãy yêu nhau vội vã đi thôi!
L'homme n'a point de port, le temps n'a point de rive ;            Yêu nhau kẻo lại dỡ dang
Il coule, et nous passons ! "                                                  Thế nhân không bến, thời gian không bờ!

Temps jaloux, se peut-il que ces moments d'ivresse,               Thời gian hởi, ghét ghen chi lắm?
Où l'amour à longs flots nous verse le bonheur,                       Khổ hay vui vận tốc như nhau
S'envolent loin de nous de la même vitesse                             Không hề phân biệt trước sau
Que les jours de malheur ?                                                    Vui hay buồn chẳng bên nào nhanh hơn!
 

Eh quoi ! n'en pourrons-nous fixer au moins la trace ?              Vậy xin hãy cùng ghi dấu tích           
Quoi ! passés pour jamais ! quoi ! tout entiers perdus !             Đã trải qua giây phút bên nhau.

Ce temps qui les donna, ce temps qui les efface,                      Chôn vùi nào trả ta đâu
Ne nous les rendra plus !                                                        Thời gian thăm thẳm một màu lãng quên!

Éternité, néant, passé, sombres abîmes,                                   Nào vĩnh cữu, hư không, quá khứ           
Que faites-vous des jours que vous engloutissez ?                     Có bao giờ trả lại cho ta
Parlez : nous rendrez-vous ces extases sublimes                        Phút giây thêu dệt gấm hoa
Que vous nous ravissez ?                                                         Nhẫn tâm chiếm đoạt, xóa nhòa thiên thu!
 

Ô lac ! rochers muets ! grottes ! forêt obscure !                         Đá thầm lặng, động hang sâu thẳm                               
Vous, que le temps épargne ou qu'il peut rajeunir,                     Mà thời gian không thể chuyển lai

Gardez de cette nuit, gardez, belle nature,                                Cùng nhau ghi lại đêm nay     
Au moins le souvenir !                                                             Ít ra là kỷ niệm nầy đừng quên.

Qu'il soit dans ton repos, qu'il soit dans tes orages,                    Dù trong cảnh Hồ êm, sóng lặng
Beau lac, et dans l'aspect de tes riants coteaux,                         Hay trong cơn mưa bão gió bùng
Et dans ces noirs sapins, et dans ces rocs sauvages                   Rừng thông đồi núi đẹp xinh
Qui pendent sur tes eaux .                                                       Hay là đá mõm nghiêng mình soi gương       

Qu'il soit dans le zéphyr qui frémit et qui passe,                         Dù trong lúc gió Tây thoang thoảng
Dans les bruits de tes bords par tes bords répétés,                     Trong âm thanh vang dội bờ hồ
Dans l'astre au front d'argent qui blanchit ta surface                   Trong muôn tinh tú dất dờ
De ses molles clartés.                                                               Dịu soi ánh sáng mập mờ thâu đêm.         

Que le vent qui gémit, le roseau qui soupire,                               Gió rên rỉ bên bờ lau lách

Que les parfums légers de ton air embaumé,                               Hương nhe nhàng tản mác hồ gương

Que tout ce qu’ on entend, l'on voit ou l'on respire,                      Hòa ca điệp khúc núi rừng:
Tout dise : Ils ont aimé !                                                           “Nơi đây đôi lứa đã từng yêu nhau!”

 
Alphonse de Lamartine - Les Méditations poétiques GHI CHÚ: Vì đây là một thi phẩm nổi tiếng, cho nên có nhiều dịch gỉả cố dịch ra tiếng Việt như

Tô Giang Tử, Nguyễn Quang Nhạ, Trần Mai Châu, Hà Bỉnh Trung, Lê Lãng Nhân, Ctycha Đái Đức Tuấn, Bùi Thạnh,...xin mời quý vị tìm đọc và so sánh,

Mỗi bản dịch có một sắc thái riêng, có điều “viết thì dễ mà dịch thì khó”: “tác giả dị dịch giả nan”  

 

CITATIONS (QUOTATION)

    1/Parfois, un seul être vous manque et tout est dépeuplé (Sometimes, only one persone is missing and the whole world seems depopulated)                                            

   2/ Limité dans sa nature, infini est son désir, l’homme est un Dieu tombé du ciel rememberant le paradis (Limited in his nature, infinite in his desire,

 man is a fallen God who remembers heaven)

   3/ Aimer pour être aimé est humain, mais aimer pour aimer, est angélique! ( To love for the sake of being loved is human, but to love for the sake of

Loving is angelic)

     4/ De tes pas, je baise la poussière ( I kisse the dust of your steps). Cỏ mòn thơm mãi gót chân Em- Anh muốn Anh làm tấm thảm nhung, để bước chân

Em khỏi lạnh lùng!

     5/ Une conscience sans Dieu est un tribunalsans juge ( Aconscience without God is like a court without a judge)

      6/ Aimer pour être aimé, c’est de l’homme, mais aimer pour aimer, c’est de l’ange (To love for the sake of being loved, it’s of man, but to love for the

sake of loving, it’s of ange)

     7/ Objets inanimés, avez-vous donc une ăme qui s’attache à notre âme et la force d’aimer? ( Inanimate objects, do you have a soul which binds to ours

And oblige to love it?)

     8/  Brutalité envers ainmal is crualité pour l’homme. La seule différence est en la victime! (Brutality to an animal is crualty to mankind,

It is only the difference in the victim )

     9/ Il y a une femme au debut de toute grande chose ( There is a woman at the begining of all great things)

    10/L’expérience est la seule prophétie des hommes savants ( Experience is the only prophecy of wise men)

    11/ La douleur tricote deux coeurs plus proche relations que le bonheur peut faire; les douleurs communes attachnt plus fortement que

Les communes joies (Grief knits two hearts in closer bonds than happiness ever can; and common sufferings are far stronger links than

common joys).

     12/ A mesure que je vois les .(bêtises, stupidités, bagatelles...quoi? ).. des représentatifs du peuple, j’admire mon chien ) The more I see

the silliness, the stupidity, mere trifle) .. of the representatives of the people, the more I admire my dog)    

       14/ Providence se cache, se dissimule, dans les détails des affaires humaines, mais devient présente dans les grandes évenements

 , généralités , de l’histoirePtovidence coceals itselt in the details of human affairs, but becomes unveiled in the generalities of histoty)

BẢN DỊCH RA TIẾNG ANH

   Bản dịch nầy tôi copy from WIKIPEDIA, sẽ giúp cho độc giả và cả tôi hiểu rõ hơn Bản chính, nhất là quý vị và các Bạn học nhiều Anh ngữ và

Ít có dịp trao dồi Pháp ngữ có phần nào kém thông dụng và kém cấp thiốt hơn. Tuy nhiên cũng xin nhắc Quý Bạn nền văn chương Pháp là một trong những nền văn chương đẹp nhất và có lâu đời nhất nà hy vọng những bài viết của tôi về VICTOR HUGO, LAMARTINE, ALFRED DE MUSSET,

GEORGES SAND,  FRANCOISE SAGAN, ...sẽ giúp quý Bạn có thêm được một vài khái niệm về nền văn chương của TÂN TỔNG THỐNGMACRON

THE LAKE

So driven onward to new shores forever,
Into the night eternal swept away,
Upon the sea of time can we not ever
Drop anchor for one day?

O Lake! Scarce has a single year coursed past.
To waves that she was meant to see again,
I come alone to sit upon this stone
You saw her sit on then.

You lowed just so below those plunging cliffs.
Just so you broke about their riven flanks.
Just so the wind flung your spray forth to wash
Her feet which graced your banks.

Recall the evening we sailed out in silence?
On waves beneath the skies, afar and wide,
Naught but the rowers' rhythmic oars we heard
Stroking your tuneful tide.

Then of a sudden tones untold on earth,
Resounded round the sounding spellbound sea.
The tide attended; and I heard these words
From the voice dear to me:

Pause in your trek O Time! Pause in your flight,
Favorable hours, and stay!
Let us enjoy the transient delight
That fills our fairest day.

Unhappy crowds cry out to you in prayers.
Flow, Time, and set them free.
Run through their days and through their ravening cares!
But leave the happy be.

In vain I pray the hours to linger on
And Time slips into flight.
I tell this night: "Be slower!" and the dawn
Undoes the raveled night. 

Let's love, then! Love, and feel while feel we can
The moment on its run.
There is no shore of Time, no port of Man.
It flows, and we go on. 

Covetous Time! Our mighty drunken moments
When love pours forth huge floods of happiness;
Can it be true that they depart no faster
Than days of wretchedness? 

Why can we not keep some trace at the least? 
Gone wholly? Lost forever in the black?
Will Time that gave them, Time that now elides them
Never once bring them back?

Eternity, naught, past, dark gulfs: what do
You do with days of ours which you devour?
Speak! Shall you not bring back those things sublime?
Return the raptured hour?

O Lake, caves, silent cliffs and darkling wood, 
Whom Time has spared or can restore to light,
Beautiful Nature, let there live at least
The memory of that night:

Let it be in your stills and in your storms,
Fair Lake, in your cavorting sloping sides,
In the black pine trees, in the savage rocks
That hang above your tides;

Let it be in the breeze that stirs and passes,
In sounds resounding shore to shore each night,
In the star's silver countenance that glances
Your surface with soft light.

Let the deep keening winds, the sighing reeds,
Let the light balm you blow through cliff and grove,
Let all that is beheld or heard or breathed
Say only "they did love."

    Dĩ nhiên đây không phải là viên ngọc quý duy nhất của nền văn chương PHÁP, chúng ta sẽ tìm ra những viên ngọc khác như TRISTESSE D’OLYMPIO

của Văn hào VICTOR HUGO , SOUVENIR của ALFRED DE MUSSET, LES FEUILLES D’AUTOMNE de JACQUES PRÉVERT, L’ ISOLEMENT, SONNET d’ ALEXIS

 FELIX ARVERS, dù chỉ một bài thơ đã đưa Ông lên đài vinh quang!...   

                                                                                                                                                                          D Ư Ơ N G   T Ử

               ( May 25 ,2017)