• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

KHOẢNG CÁCH GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI ( Nghiêm Hữu Hùng)

October 8, 2026 Ninh Tran

KHOẢNG CÁCH GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI

Xin gửi câu hỏi này tới các bạn may mắn, suốt cuộc đời được sống an lành:

- Có chắc là "giữ mười giới là để đem lại cuộc sống an vui cho mình và cho người” không?

Đối với cá nhân tôi thì khoảng cách giữa Đạo và Đời hình như cũng khá xa. Câu chuyện dưới đây, tôi đã kể cho vài người nghe rồi thôi, vì chỉ muốn quên đi… cho đến khi được đọc lời giảng:

Mười Giới hay Thập Thiện Giới:

Thiện là lành. Giới là ngăn ngừa, là giải thoát, nghĩa là giữ được giới nào thì giải thoát được giới đó. Mục đích giữ mười giới là để đem lại cuộc sống an vui cho mình và cho người.

Mười điều lành gồm: 1) Không sát sanh; 2) Không trộm cướp; 3) Không tà dâm; 4) Không nói dối; 5) Không nói lưỡi hai chiều 6) Không nói lời hung ác; 7) Không nói lời hoa mỹ để lừa gạt; 8) Không Tham dục; 9) Không sân hận; và 10) Không tà kiến.

Ngày còn học Y Khoa, tôi gặp khá nhiều rắc rối mỗi khi đi thực tập ở khu Sản Khoa, vì một lý do duy nhất:

Tự quyết định nhất quyết không làm công việc “phá thai”, dù thời đó ở miền Nam Việt Nam chỉ cho phép làm “therapeutic abortion” với sự đồng thuận có chữ ký cuả 3 vị Thầy (Bác Sĩ Trưởng Khoa, Bác Sĩ cố vấn chuyên khoa và Giám Đốc Bệnh Viện), đồng ý phải bỏ thai nhi để cứu mạng sản phụ. Sau đó phân công cho sinh viên trực thực hiện.

Mỗi khi “chẳng may” nhằm phiên trực, tôi lại phải “hầu hạ” và “hối lộ” một ông bạn -không cùng ý nghĩ với mình- giúp đỡ.

Thực ra vào thời đó, tôi không thích việc phá thai cũng chẳng phải do giữ giới “Không Sát Sanh” mà chỉ đơn giản vì cảm thấy không thoải mái, nên không làm.

Nhưng cũng vì tâm nguyện “nhất định không liên quan tới phá thai” mà hậu quả vẫn còn tới ngày hôm nay!

------

Anh chị M., đối với tôi là một cặp vợ chồng có tư cách rất đáng qúy, tôi luôn xem hai người như anh chị ruột của mình.

Anh M., một Phật tử thuần thành, lớn hơn tôi 10 tuổi, tốt nghiệp đại học bên Pháp, là một người sống nhiệt thành vì lý tưởng, lập gia đình trễ, và giữ chức vụ khá lớn thời Việt Nam Cộng Hoà.

Năm 1980, khi mới ở tù cộng sản ra, tôi là người đưa chị M. đến nhà thương sanh con gái đầu lòng - cháu Phương Thanh (tên đã được thay đổi, không phải tên thật)

Từ đó cháu luôn gọi tôi là “bố nuôi”, vì sau khi ra đời, anh M., bố ruột của cháu bị việt cộng kết án 8 năm tù, do viết những tài liệu “phản cách mạng”.

Anh được phóng thích năm 1988 và chết vì bệnh một năm sau đó (1989)

Câu chuyện chẳng có gì đáng nói, nếu năm 1985, sau một lần đi thăm nuôi chồng, chị M. đã đến nhờ tôi dẫn đi bệnh viện để phá thai - hậu quả cuả một vụ ‘cưỡng hiếp tập thể - cuả bọn bộ đội việt cộng đóng trong khu rừng ở vòng đai trại giam chồng mình.

Tôi thật sự bối rối trước quyết định có nên ‘giúp đỡ’ (?) chị hay không. Dù việc phá thai thời đó chẳng khó khăn gì, tất cả các bệnh viện phụ sản: Từ Dũ, Hùng Vương, An Bình (BV Triều Châu cũ) … đều làm rất nhanh chóng và miễn phí, chỉ khoảng nửa giờ là xong, vì đó là “chính sách lớn” của nhà nước cộng sản, chẳng ai mất thì giờ tìm hỏi lý do.

Trong thâm tâm, tôi vẫn nghĩ quyết định phá thai cuả chị là đúng, vì hiểu hoàn cảnh khó khăn của một người phụ nữ mang thai lúc chồng đang ở tù (!). Và lại mang dòng máu cuả một thằng “súc sinh” nào đó!

Sự việc khá giản dị nếu lúc đó tôi đưa chị tới bệnh viện, giới thiệu cho một bác sĩ mà tôi rất thân.

Nhưng, một phần vì trung thành với tâm nguyện “không sát sinh” (dù chỉ là gián tiếp giúp người). Một phần vì muốn biết quyết định cuả “người trong cuộc,” để khỏi mang trách nhiệm về sau, nên tôi đã đi cùng chị M. lên tận trại giam, hỏi ý kiến ông chồng.

Và quyết định của anh M., tuy giúp tôi trút được gánh nặng, vì không muốn trực tiếp hay gián tiếp dính dấp tới việc phá thai, dù có hơi ngạc nhiên xen lẫn với một chút thán phục, khi nghe anh M. nói với vợ: 

“Anh sẽ bỏ qua mọi chuyện. Và dù thế nào vợ chồng mình vẫn nên giữ đứa nhỏ”

Năm 1988, sau khi anh được phóng thích, thỉnh thoảng tôi cũng có ghé thăm anh chị. Chỉ ‘thỉnh thoảng’ thôi, vì không dễ chấp nhận thái độ có vẻ nhỏ nhen cuả mình, chẳng vui vẻ gì mỗi khi nhìn thấy “thằng con hoang”, dù thằng bé phát triển bình thường (?) và vẫn nhận được sự đối xử tốt cuả cha (?) mẹ. Ít nhất là qua thái độ cuả anh.

Riêng với cháu Phương Thanh, tôi vẫn luôn xem cháu như con gái mình, còn với thằng bé này, tôi không hề muốn biết tên và cũng chưa một lần nhìn kỹ nó, chứ đừng nói là vuốt tóc hoặc cho quà.

Sau khi anh M. qua đời vài tháng, cuối năm 1990, trước khi sang Mỹ, tôi có ghé chào chị. Cháu Phương Thanh đã hơn 10 tuổi còn thằng nhóc khoảng 4 tuổi.

Việc liên lạc thưa dần cho tới năm 2001, qua người quen còn ở Sài gòn, tôi nhận được tin chị M. đã mất ở tuổi 56, không rõ lý do. Cháu Phương Thanh đang học Sư Phạm, sắp trở thành cô giáo.

Những tưởng mọi việc rồi sẽ qua đi. Nhưng đến năm 2003, lần đầu tiên tôi nhận được thư từ cháu Phương Thanh, đại ý:

“Chú ơi !  Cháu đã tự tử nhiều lần nhưng không chết vì còn nặng nợ. Cháu viết thư này cho chú, để bày tỏ sự oán hận cuộc đời vì quyết định dựa trên niềm tin sai lầm cuả chú ngày trước! đã không giúp mẹ cháu phá thai, để thằng…X, em cháu sinh ra đời, đã làm tan nát gia đình cháu. Từ năm 15 tuổi, nó sa đà nghiện ngập, phá tan hết của cải, nhiều lần đánh đập mẹ cháu, làm mẹ cháu phải chết trong đau buồn.

Sau khi mẹ cháu chết, không còn ai cản được nó, nên một lần trong cơn say thuốc, nó đã “làm hỗn” với cháu” …

(Chữ “làm hỗn” là chữ tôi viết cho nhẹ bớt câu chuyện đi, vì chữ dùng trong thư nghe “kinh hãi” quá!)

Tôi tự biết mình không bao giờ đủ chữ nghiã để biện minh hay an ủi cháu nên đành giữ im lặng.

Nhưng qua bức thư đó, mới thấy là trong cuộc đời, việc gì cũng có ngoại lệ:

Không nhất thiết “Giữ mười giới để đem lại cuộc sống an vui cho mình và cho người”.

Trong câu chuyện này, những người trong cuộc đã giữ giới “không sát sanh” để ai được an vui?

Giá ngày đó, mọi người đều đồng ý quyết định phá thai (sát sanh?) thì có lẽ cuộc sống gia đình anh chị M. tốt đẹp hơn nhiều.

***

Nhân chuyến về Việt Nam năm 2010, tôi đã thu hết can đảm tìm thăm cháu Phương Thanh tại một ngôi chuà bên Gia Định.

Thật may mắn, “ni cô” Phương Thanh đã tiếp chuyện tôi với vẻ khoan hoà cuả một người tu hành. Phương Thanh cho biết -nhờ ánh sáng của cửa Từ bi- cô đã an tâm tha thứ và quên hết chuyện cũ kể từ khi biết tin thằng em bị công an bắn chết tại Vũng Tàu vì tội ăn cướp.

Có lẽ cho tới ngày hôm nay, tôi chưa từng tự tay giết một sinh vật nào dù nhỏ bé đến đâu.

Nhưng không hiểu sao khi nghe tin một người bị bắn chết mà lòng tôi lại vui đến thế?

Nghiêm Hữu Hùng

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags KHOẢNG CÁCH GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI, Nghiêm Hữu Hùng
1 Comment

Nhân Chuyến Viễn Du Cuối Cùng của Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần (Bác Sĩ Trần Xuân Ninh)

October 1, 2026 Ninh Tran

Đầu tháng 9/2026. Một ngày như mọi ngày?

Buổi sáng mùa thu nắng ấm. Tôi ngồi trước cái laptop mở trước mặt, theo thói quen đọc lướt qua tất cả các  tin tức thư từ nhận được trong đêm hôm trước, đại loại như là:

*Những tường thuật, bình phẩm, thông báo… về Donald Trump từ mạ lỵ đến tâng bốc mà chẳng sao. Những vụ kiện tụng dính dấp đến ông ta kéo dài từ các tòa địa phương đến tối cao pháp viện với hàng đàn luật sư, bồi thẩm đoàn đẩy qua đẩy lại hết tiểu bang đến liên bang chẳng có gì được thi hành với đủ lý cớ. và nay vẫn trở thành lãnh đạo đệ nhất cường quốc thế giới.

*Những lời qua tiếng lại trên mạng giang hồ điện tử  - để chứng tỏ mình trên cơ - giữa đám hậu duệ của bên thua cuộc cũng như thắng cuộc về những danh từ cách mạng tháng 8, về chào mừng quốc khánh mồng 2 tháng 9, về cướp chính quyền, về thế chính thống của đế quốc Việt nam với vua Bảo Đại (bù nhìn) không có sức nên sẵn sàng để bị đớp, và những trao đổi về tuổi già làm sao hưởng đời … làm tôi chợt thấy mình đã qua lâu rồi cái giai đoạn phải biết mũ ni che tai theo lối phân chia cuộc đời của Khổng Tử (1), mà còn để mất thêm thì giờ cho những chuyện tầm phào thì thật chẳng giống ai.

Quả thế, ngồi trước bàn viết nếu nhìn qua cái cửa số phía đông - bên tay phải, mở xuống cái sân nhỏ lát xi măng giới hạn về phía nam bởi cây lê hoa trắng sai quả mà những con sóc thi nhau vừa ăn vừa bỏ không kịp phá hết, về phía bắc bởi cây đào non tuổi hơn trĩu quả ngả rạp xuống đất làm đứa con trai tôi phải dùng mấy thanh gỗ 2’’x 4’’ chống cho khỏi gẫy. Gần cây đào là một cụm cúc nở vàng mùa thu. Trên cái khuỷnh sân nhỏ  xi măng dẫn ra cổng sau nhà đó tôi hay rắc một ít cơm nguội vào những khi nắng ráo để dụ lũ chim sẻ từ đâu đó bay tới - mà lúc đông nhất đếm được 15 con nhẩy qua nhẩy lại nhặt ăn từng hạt và chọc ghẹo nhau. Thảng hoặc có một vũng nước đọng lại sau cơn mưa lớn nhiều giờ khi gặp điều kiện ánh sáng thuận lợi có thể phản chiếu cho thấy một khoảng trời xanh mây trắng thơ mộng. Cho tới nay sau mấy chục năm ở ngôi nhà này chưa bao giờ tôi thấy những cảnh như thế này mà khám phá ra một điều hiển nhiên, là có tìm thì có thấy. Tất cả những thứ này khiến tôi mỗi năm 4 mùa đều có điền kiện để tưởng tượng ra mà hưởng cái thú trong 4 câu thơ cổ chép trên một cái quạt giấy trắng kèm theo mấy cái hình thủy mạc đơn sơ của ông bạn thân phụ tôi: Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì, Thu ẩm hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi (mùa xuân đi chơi cỏ xanh non, mùa hạ ngắm ao hoa xúng xanh, mùa thu uống rượu cúc, mùa đông ngâm thơ tuyết trắng).

Xin mở ngoặc nói ở đây, để cho thấy những xu hướng xã hội chính trị quần chúng Việt Nam đa dạng đa diện, phi Cộng sản trong những vùng Pháp kiểm soát những năm 1947-1954 chứ không như Việt cộng dán nhãn “Việt gian theo Tây” và về sau này xấc láo gọi xách mé là “ngụy” và tưởng thế là hay -  rằng ộng này là một đồng chí thân cận với Lý Đông A đảng trưởng Đại Việt Duy Dân. Khi đảng này bị Việt Minh vây đánh tiêu diệt năm 1947  (để giành độc quyền thống trị theo bản luận cương của Lenin như chính Hồ chí Minh viết ra năm 1921 trong giai đoạn thất cơ lơ vận sống ở Paris)  ông này ở mật khu Nga Sơn Thanh Hóa thì lạc khỏi nhóm Lý đông A, trôi giạt dần ra Hà nội rồi được giới thiệu đến tá túc với gia đình tôi lúc đó ở phố Tô Hiến Thành(Wiélé). Sau một thời gian khoảng trên 1 năm, ông bị đau bệnh nặng, đưa vào nhà thương Bạch Mai vài hôm thì mất. Ông nội tôi dùng một khúc gỗ lim cưa cắt làm bia, khắc tên là Bùi Tiên Tiến tức Nguyễn thế Vinh.

Trong cái khuỷnh thanh thản sống với ký ức đó, tin Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần từ trần đến với tôi từ một đồng nghiệp - Bác Sĩ Ngô Thế Vinh bằng một cái email ngắn ngủi. Thư còn nói  anh Thuần là bạn thân của hai anh em tôi  (Trần Xuân Dũng và tôi). Đồng thời gợi ý tôi viết vài giòng và xin tôi một cái ảnh anh Thuần. Tôi không có ảnh nhưng có một cái khác. Cái khác này anh Thuần đã tặng tôi hôm tôi sang ở Melbourne Úc châu 10 ngày khi Dũng mất cách đây 3 năm. Tôi đã ý thức lúc đó rằng có lẽ đó là chuyến cuối cùng của tôi sang Úc với tổng số đường dài từ thành phố gió(windy city) Chicago bên bờ hồ Michigan trong nhóm Ngũ đại hồ miền Trung Tây Hoa kỳ trên dưới một ngày bay. Thân già ngồi vé-máy-bay-hạng-tiết-kiệm-tối-đa (basic economic) khó mà chịu nổi sự ê càng xẩy đến: đau lưng nhức chân. Cho nên đã  bỏ hai ngày bay lên Brisbane gặp thân hữu xa gần và bạn bè đồng nghiệp như Bác Sĩ Đặng vũ Thúy Doan, Bùi Trọng Cường (ít lâu sau thì mất), và Hà Ngọc Thuần mới ra đi…. Lúc đó anh Thuần đã có vẻ yếu và chậm chạp trông thấy. Tôi chỉ đơn giản nghĩ là vì tuổi già. Anh Thuần đưa cho tôi một tặng phẩm  và nói nhỏ vài câu mà đôi tai già nghễnh ngãng của tôi nghe không rõ.  Đó là bài thơ chữ Hán Nam Quốc Sơn Hà của đại danh tướng Lý Thường Kiệt đời Lý, với kỳ tích bắc phá quân Tầu (nhà Tống), nam bình giặc Chiêm Thành mà anh Thuần chép lại bằng lối chữ thảo. Tôi đã ôm về, thấp thỏm suốt chuyến bay lo lắng mặt kính bị vỡ, hay khung ảnh thiếp vàng trạm lá nguyệt quế (laurier) bị trầy trụa khi có người nặng tay sắp xếp đồ đạc cứng nặng trong hộc hành lý. Chụp lại gửi cho anh NTV kèm với thư này hôm nay xem cho biết. Và hiểu tâm sự người bạn thân của anh em tôi, Hà Ngọc Thuần, muốn nhắn gửi. Nói cho rõ, tôi chỉ có một bạn thân ở cấp trung học phổ thông Chu Văn An mới liên lạc được gần đây. Không có bạn thân nào từ khi lên đại học, vì tôi vốn quả giao. Nhưng những bạn thân của Dũng em tôi (con số chỉ vài ba) mà Thuần là một thì cũng là thân của tôi, vì tôi  coi như người trong gia đình.

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Đại loại dịch ý ra chữ nôm là:

Sông núi nước Nam, vua nước Nam ở,

Phân chia vị trí rõ ràng đã ghi trong sách trời.

Cớ sao các ngươi ngỗ ngược đến xâm phạm,

Chúng bay rồi xem, sẽ chuốc lấy thất bại tan tành.

Theo tôi một chiếc ảnh cho thấy ngoại hình thể chất kể là đẹp nhất nhưng có thể không tự nhiên, do làm dáng làm vẻ lúc chụp. Còn một bài viết trải ra trên giấy phản ảnh trọn vẹn hơn tâm thức con người qua nét chữ và nội dung. Anh Vinh chắc cũng đồng ý và hẳn sẽ hài lòng.

Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà (thủ bút bác sĩ Hà Ngọc Thuần)

Cũng ngạc nhiên vì nghe anh NTV làm tổng thư ký và chủ bút báo Tình Thương. Bởi vì tờ nguyệt san của sinh viên y khoa này ra đời là do tôi khởi động ở giảng đường M1 trường Y khoa đường Trần Quý Cáp trong không khí hưng phấn sau vụ lật đổ tổng thống Ngô đình Diệm  (lúc đó được gọi là Cách mạng 1 tháng 11/1963). Sinh viên tham dự là do em tôi Trần xuân Dũng đang học năm thứ năm y khoa cùng với Hà ngọc Thuần là bạn thân từ hồi đệ ngũ trường Nguyễn Trãi Hà nội triệu tập vì lúc đó tôi đã ra trường. Cử tọa này tuyệt đại đa số là năm thứ ba y khoa, các lớp dưới thì học mờ người không có thì giờ mở mắt vì nếu thi  4 kỳ mà trượt là văng ra khỏi trường. Tôi nhớ không thấy có anh Ngô Thế Vinh. Khi tìm hỏi để viết bài này mới biết  NTV ở lớp nhỏ hơn, không ở trong không khí cách mạng 1 tháng 11/1963. Anh phụ trách tờ Tình Thương khoảng năm 1966 (?)/1968 khi tình hình đất nước có nhiều sôi động và tâm thức con người phức tạp nên tờ Tình thương không tồn tại bao lâu sau đó nữa.

**

Đề nghị tên cho tờ báo tôi đưa ra ban đầu là Thông Xanh, cảm hứng từ đôi câu đối Hán Việt cổ xưa ý nghĩa tuyệt đẹp (đối với một thanh niên mới lớn là tôi): “Hàn  khí tri tùng tiết / Lâm phong thức trúc can”, tạm diễn nghĩa là “Có khí lạnh mới biết cái tiết (hàm ý sức mạnh) của cây thông, Có gió rừng mới thấy gan (hàm ý sự gan lỳ dẻo dai) của cây trúc. Hay là “giữa trời vách đá cheo leo, ai mà chịu rét thì trèo với thông”. Tiếc rằng đám sinh viên chỉ nghĩ đến cái nghề chữa bệnh lấy tiền đúng mức - nghĩa là hành nghề theo những khuyến cáo của Hippocrate, được vẽ ra cụ thể qua nhân vật Angus Duer trong cuốn tiểu thuyết Dr Arrowsmith của Sinclair Lewis. Cũng nói thêm rằng năm 1970 khi  tôi du học Chicago Hoa kỳ có đọc được một khuyến cáo (không nhớ nguyên văn)  trong một tạp chí nhỏ y khoa cho  sinh viên mới nhập học rằng y khoa là một thương nghiệp (business). Khuyến cáo này đã được thi hành trong thực tế. Bởi thế thống kê cho thấy chi phí cho ngành chăm sóc sức khỏe quần chúng ở Hoa kỳ cao  hạng nhất thế giới nhưng kết quả thì ở dưới thấp, thua nhiều nước có chi phí y tế ít hơn.

Phải thú nhận rằng tôi đứng ra thúc đẩy sinh viên Y khoa thành lập tờ nguyệt san Thông Xanh mặc dầu là đã ra trường và học xong lớp huấn luyện quân sự một tháng ở trung tâm huấn luyện Quang Trung cho các bác sĩ trưng tập dân y, đeo lon trung úy chờ ngày đi nhận nhiệm sở ở Kontum, là vì nhiệt tình của một kẻ hăng say mới vào đời muốn duy trì tinh thần tranh đấu dài ngày cho  gia đình sinh viên y khoa. Khác với sự làm đặc san của các trường khác là chuyện nhất thời để thỏa mãn nhu cầu viết lách cá nhân. Tôi nói gia đình vì đã thâm cảm những lời mở đầu bài cơ thể học thứ nhất của vị giáo sư tài danh Nguyễn Hữu mà tôi kính mến. Ông nói khi đã vào trường y khoa thì như trong một gia đình. Người đi trước là anh người đi sau là em nâng đỡ hướng dẫn nhau…

Nhiệt tình đã bùng lên vì bị kích thích bởi những luận cứ báo chí ngoại quốc - và truyền thông VN a tòng theo đó, loan đi rằng ông Ngô đình Diệm gia đình trị và tham nhũng  thối nát, bà Ngô đình Nhu lộng quyền và đồi trụy, trấn áp Phật giáo. (Nghĩ cho cùng theo như truyền thống Việt Nam con người nếu không tin tưởng và dựa vào gia đình thì tin ai và dưa vão đâu). Bằng cớ trước mắt là thượng tọa Thích quảng Đức mà tôi cũng như quần chúng đa số chẳng biết là ai được xe hơi chở tới cho ngồi bất động giữa đường Thái lập Thành chỗ gần tòa đại sứ Cao mên. Rồi có người đến châm lửa vào áo vàng ướt đẫm săng bùng cháy. Truyền thông gọi là Sư “tự thiêu” phản đối đàn áp Phật giáo. Còn bà Nhu lúc đó đang công du ở Mỹ hồ đồ khinh miệt gọi chuyện đó là một vụ "barbecue". Mặt khác cũng hy vọng  chuyện sinh viên ồn ào ủng hộ đảo chính sẽ có hệ quả (nhỏ thôi) là khiến giáo sư Trần đình Đệ giám đốc trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia kiêm Bộ Trưởng Y Tế bớt tác phong quan liêu khó chịu: Trong buổi khám bệnh hàng tuần thì ông khệnh khạng đi trước, vây quanh bởi mấy nữ hộ sinh cao cấp huấn luyện viên thân cận, rồi mới đến các bác sĩ phụ tá và nội trú với sinh viên. Không ngờ là chuyện hy vọng mơ hồ đó đã xẩy ra đúng như thế. Sau cuộc đảo chính giáo sư Đệ ngoài chuyện mất chức bộ trưởng  là vì dính đến chính trị còn bị văng ra khỏi ban giảng huấn trường Y khoa sang tận Phi châu trú ngụ nhiều năm rồi mới âm thầm trở lại sống ở vùng Virginia/Maryland Hoa kỳ nơi nhiều người Việt trung lưu khá giả và các quan chức VNCH sau tháng 4/1975 cư ngụ, cho đến khi từ trần. Tôi chỉ còn biết chép miệng “đời có số”. Nhưng cũng thấm thía rằng còn có yếu tố nhân quả, với duyên: Trường Y Khoa không chỉ có một giáo sư Trần đình Đệ tham chính mà còn có các giáo sư khác làm bộ trưởng mà chẳng hề hấn gì trong những vụ đổi  thay to lớn tương tự như 1 tháng 11/1963

**

Đúng ngày 1 tháng 11/1963 là ngày chấm dứt khóa học 1 tháng quân sự cho các bác sĩ dân y trưng tập trong đó có tôi ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung mà Chỉ Huy Trưởng là tướng Mai Hữu Xuân. Trung tâm mở một tiệc trà khoản đãi các học viên, có tướng Xuân tới tham dự lúc khoảng 11 giờ trưa. Sau ít phút, Tướng Xuân từ biệt. Đang cùng các bạn đồng nghiệp ăn bữa trưa cuối cùng của trung tâm dọn ra trước khi xuất trại thì tôi nghe thấy những tiếng súng nổ bất thường ở phía Sài gòn của cuộc Đảo Chánh (thứ hai) thành công lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng hòa đã dầy công  9 năm xây dựng được một Miền Nam ổn định thịnh vượng xóa bỏ mọi vết tích của thời Nam Kỳ Tự Trị thuộc Pháp.

Chứng kiến cuộc chấm dứt một chế độ 9 năm đã xây dựng nên một miền Nam ổn định bất giác tôi không khỏi nghĩ đến những ngày đầu ở tuổi đủ lớn khôn (18 tuổi) để nhớ rõ giai đoạn chông chênh chuyển tiếp từ vô cùng xáo trộn mọi loại đến yên bình thật sự của Miền Nam. Tôi đã lần đầu tiên được đi máy bay quân sự DC3 chở gia đình lực lượng Bảo An nho nhỏ độc nhất ủng hộ Thủ Tướng Diệm, từ phi trường Gia Lâm trời còn mờ tối một ngày hạ tuần tháng 7/1954. Phong phanh mặc áo sơ mi với quần short. Khi máy bay lên cao phải chịu lạnh hơn 4 tiếng đồng hồ trên trời để sau cùng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt ấm áp như chưa từng thấy và được đưa tới một chỗ tạm trú ở Bình Đông, Miền Nam.  Ngày tết đầu tiên khi tình hình Sài gòn Chợ Lớn thực sự  ổn định khoảng 1955-1956, nhà sản xuất phim ảnh  Mỹ Joseph Leo Mankiewicz đã đến Sài gòn, dùng công trường trước chợ Bến Thành làm hậu cảnh  quay phim. Hai anh em, là Trần xuân Dũng và tôi đã đến xem để biết các tài tử nam nữ đóng phim như thế nào. Thất vọng, vì chỉ thấy máy quay phim và đèn rọi sáng choang.  Trong cơn thất vọng đó thì hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu  cũng đi xem chợ Bến Thành ngày tết, trong đám đông tình cờ đến ngay cạnh anh em tôi, chẳng thấy có hộ vệ súng ống gì cả. Từ bấy đến nay ở nước Mỹ phồn thịnh tự do tổng cộng trước sau hơn nửa thế kỷ, chưa bao giờ tôi có được ấn tượng yên bình thoải mái như thế. Nhưng quy luật trời đất vốn hữu hình thì hữu hoại: Sau cuộc đảo chính 1 tháng 11/1963 tôi đã nhìn thấy hình hai ông Diệm và Nhu nằm chết trên vũng máu trong chiếc xe M113 ngày 2 tháng 11/1963. 

Về cái kết thúc bi thảm này, nhiều năm sau đã có những diễn giải khác nhau từ mọi phía, kể cả từ phía kẻ chủ chốt là Mỹ, với đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. Sang tới Việt Nam Lodge Jr. lập tức diễn tuồng đội khăn đóng mặc áo dài đi thăm dân các tỉnh mua lòng dân chúng. Bên cạnh đó là những sự kiện không mấy ai để ý trong đám tướng tá khác. Như Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa trong chi đội  xe M113 đi bắt hai ông Diệm và Nhu dưới sự điều động của Tướng Mai Hữu Xuân, sau này sang  Mỹ cư trú ở một tiểu bang nhỏ vắng vẻ, yên lặng xuất gia đi tu…

Đến đây thì tôi bật nhớ lại hồi học Chu Văn An Hà nội câu nói của giáo sư Nguyễn Ngọc Cư dậy Việt văn và triết (cụ có cái cục u to sau gáy gần bằng quả cam nên bọn học trò gọi là cụ Cư bướu): Người là chó sói cho người (l’homme, c’est le loup de l’homme).

Trần Xuân Ninh (ngày 29 tháng 9/2026)

(1)Theo Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, cuộc đời con người được chia thành 6 giai đoạn phát triển gắn liền với sự trưởng thành:

  • 15 tuổi (Thập hữu ngũ nhi chí vu học): Để hết tâm trí vào việc học tập, xác định chí hướng và tu dưỡng bản thân.

  • 30 tuổi (Tam thập nhi lập): Vững vàng, tự lập và có chỗ đứng trong xã hội.

  • 40 tuổi (Tứ thập nhi bất hoặc): Trí tuệ mở mang, thấu hiểu sự đời và không còn hoài nghi, mê hoặc trước mọi việc.

  • 50 tuổi (Ngũ thập tri thiên mệnh): Hiểu rõ quy luật của tự nhiên và mệnh trời, biết rõ sứ mệnh của mình trong cuộc đời.

  • 60 tuổi (Lục thập nhi nhĩ thuận): Nghe hiểu mọi chuyện, phán đoán sự việc thông suốt, lòng êm ái và không còn thấy khó chịu hay bực mình trước những lời trái tai.

  • 70 tuổi (Thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ): Đạt đến cảnh giới tự do tâm tính, làm theo mong muốn của bản thân nhưng vẫn tự giác hòa hợp và không vượt quá khuôn phép đạo lý.

**++**

Đúng ngày đảo chánh là ngày tôi vừa cùng các bác sĩ dân y đồng khóa học xong một tháng quân sự ở Tung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Bế mạc huấn luyện  là 11 giờ sáng 1 tháng 11/1963 có một tiệc trà mà ông Tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy trưởng trung tâm tới dự. Sau khi ông Xuân ra đi, lúc chúng tôi  bắt  đầu bữa ăn cơm trưa cuối cùng của khóa huấn luyện thì thấy có tiếng súng nổ phía Sàigon. Thế là cuộc đảo chánh (thứ hai) lật đổ ông Diệm mà dư luận lúc đó  gọi là cuộc cách mạng 1 tháng 11  xẩy ra thành công chấm dứt chế độ đệ nhất VNCH sau 9 năm yên bình ổn định và miền Nam phát triển xóa hẳn những dấu tích một Sài gòn thuộc Pháp. Điều trớ trêu là tôi (tuy bị động, như ếch bị bỏ rọ) ở trong đơn vị của vị tướng quan trọng lúc xẩy ra đảo chính!

**++**

In Thời Sự, Quán Chiếu Tags Nhân Chuyến Viễn Du Cuối Cùng của Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần (Bác Sĩ Trần Xuân Ninh viết)
Comment

GIANG.. VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI (Phạm Sơn Liêm)

September 29, 2026 Ninh Tran

GIANG.. VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI

 Ở Westminster, California, có những con đường mà chỉ cần chạy xe ngang qua, người Việt đã thấy như mình đang trở về một nơi nào đó rất xa.

Trên đường Bushard, những bảng hiệu tiếng Việt chen nhau giữa những cửa tiệm, nhà hàng, tiệm tóc, chợ và quán ăn.Trong một tiệm phở có cái tên nghe rất Mỹ, Phở Holic. Giang làm việc mỗi ngày.

Giang không phải chủ tiệm.

Cũng chẳng phải người nổi tiếng.

Chỉ là một người đứng phía sau quầy, bưng phở, dọn bàn, tính tiền, đôi khi phụ bếp khi khách đông.

Nhưng Giang có một thứ mà không phải ai cũng có.

Đó là khả năng nhìn người.

Giang từng nói:

— Ở đây, nhìn người ta ăn một tô phở là biết được nhiều chuyện lắm.

Người ta tưởng Giang nói đùa.

Không. Giang nói thật. Bởi mỗi ngày, Giang gặp hàng trăm người Việt.

Có người bước vào quán với bộ quần áo sang trọng, đồng hồ đắt tiền, nói chuyện điện thoại bằng tiếng Anh.

Có người đi chiếc xe cũ, ngồi một mình ở góc bàn, gọi đúng một tô phở nhỏ.

Có những ông già ngồi hàng giờ bên ly trà đá, không ăn gì thêm.

Có những bà cụ đi với con cháu, nhưng cả buổi chẳng nói một câu.

Và cũng có những người cứ mỗi lần bước vào quán là kể lại một chuyện cũ.

Một chuyện đã xảy ra cách đây mấy chục năm.

Như thể thời gian chưa từng trôi.

Có người thành công.

Giang nhớ một ông khách khoảng ngoài sáu mươi. Ông thường đến vào buổi trưa. Áo sơ mi bỏ trong quần, giày bóng, nói chuyện điện thoại toàn tiếng Anh.

Một hôm, ông vừa ngồi xuống đã gọi:

— Cho tôi tô tái nạm. Ít bánh. Nhiều rau.

Giang mang phở ra.

Ông ăn rất chậm. Điện thoại reo.

— Yes, I’m coming tomorrow. The meeting is at nine.

Nói xong, ông tắt máy.

Giang hỏi:

— Chú làm ăn lớn lắm hả chú?

Ông cười:

— Cũng đủ sống.

Một câu trả lời rất Mỹ.

Nhưng sau vài lần gặp, ông mới kể.

Ngày xưa ông đến Mỹ chẳng có gì.

Không tiền.

Không tiếng Anh.

Không nghề nghiệp.

Ban ngày đi làm.

Ban đêm đi học.

Có thời gian ông ngủ ngay trong xe.

Sau này ông mở được công ty. Mua nhà. Con cái học đại học. Bây giờ người ta gọi ông là thành công.

Nhưng một hôm ông nói với Giang:

— Con biết không, cái khó nhất không phải là nghèo. Cái khó nhất là lúc mình có tất cả rồi mà chẳng biết mình đang tìm cái gì nữa.

Giang đứng im.

Ông cúi xuống tô phở.

— Hồi nhỏ, chỉ cần có một tô phở nóng là vui. Bây giờ muốn ăn tô phở như hồi nhỏ cũng không tìm lại được.

Giang nhìn ông. Có lẽ ông không thiếu tiền. Ông chỉ thiếu một thời đã mất.

Có người thất bại Rồi có một người đàn ông khác. Ông thường đến vào buổi chiều.

Một mình. Áo khoác cũ. Tóc bạc. Lúc nào cũng chọn cái bàn sát cửa sổ.

Ông gọi:

— Một tô đặc biệt.

Giang mang ra.

Có lần Giang thấy ông đếm từng tờ tiền trước khi trả.

Không đủ tiền.

Giang nói:

— Thôi chú, lần sau trả cũng được.

Ông lắc đầu.

— Không. Để tôi trả.

Giang không hỏi nữa.

Nhưng một hôm ông tự kể. Ông từng có nhà.

Có vợ.

Có con.

Có công việc tốt.

Rồi làm ăn thất bại.

Nợ nần. Ly dị. Con cái không còn nói chuyện. Nhà bán. Xe bán. Cuối cùng ông thuê một căn phòng nhỏ.

Ông nói:

— Người ta thường hỏi tôi tại sao thất bại.

Ông cười buồn.

— Chẳng ai hỏi tôi đã cô đơn bao lâu.

Giang nghe mà thấy nghẹn.

Bởi thất bại ở Mỹ đôi khi không phải là không có tiền.

Mà là một ngày thức dậy, phát hiện chẳng còn ai gọi mình bằng hai tiếng:

Ba ơi.

Có người sống bằng hoài niệm. Nhưng có những người đến quán không phải để ăn.

Họ đến để nhớ. Một nhóm các ông già thường ngồi với nhau vào sáng Chủ Nhật.

Họ gọi phở. Gọi cà phê. Rồi nói chuyện Việt Nam. Sài Gòn. Đà Lạt.Huế. Nha Trang.

Những con đường cũ.

Những người bạn không còn gặp.

Những người đã nằm lại ở một nơi nào đó mà họ không thể trở về.

Giang nghe mãi thành quen.

Có ông nói:

— Hồi đó, Sài Gòn đẹp lắm.

Ông khác cãi:

— Đẹp gì mà đẹp. Tao nhớ nhất là cái nóng.

Người thứ ba cười:

— Tao nhớ nhất là mấy cô nữ sinh.

Cả bàn cười vang. Nhưng sau tiếng cười ấy thường là một khoảng im lặng.

Bởi ai cũng biết: Có những thứ chỉ có thể nhớ. Không thể quay lại.

Một ông khách từng nói với Giang:

— Tụi chú không sống bằng hiện tại đâu con.

Giang hỏi:

— Vậy sống bằng gì?

Ông nhìn ra ngoài cửa kính.

— Sống bằng ký ức.

Và có người muốn quên. Nhưng cũng có một nhóm người khác. Họ rất ít khi nói chuyện Việt Nam. Một thanh niên khoảng ngoài ba mươi, sinh ra ở Mỹ.

Một lần Giang hỏi:

— Ba mẹ em người Việt hả?

Anh trả lời:

— Yes.

— Em có nói tiếng Việt không?

— Một chút.

Rồi thôi. Không nói thêm.

Giang không hỏi nữa. Nhưng một lần khác, anh đi cùng cha.

Người cha gọi phở bằng giọng miền Nam rất rõ. Còn người con ngồi đối diện, nhìn điện thoại suốt bữa ăn. Hai cha con gần như không nói chuyện.

Đến lúc tính tiền, người cha đứng lên.

Ông nói:

— Ba đi trước.

Người con đáp:

— Okay.

Chỉ một chữ.

Giang nhìn theo hai người.

Một người mang theo cả Việt Nam trong lòng.

Một người dường như muốn để Việt Nam lại phía sau.

Nhưng Giang nghĩ:

Có những thứ mình muốn quên chưa chắc đã quên được.

Bởi chỉ cần một ngày nghe lại một bài hát cũ… Ngửi thấy mùi nước mắm… Hay bất chợt ăn một tô phở giống tô phở mẹ từng nấu…

Ký ức có thể quay về.

Không cần xin phép. 

Mỗi tô phở là một câu chuyện. Giang dần hiểu rằng mình không chỉ bán phở.

Giang đang đứng giữa một dòng người Việt đi qua lịch sử.

Có người rời Việt Nam khi còn trẻ.

Có người vượt biển.

Có người sang Mỹ bằng máy bay.

Có người sinh ra ở Mỹ nhưng vẫn nói tiếng Việt.

Có người giàu lên.

Có người nghèo xuống.

Có người giữ được gia đình.

Có người mất cả gia đình.

Có người muốn con mình nhớ quê hương.

Có người lại sợ con mình nhớ quá nhiều.

Có người kể chuyện Việt Nam suốt ngày.

Có người nghe hai chữ “Việt Nam” là muốn đổi đề tài.

Nhưng cuối cùng… Tất cả đều có lúc ngồi xuống trước một tô phở. Khói phở bay lên. Mùi hành ngò. Mùi thịt bò.

Tiếng muỗng chạm vào thành tô. Một thứ rất bình thường. Nhưng đôi khi, chính những thứ bình thường ấy lại kéo người ta về với những năm tháng tưởng đã mất.

Một buổi tối, quán vắng.

Giang lau bàn. Ngoài đường, xe chạy qua. Ánh đèn neon phản chiếu trên mặt kính.

Một ông cụ bước vào. Ông ngồi xuống chiếc bàn quen thuộc.

Giang hỏi:

— Hôm nay chú ăn gì?

Ông đáp:

— Như cũ.

Giang cười:

— Phở tái nạm?

Ông lắc đầu.

— Không.

Giang ngạc nhiên.

Ông nhìn Giang rồi nói:

— Hôm nay cho chú tô phở giống hồi còn nhỏ.

Giang đứng yên.

— Hồi còn nhỏ chú ăn phở ở đâu?

Ông cụ nhìn ra ngoài.

Rất lâu mới trả lời:

— Ở Sài Gòn. Với má chú.

Giang không hỏi thêm.

Anh quay vào bếp. Nước phở vẫn sôi. Hành vẫn xanh. Bánh phở vẫn trắng. Thịt vẫn mềm.

Mọi thứ chẳng có gì khác.

Chỉ có người ngồi trước tô phở là đã đi qua gần cả một đời người.

Giang đặt tô phở xuống. Ông cụ chắp hai tay trước mặt.

Không ăn ngay. Ông chỉ nhìn.

Rồi nói rất nhỏ:

— Má ơi…

Giang quay đi.

Anh giả vờ bận rộn. Bởi có những lúc, người đứng phục vụ cũng cần giữ cho mình một khoảng im lặng.

Đêm đó, khi đóng cửa quán, Giang đứng ngoài nhìn bảng hiệu. Anh chợt hiểu:

Westminster không chỉ là nơi người Việt đến để ăn phở.

Đó còn là nơi người Việt mang theo quá khứ của mình.

Người thành công mang theo những ngày nghèo khó.

Người thất bại mang theo những ngày từng hy vọng.

Người già mang theo quê hương.

Người trẻ mang theo một quê hương mà đôi khi chính họ chưa từng biết.

Và những người muốn quên…cũng mang theo một phần ký ức mà họ tưởng mình đã bỏ lại.

Giang chỉ là người đứng trong một tiệm phở. Nhưng mỗi ngày, anh nhìn thấy cả một cộng đồng đi ngang qua đời mình.

Họ đến. Gọi một tô phở. Ngồi xuống. Ăn. Rồi đứng lên. Ra về. 

Có người để lại tiền tip.

Có người để lại một câu chuyện.

Có người chẳng để lại gì.

Nhưng Giang biết…

Mỗi người bước ra khỏi cánh cửa ấy đều mang theo một câu chuyện riêng.

Và có những câu chuyện…cả đời họ cũng không thể kể hết.

Phạm Sơn Liêm

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags GIANG.. VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI, Phạm Sơn Liêm
Comment

Em Tôi (Phan Nhật Nam)

September 29, 2026 Ninh Tran

Em Tôi 
Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.

Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn để thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong đêm. Chín tuổi, tôi đã biết mình là người nam độc nhất trong gia đình, đã biết ẵm bồng đút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi đã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngồi ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm để trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau Cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra đi thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi đi về về trong nỗi cô đơn.

Năm em vừa tròn năm tuổi thì mẹ cho em vào Mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay đã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn Nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp Nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy hiệu trưởng cho tôi được thi nhẩy Tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết quả là tôi đã đỗ được bằng Tiểu học năm đó.

Vào lớp Đệ thất trường Phan Châu Trinh, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm Đệ ngũ tôi thi nhẩy một lần nữa lấy bằng Trung học. Đến niên học Đệ tam thì tôi đã bắt kịp đám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với đám bạn ngày xưa. Đây là giai đoạn mà tôi cần tiền để mua sách học và may thêm quần áo, thời Tiểu học và Trung học Đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ đã lên Đệ nhị cấp rồi, đã bắt đầu biết đỏ mặt khi nhìn những đứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng đã biết theo bạn tập uống café, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không đủ, tôi bắt đầu công việc kèm trẻ tư gia để kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu Đệ thất Đệ lục, nghĩa là cũng chỉ thua tôi vài tuổi. Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về căn nhà nhỏ, căn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra đi.

Hết năm Đệ tam, tôi nộp đơn thi Tú tài phần nhất. Tôi đậu Bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần đây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục đục dậy thật sớm nấu cơm để dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang đôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trầm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng Tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở.

Em đã bắt đầu tuổi lớn, đã bắt đầu tuổi mộng mơ con gái, đã bắt đầu bước vào "tuổi ngọc", nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai đoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay đổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi "quyền huynh thế phụ". Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra đi.

Tôi thi đỗ Tú tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Đại học Văn Khoa. Mẹ ở một mình với em ở Đà Nẵng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe đò về thăm mẹ và em, đến sáng thứ Hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm được, tôi phụ mẹ nuôi em.

Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya đó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

Lật đật trở vào Đà Nẵng bằng chuyến xe đò chót. Trời tối đã lâu, không kịp ăn uống, từ bến xe tôi đi thẳng đến bệnh viện. Trong căn phòng nhỏ, dưới ánh đèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Đứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khóe mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt.

Đánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và òa lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em đến văn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị đứt một tĩnh mạch ở đầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa.

Tối đó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ “mẹ ơi, mẹ ơi” rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ, em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình “Đừng khóc, đừng khóc” nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra. Một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai dòng nước mắt chẩy nhạt nhòa trên má.

Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại để trăn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: “Mẹ ơi, mẹ ơi...”. Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẫm cả vạt áo mẹ bạc màu. Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi.

Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữa. Nhưng em thì phải trở lại trường. Bán đi căn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi đưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi. Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi, cùng lớp với em. Tôi gửi em đến đó ở và đi học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em đủ điều. Số tiền tôi gửi cho mẹ Minh đủ để trả tiền ăn ở của em trong hai ba năm. Tôi còn đưa thêm cho em một ít để em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn đời.

Tôi vào trường Võ bị Đà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên Sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gửi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao giờ giấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi được về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi đưa em đi thăm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xăm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khóa của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đỗ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nữa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ: “Mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người”.

Ra trường, tôi chọn binh chủng Nhẩy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu Mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường Sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn. Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em đã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhỡ có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ.

Hai năm em học Sư phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ đã là một cô giáo trẻ. Em được đổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi đến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng. Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một sĩ quan Hải quân đồn trú ở Phan Rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già.

Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới được về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi giấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lễ nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đăng trên các báo và tạp chí. 

Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay băng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết đâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ được về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thăm. Thoạt nhìn, tôi đã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lễ ở Phan Rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ăn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn đó đợi giờ ba cô giáo đi dạy học về. Buổi tối, em đi ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly café, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim cũ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh.

Bẩy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Sài Gòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia đình mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư. Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép được đưa mẹ Tuấn đến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ săn sóc và thương yêu em. Đọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo.

Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em xúng xính trong bộ đồ cưới, tươi cười đứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm: “Mẹ ơi, mẹ ơi, về đây dự đám cưới của em”.

Tôi theo đơn vị lội thêm hai năm nữa ở vùng giới tuyến, thì "tai nạn" xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội đồng Kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng Nhẩy dù.

Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về Cục Tâm lý chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long, An Lộc... đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôi. Tôi được giải thưởng văn học với bút ký Mùa Hè Đỏ Lửa. Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan Rang, gần trường em dạy.

Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rảnh rỗi, tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của đời theo tiếng cười lanh lảnh giòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao ước mẹ tôi nhìn thấy được cảnh này.

Biến cố tháng 4/75 tới như một định mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi đều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa đầy sáu tuổi và đứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ đứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn đã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ đến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé: “Con đã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con đang ở đây tù tội thì làm sao lo được cho em...”.

Năm 76 tôi bị đưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thăm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở đâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng Lớn, qua Suối Máu, đâu đâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá...

Trại cải tạo Sơn La, sau đợt cho viết thư về gia đình đầu tiên, ba tháng sau tôi nhận được thư em. Thư em đến tay tôi vào giữa năm 77. Hơn 2 năm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhòa. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em đặt tên Tâm, Trần Thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu năm 76 có tìm đến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi năm sau gặp lại làm sao em nhận được. Bố xoa đầu đám cháu ngoại đang trố mắt nhìn người đàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố đang có gia đình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Đứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.

Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi trở về Hà Nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thăm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc đến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy.

Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mũi ra sao, hai mươi mấy năm, tôi tưởng bố tôi đã chết.

Tháng 12 năm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố đến thăm tôi. Đứng trong văn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của viên Đại úy trưởng trại tiết lộ về địa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ.

Bố đến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng “anh”, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông đã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc văn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng, bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo đó là đường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm được khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dửng dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình.

Đó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi năm là thế đấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngăn cách, có cái gì đó phân chia, có cái gì đó tôi không hiểu và không diễn tả được. Bây giờ tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng đến thế mà em lại chỉ đề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.

Lần đó là lần đầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp đi dạy không đủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thăm nuôi Tuấn được một lần nào. Không thể để bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ăn, Uyên, cháu lớn phải đút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán Bắp nướng đến khuya để kiếm thêm tiền đong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khỏe yếu lắm, em sợ nhỡ có mệnh hệ nào...

Tôi thẫn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bẩy, bẩy cây Thập giá đời đang đè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi, khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi Hải quân và lon còn thấp, không có tội với Cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa đốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái đói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn?

Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn Nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thăm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng đang đi cải tạo, chị chết đi, để lại bốn con thơ, đứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa đầy chín tuổi. Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng Sĩ quan Hải quân đang đi tù cải tạo ở đâu đó trong Nam. Người chồng, Trung úy Hải quân trước cũng đóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, Hải quân, Trung úy Trần Nguyên Tuấn.

Tôi thấy đất trời đảo lộn, tôi thấy Mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc đứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng người nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi đang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa đầy ba tuổi đang lấy tay lay lay xác mẹ; cháu lớn Thu Uyên chưa đủ chín tuổi đang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê; hai đứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác đứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên Bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hóa đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhòa, chập chờn. Em của tôi, đứa em côi cút của tôi...

Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chẩy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du.

Chiến tranh đã gây ra bao đau khổ, hậu chiến còn khổ hơn nhiều?
Rồi anh sẽ dựng căn nhà xưa,
Rồi anh sẽ đón cha mẹ về,
Rồi anh sẽ sang thăm nhà em...
Những câu hát chỉ dành cho kẻ chiến thắng?
còn
Những con người bị lấy mất cả nguồn sống thì sao? 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Em Tôi, Phan Nhật Nam
Comment

Những Chiếc Giày Bên Bờ Sông Danube ( Nguyễn Văn Tới)

September 21, 2026 Ninh Tran

Bóng chiều dần tàn trên bờ sông Danube, chúng tôi thong thả rảo bước bên bờ phía đông, bờ Pest của dòng sông chia đôi thành phố Buda và Pest. Trời đã vào cuối hè, gió từ dưới sông nhẹ đưa lên một luồng không khí mát mẻ, ai nấy đều khoan khoái đón nhận từng hơi thở mát rượi của dòng sông thơ mộng nổi tiếng đã đi vào huyền sử trong văn thơ và âm nhạc phương Tây. Tôi dõi mắt ra xa, tìm kiếm một đài tưởng niệm, một quảng trường, hay một công trình nghệ thuật nào đó, nhưng tìm mãi mà vẫn không thấy được gì ngoài dòng người đi lại đông đúc trên bờ sông.

Tôi vẫn đi, vẫn kiếm tìm giữa dòng người tấp nập đó, và tôi đã nhìn thấy … Tôi đã thấy những chiếc giày bị bỏ lại bên bờ sông Danube. Những chiếc giày bằng sắt, đơn sơ, trên bờ đá sát mép nước. Những chiếc giày rỉ sét theo thời gian, chịu đựng nắng mưa, giông bão, đứng xếp hàng một cách hỗn độn nhưng trang nghiêm.

Chiều chậm rãi khép lại, nhường khoảng trời cuối cùng cho màn đêm đen buông xuống, tôi chìm đắm trong suy tư, lặng im nhìn khoảnh khắc giao thời, nghe tiếng bước chân xôn xao của người qua lại. Những thanh âm và màu sắc lãng đãng đưa tôi trở về một mùa đông năm xưa, ngay trên bờ sông này.

                                                                               ***

Budapest, mùa đông năm 1944. Khi cơn gió rét mướt từ phương Bắc thổi về, len lỏi qua những mái nhà cổ kính của thành phố hiền hòa, khiến khách bộ hành ngại ngùng khi bước ra đường. Dòng sông Danube hiền hòa biến thành một dải băng xanh thẫm lạnh giá, nằm im lìm ngủ đông. Nhưng cái lạnh của đất trời chẳng là gì so với bầu không khí khủng bố đang bao trùm lên những khu phố Do Thái.

Trong căn hầm tối tăm và ẩm ướt của khu tập trung, cô bé Hanna, bảy tuổi, đang ngồi thu mình trong lòng mẹ. Hanna có đôi mắt to tròn, trong veo như bầu trời mùa thu và mái tóc xoăn màu hạt dẻ. Em không hiểu tại sao thế giới bên ngoài lại tràn ngập tiếng súng, và tại sao những người đàn ông mang băng tay đỏ có hình chữ thập ngược, lại nhìn gia đình em bằng ánh mắt căm thù đến vậy.

Mẹ của Hanna, cô Ilona, ôm chặt con gái vào lòng. Hơi thở của Hanna ấm áp, vương mùi sữa và mùi hoa cúc khô từ những ngày bình yên cũ, cái ngày mà cha em chưa bị bắt đi “cải tạo” rồi biến mất không một tin tức. Bên cạnh họ, ông già Miklos, một người thợ đóng giày có đôi tay đầy những vết chai sần, đang nhắm nghiền mắt, đôi môi run rẩy lầm bầm những lời cầu nguyện cổ xưa bằng tiếng Do Thái. Tất cả họ đều có một đặc điểm chung trên ngực áo: ngôi sao vàng sáu cánh, dấu hiệu của sự phân biệt, sỉ nhục và cái chết.

Duy nhất chỉ có Hanna là sở hữu một niềm vui nhỏ nhoi: đôi giày da màu đỏ do bà ngoại tặng vào dịp sinh nhật năm ngoái. Đôi giày nhỏ nhắn có chiếc nơ bướm xinh xắn ở quai, là thứ đẹp đẽ nhất, rực rỡ nhất còn sót lại trong cuộc đời em. Mỗi lần nhìn xuống đôi giày đỏ, Hanna lại nhớ về những buổi chiều thanh bình được cha nắm tay dạo chơi trên đại lộ, ngắm dòng sông Danube lấp lánh dưới ánh hoàng hôn.

Nửa đêm về sáng, tiếng ổ khóa lách cách, tiếng cửa sắt va chạm nhau kêu loảng xoảng, rồi tiếng thét vang của một tên lính canh:

-            Dậy mau! Tất cả ra ngoài, xếp thành hàng hai!

Hanna giật mình, khóc thét lên. Cô Ilona đã kịp thời bịt miệng em lại và thì thầm:

-            Có mẹ đây, con đừng sợ.

Đoạn đường dẫn ra bờ sông dài dằng dặc trong cái lạnh rét mướt. Tuyết rơi trắng xóa, xóa nhòa cả ranh giới giữa đất và trời. Những đôi chân gầy guộc bước đi run rẩy trên mặt đường đóng băng. Hanna bước đi chập chững, đôi giày đỏ ngập trong tuyết lạnh, nhưng chiếc nơ nhỏ vẫn nhảy múa trên đôi chân ngây thơ vô tội.

Khi dòng sông Danube hiện ra trước mắt, ai nấy đều hiểu chuyện gì sắp xảy ra. Gió sông thổi thốc vào mặt buốt nhói. Những tên lính phát xít người Hungary đứng thành hàng sau lưng họ, tay lăm lăm súng trường với những khuôn mặt đanh lại. Tên chỉ huy bước lên, đôi giày da của hắn dẵm lên tuyết nghe sột soạt. Hắn không dám nhìn vào mắt các nạn nhân, chỉ nhìn xuống chân họ và quát lớn:

-            Cởi tất cả giày dép ra. Xếp ngay ngắn thành hàng. Đứa nào cãi lệnh. Bắn bỏ!

Trong thời kỳ chiến tranh khan hiếm, giày dép là một thứ hàng hóa vô cùng xa xỉ. Bọn phát xít muốn lột sạch chúng từ những người sắp chết để đem bán, tái sử dụng hoặc chia chác cho binh lính. Đó là sự sỉ nhục cuối cùng mà chúng dành cho các nạn nhân trước khi tước đoạt mạng sống của họ.

Ông già Miklos từ tốn cúi người, đôi tay run rẩy vì lạnh và vì tuổi già, cởi bỏ đôi giày da cũ của mình. Ông đặt nó xuống tuyết một cách nhẹ nhàng, như thể đang đặt một chiếc hộp báu vật. Ông ngước mắt nhìn tên lính trẻ măng đang chĩa súng vào mình, ánh mắt ông không có sự oán hận, chỉ có một nỗi bao dung kỳ lạ:

-            Chúa sẽ tha thứ cho linh hồn con, chàng trai trẻ!

Một tiếng súng khô khốc vang lên. Thân hình gầy guộc của người thợ già đổ gục xuống, lăn qua mép đá và chìm nghỉm vào dòng sông đang chảy xiết. Con sông Danube đón nhận ông, dòng nước lạnh giá cuốn vội thân xác ông đi, không để lại một dấu vết.

Đến lượt hai mẹ con Ilona. Người mẹ quỳ xuống trên nền tuyết lạnh, những ngón tay đông cứng cố gắng gỡ chiếc nơ trên đôi giày đỏ của Hanna. Em run rẩy, nắm lấy vạt áo mẹ:

-            Mẹ ơi, tại sao họ lấy giày của con? Chân con lạnh lắm, chân con đau lắm!

Giọt nước mắt nóng hổi của Ilona rơi xuống mu bàn chân con gái, nhưng nó nhanh chóng bị đóng băng bởi cái lạnh khắc nghiệt. Trái tim người mẹ như có ngàn vạn mũi dao đâm thấu. Cô cố nở một nụ cười rạng rỡ nhất, ôm lấy khuôn mặt nhỏ nhắn của con:

-            Hanna yêu quý của mẹ, nghe mẹ nói này. Chúng ta sắp đi đến một nơi rất đẹp. Ở đó không có mùa đông, không có những tiếng súng. Ở đó có cha đang đợi, có những cánh đồng hoa cúc ngập tràn ánh nắng và con sẽ được chạy nhảy thỏa thích mà không cần đến giày nữa.

-            Thật không mẹ? Nơi đó có ấm áp không mẹ?

-            Ấm áp lắm con yêu. Giờ thì con hãy cởi giày ra và đặt cạnh đôi giày của mẹ, rồi hai mẹ con mình cùng đi.

Hanna ngoan ngoãn tháo đôi giày đỏ ra. Em đặt nó ngay ngắn, sát cạnh đôi giày cao gót màu đen cũ kỹ của mẹ, đôi giày mà Ilona đã đi trong ngày cưới, ngày hạnh phúc nhất đời mình. Hai đôi giày, một lớn một nhỏ, một đen một đỏ, đứng tựa vào nhau trên nền tuyết trắng xóa, giống như hình bóng hai mẹ con suốt những năm tháng gian truân vừa qua.

Tên lính phát xít bước lại gần, họng súng đen ngòm chĩa thẳng vào lưng họ. Ilona ôm chặt Hanna vào lòng, lấy thân mình che chở cho con như một bản năng sau cùng. Cô thì thầm vào tai con lời hát ru thuở nhỏ:

-            Nhắm mắt lại đi, thiên thần của mẹ. hãy ngủ một giấc thật ngon.

Hanna ngoan ngoãn nhắm mắt, rúc đầu vào bờ ngực ấm áp của mẹ. Em không nhìn thấy họng súng, không nhìn thấy khuôn mặt tàn ác của những kẻ sát nhân, em chỉ nghe thấy tiếng nhịp tim của mẹ đang đập dồn dập, và rồi ...

Hai tiếng súng xé toạc màn đêm Budapest. Hai thân hình đổ nhào về phía trước, hòa vào nhau, rơi xuống dòng Danube lạnh căm. Nước sông lạnh buốt ôm trọn lấy người mẹ và đứa con thơ vô tội, cuốn họ đi xa khỏi trần gian đầy đau khổ này.

Trên bờ sông lúc này, chỉ còn lại những đôi giày.

Đôi giày da màu đỏ của Hanna vẫn đứng nguyên vẹn ở đó, mũi giày quay về phía dòng sông như đang đợi em quay lại. Một bông tuyết nhẹ nhàng rơi xuống, đậu trên chiếc nơ nhỏ xinh, rồi tuyết cứ thế rơi, dần dần phủ trắng xóa, lấp đầy khoảng trống mà hai linh hồn vừa để lại. Trong đêm tối, hàng chục đôi giày vô chủ xếp thành hàng dài dọc bờ sông, câm lặng chứng kiến một trong những tội ác man rợ nhất lịch sử loài người.

 *****

Giờ đây, mỗi ngày, hàng ngàn du khách đến Budapest, đến tận bờ sông này, lẳng lặng ngắm nhìn và cúi đầu mặc niệm những oan hồn như còn lảng vãng đâu đây; dòng Danube vẫn âm thầm chảy, mang theo ký ức vĩnh cửu về những con người đã hóa thân vào cát bụi.

 

NGUYỄN VĂN TỚI. 9/2026.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Những Chiếc Giày Bên Bờ Sông Danube - Nguyễn Văn Tới, Nguyễn Văn Tới
Comment

ĐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI BẠN CVA, MỘT CHIẾN HỮU & MỘT NGƯỜI HÙNG (NHH)

September 21, 2026 Ninh Tran

Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (1943-1975). Cựu học sinh Chu văn An, chức vụ sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 43 Ngăn Chận tại Tuyên Nhơn. 

Ngày 30/4/75, sau khi nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng, Thiếu Tá Lê Anh Tuấn đã chở đồng bào tị nạn Cộng Sản tới nơi an toàn rồi trong đêm hôm đó, anh đã dùng súng Colt bắn vào đầu tự sát

Năm 1997, gia đình và bè bạn đã về Việt Nam tìm thi hài Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, được dân chúng chôn cất và săn sóc tử tế, đào lên thì thấy hài cốt nguyên vẹn cùng với thẻ căn cước quân nhân, thẻ bài, chứng chỉ tại ngũ và thẻ sinh viên năm thứ 4 Luật Khoa, tất cả được bọc cẩn thận trong bao plastic. Hiện tro cốt được mang về Mỹ, đặt tại chuà Giác Minh, San Jose, California

Bà cụ thân mẫu Thiếu Tá Tuấn năm nay vừa đúng 99 tuổi vẫn hàng đêm cầu nguyện cho người con trai ra đi khi chưa có gia đình.

 

***


Phần 1: Tình Bạn, Tình Chiến Hữu

Các Bạn,


Hôm nay ngồi trên máy bay lâu quá, nên tôi chợt nhớ ra một món nợ đối với các bạn là phải viết về Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, cựu học sinh Chu Văn An, một người đàn anh khả kính và khả ái, cũng là người bạn quân ngũ, đã từng cứu mạng tôi mấy lần.


Trước khi vào truyện, để các bạn có một ý niệm khái quát về Lê Anh Tuấn, xin đọc những vần thơ dưới đây cuả một nhà thơ Quân Đội:

"Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi Hành Quân mà ... rượu đế cũng đeo theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo,
Xem chiến cuộc là Tai Trời, ách nước
Ta bắn trúng ngươi, chỉ vì ngươi bạc phước
Là số phần cuả ngươi đó, ngươi ơi "


Theo ý tôi, đây có thể là những vần thơ mô tả rõ nét nhất con người Lê Anh Tuấn.

Trong chiến tranh Việt Nam, có ba tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, vì lý do địa dư, nằm ngay trên đường tiếp tế cuả Việt cộng, từ mật khu Mỏ Vẹt xuống, qua những kinh rạch chằng chịt đổ ra 2 con sông Vàm cỏ, do đó "Tam Kiến" (Kiến Hoà, Kiến Phong và Kiến Tường) là những địa danh chiến sự luôn luôn bùng nổ dữ dội nhất.

Kiến Hoà nằm trong phạm vi hoạt động cuả Sư Đoàn 7, tôi thuộc Sư Đoàn 9, nên xuôi ngược hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường không biết bao nhiêu lần. Những địa danh như "Bót 23”, Mỹ An, Mộc Hóa, Hậu Mỹ, Tuyên Bình và Tuyên Nhơn vẫn mãi mãi nằm trong ký ức của tôi.

Thời gian đã hơn 30 năm trôi qua là quá ... dài đối với mạng sống và trí nhớ cuả một quân nhân, nhưng chưa đủ dài đối với các nhân vật trong truyện, cho nên, dù những đoạn viết này phản ảnh hoàn toàn sự thật, nhưng sự thật nhiều khi rất .... "sống sượng", nên đã được "Tiểu Thuyết hóa" đi một chút.
Tôi sẽ không phổ biến rộng rãi truyện này. Những ai tình cờ đọc được, nếu có "động lòng" thì xin vui lòng xem đây là "Tiểu Thuyết".
Tôi chỉ viết ra để vinh danh một người bạn, một người anh hùng, dám hy sinh mạng sống cuả mình để bảo tồn danh dự.. Vì thế tôi sẽ không trả lời bất cứ thắc mắc nào, nếu có, cuả qúy vị đâu.

Những dòng chữ dưới đây ghi lại những kỷ niệm cuả một thời quá khứ, nên chắc cũng chẳng hay ho gì. Các bạn cứ việc phê bình, góp ý sửa đổi hoặc vứt đi cũng được, chẳng có gì phiền hà.

***

Tôi gập Thiếu Tá Tuấn lần đầu tiên là vào mùa mưa năm 1973 tại Tuyên Nhơn. Sở dĩ tôi nhớ rất rõ là vì ở vùng này, sau những cơn mưa đầu muà, người lính trận rất khó di chuyển, mỗi bước đi mang theo cả tảng đất phèn, to gấp ba đôi giầy ... đó là chưa kể nước phèn luôn luôn...’hành hạ’ đôi bàn chân.

Vưà nhảy xuống khỏi trực thăng, tôi thấy một Sĩ Quan trong bộ áo bà ba mầu đen, loại "thường phục" mà các Sĩ Quan hay mặc mỗi khi không đi hành quân, đứng đón sẵn ở dưới chân máy bay, với một cây gậy tre dùng để chống mỗi khi di chuyển trên đất bùn, với khuôn mặt sáng suả và nụ cười cuả trẻ thơ.

Trưóc mắt tôi là một thanh niên có nước da ngăm ngăm, vẻ mặt mỏi mệt nhưng ánh mắt sáng rực trong đôi kính cận thị, trông rất trí thức. Tôi mở lời chào xã giao:
"Thiếu Tá trông đẹp trai và Thư sinh quá!"
Câu trả lời cuả anh Tuấn kèm theo một nụ cười hiền hậu nhưng rất tươi:
"Ông Bác sĩ là dân Chu Văn An phải không?"
"Sao Thiếu Tá biết?"
"Ối ... giời ơi, cứ nghe cái giọng Bắc Kỳ và kiểu cách cuả ông là biết ngay chứ thế nào nữa"
"Thế Thiếu Tá đứng đây đón tôi đấy à ?"

"Tôi có đón ông đâu, tôi đứng đón... gói bún gửi mua từ Cao Lãnh ! Lát nữa sang tôi nhé. Ông may lắm, ông Trung sĩ Nghĩa cuả tôi đánh tiết canh và nấu bún sáo vịt... ‘hết xảy’.
Anh trao cho tôi cây gậy tre và nói:
"Ông dùng cái này, mùa này đường rất trơn, coi chừng té, tôi quen rồi"

Mấy năm lặn lội trên đường hành quân cho tôi một bài học kinh nghiệm là nếu đã nhận ra nhau là... dân Chu Văn An thì chẳng còn khoảng cách nào về Binh chủng, cấp bậc hay đơn vị gì nữa, nên từ đoạn này trở xuống, tôi chỉ xin viết là Anh Tuấn cho thân mật, vì kể từ sau buổi gập gỡ đó, chúng tôi chỉ xưng hô với nhau bằng Anh-Tôi, Ông-Tôi có khi là Cụ với Tôi hoặc Toa-Moa , tùy theo từng hoàn cảnh.

Tháng 6/1973, Mặt Trận Tuyên Nhơn khá nặng. Cứ nhìn hàng rào kẽm gai phòng thủ dầy đặc và ban đêm, pháo binh thường chiã thẳng nòng súng sang bên kia sông để có thể bắn trực xạ, sẳn sàng đối phó với chiến thuật biển người cuả Việt Cộng là biết ngay.

Anh Tuấn nói với Ông Trung Đoàn Trưởng cuả tôi:
"Thưa Đại Tá, Ông Bác Sĩ này là một bạn học cũ cuả tôi, xin phép Đại Tá cho ông ấy sang ở chỗ chúng tôi để nói chuyện chơi, cả chục năm rồi không gặp"

Rồi anh ghé tai tôi:
"Ông chẳng biết gì về quân sự, sang tôi cho... chắc ăn, lỡ chúng nó có "tapis" còn biết đường mà chạy!"

Lần gặp gỡ đầu tiên cuả hai cựu hoc sinh Chu Văn An giản dị và... dễ dàng như thế!
Giản dị như... con người Lê Anh Tuấn và dễ dàng... còn hơn đi tìm những thứ lỉnh kỉnh như: bún, măng khô, húng quế và đậu phộng... để nấu một món ăn thuần tuý Bắc Kỳ.

Là một người lính, tôi cũng không khỏi có chút "dị đoan"
"Anh Tuấn ơi, tôi nghe nói ở ngoài mặt trận, rất... kỵ ăn thịt vịt, anh không tin à?"
Thiếu Tá Tuấn trả lời rất tự nhiên:
"Ồ, may thì đạn nó tránh mình chứ mình có tránh được đạn đâu mà phải lo ! Cụ nói thế không sợ mấy ông chủ lò bún họ kiện cho à?"
Cái tính ... vui vẻ, tàng tàng rất Chu Văn An cuả Anh Tuấn khiến chúng tôi trở thành bạn thân rất nhanh, làm tôi quên hẳn chuyện ăn thịt vịt... hên hay sui.

Sở dĩ tôi phải viết lan man vài chuyện "bên lề" xẩy ra trước đó để các bạn thấy được phần nào cá tính cuả Lê Anh Tuấn.

Bạch Hạc và Phụng Nghi

Chuyện này xảy ra trước khi tôi gập Lê Anh Tuấn khoảng sáu tháng.

Hôm đó là ngày 30 Tết Âm Lịch, 1973. Ngày đầu tiên thi hành Hiệp Định Paris. Trung đoàn tôi vừa đổ quân xuống Mỹ An, Đồng Tháp Mười đêm hôm trước thì sáng mồng Một Tết, nhận được lệnh:

"Gửi Bác sĩ ra Bộ Chỉ Huy Tiền Phương gấp"

Ông Trung Đoàn Trưỏng cuả tôi lúc đó đang chờ Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm đi làm Tỉnh Trưởng nên đối xử khá "tế nhị" với cấp trên, mặc dù mặt trận đang bùng nổ lớn, tôi được trực thăng Hồng Thập Tự bốc ngay ra Bộ Chỉ Huy Tiền Phương lúc đó đang đóng ở Cao Lãnh, một nơi rất an toàn cuả Biệt khu.

Cả hai ông Tư Lệnh Biệt khu và Tư Lệnh Phó Sư Đoàn đều đang ở đó.
Hai ông này đều rất... oai, vì nghe đâu có họ hàng với Tổng Thống.

Đón tôi là ông Tư Lệnh Phó, rất vui vẻ và cởi mở, ghé vào tai tôi:
"Ê, Toa giúp Moa "Lên...Gà" một chút được không?"


Bộ Tư Lệnh Tiền Phương ở sát bên Bệnh Viện Tiểu Khu, nên thiếu gì Bác Sĩ lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm và giỏi hơn tôi, nhưng lý do hai vị này cho gọi tôi có lẽ là vì không muốn người khác biết, nhưng quan trọng hơn là vì tôi có hai bài thuốc ‘gia truyền’ rất công hiệu:
Một là "Thuận Khí" và Hai là "Cường Dương Đại Bổ" của Vua...Minh Mạng!

"Night Seven, Day Three, In, Out ... No Count!"

Lúc đó vì chưa có Viagra nên nhờ sở hữu hai Bài thuốc này mà tôi rất có ... "uy tín". Dĩ nhiên là một quân nhân, tôi luôn luôn phải theo yêu cầu của cấp trên.

Sau đó, tôi được dẫn vào... "Hậu Viên" để gập hai cô... trông còn rất trẻ và rất quen mặt, dường như tôi đã gập nhiều lần mà không nhớ ở đâu. Cả hai nàng đều trang điểm son phấn rất kỹ nhưng trông vẫn không được… đẹp lắm vì cả hai đều đang... "nhăn nhó".

Tôi đang cố suy nghĩ xem là ai, thì một cô nói:
"Bác sĩ không biết em là ai à? Em là Bạch Hạc, còn kia là con nhỏ Phụng Nghi"


Đến lúc đó, tôi mới nhận ra là mình hân hạnh được gập hai "Cải Lương Chi Bảo" cùng một lúc!

"Thế hai cô cần tôi có việc gì ?"
"Em đang bị…’kẹt,’ còn con Phụng Nghi thì đang... tiêu chảy"

Chữa bệnh như cứu hoả! Tôi tức tốc sử dụng xe Jeep cuả Bộ Tư Lệnh phóng ngay ra tiệm Thuốc Bắc để cắt toa thuốc... Vua Minh Mạng, rồi sang Bệnh Viện Tiểu Khu lấy thuốc và nước biển cho Phụng Nghi..

Còn cái vụ... "kẹt" cuả Bạch Hạc thì thú thật, tôi cũng chẳng biết chữa ra sao ! mà cũng chẳng muốn khám nữa.

Điều đặc biệt là vào thời điểm đó, ngoại trừ ở ngoài mặt trận thì không kể, chứ nếu ở Hậu cứ, mỗi khi muốn dùng một chai nước biển, phải ký cả chục thứ giấy tờ, thế mà khi tôi sang đến Bệnh Viện Tiểu Khu thì kho Y dược đã được mở sẵn, muốn lấy gì thì lấy.

Ai dám bảo là đàn bà... bị các ông lấn quyền ?

Suốt cả đêm đó, tôi ngồi chơi Mạt Chược với hai ông Tư Lệnh ! Bạch Hạc thì đánh Tứ sắc với các bà... "tai to mặt lớn" trong Tỉnh, 50 đồng một "lệnh". Bạn nào biết đánh Tứ sắc thì chắc phải biết... ăn thua lớn cở nào. 

Riêng tôi thì cứ phải chạy ra, chạy vào để coi chừng chai nước biển cuả Phụng Nghi, và xem cô nàng... "cầm" chưa

Mạt chược là thứ mà tôi bắt đầu chơi từ lúc 10 tuổi nên rất ít khi thua. Nhưng hôm đó lại thua và... thua đậm ! Chẳng hiểu lỗi tại Bạch Hạc hay Phụng Nghi?

Sau hai hôm thì bệnh tình cuả hai "Cải Lương Chi Bảo" đã hết hẳn và toa thuốc... Vua Minh Mạng chắc đã có hiệu lực, nên tôi bèn chào từ giã hai cô để trở về đơn vị tác chiến bằng Trực thăng riêng !

Trước khi ra cửa, Bạch Hạc còn khen tôi:
"Ông Bác sĩ còn trẻ và... đẹp trai quá ... "chời!"
Rồi cô dúi vào tay tôi 30 ngàn và 2 tấm vé xem Cải Lương đặc biệt, có con dấu mầu đỏ, cuả 2 đoàn Cải Lương nổi tiếng nhất Saigon thời đó, muốn vào coi lúc nào cũng được.

Cô ta còn dặn thêm:
"Sau này, Bác sĩ gập bất cứ chuyện gì... kẹt, thì cứ kêu em"

Tôi đang ngần ngại chưa chịu nhận thì cô nói thêm:
"Bác sĩ đừng lo, con Phụng Nghi này nó kiếm mỗi tuần nửa triệu. Ông mà chịu đi coi Cải Lương, nó sẽ... làm mai cho ông cả đám... ĐÀO trẻ đẹp"

"Why not?" Tôi bèn cầm gói quà về, nhưng vì tự ái của tuổi trẻ, còn cố chống chế thêm:
"Tôi nhận món qùa này chỉ vì cô là người... đầu tiên khen tôi... đẹp "chai"

Ba chục ngàn lúc đó là gần bằng một tháng lương cuả tôi, nhưng cũng chẳng có gì là lớn, chỉ một hai lần đãi bạn bè đi nhậu là hết... rồi về đơn vị ăn cơm "nhà bàn" tiếp.

Nhưng 2 cái vé Cải Lương thì lại là một..."thiên tình sử"

Số là lúc đó, tôi có quen một cô nữ sinh Gia Long, gia đình thuộc loại:
"Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn giòng lá thắm, dứt đường chim 
xanh"

"Cuộc tình lên cao vút"! Nhưng chỉ khổ một nỗi là bà mẹ Nam Kỳ cuả cô ta lại có máu... kỳ thị !!!,"Những ánh mắt Hỏa Châu" cuả bà luôn luôn nhìn dân Bắc Kỳ, nhất là Bắc Kỳ Chu Văn An, là những người thuộc thành phần "Tiết Hạnh Khả...Nghi !"

Nhưng may quá, bà lại có máu... mê Cải Lương, nay thấy tôi đưa hai tay kính cẩn dâng 2 tấm vé Cải Lương... "free" cuả hai Đại Đoàn Dạ Lý Hương và Hương Mùa Thu, thì rất là hài lòng với thằng con trai Bắc Kỳ... biết điều, và ánh mắt có dịu đi một chút !

Tuy nhiên, vì tính cẩn thận cuả một bà... Hiền Mẫu, mỗi lần đi coi Cải Lương bà lại bắt cả cô con gái cưng và tôi... đi theo !

Chưa bao giờ trong đời tôi lại... túng tiền đến thế, vì mỗi lần tháp tùng lại phải mua 2 vé hạng nhất, để bà hiền mẫu này kiểm soát... song phương !

Bà còn cẩn thận ngồi chính giữa, để hai... đứa nhỏ ngồi hai bên, thành ra khoảng cách của một cái ghế chưa tới một mét thấy còn xa hơn cả... Vạn Lý Trường Thành ! 

Trong bóng tối cuả rạp Cải Lương, "Ngưu Lang - Chức nữ " chỉ được "lặng lẽ nhìn nhau...không nói một câu"

Sau mấy tháng nhịn ăn để coi hát như thế, "credit" cuả tôi được nâng cao đôi chút... biểu lộ bằng cách cho cô nàng... ngồi giữa, tôi một bên, bà mẹ một bên.
Nhưng đến lúc đó mới thật là....khốn khổ, vì đến lượt cô nàng mê Cảỉ Lương !

Cứ mỗi lần tôi đưa tay định nắm thì chỉ thấy cô ta cầm khăn tay.... ướt đẫm, lau nước mắt !

May mắn nhất trong đời tôi nhờ là học sinh Chu Văn An, chứ không đã ghi tên theo học Vọng Cổ... để trở thành mầm non, chuẩn bị thay thế Hùng Cường và Thành Được ! Nhưng cũng có thể vì thế mà nền Cải Lương Việt Nam lại mất đi một nhân tài !

Mối tình tuyệt đẹp kết thúc:

"Thôi là hết...em đi đường em" chỉ vì 2 vé hát Cải Lương.

Cá tính của một người CVA

Đóng chung căn cứ Tuyên Nhơn với Anh Tuấn, tôi thường ăn chung và kéo thêm một giường ngủ ở chung phòng. Khi tôi kể câu chuyện.... bi hài này cho anh nghe, chỉ thấy anh nhăn mặt:

"Các "cha nội" mà cứ làm như thế thì... hỏng rồi ! Quân Đội đâu được quyền lạm dụng như thế. Lần sau mà có chuyện tương tự như vậy xảy ra, ông cứ cho tôi biết"

Lời nói vẫn rất nhẹ nhàng, nhưng đó là cách biểu lộ sự bất bình lớn nhất cuả anh Tuấn.

Lúc đó và mãi đến về sau này, tôi cũng không hề biết anh có một ông anh ruột là... Trung Tướng, vì chẳng bao giờ thấy anh đề cập tới, nhưng kể từ khi chúng tôi trở thành bạn thân thiết thì tôi có cảm giác là các cấp chỉ huy có vẻ ...nể vì tôi hơn một chút.

Tôi bắt đầu "khoái" anh Tuấn và Hải Quân từ ngày đó. Binh chủng này thật lạ. Đến giờ ăn cơm là các ông phục vụ dọn bàn, khăn ăn, muỗng, đũa rất ngay hàng thẳng lối. Các Sĩ Quan phải chờ vị Sĩ Quan cao cấp nhất theo thứ tự ngồi xuống rồi mới trịnh trọng bưng mâm cơm lên, gồm vài... quả cà với một hũ mắm tôm !!! dăm bẩy con cá khô nướng và vài lát thịt hộp, trông cứ lịch sự như...Tây

Quanh năm suốt tháng ăn uống "thịnh soạn" cỡ này, tôi biết chắc chắn là không hề có tham nhũng ở Giang Đoàn 43 cuả Thiếu Tá Tuấn.

Một lần sau bữa cơm tối, anh Tuấn cho đem ra một chai Johnny Walker mà anh nói là quà tặng từ thời Cố vấn Mỹ, mời tôi uống.
Uống rượu với ông này chán lắm! vì ông ấy cứ tợp vài hớp là lại chạy ra, chạy vào kiểm soát thứ nọ, thứ kia và rượu Whisky mà lại đi pha với nước ... xá xị con Cọp thì chẳng còn mùi vị gì cả.
Nhưng đây chính là sự khác biệt giữa anh Tuấn và tôi. Tôi uống rượu để ngủ, còn ông ấy uống rượu để... thức ! Nước xá xị mầu nâu đậm nên có rót rượu ít đi một chút thì cũng không ai biết, nhưng lại làm cho "đối thủ" rất dễ say. Chẳng phải anh Tuấn muốn ăn gian, nhưng vui bạn bè mà vẫn phải lo nhiệm vụ. Tuy nhiên anh ấy vẫn được tặng biệt danh 'Ông Cọp', mặc dù hiền khô.

Trong lúc ngà ngà say, anh có tâm sự với tôi là sau khi tốt nghiệp Trung học, anh cũng có ý định học Y khoa, nhưng vì thời cuộc, thấy trách nhiệm cuả thanh niên thời chiến quan trọng hơn nên đã quyết định gia nhập Hải Quân, vì thế anh rất thích nghe tôi kể những chuyện liên quan tới ngành Y khoa. Khi nghe tôi kể chuyện về Bạch Hạc và Phụng Nghi, anh nói với tôi, nửa đùa, nửa thật:
"Lần sau mà có vị nào đòi hỏi như thế nữa, ông nhớ "bàn giao" cho tôi. Tôi sẽ thay ông chữa bệnh cho hai... Bà Nội này, bảo đảm không ai dám kêu ông nữa đâu"

"Còn về mối tình ... Cải Lương cuả ông, thoát được cô ta thì nên lắm. Đời lính sống nay chết mai, vướng bận làm gì, nếu sống sót, vài chục năm nữa, có gập lại cô ta, ông sẽ thấy ông may mắn lắm đấy"


Vả lại "Thương Nữ bất tri Vong Quốc hận", các cụ nói chớ có sai đâu !

Anh Tuấn còn nói thêm

"Gia đình tôi cũng thế, bà mẹ tôi mà biết con trai theo nghề...Cải Lương thì dù có mang... vài chục đứa cháu nội về "Từ Thứ...quy Tào" chắc cũng chẳng ăn thua gì"

Tình cờ năm ngoái tôi gập lại "người tình.... Gia Long" cuả năm xưa, bây giờ đã "em tay bế, tay bồng" mà vẫn hát Cải Lương, trông chán lắm!

Đây là lần thứ nhất anh Tuấn "cứu mạng" tôi, vì nếu không có lời khuyên này chắc các con tôi bây giờ cũng... ca Vọng Cổ rất mùi.

"Chỉ có mỗi một điều đáng tiếc là nếu ông trở thành kép Cải Lương, biết đâu sau này khi cuộc chiến tàn, tôi sẽ giúp ông "kéo.. màn"! Nhưng nói đùa thế thôi chứ anh em mình là lính tráng, hơi đâu mà nghĩ quá xa: "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" phải không cụ? Tôi ước vọng khi hoà bình trở lại sẽ đi dạy học, chứ làm kép "kéo màn" thì còn gì là... gia phong Chu Văn An !

Đây là lần đầu tiên tôi thấy tuy là nói đùa mà trong ánh mắt anh thoáng một chút suy tư.

Nhưng cũng chẳng biết tai sao mà sau bữa tiệc rượu đó mà tôi lại mang biệt danh được "mã hóa" mỗi khi liên lạc qua máy truyền tin PC 25 là..."Ông Xếp Bông Gòn Bạch Tuyết", hoặc có khi thân mật hơn, mỗi khi anh Tuấn nhờ lính mời tôi sang chơi:
"Mày sang Ông Trùm...Băng Vệ Sinh", mời ông ấy sang đây uống bia"

Tôi thích "biệt danh" này vô cùng ! Ông CVA Lê Anh Tuấn đã tặng cho tôi một biệt danh vừa "trinh bạch", vừa ... "hợp vệ sinh" lại có chỗ đứng "khiêm tốn" nhất trong lòng quần....chúng phụ nữ.

Câu chuyện vui đùa giữa hai người bạn cứ kéo dài như thế cho đến khi tôi say hẳn, trước khi đi vào giấc ngủ, tôi còn nhớ mang máng anh Tuấn có kêu Trung sĩ Nghĩa, một ông Trung sĩ già Bắc Kỳ Công Giáo "ri...cư", một con người chất phác, hết sức trung thành và có tinh thần chống Cộng quyết liệt !
"Ông Nghiã ơi, sáng mai ông sang Chợ Quận mua cho tôi một gói Băng Vệ Sinh Bạch Tuyết và 2 cái nút chai nhé !.. để tôi tặng ông Bác sĩ, chỉ cho ông ấy cách chữa bệnh"

Chợ Quận có một depot pharmacie, cô chủ là người "Sè...ghềnh", còn rất trẻ và dĩ nhiên nhan sắc vượt trội so với người dân...nông thôn. Cô có tình cảm "thắm thiết" với Thiếu Tá Tuấn, đến nỗi không chịu về Sài gòn nữa..
Tuy nhiên "Love story" này thuộc về đoạn sau.

Sáng hôm sau, nhân có chuyến bay, tôi được phép về thăm gia đình vài ngày và vì vội vã, cũng không để ý là có "gói quà" đặc biêt này cuả anh Tuấn mà ông Trung sĩ Nghiã, một con người thật thà... "như đếm", theo lệnh cấp chỉ huy đã tống vào trong ba-lô.

Về đến nhà, vừa trút quần áo là tôi chạy ngay vào buồng tắm, tẩy bớt đất bùn cuả vùng hành quân ! Khi tắm xong, định thay quần áo mới đi bát phố thì thấy bà mẹ và bà chị tôi đang xầm xì thảo luận với vẻ rất nghiêm trọng:

"Mẹ mừng nhé ! Thế là bà sắp có cháu nội rồi đấy. Em ơi, khi nào em định đem cô "Hoa khôi Miệt Vườn" về ra mắt mẹ và chị đây ?"


Bà mẹ tôi thì tỏ ra rất... phân vân:

"Cô nói sao ấy, chứ "nó" còn đeo...Bông gòn Bạch Tuyết thì làm sao tôi đã có cháu nội được? Nhưng tôi không biết nó dùng hai...cái nút chai để lam gì nhỉ ?

Hóa ra bà mẹ tôi hay có thói quen "kiểm soát" ba-lô cuả con mỗi khi về phép, và đã khám phá ra trong đó có... một hộp Băng Vệ sinh và... hai cái nút chai ! do ông Trung sĩ Nghiã để vào, nhất định cho là qùa tặng cuả Thiếu Tá Tuấn.

"Oan ơi Ông Đia" hồi đó chính tôi cũng không biết là bên Mỹ họ dùng "tampon", chắc ông Tuấn này đã từng đi du học Mỹ, nên... chơi trác tôi, vì giải thích thế nào bà mẹ tôi cũng không tin, nhất định chuẩn bi mọi thứ cần thiết để nghênh đón đứa cháu nội...Nam Kỳ.

Hóa ra, nếu không biết đùa nghịch thì không phải là học sinh CVA !

Lê Anh Tuấn, một vị chỉ huy rất tư cách

Từ đoạn này trở đi thì tôi không còn là một thanh niên dưới 30 tuổi nữa, mà sẽ viết theo cái nhìn khách quan ở thời điểm của 34 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt.

Ngày 30 tháng 4 vừa qua, do một sự gặp gỡ tình cờ với một nhóm bạn Hải Quân hiện đang sinh sống ở San Jose, nhắc đến những câu chuyện trong thời chiến, tất cả các anh em Hải Quân đều ngậm ngùi khi nói đến Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, một cựu học sinh CVA và còn là một huyền thọai của QLVNCH ! Các bạn đều lấy làm tiếc là:

"Lịch Sử sẽ không công bằng khi bỏ quên Lê Anh Tuấn"

Tuy nhiên nhiều bạn không biết là chính tôi lại là người có cơ hội gập gỡ anh Tuấn và ít nhất là cơ duyên này đã cứu mạng tôi đến ba lần

Những giòng chữ đầu tiên, tôi chỉ có thể nói là:

Trong cuộc sống, có những người bạn mà chỉ cần gập một lần, mình vẫn có thể nhớ mãi. Lê Anh Tuấn là một người như thế :

Chân thành, giản dị, có óc khôi hài sâu sắc, hết mình với nhiệm vụ, bạn bè, đồng đội. 

Nhưng trên tất cả đây là một quân nhân có tiết tháo, chẳng thà hy sinh tính mạng chứ không thể hy sinh danh dự. Những con người như thế không nhiều lắm trong Lịch sử Việt nam.

Khi nghe tin anh đã tự sát chứ nhất định không đầu hàng Việt Cộng, tôi rất buồn, nhưng lại cảm thấy rất hãnh diện vì đã được quen biết anh.

Trước hết, xin nói qua về lối sống của anh. Lê Anh Tuấn là một con người sống hết mình, luôn luôn đặt trách nhiệm lên trên tất cả, suốt ngày  lo lắng công việc, kiểm soát chỗ này chỗ kia, để bảo đảm an toàn cho lính và dân chúng sống ở vùng trách nhiệm của Giang Đoàn 43, nhưng ban đêm, tôi lại thường thấy anh thức rất khuya để đọc sách.

Phòng ngủ cuả anh tuy ngăn nắp nhưng rất chật hẹp vì chứa đầy sách. Tôi để ý nhiều nhất là sách về Thế Chiến Thứ Hai.. Tôi vẫn còn nhớ anh cho tôi mượn 3 cuốn: "Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh"(All Quiet On The Western Front) của Enrique Maria Remarque, cuốn "One day in the Life of Ivan Denisovich" của Solzenitsyn và cuốn "Biệt Đoàn Thần Phong".
Đến bây giờ, suy nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu những sách vở nói trên có ảnh hưởng gì đến quyết định của anh không ? và hình như anh còn học Luật vì tôi thấy có nhiều sách của Trường Đại Học Luật Khoa để trên đầu giường.

Câu chuyện còn khá dài, nhưng máy bay đã sắp đáp xuống, nếu các bạn còn muốn nghe thêm thì xin cho tôi... nghỉ ngơi một chút, vì tôi sẽ phải tra cứu lại sách địa dư cho thêm phần chính xác.

Còn nếu thấy chán hoặc dở quá thì cũng xin cho biết.



Phần 2: Thiếu Tá Lê Anh Tuấn và tôi

Mỗi Đại Đội Quân Y yểm trợ cho Trung Đoàn có 2 quân y sĩ, chúng tôi thay phiên nhau mỗi nửa tháng, khi một người đi hành quân thì người kia trông coi bệnh xá ở hậu cứ.

Từ quận Tuyên Nhơn ra ngoài quốc lộ 4 có 3 phương tiện:

- Đường thuỷ, thường chỉ dùng cho phụ nữ hoặc dân điạ phương, vì rất dể bị Việt Cộng chận bắt, nếu còn trẻ và lạ mặt.

- Đường bộ thì chỉ có một chiếc xe khách, vài ngày mới có một chuyến và cũng rất nguy hiểm vì mìn cuả VC.

- Trực thăng là phương tiện chúng tôi hay dùng nhất mổi khi thay phiên, thường là đi cùng máy bay chở vị Tư lệnh thị sát mặt trận hoặc trực thăng tải thương, dĩ nhiên chỉ có quân nhân và một vài vị khách được "gửi gấm" đặc biệt mới được dùng trực thăng, một trong những vị khách đó là Kim Hoa, cô chủ depôt pharmacie ở chợ quận.

Căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân đóng ở Cần Thơ, nên cũng do "yêu cầu" của Anh Tuấn, vì...."thương cho thân gái dặm trường", anh hay nhờ tôi đi chung xe đò đưa Kim Hoa về Sàigòn, vì thế tôi có nhiều cơ hội hiểu thêm về mối giao tình giữa cô Kim Hoa và Thiếu Tá Tuấn.

Thoát chết lần thứ nhất nhờ anh Tuấn

Nói đến Tuyên Nhơn là phải nói đến "bắn xẻ" và chiến thuật "tiền pháo, hậu xung" của Việt Cộng.

Mỗi khi Trung Đoàn đổ quân xuống Tuyên Nhơn, công việc đầu tiên là phải xây "bunker" cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân và Bệnh Xá. Chỗ ở dành riêng cho tôi thường là một bunker rất nhỏ khoảng 2 mét x 3 mét cạnh bệnh xá, vừa đủ kê một chiếc giường sắt và thùng dược phẩm.
Các bunker này được xây rất kiên cố, trụ làm bằng các thùng phuy chứa đất, vách toàn là bao cát và trần làm bằng nhiều lớp bao cát chất trên các lớp sắt PSP, loại sắt dùng làm phi trường dã chiến.
Với cấu trúc như thế, các loại đạn tương đối chính xác như cối 82 hoặc đại bác 122 ly thì chẳng ăn thua gì ! Chỉ có hỏa tiễn 220 ly "delayed" là có thể xuyên thủng trần, tuy nhiên loại hỏa tiễn này chẳng đáng để ý, vì dàn phóng thô sơ nên rất ít khi chính xác, thường chỉ rơi vào... nhà dân!

Ngày thứ ba sau khi chúng tôi đến Tuyên Nhơn là trận tập kích đầu tiên cuả Việt Cộng. Các sỉ quan và binh sĩ mỗi khi nghe tiếng pháo "cấp tập" để chuẩn bị xung kích, thì việc đầu tiên là phải sang bộ chỉ huy hoặc ra hố chiến đấu cá nhân để chuẩn bị tác chiến. Riêng đối với Quân Y thì cứ việc ngồi chờ để "tiếp đón" thương binh nếu có.

"Cò iả miệng ve " -chữ anh Tuấn thường dùng- ngay trong đợt pháo kích đầu tiên đêm hôm đó, bunker dành riêng cho tôi trúng ngay một hỏa tiễn 220 ly "delayed" nổ tung và xập hoàn toàn ! 

Tin tức tôi đã "tử thương" loan đi rất nhanh và chừng nửa giờ sau thì đến tai anh Tuấn, lúc đó đang chỉ huy phản pháo tại Bộ Chỉ Huy Giang Đoàn. Anh chạy như bay, không kịp cả đội nón sắt về hầm cá nhân chỗ của anh và tôi đang ở, hét to từ ngoài cửa hầm;

"Ông còn đó không?"

Anh ôm chặt vai tôi mừng rỡ, khi thấy tôi đang ngồi nghe nhạc !

"Ông làm tôi hết hồn ! Cứ tưởng ông được vinh thăng "Cố" Đại Úy rồi !"

Hóa ra anh Tuấn là người đầu tiên báo cho tôi biết là’.. tôi còn sống! Cũng nhờ món tiết canh và bún xáo vịt mà anh khoản đãi.

Thực ra, rời bỏ đơn vị để đi "ngủ hoang" là một vi phạm quân kỷ rất nặng. Nhưng trong trường hợp "kỳ diệu" này thì chẳng ai muốn đề cập tới làm gì, nên mấy ngày sau Thiếu Tá Tuấn đã ký cho tôi một bằng "Tưởng Lục" vì đã phối hợp trợ giúp đồng đội!

Đến bây giờ, tôi cũng không biết anh Tuấn theo Đạo gì, nhưng mấy hôm sau vụ "chết hụt" cuả tôi, tôi đã thấy anh thắp nhang cúng Ông Địa cho tôi một cách rất "thành khẩn".

Cầu 'Ông Tuấn'


Đây là cây cầu sắt đầu tiên ở Tuyên Nhơn, do Công Binh Chiến Đấu xây dựng, nối liền Chợ Quận với Chi Khu. 

Ngày cắt băng khánh thành có ông Quận Trưởng, Thiếu Tá Tuấn, Đại Úy Chỉ huy lực lượng Công Binh xây cầu và một vài vị cao niên trong Quận, trong đó có Bà ngoại cuả cô Kim Hoa. 

Nhưng kể từ sau ngày khánh thành, cũng chẳng ai hiểu vì sao cây cầu này được gọi là "Cầu Ông Tuấn"

Lúc còn nhỏ, từ khi vào miền Nam, tôi rất ít khi tìm hiểu về cách đặt tên cuả những cây cầu, thảng hoặc có nghĩ đến thì cũng ngầm chê bai về những cái tên có vẻ hơi "bình dân" như "Cầu Kiệu", "Cầu Bông" !

Nhưng sau khi đi qua những cây cầu ở miền Nam, tôi mới biết đây là một vinh dự vô cùng lớn khi được đặt tên cho một cây cầu, vì người miền Nam quan niệm cây cầu là một cái gì vĩnh viễn, nối liền con người với con người.

Điều này có thể kiểm chứng được: sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Sàigòn và các con đường đều đã bị đổi tên, nhưng "Cầu Kiệu", "Cầu Bôn"g thì vẫn còn giữ nguyên tên.
Năm 1986, tôi có dịp về thăm lại Tuyên Nhơn thì cây cầu vẫn còn đó và vẫn được dân chúng gọi là "Cầu Ông Tuấn" !

Kể từ ngày thi hành Hiệp định Paris, công tác lớn nhất cuả Quân Lực VNCH là chiến dịch "chiếm đất, giành dân". Được đem tên đặt cho một cây cầu, có thể là thành quả lớn nhất cuả Thiếu Tá Tuấn trong chiến dịch này. Tuy nhiên, theo ý cuả riêng tôi thành quả lớn hơn nữa là giành được... cô Kim Hoa !

Love story

Kim Hoa là một người con gái đẹp, với đôi mắt to linh động, dáng người cao, nước da rất trắng, cực hiếm ở vùng nước... phèn, xà bông có dùng cách mấy cũng không thể xủi bọt! Tuy nhiên sức quyến rũ nhất ở cô là vẻ hiền hậu và giọng nói chất phác đặc biệt cuả người miền Nam. giọng nói mà sau này tôi thường đem ra để "chọc" anh Tuấn:

"Ông Tuấn ơi, nếu tác giả "Tiêu Sơn Tráng Sĩ" mà cho Quỳnh Như là dân Nam Kỳ thì đời Phạm Thái còn... thê thảm hơn nhiều"!

Anh Tuấn nghe thế thì tháo kính ra lau, một cử chỉ chàng ta hay làm nhửng khi... bối rối:

"Ông nói đúng đấy"!

Kim Hoa mồ côi cha mẹ từ lúc còn rất nhỏ, cô được bà dì ruột nuôi dạy xem như con gái, học trung học ở Mỹ Tho và Đại Học Dược Khoa Saigon.

Ông Dượng của Kim Hoa là một Dược Sĩ tốt nghiệp bên Pháp, mở một nhà Thuốc Tây trên đường Phan Đình Phùng, khoảng trước cửa Chợ Vườn Chuối, và còn có một cửa hàng bán thực phẩm nhập cảng từ Pháp trên đường Lê Thánh Tôn. Vì thương bà ngoại của Kim Hoa nên mở depôt pharmacie ở Tuyên Nhơn như một phương tiện giúp đỡ bà mẹ vợ.

Cô Kim Hoa về thăm bà ngoại trong dịp nghỉ hè, khoảng một tuần lễ sau khi tôi đến Tuyên Nhơn. 

Sự hiện diện cuả cô ở Chợ Quận lập tức trở thành một "hiện tượng". Bà ngoại của cô tự nhiên trở thành "bà ngoại" cuả... tất cả các Sĩ Quan còn độc thân trong Quận.

Và tôi bỗng dưng... thất nghiêp ! vì mấy ông "cháu ngoại hờ" này chỉ tìm đến tôi khi cần chữa những bệnh "thầm kín", còn ngoài ra, bệnh hay... không bệnh, các "bố" chỉ lảng vảng sang tìm cô Kim Hoa để khai bệnh và... mua thuốc !
Có khi mua xong lại quẳng đi, để ngày hôm sau... có cớ mua tiếp!

Tôi đoán là ban đầu anh Tuấn cũng không để ý lắm tới cô, dù là "ngoại" rất qúy mến anh, vì trước đó anh đã giúp đỡ bà sửa sang hầm cá nhân chống pháo kích. Sau đó, vì sự hiện diện cuả cô cháu gái, lại giúp nới rộng hầm cho ... "an toàn" !
Và Hải Quân cũng là lực lượng duy nhất có khả năng chở nước ngọt từ vùng "Đầu Bờ" (tôi cũng chỉ nghe nói chứ chưa được đến vùng này bao giờ) ... giúp cho nước da cô không bị rám nắng vì nước... phèn!

Ngày Kim Hoa chào từ giã bà ngoại để trở lại trường Dược là một ngày "định mệnh" cuả cô chuẩn... Dược Sĩ ! Vì chậm trễ nên cô lỡ chuyến xe khách ra ngoài quốc lộ, ngay đúng lúc chiếc xe Jeep chở Thiếu Tá Tuấn đi công tác vừa tới, và cô được phép... quá giang, nhưng chưa đi được nửa đường thì chiếc xe khách đi phía trước trúng mìn cuả Việt Cộng nằm quay lơ và tất cả hành khách trên xe chết hết ! Bà ngoại cuả cô Kim Hoa đưa ra kết luận ...  xanh rờn:

"Kể từ nay, cháu là người cuả... ông ấy!"

Vì chữ "hiếu", tên Kim Hoa tự nhiên... biến mất thay bằng tên mới: "Cô Tuấn"! Và cũng từ đó pharmacie vắng hẳn khách, dù cô chủ quyết định bỏ học ở lại luôn Tuyên Nhơn để... chăm sóc cho "ông ấy".

Người con gái miền Nam luôn luôn được giáo dục đặc biệt:
"Con đường đi vào tim người đàn ông bao giờ cũng.... xuyên qua bao tử!". Tôi chưa bao giờ gập cô gái Bắc Kỳ nào nấu những món "nhậu" nhanh hơn và ngon hơn "Cô Tuấn".

Thức ăn cuả người miền Nam cũng có tính cách khá đặc biệt, thí dụ như trái sầu riêng, nếu không ăn được thì thôi, nhưng nếu đã ăn được thì sẽ trở thành ... ghiền.

"Cô Tuấn" là người nắm được những bí quyết ấy! Một lần cô gửi cho tôi quà Sàigòn đem lên cho anh Tuấn gồm có một chai rượu Martel và vài bánh fromage Camembert và Roquefort, cô còn dặn với:

"Anh nhớ nói "ảnh" ăn mấy thứ này với...cọng hành sống"

Bản chất tôi là một người "nhà quê" nên thú thật cũng không biết thưởng thức mấy món ăn... Tây này, nhưng ông Tuấn thì "Nam Kỳ....hoá" rất nhanh, chỉ uống rượu Martel với phô-mai Camembert và... cọng hành sống thì mới thấy ngon!

Tôi vẫn nghe đồn là đàn ông mà mê phô-mai Camembert đều là những người đàn ông rất... chung tình! Tiếc thay bây giờ lại mất đi một người để kiểm chứng!

Đầu năm 1980, tôi được thả từ "trại cải tạo" về, và người đầu tiên tôi đến thăm là cô Kim Hoa, ở pharmacie trên đường Phan Đình Phùng nay đã bị đóng cửa, chỉ còn quầy hàng trống trơn ! Tôi cố quan sát để tìm xem có sự thay đổi nào trong cô không? Là một người con gái thông minh cô như đoán được ý nghĩ của tôi:

"Đời em chỉ lấy chồng có một lần!"
Và cô đã kể cho tôi nghe về cái chết của anh Tuấn.

Cho đến hôm nay, tôi vẫn không thể quên được ánh mắt buồn cuả cô khi nhìn bức ánh nhỏ của anh Tuấn để ở một góc khuất cuối quầy hàng.

Tháng 2 năm 1980, Kim Hoa theo gia đình sang Pháp, tôi bị đuổi khỏi Saigon sau mấy lần vượt biên thất bại và mất liên lạc từ đó.

Đây là một chuyện tình buồn, tiêu biểu cuả thời chiến:

"Anh yêu em một lần rồi xa nhau trọn kiếp! "

Vì sự tôn trọng đối với người đã khuất, tôi xin ngưng đoạn này ở đây và cũng không muốn tìm hiểu thêm nữa!

"Bác Sĩ" Lê Anh Tuấn và thằng con trai bây giờ không biết đang ở đâu.

Có hai công tác đáng nhớ nhất mà tôi được thực hiện chung với anh Tuấn:

Một là đốt kho lúa của Việt Cộng: hàng trăm tấn lúa được chất trong những chòi lá để chuẩn bị chở vào mật khu! Công tác này chẳng có gì là nguy hiểm, chỉ việc đốt cháy càng nhiều càng tốt, phần còn sót lại thì phải vùi trái khói để lúa sẽ có mùi không thể ăn được nữa. Nhưng quan trọng hơn cả là phải thi hành "nghiêm lệnh":

"Tuyệt đối không được mang ra, dù chỉ một ký trên hàng trăm tấn thóc!"
Lý do: các vị Tư Lệnh không muốn Việt Cộng xúi dục dân chúng đi thưa kiện là Quân Đội chiếm lúa của dân".

Công tác tuy thấy đơn giản nhưng để được chỉ định thực hiện lại là cả một vinh dự lớn: phải còn trẻ, độc thân, có quá khứ trong sạch, và có kỷ luật…
Nói thì dễ, nhưng thực hiện việc đốt kho luá không dễ chút nào.. Hoàn toàn không phải vì lòng tham mà vì chung quanh chúng tôi, hàng ngày vẫn có những cô nhi, quả phụ không có gạo để ăn. Đối với một người quân nhân, cái chết tuy đáng buồn nhưng vẫn còn ít buồn hơn khi phải đốt bỏ thóc gạo trong khi rất nhiều người... đang đói.

Đó là một nghịch lý trong chiến tranh Việt Nam, khi chúng ta phải đối đầu với một địch thủ quá dơ bẩn.

"Nhảm nhí" - Đó là kết luận cuả anh Tuấn khi thực hiện xong công tác và cũng là lần đầu tiên tôi thấy anh rưng rưng nước mắt !

Công tác thứ hai thì còn "độc đáo" hơn:

Hôm đó, vào khoảng 1, 2 giờ đêm, có một chiếc thuyền tam bản do một người đàn bà vừa chèo vừa la to:

"Chúng tôi tìm cô mụ, có người... sanh khó"

Rất không may, hôm đó cô mụ duy nhất ở trong Quận lại ra Tỉnh để sanh! mà vùng của sản phụ lại toàn là ... Việt Cộng, không hề thấy bóng đàn ông mà các bà lại... có bầu liên tục.

Bộ Chỉ Huy họp gấp, quyết định là gửi 2 trung đội đi mở đường để bảo vệ an ninh đường bộ, tôi và Thiếu Tá Tuấn cùng với lực lượng giang thuyền hành quân đường thủy. Tôi chỉ kịp gom vội đống dao kéo cho "mission impossible" này.

Thực chưa bao giờ có cuộc hành quân nào "bi, hùng" hơn thế ! Hành Quân đi vào hang ổ cuả Việt Cộng để... đỡ đẻ !

Đến nơi, sau khi bố trí canh gác, chỉ có "Bác Sĩ" Tuấn và tôi được vào ... "phòng sanh". Dưới ánh sáng mập mờ cuả ngọn đèn dầu là một "ca"... sanh ngược rất khó, cần phải cắt vá, “Bác Sĩ” Tuấn tình nguyện chiếu đèn "pin" cho tôi giải phẫu!

Thật chán mớ đời, Thiếu Tá Tuấn nổi tiếng là người chấm tọa độ phản pháo trên bản đồ... hết xảy, thế mà cái "tọa độ" to tướng của bà sản phụ, thì ông ấy cứ chiếu đèn "pin" đi mãi đâu, tôi nhìn lên mới biết ông "Bác sĩ" Tuấn vừa ... đỡ đẻ, vừa ... quay mặt đi nơi khác, báo hại tôi trở thành Hiệp Sĩ...mù !
Mãi cho đến lúc có tiếng trẻ con khóc oe oe, thì ông Tuấn la lên:

"Ơ, bà sanh được một thằng con trai, thế bà đặt tên cho nó chưa" ?
Bà sản phụ trả lời:

"Cám ơn Thiếu Tá, xin cho phép em đặt tên nó là... Tuấn, giống người sanh ra nó!

"Bà đặt tên nó theo tên tôi cũng được, nhưng nhớ bảo nó sau này không được theo...Việt Cộng mà bắn lại tôi đấy nhé!

Sáng hôm sau, chúng tôi sang Quận để giúp làm giấy khai sanh cho thằng nhỏ và sau đó ghé cô Kim Hoa mua một ít thuốc cho sản phụ. Tôi nói đùa để trêu cô Kim Hoa:

"Tôi mua thuốc này cho thằng... con Ông Tuấn đấy" !

Chỉ thấy cô vùng vằng bỏ đi, nước mắt như muốn trào ra và nhất định không chịu bán! khiến tôi phải giải thích hết lời cô mới nguôi cơn giận
"Em "hổng" có tin đâu, "ảnh" nhát.... thấy mồ" !

Nhìn sang thì thấy ông Tuấn, lau kính liên tục, mà càng lau ...thì kính càng mờ, vì mồ hôi tay ướt đẫm.
Anh hùng cách mấy cũng phải chịu thua nước mắt giai nhân !

Cứu mạng tôi lần thứ hai

Khoảng giữa tháng 12 năm 1974, chúng tôi đang ở Tuyên Nhơn thì nhận khẩn lệnh sang giải cứu Mộc Hóa, 2 Đại Đội Cơ Động được điều động theo chiếc Trực Thăng Chinook tiến vào trước, để lập "cầu nối" cho phần còn lại của Trung Đoàn, vì Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 114 đang bị thương mà không thể tải thương ra được nên tôi cũng được lệnh theo chiếc Chinook này vào trong chuyến đầu tiên. Vừa theo sau thùng thuốc để bước lên máy bay, thì ông Trung sĩ Nghĩa, cận vệ của Thiếu Tá Tuấn chạy lại nắm tay tôi nói :
"Thiếu Tá bảo ông quay về gấp vì còn ... bỏ quên nhiều đồ"

Tưởng thật, tôi chạy ngược lại Bộ Chỉ Huy để lấy đồ bỏ quên, thì kịp cùng với anh Tuấn nhìn lên chiếc Trực thăng Chinook, đang cháy như một cây đuốc do trúng hoả tiễn "tầm nhiệt" SA7 cuả Việt Cộng. 

Một người bạn Chu Văn An của tôi, là Nhiếp Ảnh Gia Quân Đội cũng chết trong chuyến bay này!

Tôi vừa sợ, vừa bàng hoàng nói lời cám ơn thì anh Tuấn an ủi:
"Mạng ông lớn lắm, nếu ông đi lính tác chiến thì dám lên... Tướng như chơi" !

Mấy hôm sau hoàn hồn, tôi mới hỏi lý do tại sao anh gọi tôi trở lại, thì anh nói nửa đùa, nửa thật:

"Tôi thấy ông đi theo hai người lính khiêng thùng thuốc giống như khiêng quan tài, trông... kinh quá ! Vả lại ở vùng này lâu rồi nên tôi biết Chinook rất nặng nề, khó tránh được SA7"

Tôi và cô Kim Hoa rời Tuyên Nhơn ngày 20 tháng 4 năm 1975, đó cũng là lần gặp gỡ cuối cùng, anh Tuấn có dặn tôi:

"Tình hình bây giờ khá bi đát, nhưng chưa tuyệt vọng, nếu có gì xảy ra tôi sẽ đợi ông ở Long Xuyên" rồi anh cho tôi tần số và ký hiệu liên lạc, nhưng những ngày sau đó mọi việc biến chuyển quá nhanh và sau cùng, tôi chui đầu vào ... Trại Cải Tạo

Đoạn Kết

Về cái chết oai hùng của Thiếu Tá Tuấn, nếu các bạn muốn biết thì có thể xem ở bất cứ đặc san Hải Quân nào, số Kỷ Niệm 30 tháng Tư.

Năm 1986, tôi quyết định bỏ ra một năm để đi khắp Việt Nam, thăm lại những chốn xưa. Trên Quốc Lộ 4, khi ngang qua "bót 23", một động lực vô hình đã thôi thúc tôi trở về thăm Tuyên Nhơn dù là lòng không muốn, vì nỗi ám ảnh bởi những kỷ niệm không vui về Thiếu Tá Lê Anh Tuấn. Thuê một chiếc "xe đạp thồ", khi vào đến Tuyên Nhơn thì trời đã xế chiều.

Cảnh cũ còn nguyên nhưng người xưa đã không còn nữa!

Trong buổi chiều sương mờ, đứng trên Cầu Ông Tuấn nhìn sang Bộ Chỉ Huy Chi Khu cũ, nay đã biến thành "Doanh trại Quân Đội Nhân Dân". Tôi có cảm giác như muốn khóc và bên tai tôi bỗng nhiên văng vẳng lời đồng dao:

"Quân đội nhân dân là...con Rận nhân đôi !
Con Rận nhân đôi là...Con Rận nhân Hai
Con Rận nhân Hai là...Con Hại Nhân Dân !"


Việt Cộng bao giờ cũng... HÊN !

Chỉ vì sự gượng ép trong cách gieo vần mà Quân đội nhân dân được ví... với con RẬN NHÂN ĐÔI.

So sánh như thế thì thực là OAN cho CON RẬN ! Đúng ra phải so sánh Việt Cộng với con gì khác ‘tồi bại’ hơn nhiều !

Con rận và Việt Cộng chỉ giống nhau ở điểm cả hai đều là loại ký sinh trùng ... hút máu người.

Nhưng con rận "CÓ TƯ CÁCH" hơn Việt cộng nhiều! vì RẬN đâu có cầm súng bắn vào đàn bà, trẻ con.

Tuy nhiên, với sự công bằng tối thiểu của một học sinh Chu Văn An, tôi cũng phải khen bọn Việt Cộng một điều:

Nếu không có những thằng Việt Công dơ dáy, bẩn thỉu thì làm sao nổi bật lên tư cách của người anh hùng.

Ngủ ngon nhé, Anh Tuấn!

Chúng tôi vẫn còn nhớ đến anh
 

Nghiêm Hữu Hùng

Tưởng niệm HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn 

Đệ Nhị Kim Ngưu

LỄ AN VỊ HÀI CỐT

HQ TH/TÁ LÊ ANH TUẤN

          Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn xuất thân Khoá XIV HQ Nha Trang, nguyên Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 43 Ngăn Chặn đã tuẫn tiết đêm 30 Tháng 4 Năm 1975 tại Kinh Thủ Thừa, Long An, cương quyết không đầu hàng giặc cộng.
 


Sóng Tiền Giang vang lời sông núi
Kinh Thủ Thừa muôn thuở lưu danh

Ðệ Nhị Kim Ngưu

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags ĐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI BẠN CVA, MỘT CHIẾN HỮU & MỘT NGƯỜI HÙNG, NHH
Comment

BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH (Vĩnh Chánh)

September 9, 2026 Ninh Tran

BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH

        Tôi bắt đầu biết đến BS. Trần Xuân Dũng vào khoảng gần cuối thập niên của đầu của thế kỷ 21 sau khi đọc được mấy bài của tác giả trên mạng lưới và lai rai qua Tập San Y Sĩ Canada, và biết đó là một đàn anh từng phục vụ trong Quân Y Thủy Quân Lục Chiến. Lời văn đượm vẻ khí khái của một tinh thần bất khuất, nhất là từ một số bài thơ và những câu truyện ngắn.

          Giữa năm 2013, tình cờ được một bạn cho đọc ké cuốn “Y Sĩ Với Nàng Thơ” – một chủ đề được chính BS. Trần Xuân Dũng đề xướng và kêu gọi đóng góp trong đại hội y sĩ thế giới 2011 - tôi nhận thấy các bậc trưởng thượng, các niên trưởng, quý đàn anh với đa số từng là những quân y sĩ trong mọi binh chủng, có thật nhiều tài hoa thi phú. Thật đáng nể! 100 tác giả, theo lời tựa của BS. Phạm Hữu Trác “không hẹn mà gặp, cùng chung một căn cước tương đối đồng nhất là nghề thầy thuốc, sinh hoạt trong một khoảng dài thời gian ba chục năm trên tờ Tập San Y Sĩ, tụ họp lại trên trang giấy trắng này…Xin người đọc đừng trông đợi một sự đồng hành, cũng đừng tìm trong sách một đề tài chung. Họ là những tấm lòng trên không gian rộng và thời gian dài… Họ dùng ngôn ngữ, âm điệu, ý tưởng để tạo ấn tượng cảm giác. Như những nét vẽ trên một bức họa, có những màu sắc để người xem tranh chấm phá cho mình, xin tìm trong thơ những góc trống tâm cảm thường dành cho người đọc tham gia vào sáng tạo”. Phải chăng tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ” nói trên cùng lời tựa đã đánh động khả năng sáng tạo và thúc đẩy cá nhân tôi trải bày tâm tư trên trang giấy, với bài viết đầu tay “Tháng Ngày Tao Loạn”.

          “Không hẹn mà găp” - xin được lập lại một câu viết trên của BS. Trác, khi vào năm 2017 đến thăm Bác Sĩ Hoàng Ngọc Vinh ở Montreal, người bạn thân từ thủa sinh viên YK ngoài Huế, tôi tìm thấy và đọc bài “Thương Vong Các Y Sĩ TQLC” của tác giả Trần Xuân Dũng, nằm kế bài “Tôi Đi Nhảy Dù” của mình trong Tập San Y Sĩ “Quên Mình Cứu Người” xuất bản tháng 5, 2017. Một bất ngờ rất thú vị, đánh dấu một liên hệ tâm linh nào đó đang phôi thai giữa người đàn anh tên tuổi và thằng em đang chập chững vào đời?!

                   “Hồn linh còn vương trên tóc bạc

                     Anh nhớ sa trường, em có hay”

   Thấm thoát vài năm sau, nhân biết chị Trần Tường Vi Bảo Anh đi Úc thăm anh mình, tôi nhờ chị mang cuốc sách “Tháng Ngày Tao Loạn” của mình vừa xuất bản tháng 7, 2019, tặng BS. Trần Xuân Dũng sống tại Melbourne. Tháng 9 cùng năm, tôi nhận sách của BS. Dũng tặng ngược lại cho mình, không phải một cuốn sách mà đến 2 cuốn. Cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” (dài 696 trang) và “Văn Học Quân Đội”(khổ lớn, gồm có 630 trang). Cả 2 cuốn sánh luôn chiếm vị trí trân trọng  trên kệ tường, ngay trước mặt mỗi khi tôi ngồi gõ viết bài. Ngoài tôi, anh Dũng còn gởi thêm mấy cuốn Văn Học Quân Đội nhờ tôi trao tặng cho Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quân Lực VNCH ở Little Saigon. 

          Tôi chọn cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” đọc trước vì cái đầu đề hấp dẫn – với ý nghĩ hầu như đa số người tỵ nạn CS chúng ta hiện sống tại hải ngoại đều một lòng nghĩ như thế!? Cuốn sách là một tự truyện viết về thân thế gia đình cha mẹ, 3 anh em Trần Xuân Ninh, Trần Xuân Dũng và Trần Tường Vi, từng lớn lên và sinh sống ở Vinh, đã phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn tìm đường lên Hà Nội, rồi sau đó vào Nam ngay sau khi hiệp định Genève. Cả 3 anh em hết sức cố gắng học hành, vì thương thân phụ cực khổ nuôi 3 con khi thân mẫu lại mất sớm. Anh Cả là Bác Sĩ Trần Xuân Ninh tốt nghiệp YK Saigon năm 1963, về sau trở thành một Giảng Sư về môn Giải Phẫu Nhi Khoa; em kế là Bác Sĩ Trần Xuân Dũng tốt nghiệp YK Saigon 1965, sau đó trưng tập và tình nguyện phục vụ Quân Y Thủy Quân Lục Chiến; em gái Trần Tường Vi tốt nghiệp Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Saigon năm 1968.

Khi gia nhập Quân Y TQLC, BS. Trần Xuân Dũng được đưa về làm Y Sĩ Trưởng TĐ 4 TQLC một thời gian khá lâu rồi qua phục vụ các TĐ 3 TQLC và TĐ 6 TQLC trước khi trở thành Y Sĩ Trưởng Chiến Đoàn B TQLC vào cuối tháng Giêng 1968. Vì vậy BS. Dũng đã tham gia trận đánh Mậu Thâu 1968 với Chiến Đoàn B tại Tân Sơn Nhất, Saigon và tỉnh Gia Định. Gần nửa năm sau, anh lại được thuyên chuyển ra Quảng Ngãi làm Đại Đội Trưởng ĐĐ 2 Quân Y, về sau trở thành Tiểu Đoàn 2 Quân Y khi đơn vị Bộ Binh được nâng cấp lên Sư Đoàn 2 BB. Tại đây thật đúng số trời, anh lại có mặt trong cuộc chống trả đợt tấn công Mậu Thân lần 2 khi VC manh nha đánh phá thị xả Quảng Ngãi nhưng rút lui sau một đêm bị thiệt hại nặng và không thành công. Và sau đó anh trở thành Y Sĩ Trưởng của Tiểu Doàn 2 Quân Y với cấp bực Thiếu Tá.

          Khi Anh được thuyên chuyển về phục vụ Trường Quân Y, BS. Dũng viết “Nay tôi đã về trường Quân Y Saigon, công việc tương đối nhàn…Năm 1973, tôi lập gia đình với Cô Sẻ, một thiếu nữ mảnh mai, sinh tại Hội An. Song thân nàng đều chính gốc Quảng Nam”. Hay là chổ này, trong một câu viết rất đơn giản, anh nhẹ nhàng giới thiệu ngắn gọn về người bạn phối ngẫu, với một chút kín đáo giữ riêng cho mình. Tôi đoán chừng có lẽ anh từng gặp chị trong thời gian anh làm việc ở Quảng Ngãi và trở thành vợ chồng trong khi anh thuyên chuyển vào Saigon. 

Trong khi đa số các bác sĩ đồng nghiệp đều có phòng mạch tư, anh vẫn đạp xe đạp và sau này đi xe mobilette cũ rích đi làm việc. Anh viết “Tôi mang cấp bực Thiếu Tá, lương khoảng 40.000 đồng mỗi tháng. Một bác sĩ làm phòng mạch tư, trước và sau giờ làm việc, có thể kiếm được 200.000 đồng mỗi tháng, hay hơn nữa”. Một bạn đồng nghiệp trẻ nói “Anh Dũng ạ. Anh hiện đã lập gia đình. Nghèo quá không nên”. Có người nhờ anh coi giùm phòng mạch của họ khi đi vắng, anh vui vẻ nhận làm vào những giờ nghỉ và được các đồng nghiệp đưa nguyên số tiền khám bệnh. Đồng thời, anh Dũng còn xin trực gát thêm tại Bệnh Viện Vì Dân và Bệnh Viện Nhi Đồng, ngoài những giờ làm việc tại Trường Quân Y. 

Tháng ngày tại trường Quân Y rồi cũng qua nhanh, dù có đôi chút đụng chạm. Tình hình đất nước đến hồi cận tử. Ngày Chủ Nhật, 27 tháng 4, 1975, BS. Trần Xuân Dũng gặp mặt Đại Tá Hoàng Cơ Lân tại trường Quân Y trong phòng trực của mình. Sáng sớm ngày thứ Hai, 28 tháng 4, 1975, Đại Tá Hoàng Cơ Lân gọi điện thoại, với lời đối thoại như sau “Đại Tá Lân: Sáng thứ Hai sẽ phải có lễ chào cờ vào lúc 7 giờ. Ý toi thế nào? - Tôi trả lời: Tôi đề nghị mình nên hủy bỏ buổi lễ chào cờ sáng thứ Hai này. Lý do: Việt Cộng pháo kích nhiều. Một trái có thể rơi vào vũ đình trường bất cứ khi nào.Số sinh viên và sĩ quan, hạ sĩ quan cũng như các khóa sinh sẽ bị tử vong, thương vong rất nhiều. Xin Đại Tá quyết định – Ông ngưng một phút rồi nói: Ừ thôi! Moi quyết định theo ý toi. Toi hủy bỏ buổi lễ chào cờ đi – Tôi đáp: Tuân lệnh. Đại Tá Chỉ huy trưởng buông máy xuống…Như vậy tôi là người sĩ quan trực cuối cùng của Trường Quân Y. Và cũng là người nói chuyện cuối cùng với Chỉ huy Trưởng cũng như nhận lệnh của Đại Tá Hoàng Cơ Lân, một cấp chỉ huy đáng kính, trước khi mất nước”

Đến chiều này 29 tháng 4, 1975, anh cho biết “vợ tôi bắt đầu chuyển bụng…Tôi định chở vợ tôi bằng cách cho ngồi sau chiếc xe Mobilette cũ rích… đến BV Từ Dũ…Lúc 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Tường Vi xuống tìm tôi báo tin cho biết: vợ tôi đã sinh rồi, lúc 5 giờ. Một bé gái… Tới 10 giờ sáng, ngày 30 tháng 4 Dương Văn Minh lên tiếng đầu hàng. Thế là hết”.

Một ngày vui với một mầm sống vừa vương lên với ánh sáng bình minh. Nhưng oái ăm thay đó cũng là một ngày buồn, một ngày đen tối, vĩnh viễn trở thành ngày quốc hận.

Giống như bao nhiêu quân nhân khác, BS. Trần Xuân Dũng vào trại tù cải tạo, cũng bị bầm dập, chà đạp nhân phẩm, đói khổ, lao động chân tay. Cũng nhìn những cảnh trái tai gai mắt, của những tên trở cờ, antenne… Cũng chứng kiến nhiều cái chết của tù trốn trại bị án tử hình, hay tù bị chết vì bệnh không có thuốc chửa. Hay những bệnh tâm thần, trầm cảm do tuyệt vọng, mất hy vọng trong tương lai, mất niềm tin vào người thân, đưa đẩy bạn tù tìm đến quyên sinh…

Tôi ngạc nhiên, cảm thấy gần gủi với anh Dũng một cách tự nhiên khi nhìn  hình 4 chiếc lược anh làm tặng vợ, 2 con gái và cô em gái Tường Vi của mình trong thời gian ở tù-- Vì chính cá nhân tôi cũng từng làm chiếc lược tặng vợ mình khi ở tù . Trong khi trên chiếc lược tôi chỉ đơn giản khắc tên vợ mình, anh Dũng lại khắc 1 câu thơ tình tứ “Gởi nhớ thương về trên tóc em”. Thật lãng mạn và tình tứ!

  Sau khi ra khỏi ra khỏi tù cải tạo vào năm 1978, anh Dũng được cho làm bác sĩ tại một phòng y tế phường ở Saigon. Tại đây anh có dịp chửa bệnh cho một thiếu nữ đang bị lên cơn suyễn nặng và tiếp tục điều trị cho cô ta trong nhiều lần sau đó. Khi biết được cha của cô hiện đang tù đày ngoài Miền Bắc, anh cố tình viết nhiều toa thuốc gồm những thứ thuốc thông thường nhưng rất cần thiết cho người trong tù, để cô ta lãnh thuốc từ dược phòng nơi anh làm việc và gởi, đem ra cho cha mình. Chính sự chửa trị “mát tay” và sự giúp đở vô tình nhưng rất nhân đạo của anh đã động lòng thân mẫu của cô bệnh nhân, để cuối cùng bà sắp xếp cho con gái bị suyễn kinh niên của mình vượt biên cùng một lần với gia đình vợ chồng anh cùng 2 con gái Chim Khuyên và Vàng Anh. Chuyến đi song suốt, tàu đến Mã Lai vào tháng 6, 1978. Tháng 8 cùng năm, gia đình anh chị chọn nước Úc làm miền Đất Hứa. 

Như có bàn tay nhiệm mầu sắp đặt, đời sống gia đình anh chị ổn định dần, nhất là sau khi anh bắt đầu hành nghề bác sĩ tư vào năm 1984 tại Melbourne. Theo thời gian, Chim Khuyên tốt nghiệp Dược Sĩ, em gái Vàng Anh tốt nghiệp trường Luật, và con trai út Xuân Vũ, sinh năm 1987 trên đất nước tự do, tốt nghiệp Nha Sĩ. Cây lớn mạnh thành cổ thụ, mọc rể, cành lá sum sê. Gia đình vui hưởng hạnh phúc. Tình thân ái nở rộ giữa các anh em đồng môn, đồng nghiệp, giữa các đồng đội và các cựu quân nhân. Trong hơn 4 thập niên xây dựng sự đoàn kết và tình tương ái của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, BS. Trần Xuân Dũng trở thành một khuôn mặt quý mến, từng đóng góp ý kiến, bài viết, vần thơ… cho nhiều nhóm bạn thân hữu, nhiều diễn đàn xa gần. Anh từng được vinh danh là người bác sĩ “nghèo” nhất Úc Châu – Thật đáng khâm phục -  Nhưng tôi cũng hiểu, bên cạnh, anh rất “giàu” về tình yêu quê hương đất nước, tình đồng đội, tình chiến hữu, tình nhân ái, tình người với người, tình yêu mến phục vụ bệnh nhân… Cũng vì vậy anh đã nhận lại bao nhiêu sự thương mến của biết bao đồng hương, bệnh nhân, đồng nghiệp và người thân quen.

Qua sáng kiến và cố vấn của người anh là anh Trần Xuân Ninh, bấy giờ đang ở năm cuối Nội Trú 1963, một người từng có sở thích làm báo từ khi còn ở trường Trung Học Chu Văn An, một nhóm sinh viên nòng cốt trường YK Saigon quyết định thành lập một tờ báo riêng cho toàn trường. Vậy là Báo Tình Thương được ra đời và chính anh Trần Xuân Dũng hân hạnh được bầu làm Tổng Thư Ký đầu tiên của tờ báo khi anh gần cuối năm thứ Năm Y Khoa. Sự kiện này giúp tôi hiểu vì sao chuyện viết lách, làm thơ rỏ ràng không phải là một vấn đề với BS. Dũng. Anh đam mê với công việc rao truyền văn chương và lịch sử, nên khi tôi nghe được chuyện vợ anh phải thế chấp căn nhà để lấy tiền cho anh in cuốn “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến”, tôi ngưỡng mộ anh bốn, năm thì thán phục chị đến sáu, bảy. BS. Trần Xuân Dũng hoàn tất tập thơ Sử “Như Sóng Thần Lên” sớm sủa vào năm 1990, sau đó là cuốn “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến” vào năm 1995, còn trước cả cuốn sách tương tự của binh chủng Nhảy Dù của tôi, rồi cuốn “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa” vào năm 2000, tập thơ “Nhị Thập Bát Tú” năm 2015.  Về sau “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến” được chính con trai út Trần Xuân Vũ dịch qua tiếng Anh, và “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” dịch qua song ngữ Anh Pháp. Biết bao nhiêu tâm trí và đam mê đổ hết vào đây!? 

Tương tự như tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ”, tác giả của “Văn Học Quân Đội” gom khoảng 42 bài viết từ những quân nhân gồm đủ mọi nghành, từ tác chiến cho đến yểm trợ, bao gồm cả quân y…mong nói lên, không những tinh thần chiến đấu dũng cảm, lòng hy sinh vô bờ bến của các chiến sĩ Miền Nam, mà còn cho thấy tinh thần thượng võ, cá tính nhân đạo của những người cầm súng chống xâm lăng. Đó thật sự là sự khác biệt quan trọng làm thấy rỏ làn ranh phân biệt giữa con người sống tự do, có nhân tính, dựa trên nền tản tử tế từ giáo dục gia đình của Miền Nam, và con người cộng sản với mưu mô thâm độc, được nuôi dưỡng trong hận thù vô sản với mục đích giết và giết để cưởng hiếp chiếm đoạt tất cả cho chủ nghĩa của chúng. Đây là một tác phẩm rất giá trị không những về lịch sử quân đội nói chung, về Thủy Quân Lục Chiến nói riêng mà còn về văn học.

Về sau, tôi cũng đọc vài bài thơ của anh Dũng, thưa thớt dần theo thời gian,  trong Tập San Y Sĩ, như “Khóc Y Sĩ Dù Hoàng Ngọc Khôi” – Khiêm cung, tài đức nhiều vô kể, Lời tiếc thương Anh khóc tứ bề -  “Hoa Sen và Giai Nhân” – Hoa Sen được ví như Giai Nhân, ngày đẹp như tranh, đêm tuyệt trần – “Thiếu Nữ Bên Hồ Sen” – Búp Sen e ấp cạnh nền xanh, Đêm về, trinh bạch tình dâng hiến, Sớm biệt, liêu trai dạ chẳng đành – tôi mường tượng anh bắt đầu tìm về cái tinh khiết nhẹ nhàng và hương gió đồng nội trong tuổi già. Nhất là khi tôi nhìn thấy những tấm hình chụp nông trại rộng lớn của cháu Vũ với cảnh những thiên nga bơi trong hồ, những con bò bình an gặm cỏ trong bải cỏ thênh thang, và nhất là hồ Sen khá rộng với bông Sen màu cánh sen và lá Sen xanh to tươi tốt. Đúng vậy, cháu Xuân Vũ đã tạo dựng một quê hương nhỏ Việt Nam cho cha mẹ dưỡng già. Tôi chia sẻ niềm vui cùng Anh khi biết về sau Anh tìm thấy sự đam mê trong chơi đàn Tây Ban Nha với loại nhậc Flamenco và chìm đắm trong nhiếp ảnh với máy ảnh luôn đeo trước ngực và một tập ảnh đen trắng nghệ thuật – Khói Mây Quên Bẵng Duyên Phàm Trước – in tặng cho nhóm bạn thân. Phải chăng “Quên Bẵng Duyên Phàm Trước” nói lên chặng đường đời anh sẳn sàng nuông bỏ?!

Tôi tìm thấy bài thơ “Bức Tượng Thương Tiếc Nghĩa Trang Quân Đội” được đăng nhiều nơi, trong Tập San Y Sĩ, trong “Y Sĩ Với Nàng Thơ”, trong “Văn Học Quân Đội” và trên nhiều diễn đàn thân hữu. Tôi cho đây là một trong những bài thơ BS. Trần Xuân Dũng đắc ý nhất, và bài thơ dễ dàng gây xúc cảm cho độc giả.

Đêm tráng sĩ qua sông lần vĩnh biệt

Tưởng đang còn cuộc rượu lúc tàn canh.

 Làm sao mà không xúc động thương tiếc những người chết trận vì không có gì cao quý hơn khi chết trận. Chết trận là chết không một than vãn, không một ai oán. Không có lấy một lời trân trối cho người yêu, không một lời xin lỗi với vợ dại con thơ. Người lính chết thật sự là những anh hùng đã đi vào huyết sử của dân tộc, là hồn thiêng của sông núi, là huyền thoại của đất nước. Họ vĩnh viễn là cánh gió tung bay trên vạn nẻo đường đất nước. 

“Đêm sâu em nghe rờn rợn - Mắt Anh rực lá Quốc Kỳ - Hãnh diện đền ơn Tổ Quốc – Chiến trường nào Anh ra đi?”

            Cho đến cuối cuộc đời, BS. Trần Xuân Dũng chứng tỏ mình là một con người chính trực, nhân hậu với nụ cười hiền lành luôn nở trên môi. Một con người trước sau như một, trong một dáng người roi roi khiêm tốn, không màng đến danh lợi. Anh là một bác sĩ công tâm, một quân y sĩ thanh liêm, đầy nhiệt huyết với Tổ Quốc, một chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến hết mình với anh em đồng đội, làm trọn nhiệm vụ với các thương binh. Một Sĩ Quan Quân Y thâm niên duy nhất còn lại làm việc tại trường Quân Y cho đến phút chót. Với gia đình, Anh là một người chồng lý tưởng, lo toan chu đáo cho vợ con; và một người cha gương mẫu, hiểu biết, nhận được sự thương mến và kính phục từ các con.

          Em Vĩnh Chánh viết bài này như một lời ngưỡng mộ gởi đến niên trưởng đáng kính BS. Trần Xuân Dũng. Dù chưa một lần hân hạnh “diện ngộ và hàn huyên” với Anh.

Em xin thành kính phân ưu với phu nhân BS. Trần Xuân Dũng và gia đình. Cầu mong phu nhân và gia đình bảo trọng.

Em cũng xin chia buồn với BS. Trần Xuân Ninh và chị Trần Tường Vi.

Em Vĩnh Chánh cũng xin chia buồn với Ban Biên Tập  “Tập San Y Sĩ Canada” vì sự mất mát của một cọng tác viên thâm niên và thân quý.

Em xin cùng được thắp nén nhang lòng, cầu nguyện hương hồn Bác Sĩ Trần Xuân Dũng vĩnh viễn bình an trong cõi vĩnh hằng, sau khi “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo – Thảnh thơi thơ túi rượu bầu”

          Cho phần kết, đàn em xin mượn mấy vần thơ “Xin Bình Yên Cuối Đời”của Bác Sĩ Trang Châu để tưởng nhớ đến anh Dũng – mỗi khi nhìn thấy sao băng trong đêm – một Đàn Anh xứng đáng để thương tiếc.

“Đôi mắt, ngày xưa trừng nhìn biên ải

            Quắt hận thù khi đồng đội vùi thây

            Từng giận người đi, sầu người ở lại

            Giờ, đêm về xin làm ánh sao bay”

 

Em Vĩnh Chánh - Quân Y Nhảy Dù

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH, Vĩnh Chánh
Comment

Quên quá khứ...( Nguyễn Văn Dõng)

September 9, 2026 Ninh Tran

            Quên quá khứ...   Nguyễn Văn Dõng

 

Sự đời có rất nhiều chuyện không nên nhớ, nhưng không vì thế mà phải quên đi tất cả. Mặt khác, có những người, trong vài trường hợp khá đặc biệt, không có quá khứ để quên. Ta có thể liên tưởng đến ông bộ trưởng hải quân Hoa Kỳ, Hùng Cao.

Ngày ông cùng gia đình trốn khỏi Việt Nam đi tỵ nạn CS, ông còn là một đứa bé con. Vì thế nên ông không thể có một quá khứ nào để nhớ để quên trên đất Việt. Cũng vì thế nên, 50 năm sau, khi trở về VN, với tư cách một người Mỹ, ông lớn tiếng kêu gọi chúng ta những người tị nạn CS,  “Hảy quên đi quá khứ...”, ông làm tôi tưởng ông là VC ! Những kẻ ở Bắc bộ phủ có dư lý do để kêu gào người tị nạn CS nên quên di quá khứ - của VC - để “mang tiền về giúp họ xây dựng lại bằng 5, bằng 10, tô son trét phấn cho cái bản mặt ghê tởm của XHCN “...Quá khứ của họ chỉ gồm toàn xương máu đồng bào, nên họ cần được mọi người quên đi. Trái lại quá khứ của kẻ thù thì họ luôn mồm nhắc đi, nhắc lại nhằm che giấu bao nhiêu tội ác của chế độ CS, và cũng để đánh bóng tính cách “ưu việt” của kẻ chiến thắng...Người ngu vẫn nghĩ rằng thiên hạ đần độn hơn họ...

Ví như ông Hùng Cao có thân nhân bị VC chôn sống ở Huế, hay bị thảm sát trên đại lộ kinh hoàng ngày nào, hay bị VC giết chết trên chiến trường dù đã bị thương, thay vì giúp đở cứu chửa hợp nhân đạo... liệu ông có đủ can đảm, đủ khôn ngoan, để kêu gọi xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, và tự nguyện làm “trung gian” hoà hợp hoà giải với CS, giúp chúng nó xây dựng một xã hội tù đày, tham ô, thô bạo ?...

Người Mỹ có mục tiêu, chính sách riêng của họ. Ông Hùng Cao chỉ là con chốt sang sông. Ông đến VN với nhiệm vụ của chính phủ Mỹ giao phó; ông không có tí quyền hạng nào để bàn về vấn đề của người Việt tị nạn với VC. Những gì ông nói trong các lần hội kiến với các đảng trưởng CS, chúng ta không phải nhọc công thắc mắc, bình luận. Nếu có thắc mắc chăng, ta nên lưu ý đến cung cách “cà chớn” của VC, một tiểu xão tuyên truyền rẽ tiền của kẻ tiểu nhân : chúng nó không treo cờ Mỹ trong phòng hợp với các thẫm quyền cao cấp. Thiên hạ chỉ thấy Hùng Cao ngồi dưới tượng giặc Hồ hay đứng phát biểu với lá cờ đỏ sau lưng. Kẻ vô tâm, tối dạ sẽ lầm Hùng Cao là người nhà của VC. Chỉ có người không dầy dạng gió sương giang hồ mới chấp nhận sự việc như vậy. Một nhân vật quan trọng của một cường quốc mà được đón tiếp “đơn sơ” đến không có được lá cờ xứ mình ngang tầm cở với lá cờ đỏ trong phòng hợp !“Sự cố” nầy tôi mới gặp lần đầu, và có lẽ chỉ có ở VN.

Trái lại chúng ta phải hiểu một điều : tất cả những thành công rực rỡ của người tị nạn trên đất Mỹ đều thuộc về Mỹ, dân Việt không được hưởng một tí nào, ngoài chút hư danh theo kiểu thấy sang bắt quàng làm họ. Những quả bom phá sập núi non, tàn sát bọn phiến loạn, khủng bố Taliban có làm rụng sợi lông nào của VC để giải cứu dân ta đang bị đàn áp, nghèo đói đâu ? Đây cũng chính là điều làm tôi đau lòng không thua gì khi nhìn các đồng đội gục ngã trên chiến trường tuổi mới đôi mươi. Trí tuệ dân ta có kém ai đâu, cớ sao dân ta vẫn triền miên trong chậm tiến, nghèo đói..? Cái đau đớn, nhục nhằn nhứt là chúng ta đã bị Mỹ bán đứng cho CS, đẩy chúng ta xuống 9 tầng địa ngục; để rồi chúng ta lại phải mang ơn họ cứu vớt. Cuối cùng chúng ta đã cống hiến cho họ những thành phần ưu tú nhứt, giúp họ xây dựng một nước Mỹ hùng mạnh, giàu có. Dân ta thì vẫn khố rách áo ôm...Chúng ta đã thua, thua trên mọi mặt, thua tận xương tủy, thua không còn manh giáp !

                                             “Buồn nầy bao kiếp nguôi”...?

Trên mạn khi đọc thấy hay nghe nói Ô. Hùng Cao về VN, tôi bắt tức cười : những nhà báo nầy nếu không dốt tiếng Việt thì cũng có hậu ý đánh lừa thiên hạ, những người dễ tính, lười suy nghĩ. Có bao giờ trong tư thế một người tị nạn nay đã nghiễm nhiên thành một nhân vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ, ông lại tự nhiên về thăm VN như mọi người? Vì không thể về VN như trăm ngàn người tị nạn khác đã làm, ông Hùng Cao chỉ về với một nhiệm vụ được chính phủ giao phó. Từ đó phải hiểu rằng những gì ông nói là nói với tư cách một người...Mỹ. Những câu “khách sáo” bên lề chỉ để cho vui vậy thôi, để khoe rằng ông cũng rành tiếng Việt, cũng “mang trong người dòng máu Việt”(chẳng lẽ máu của ông đã biến thành máu..Mỹ ?)... Ai tin là quyền của họ; kinh nghiệm sống cho thấy đối với người làm chính trị nên... cẩn thận. Ông bà ta đã dạy : ăn cơm chúa phải mùa tối ngày. Người biết chuyện khi nói đến ông Hùng Cao trong thời gian ông thăm VN, đểu phải nêu rõ danh tính của ông : “Bộ trưởng bộ Hải quân Hoa Kỳ” để tránh rất nhiều nhầm lẫn như đang lan tràn trên mạn, nhầm lẫn đưa đến tranh cải rất buồn cười. Đã có không ít người lớn tiếng gán cho ông Hùng Cao hai tiếng phản bội. Họ nói mà rõ ràng là họ chẳng biết nói gì khi họ vô tình trách ông bộ trưởng Hải quân Hoa kỳ đã phản bội công đồng người Việt tị nạn ! Toàn những cái thùng rổng thích kêu to. Có lẽ họ muốn ông Hùng Cao lợi dụng chuyến đi nầy để chống cộng...dùm họ ? Họ không vui tí nào khi thấy ông Hùng Cao tay bắt mặt mừng với các tay đầu xỏ VC, lại còn khuyến khích đôi bên cùng hợp tác trên nhiều mặt, từ kinh tế đến quốc phòng...Không một người tị nạn chân chính nào không “ nóng mặt” trước cảnh tượng đó cả. Đấy là phản ứng tự động rất tư nhiên, hợp tình, hợp lý. Nhưng người hiểu biết thì vẫn “mặt lạnh như tiền”; trên chính trường “thấy vậy mà không phải vậy, thưởng thì tệ hơn vậy nhiều”. Tôi cứ ngở bao nhiêu cái tối dạ, dốt nát VC đã gồm thâu làm của riêng hết rồi chứ...

Người Mỹ họ không chống cộng như chúng ta. Họ nói ít nhưng âm thầm làm nhiều. Hảy mở to mắt ra mà nhìn những gì TT Trump làm và đã làm được, từ Vénézula đến Cuba vì họ có dư phương tiện...VC bề ngoài vui vẽ đón tiếp “sứ thần” Hùng Cao, nhưng trong lòng lo bấn xúc xích : họ dư hiểu số phần của họ đang trong “tẩm nhắm” của Trump, một người mang quyết tâm không chấp nhận CNXH có mặt trên địa cầu nầy. Ngày nào Trung cộng bị đánh tan xác, không bằng súng đạn mà bằng kinh tế, ngày đó VC và cả Bắc Hàn cũng không thể sống sót. Riêng Cuba thì chế độ đã đến ngày tàn. Nhắc đến Cuba bổng thấy tức...cười. Tức vì người Cuba họ chống CS rất tích cực; họ không khi nào trở về “thăm nhà”, du hí và mang tiền về giúp CS sống vững như người Việt. Và cười vì người Việt còn hơn người Cuba xa, không những họ chỉ về “chơi” mà còn mang cả tài sản về dưởng lão nữa cơ. Còn gì để nói nữa không ? Mà nói gì với những kẻ trong đầu không có óc chỉ có bả đậu ?

Gần đây ông Hùng Cao xuất hiện và phát ngôn hơi nhiều trên mạn làm tôi lo cho ông ta, bởi vì người khôn nói ít nghe nhiều. Trong chính trường những cuộc phỏng vấn thường là những cái bẩy mà Tây gọi là “attrape-nigaud”. Nhìn lại thì trong bao nhiêu nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng VN chẳng có mấy ai xuất hiện nhiều như ông Hùng Cao. Phe ta vẫn còn cái cố tật thấy sang bắt quàng làm họ, nếu kéo vào băng để được dựa hơi lấy tiếng...Họ ồn ào mà chẳng bao giờ chịu hiểu rằng các chế độ đọc tài không bao giờ do dân trong nước đứng lên tự giải phóng được: họ sẽ bị tàn sát không thương tiếc. Chuyện Thiên An Môn còn đó, và gần đây hơn, trên 40 ngàn người Iran xuống đường biểu tình chống chế độ đọc tài của các giáo chủ hồi giáo, đã được các giáo chủ nầy giải thoát đưa lên “thiên đàng” để các tiên nữ trên đó hầu hạ... Đối với những kẻ chỉ biết dùng bạo lực để tồn tại, chúng ta phải mạnh hơn họ mới mong tự cứu được. Vì không hiểu điều nầy nên đa số chúng ta đã bị gạt một cách hết sức nhẹ nhàng qua cuộc kháng chiến cuội năm nào...

 VNCH đã bị Mỹ Dân Chủ bán cho CS, thì nay Mỹ Cộng Hòa chứ không ai khác sẽ đủ sức mạnh để giải cứu VN.

                                                           Clermont Ferrand, một ngày vào Hạ 2026.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Quên quá khứ..., Nguyễn Văn Dõng
1 Comment

NỢ ẤM Ớ (Nghiêm Hữu Hùng)h

September 2, 2026 Ninh Tran

Hình trên Nét

NỢ ẤM Ớ (NHH)

 

Trước hết xin thưa với các bạn đọc là chữ NỢ ẤM Ớ tôi dùng làm đề tựa cho câu chuyện này, hoàn toàn đứng đắn, không hề có dụng ý giễu cợt, chỉ vì tôi không biêt dùng chữ nào khác để diễn tả câu chuyện dười đây:

 "Tôi không hề NỢ ông bạn này bất cứ một thứ gì. Tiền cũng KHÔNG mà ÂN TÌNH lại càng KHÔNG.! 

Thế mà tôi đã phải ký giấy cho ông ta, nhận là mình đã nợ và cũng đã trả cho ông ta gấp cả chục lần về một thứ mà mình… không hề nợ !".

 Câu chuyện tuy hơi dài dòng, nhưng với ai đã từng đi "Tù Cải Tạo" sẽ dễ thông cảm hơn.

 Ngày 22  tháng 5 năm 1979, sau gần 4 năm tù, và nhiều lần chuyển trại, tới Hốc-Môn, thì tôi nhận được "Lệnh Tha", và được phóng thích 2 ngày sau đó, tình cờ trùng vào đúng ngày Sinh Nhật của tôi. Sở dĩ tôi bị tù lâu hơn các chuyên viên khác một năm vì trong hồ sơ đã từng bị kỷ luật, cùm chân, vì những "phát ngôn linh tinh".

 

Và đây là câu chuyện nợ:

Ở Hốc-Môn, đời sống tù tương đối dễ chịu vì có đất để canh tác, nên những bạn tù giỏi về mưu sinh, đã trồng thêm rau, bầu, bí, mướp v...v...

Nhân vật "chủ nợ" của tôi là một ông Thiếu Úy đã lớn tuổi, gốc Hạ Sĩ Quan, đi lính từ thời Pháp, dân Nghệ An, có cái tên khá hiếm và tương đối dễ nhớ là Nguyễn văn RA.

 

Ban đầu ông Ra có biệt danh là 'Ra-ăng-ten' vì là tổ trưởng, nhiêm vụ chính của anh ta là báo cáo với trưởng trại giam về những lời nói và hành động của tù nhân có thể gây nguy hiểm cho ... "Cách Mạng".

 

Sau đó ông Ra lại được đăt thêm một tên nữa là "Ra-Vịt" , không phải tên Tây, mà vì đã tận tình làm ‘ăng-ten’ nên anh ta được hưởng đặc ân cho nuôi một đàn vịt khoảng 7, 8 con.

Sinh ra từ vùng đất 'Chó ăn đá, gà ăn muối' ở Nghê An, cũng là quê hương của Hồ chí Minh, cộng thêm cuộc sống đói khổ trong tù, nên ông Ra xem bày vịt là cả một gia tài, sẵn sàng... "hy sinh tính mạng" để bảo vệ ... mấy con vịt!.

Nuôi vịt trong trại tù là một công việc cực kỳ khó khăn, đất Hốc-Môn khô cằn nên đào bới suốt ngày để tìm 'giun', thức ăn khoái khẩu của loài vịt mà vẫn không thấy, ông Ra đành phải chầu chực bên bếp ăn với chút hy vọng xin cơm thừa của bọn cán bộ việt cộng! 

Nhưng kế hoạch này coi bộ cũng không khá vì bọn bộ đội có thói quen từ trong rừng, theo lời dạy "Cần; Kiệm, Liêm Chính"của bác Hồ: "Phải liếm đến hột cơm cuối cùng để vừa khỏi đói, vừa không tốn nước rửa bát".

Sau cùng, vì lo lũ vịt đói nên ngày ngày ông Ra phải ra cầu tiêu công cộng của trại giam, dùng vợt vớt lũ giòi lúc nhúc đem lên tắm rửa sạch sẽ cho từng con giòi, rồi "dâng" lên cho lũ vịt của ông... 'sơi'.

Chắc nhiều người cũng chưa từng được chứng kiến cảnh mỗi khi ông Ra khệ nệ bưng mâm giòi ra, lũ vịt cũng ... rùng mình bỏ chạy !

Lo toan đến thế mà lũ vịt của ông ta vẫn còi cọc, nên ông Ra than thở:  "Bọn tù còn thiếu ăn nên 'phế phẩm' không đủ các loại vi-ta-min B1, B12, cholesterol .... Làm cho vịt của tui vừa thiếu thông minh, vừa ... chậm lớn" !!!.

 

Thật tình mà nói, trên đời này. rất khó tìm ra người nào mang sắc đẹp tổng hợp của "hồn thiêng sông núi" như ông Ra ! 

Đôi mắt ti hí, cùng với đôi môi sưng phồng như "Lồn trâu đến tháng đẻ" của đồng chí Thủ Tướng Phạm văn Đồng, đươc gắn trên khuôn mặt dài như mặt... "ngựa cái tới ngày động đực" của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn một cách rất 'hài hòa'!

Thế mà ông Ra vẫn lấy làm tiếc vì bộ răng vẩu đã làm cho phát biểu của ông trong những buổi học tập về lời dạy của Lê Duẩn: "Chúng ta đánh Mỹ ở đây là đánh giúp cho ông Liên Xô và ông Trung quốc!", trở nên thều thào, mất hẳn đi tính chất "oai hùng" của đồng chí Tổng bí thư!.

Thật đến khổ cho tôi ! vì chỗ nằm của tôi ngay bên cạnh ông Ra! Nên mỗi buổi tối trước khi ngủ, ông ta bắt mấy con vịt cho nằm chung trong mùng vì sợ chúng đi lạc hoặc bị đánh cắp. 

Tôi mất ngủ vì mùi hôi của vịt và tiếng lục xục của lũ vịt cứ "cạp-cạp" cả đêm ! 

Mùi hôi thì chịu mãi cũng quen, nhưng tối ngủ mà hai tay tôi cứ phải bịt chặt phần...dưới, vì những cơn 'ác mộng' xảy đến hàng đêm, lũ vịt đói với cặp mỏ cứng như thép, tốc mùng chui vào, cứ nhằm đúng cái gì trông giống như con giun mà mổ, rồi 'nuốt chửng' cái dụng cụ để 'nối dõi tông đường' của mình, trong lúc tuổi còn xuân, chưa từng biết yêu ai! 

Nên mỗi buổi sáng thức dậy kiểm soát thấy vẫn còn 'nguyên vẹn hình hài' mới thật sự ... yên tâm!

Hơn thế nữa, ở cạnh một tên 'ăng-ten', tôi tự nhiên biến thành một người tu 'tịnh khẩu' để khỏi mang họa vào thân, mặc cho ông Ra 'độc thoại'. 

Câu chuyện đắc ý nhất mà ông ta kể cho tôi nghe cả trăm lần:

"Sở dĩ tôi mang tên RA là vì ở quê bác, đàn bà ăn nhiều mắm quá nên đều... đẻ khó, tới  lúc mạ tui sanh tui, tía tui đứng ngoài vừa giậm chân vừa chửi "Đụ mạ mi, RA... mau đi, thế là tui... "phọt" ra!

 

Dù xấu người xấu nết nhưng vẫn phải công nhận ông Ra là người có tầm nhìn xa, không thua gì... Bác Hồ ! Mỗi tối trước khi ngủ ông đều lục trong ba-lô tấm hình của cô con gái, say sưa ngắm nghía, rồi chìa ra cho tôi xem, nức nở khen ngợi sắc đẹp con gái mình vì trông cô ta... "giống y như bố"!!!

Tuy nhiên, nhờ tầm nhìn xa, ông Ra chỉ đem khoe hình cô con gái với những anh còn trẻ và độc thân -trong  số đó có tôi- và đối xử khá nương tay, tránh cho những công việc nặng nhọc và không báo  cáo với bọn cán bộ mỗi khi mình vi phạm nội quy.

 

Tôi đang sống yên ổn nhờ cái "mác" độc thân thì bỗng một hôm bị ông Ra coi như kẻ thù "không đội trời chung!".

Buổi sáng bôm đó, khuôn măt luôn cau có, khó đăm đăm của ông ta tự nhiên trở nên vui tươi, nhẹ nhõm và ông ta ra lệnh cho anh em được miễn lao động nặng nhọc một ngày.

Thái độ bỗng nhiên quay ngoắt 180 độ của ông ta, được một anh bạn trẻ, vui tính giải thích:

"Đêm qua, nghe tiếng vịt rên la thảm thiết, thức dậy đi đái, qua chỗ ông Ra nằm, nhìn vào mùng thì thấy ông ta đang ... ''ấy" với con vit, nên sáng nay mặt mũi mới tươi tỉnh như thế !!!". 

Một anh bạn khác, chẳng hiểu vì tò mò hay vì muốn trêu chọc ông Ra, còn bắt con vịt đang đi lạng quạng cuối đàn, rồi vạch đít ra xem, sau khi bị ông Ra... "ấy", nó có mắc bệnh trĩ, giống ông Ra, chủ của nó không? 

Sau lời đồn này, ông Ra tự nhiên có thêm một biệt danh mới là "Mông sừ Đu-Vi", mà vì không biết tiêng Pháp nên tôi cũng không rõ ý nghĩa và điển tích ra sao.

Chẳng biết lời đồn bắt đầu từ ai, nhưng ông Ra cứ cả quyết tôi là "thủ phạm", vì chỗ nằm của tôi ngay cạnh ông ta! 

Kể từ hôm đó, bao nhiêu "đau khổ của trần gian" đều giáng lên đầu tôi ! Những công việc lao động nặng nhọc nhất ông ta đều bắt tôi làm một mình và báo cáo cho bọn cán bộ là tôi "học tập không tiến bộ," "trây lười lao động", kể cả chuyện ... ban đêm tôi ngủ mà tay cứ bịt chặt phần dưới, làm mất cả "khí thế cách mạng !!!"

Kể ra, với những người suốt đời đói khổ, nếu có xấu tính một chút cũng là điều có thể hiểu được, nhưng không may cho tôi, lúc đó mỗi lần được thăm nuôi, anh em tôi ở Mỹ đều gửi quà cho, mà tôi lại cố tình lờ ông ta đi vì khinh ghét những con người chỉ vì một chút quyền lợi nhỏ mà sẵn sàng chà đạp lên thân xác người khác !!

 

Trở lại với câu chuyện NỢ

 

Sau khi nhận 'Lệnh Tha và chờ ngày phóng thích, thường thì những người may mắn được về trước sẽ để lại số tiền nhỏ nhoi còn sót lại và tất cả mùng-mền-chăn-chiếu rách nát cho các bạn tù kém may mắn còn ở lại. Và theo thông lệ cùng nhau đóng góp chút tiền để tổ chức một bữa tiệc chia tay.

Bữa tiệc chia tay tôi hôm đó do "giặc lái" Mai văn Kỳ, biệt danh "Kỳ Rỗ", phi công C130, đảm nhận. Mai văn Kỳ, người bạn thân nhất của tôi trong tù, là một chàng phi công cực kỳ nóng tính nhưng hiểu đời, rất thông minh và tốt bụng.

"Giăc lái" Mai văn Kỳ, liên lạc với một thằng bộ đội nhóc con (sau mấy năm 'giải phóng' đã bắt đầu biết ăn hối lộ), nhờ mua một bi-đông rượu đế và một con vịt để nấu cháo và đánh tiết canh. Dĩ nhiên giá con vịt này ít nhất cũng gấp 3 lần bên ngoài, nhưng sống trong tù, quanh năm đói khổ nên thức ăn quan trọng hơn tiền nhiều.

Chuyện mua bán 'lậu' này được trao đổi bí mật qua hàng rào kẽm gai của trại giam, với lời dặn của thằng bộ đội:

"Nếu lỡ bị bắt gập, các anh nhớ không được khai em ra, để mấy người khác sau này còn mua bán được, và các anh sẽ bị kỷ luật, nguy hiểm hơn em nhiều"

 

Tôi không hề biết chuyện mua bán này, nếu biết chắc chắn tôi đã cản vì nhớ lại cảnh vịt ăn giòi và những cơn 'ác mộng' ban đêm đang ngủ, bị lũ vịt đói tấn công vào tận 'mật khu', để biến tôi thành một anh chàng pê-đê... miễn phí, mà vẫn còn ... ớn lạnh !

Không may cho chúng tôi, đúng ngày hôm ấy, đàn vịt của ông Ra bị mất 2 con, nên ông ta cả quyết con vịt bị mất là do chúng tôi ăn cắp !

"Tình ngay mà lý gian!" vì cả bọn chẳng có ai nuôi vịt mà lại có vịt để ăn, nhưng không thể giải thích về gốc tích của con vịt !

Suốt cuộc đòi tôi chưa bao giờ được thấy cảnh một người đàn ông "Khóc cho con vịt ... vừa nằm xuống" vừa bi thương vừa hung dữ đến thế !

Ông Ra xông lại chỗ chúng tôi vừa khóc vừa chửi thề rất tục tĩu:

"Đụ mạ bọn trí thức Ngụy như chúng bay chỉ toàn là một lũ ...ăn cắp! Tao sẽ báo cáo cho cán bộ biết để bỏ tù chúng bay... rục xương!"

Nghe thế, Kỳ rỗ nổi điên, vác ngay con dao vừa cắt cổ vịt để đánh tiết canh, xông tới định ... cắt cổ Ra-Vịt. Cũng may mà chúng tôi dành lại được, nên mới tránh được cảnh … "Máu nhuộm Bến Thượng Hải" trong Trại Cải Tạo.

Tình thế thật khó cho tôi, vì nếu ông Ra làm lớn chuyện, báo cáo cho bọn cán bộ, thì không chừng tôi sẽ phải ở tù thêm, không có ngày về.

 

Sau cùng một vị Tu Sĩ Phật giáo -suốt đời ăn chay- đã đứng ra gỡ rối cho tôi,  bằng cách tự "nhận tội" trộm vịt vì quá thèm tiết canh và cháo vịt !!!

Chúng tôi gom góp tiền để đền cho "Mông Sừ Đu-Vi" và dâng luôn đĩa tiết canh cho ông ta vì chẳng còn hứng thú gì.

Nhìn cảnh ông Ra khóc thương con vịt mà miệng đỏ lòm vì ngồm ngoàm... tiết canh, tôi bỗng nhiên vừa buồn vừa thương hại nên an ủi anh ta:

"Anh Ra ạ, gia đình tôi bên ngoài dư ăn nên mai mốt anh được  tha về, cứ ghé nhà tôi, tôi sẽ cho anh đủ tiền để ăn thịt vịt một tháng'

Điều lạ nhất là ông Ra không tin tôi, nên bắt tôi ký giấy nợ anh ta một tháng ...tiết canh vịt !!!

 

Hai năm sau, một hôm ông Ra đạp xích lô (nghề mới của anh ta sau khi ra tù) đến nhà tôi, chìa ra tờ giấy nợ.

Cả tháng sau đó, mỗi buổi chiều, tôi và Kỳ Rỗ chễm chệ ngồi trên xích-lô do Ra-Vịt đạp tới quán cháo vịt nổi tiếng gần Chợ Bến Thành để nhậu rượu đế với tiết canh vịt.

 

Tôi rất vui khi làm việc trả nợ này vì đọc ở đâu đó lời khuyên:

"NỢ là phải TRẢ, nếu kiếp này không trả được thì sẽ vướng mắc tới kiếp sau!".

 

Trong câu chuyện này, tôi không hề NỢ ông Ra bất cứ một thứ gì! TIỀN cũng không mà ÂN TÌNH lại càng KHÔNG !

Nhưng tôi vẫn cứ "tạm ứng" ra mà trả cho ông ta, vì "Duyên Khởi Trùng Trùng"

Nếu kiếp sau mà tôi có gập lại ông Ra thì cũng chẳng sao, dù nhớ hay quên vẫn có thể dắt nhau ra quán nhậu rượu đế với tiết canh, chẳng hận thù gì.

Nhưng nếu lỡ chẳng may mà gập phải con gái ông ta thì ...’Bỏ Mẹ.’

 

NHH

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags NỢ ẤM Ớ, Nghiêm Hữu Hùng
Comment

Người Em Sầu Mộng

September 2, 2026 Ninh Tran

Bà là Phùng Thị Cúc, sinh năm 1920; một người con gái xứ Huế. Trong tập Hồi ký có tựa Nửa đêm sực tỉnh (Nxb Thuận Hóa, 1989), nhà thơ Lưu Trọng Lư kể: Khi đó Phùng Thị Cúc là một cô nữ sinh từ Huế ra Hà Nội học.Trên chuyến tàu tốc hành Huế – Hà Nội, cô được người chị là bạn của Lưu Trọng Lư gửi gắm nhà thơ trông nom giùm em gái, với lời dặn thân tình “dọc đường giúp em một chút”.

Cúc là cô gái Huế sang trọng, đài các, hoa khôi của Trường Đồng Khánh Huế đã hút hồn nhà thơ đa tình ngay từ phút đầu gặp gỡ. Suốt chặng đường dài, hai người cũng chẳng có chuyện gì nhiều để nói với nhau. Cúc im lặng ngắm cảnh dọc đường. Và nhà thơ thì lẳng lặng nhìn ngắm giai nhân. Khi tàu về đến ga Hà Nội, thay vì chia tay nhau, nhưng nhà thơ đã hỏi địa chỉ và tình nguyện đưa cô đến tận nơi.

Tìm đến đúng địa chỉ, ông đưa Cúc lên tận căn gác nhỏ, nơi có căn phòng của những người bạn, người chị của cô đang ở. Chào hỏi, dặn dò rồi chia tay. Khi vừa xuống gác, ra đến đường thì tình cờ nhà thơ gặp thi sĩ Phạm Hầu. Phạm Hầu mời Lư vào nhà chơi. Khi lên gác, bước vào một căn phòng, mở cửa sổ ra, nhà thơ giật mình khi nhìn thấy người bạn đường xinh đẹp mà mình vừa chia tay ít phút trước đây đang ở ngay bên khung cửa sổ căn phòng đối diện!

Vậy là không một chút đắn đo, Lư quay sang nói ngay với bạn: “Mình ở luôn đây với cậu được không?”. Phạm Hầu nhiệt tình vui vẻ đồng ý. Suốt mùa đông năm đó, giữa cái giá lạnh của tiết trời Hà Nội, nhà thơ đã được sống trong sự ấm áp dịu nhẹ của một mối tình sáng trong, thơ mộng. Và cũng từ đấy bài thơ Một mùa đông của Lưu Trọng Lư đã ra đời với những câu thơ bất hủ như:

Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói,
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng…

Ở căn phòng bên này cô gái cũng không thể vô tình. Bởi ngay lần đầu tiên, khi nhà thơ nhìn qua cửa sổ đã bắt gặp đôi mắt Cúc mở to, sững sờ nhìn người anh “dẫn đường” rồi sau đó bối rối mỉm cười rời khỏi khung cửa. Sau này, thật lạ lùng mỗi khi nhà thơ bất thần mở cửa sổ lại nhìn thấy Cúc: khi thì đang ngồi đọc sách ôn bài, khi thì đang cắm một lọ hoa. Cũng có khi Cúc chẳng làm gì, ngồi suy tư mơ mộng. Cũng có khi nghe một tiếng ho nhẹ, nhà thơ mở hé cửa nhìn sang lại bắt gặp nụ cười bối rối, e thẹn của người đẹp. Cũng có lần khi mở cửa sổ, nàng không hề ngước lên nhìn, cho đến lúc cánh cửa như tự nó khép lại. Lại có lần không biết vì chuyện gì, Cúc ném sang bên này một cái nhìn hờn giận, trách móc khiến nhà thơ ngơ ngẩn suốt một buổi chiều.

Mọi việc dường như chẳng có gì khác lạ: Cửa sổ mở rồi lại đóng, đóng rồi lại mở. Thế nhưng sự trông đợi nhớ nhung đã thấm vào gan ruột từng ngày từng ngày một. Làm sao có thể nhớ hết được biết bao lần Cúc đã vào trong giấc mơ của thi sĩ đa tình, đã trở thành nguồn cảm hứng cho bài thơ Một mùa đông ra đời. Bài thơ gồm những đoạn kể lại một chuyện tình trong mộng ảo mà thấm đẫm những nỗi đau có thật.

Yêu hết một mùa đông
Không một lần đã nói,
Nhìn nhau buồn vời vợi
Có nói cũng không cùng.
Trời hết một mùa đông

Gió bên thềm thổi mãi,
Qua rồi mùa ân ái:
Đàn sếu đã sang sông
Em ngồi trong song cửa
Anh đứng dựa tường hoa,
Nhìn nhau mà lệ ứa,
Một ngày một cách xa.
Đây là dải Ngân Hà,
Anh là chim Ô thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Một đêm một lần qua…

Nhà thơ đã lý giải thật tài tình tâm trạng và nỗi lòng của mình. Có lẽ đây là đoạn thơ có những câu thơ ấn tượng hơn cả:

Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời,
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.


Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân?

Thật thú vị khi được biết rằng trong bài thơ lãng mạn này lại chứa đựng những câu chuyện hoàn toàn có thực. Nhà thơ kể rằng, sau một thời gian sống cạnh nhau, tình cảm của hai người cũng có “bước phát triển” mới. Theo sự sắp đặt của những người bạn, có lần hai người đã đi chơi Chùa Thầy cùng với một nhóm bạn. Sau một hồi leo núi, nhìn chung quanh chẳng thấy ai, chàng và nàng ngượng ngập đi bên nhau. Đến trưa cả nhóm mới trở lại sân chùa cùng ăn trưa. Bữa trưa có gà quay và rượu vang Pháp. Bắt chước mọi người, Cúc cũng uống vài ly rượu nho. Đôi má ửng hồng và cặp môi nhuốm màu nho chín, rơi trên trán vài lọn tóc đen nhánh… Tất cả đã tạo thành một hình tượng nghệ thuật có sức ám ảnh lớn:

Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em vẫn đùa nô uống rượu say.
Em có biết đâu đời vắng lạnh,
Lạnh buồn như ngọn gió heo may.

…

Tuy môi em uống, lòng anh say,
Lời em càng nói càng chua cay
Anh muốn van em đừng uống nữa,
Lệ buồn sẽ nhỏ trong đêm nay…

Nhà thơ Lưu Trọng Lư

Nhưng câu chuyện tình thơ mộng của họ cũng chỉ đi đến đó. Họ mãi mãi chỉ là đôi tình nhân giữa một nghìn trùng xa cách vì rất nhiều lý do. Mãi đến năm 1975 họ mới có dịp gặp lại nhau. Lúc đó Phùng Thị Cúc từ Paris về Hà Nội. Người em gái bé bỏng ngây thơ hôm nào bây giờ là bà Điềm Phùng Thị – một Điêu khắc gia nổi tiếng thế giới.

Tìm hiểu thêm sự nghiệp của bà Điềm Phùng Thị thì được biết: năm 1946, bà tốt nghiệp Bác sĩ Nha khoa tại Hà Nội, nhưng không lâu sau đó, vì mắc phải một cơn bạo bệnh, bà được đưa sang Pháp điều trị. Tại Pháp, sau khi khỏi bệnh, bà tiếp tục theo đuổi con đường học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án Tiến sĩ Nha khoa. Trong khoảng thời gian này, bà đã cùng một người bạn mở một phòng khám nha tại Paris. Tại đây bà đã gặp, yêu và kết hôn cùng ông Bửu Điềm, vốn là một bác sĩ đang sống ở Pháp. Cái tên Điềm Phùng Thị của bà cũng ra đời từ đó khi họ của bà được ghép cùng tên của chồng.

Sau khi lấy được tấm bằng tiến sĩ, thay vì cống hiến cho sự nghiệp khoa học, bà lại bước vào thế giới nghệ thuật với rất nhiều điều lạ lùng. Đến với điêu khắc từ 1959 khi vừa 40 tuổi, bà vừa làm phòng mạch, vừa tự học điêu khắc. Ít lâu sau, để hoàn thiện bà ghi danh theo học điêu khắc tại xưởng của điêu khắc gia Volti ở Paris.

Năm 1966, bà có triển lãm riêng đầu tiên tại Galerie des Jeunes, Paris. Tượng Mẹ và con của bà đã hoàn toàn chinh phục được công chúng thưởng lãm. Chính phủ Pháp đã quyết định mua bức tượng để đặt trong một công viên trẻ em.

Thành công từ bức tượng đầu tiên ra mắt công chúng yêu nghệ thuật, bà bắt tay vào làm nhiều tượng mới để một năm sau đó bà lại có cuộc triển lãm tại Gallery Kasler ở Copenhagen, Đan Mạch, và sau đó là các cuộc triển lãm riêng và chung ở nhiều nơi khắp châu Âu.

Bà cũng là người có nhiều sáng tác thơ văn. Bài thơ “Marie, em vẫn đẹp!”” do bà sáng tác lúc về an dưỡng tại quê nhà:

“Và nếu có ai đó ngắm nhìn
dừng chân và cảm mến
con người trong tôi
tức là tôi đã thành công
Nếu tôi thất bại và chẳng ai chìa tay cho tôi
tôi sẽ đút tay vào túi, thật sâu
mặc kệ không sao đâu,
Marie, em vẫn đẹp như thường!”

Tháng 2/1994, Nhà Điềm Thị Phùng ở số 1 Phan Bội Châu, Huế chính thức khánh thành. Đây là nơi ở cuối đời và cũng là nơi trưng bày hơn 200 tác phẩm của bà. Trước khi qua đời vào năm 2002, bà quyết định chuyển toàn bộ tác phẩm còn lại ở Sài Gòn (trên 130 tác phẩm) và ở Pháp (trên 50 tác phẩm) về Huế. Đây thật sự là món quà vô giá mà bà gửi tặng quê hương trước khi đi vào cõi vĩnh hằng…

Tôn Thất Thọ

-Nhạc phẩm Người Em Sầu Mộng- Ca sĩ Sĩ Phú trình bày:


https://youtu.be/ASU7Lv2fv7I?si=t9JER_wmUzog6uUN

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Người Em Sầu Mộng, Tôn Thất Thọ
Comment

Lake America

September 2, 2026 Ninh Tran
In Góp Nhặt Đó Đây, Thời Sự, Quán Chiếu Tags Lake America, Chết mẹ TRUM rồi!
Comment

NHỮNG MÙA TRUNG THU (DTDB)

August 21, 2026 Ninh Tran

NHỮNG MÙA TRUNG THU

DTDB

Em ra đời mùa thu năm 1970, vào ngày rằm tháng tám Âm lịch. Ðem
so với ngày dương lịch đúng y chang trong tờ giấy khai sanh của em. Mẹ
thường kể cho cả nhà nghe, vào những lúc vui nào đó hay là ngày mừng sinh
nhựt của em:
- Nằm trong nhà bảo sanh mẹ nghe tiếng hò, tiếng hát, tiếng reo vui
rộn rã của thiếu nhi cùng tiếng phèng la, tiếng chiên trống múa lân của đoàn
dâng cộ đèn mừng Tết Trung Thu, hay Tết Nhi Ðồng của nước ta thuở đó,
vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Theo lẽ mẹ đặt cho con cái tên là Thu, là
Nguyệt, là Hằng, là Nga, là Thu Nga, là Thu Hằng, là Nguyệt Thu hay Thu
Nguyệt… Mới đúng nghĩa với ngày sanh tháng đẻ của con gái mẹ. Nhưng
lần về thăm đâu hai tháng trước khi con chào đời, lúc ra đi, ba đưa cho mẹ
phong thư, bảo chừng nào làm khai sanh thì dở ra mà xem... Trong thư, ba
đã đặt tên cho con cái tên rồi!
Mẹ em chép miệng trầm ngâm một hồi, tiếp:
- Quê hương mình chinh chiến triền miên. Ba con theo đơn vị đóng
quân mãi ở miệt rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… tận Cà Mau lận. Tội
nghiệp ba, biết khoảng giữa tháng đó đứa con đầu lòng chào đời, mà ông
hằng mong đợi nhưng vẫn không ở nhà được, để nghe “Con khóc oa, oa…
khi lọt lòng mẹ. Còn ông bà, họ hàng thì cười tươi vui mừng đón con…”
Em lớn khôn dần trong vòng tay mẹ, và tình thương yêu vô bờ của hai
đấng sanh thành. Ba em làm lính chiến luôn xa nhà, cả trong những mùa
Trung Thu là ngày ra đời con gái cưng của mình, mà ông cũng ít khi có dịp
về nhà vui với vợ con...
Rồi mùa Trung Thu năm em vào học lớp Năm (lớp một) của trường
nữ Tiểu học Trưng Vương. Ðó là ngôi trường nữ, hai tầng có vách tường,
mái ngói màu gạch tôm, khang trang nằm trên đường ông bà Nguyễn Trung
Long (Mỹ Tho). Ðường nầy đi ra bến bắc Rạch Miễu qua sông có nhiều cồn
nhỏ, cồn lớn… cồn Ông Ðạo Dừa, rồi đi về tỉnh Bến Tre.
Ðịa phận tỉnh Ðịnh Tường có Thành phố Mỹ Tho, nổi tiếng hiền hòa
nằm mơ màng trên nhánh của giòng sông Cửu Long… Mà những câu hò, câu
hát bình dân khen ngợi ở nhiều khía cạnh nào đó về thành phố yên bình và
êm ả nầy:
“Mỹ Tho đẹp lắm, đi tắm Cầu Dầu/ Anh hỏi em đang ở nơi đâu? Ðể cha mẹ
anh đến cau trầu cưới em…” Hoặc: “Mỹ Tho có kẹo hột điều/ Có cô thôn nữ
mỹ miều dễ thương/ Ai về Chợ Cũ, Trung Lương/ Hồng đào chín mộng, có
đường mạch nha/ Ðêm thu đẹp ánh trăng ngà/ Mái chèo dưa đẩy qua nhà

thăm em…” Và miệng truyền miệng trong dân gian: “Ðèn Sài Gòn ngọn
xanh ngọn đỏ/ Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu/ Anh về học lấy chữ nhu/ Chín
trăng em đợi, mười thu em chờ…”
Ở xứ mình, thường tiệm buôn bán trong các chợ, chủ nhà ở phía sau,
hoặc trên lầu, còn phía trước, mặt tiền thì bày hàng để buôn bán.
Mỗi năm, cứ vào cuối tháng sáu, đầu tháng bảy Âm lịch là thành phố
Mỹ Tho trong các cửa tiệm thấy rõ rệt màu sắc tươi vui rộn ràng. Bởi các
dãy phố tiệm ở chợ gần như đều trưng bày bán các loại bánh Trung Thu. Họ
còn treo bán đầy đủ các loại lồng đèn giấy màu sặc sỡ, có vẽ thêm hoa,
bướm hoặc những nét đặc biệt lên hình dáng mỗi thứ lồng đèn như: Ðèn kéo
quân, đèn cá chép, đèn con rồng, đèn ngôi sao, đèn máy bay, đèn xe tăng,
thiết giáp, đèn tàu, đèn chuồn chuồn, đèn trái bí, đèn xếp…
Bánh trung thu thập cẩm có bốn trứng, ba trứng, hai trứng, một trứng
hột vịt muối để trong nhưn có lạp xưởng, thịt khô, vi cá… đó là những bánh
mặn. Còn bánh trung thu thập cẩm chay không có thịt và hột vịt, bánh nhưn
đậu đỏ, nhưn mứt… cùng bánh dẻo nhưn hột sen, nhưn đậu xanh…
Riêng em thích nhứt vẫn là bánh ông Ðịa. Chắc là bánh có hình dáng
như ông Ðịa trên bàn thờ nên gọị là bánh ông Ðịa? Trên đầu bánh có sợi chỉ
đỏ dài để xách trên tay, để đeo vào cổ. Bánh ông địa ăn ngọt, giòn thơm mùi
trái vị, ngũ vị hương, mùi quế… rất đặc biệt.
Trong dãy phố công chức đó, có nhà của gia đình em ở. Vào tối mười
ba, mười bốn, rằm tháng tám là trẻ con đốt lồng đèn cầm tay chạy chơi
quanh xóm. Nhà nhà treo lồng đèn trong nhà ngoài ngõ, hương khói nhang,
mùi bánh trung thu thơm tho cúng ở bàn thờ Ông Thiên, cùng mùi trà Tàu,
hoa, quả… thơm lừng phảng phất trong gió thoảng bay.
Em vui vẻ tung tăng chạy nhảy, theo đuôi các bạn quanh quẩn trước
sân của năm bảy căn nhà quen biết gần bên, ở trong xóm chớ không dám đi
xa hơn. Vì mẹ đã căn dặn em từ mấy ngày trước:
- Tối con được đốt lồng đèn chơi trong vài nhà gần, để khi mẹ gọi thì
nghe mà lên tiếng… Không được đi xa, mẹ gọi không có tiếng trả lời của
con mẹ sẽ lo... thì sẽ có đòn nghe chưa!
Em vâng dạ nghe lời, vì không phải mẹ em không có lý do… Bởi gần
đây giặc giã càng sôi động… Ðêm đêm Việt cộng thường pháo kích ầm ầm
vào thành phố… Ðạn pháo vô tình tàn phá nhà cửa, thây phơi, máu đổ…
khiến sanh linh đồ thán, trời sầu, đất thảm. Và từ đó tuổi thơ em... sớm
nhuốm màu chinh chiến đau thương!
Ðã hai mùa Trung Thu rồi, bận rộn ba em không về! Vì đoàn quân ba
em trấn giữ, chặn thù… khi ở Vị Thanh, Cờ Ðỏ (một địa danh ở mền Tây),
khi Tịnh Biên, Ðồng Tháp Mười nơi nổi tiếng “đỉa lội như bánh canh”. Còn
thường trực ở chỗ có “muỗi kêu như sáo thổi” và nhiều con vắt… Ðó là

rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… Bởi ba em là lính chiến thuộc Sư Ðoàn
21/BB, còn có biệt danh nghe hay và oai hùng lắm là Sét Miền Tây đó mà.
Hôm nay, vào ngày rằm tháng Tám “Mùa Trung Thu, Tết nhi đồng”
của chúng em. Khi trời nhá nhem chạng vạng thì phố xá đã lên đèn… Tiếng
hát vang vang rền vọng, tiếng chiên trống lân giục giã trên các nẻo đường
của thành phố, làm lòng dạ em nôn nao, náo nức, rồi em nhãy lưng tưng, hát
líu lo bài ca về Trung Thu như mấy đứa nhỏ nhà kế bên…
Mấy đứa cùng xóm đến trước hàng rào nhà, rủ rê em nhập bọn đi dâng
cộ đèn, hoặc cầm đèn qua nhà chúng chơi. Nhưng nghe lời má dặn, và nhớ
ba khiến em muốn khóc quá! Em lắc đầu xua tay nguầy nguậy có ý bảo với
chúng là em không đi đâu.
Ba em đang dãi dầu ngoài trận tuyến! Với những người lính chiến như
ba thì làm sao có ngày lễ. Cho dù là lễ Tết hay phép thường niên cũng vậy, ít
khi được như ý… Ba em chợt đi, chợt đến bất ngờ ghé thăm nhà chớ không
hẹn trước khi nào sẽ trở về.
Ðêm nay các nhà trong xóm đều đốt lồng đèn trước cửa. Hương trầm,
bánh, trái, hòa với mùi thơm của nước trà Quan Âm Kỳ Chưởng… Nhà nhà
ấm cúng mừng đón Trung Thu. Riêng nhà em lạnh lẽo vắng vẻ buồn tênh,
má không đốt đèn ở sân trước dù là đèn điện.
Chiều đi học về sau khi ăn cơm, má còn căn dặn em:
- Con ra sân đốt lồng đèn chơi một mình, đừng đi đâu nghe… Nhà
mình ba không về, nên đêm nay không có mừng Trung Thu. Ít bữa ba về
mình sẽ ăn Trung Thu muộn, nghe con…
Em cầm lồng đèn đi tới đi lui trong sân nhà với chú mèo tam thể,
“meo, meo…” tiếng kêu, quấn quít bên chân em. Gió hiu hiu mát rượi, đưa
đẩy cây lệ liễu hông nhà, làm những cành lá tha thướt lay động lồng bóng
trăng tròn in trên sân. Trăng thu đêm nay rực rỡ tỏa ánh sáng thanh thoát
xuống muôn loài trên trần thế, nhẹ nhàng êm ả...
Em nghe trẻ hàng xóm hát những bài Trung Thu: “…Ðêm Trung Thu
em đốt đèn đi chơi… Em đốt đèn đi khắp phố phường… Ðèn Ông Sao với
đèn cá chép, đèn thiên nga với đèn trái bí…”
Và em còn nghe anh chị con nhỏ Bạch Nhạn nhà bên cạnh hát ca...
khiến em ganh tị thấy mắc ghét lắm! Em cũng biết hát vậy chớ bộ! Em liền
rống họng, cất tiếng hát lanh lảnh, vang vang... cố tình cho tụi nó ngán chơi:
“Hôm nay đêm rằm, rằm là rằm tháng Tám,  Ông Trăng kia đã lên
cao rồi ông nhìn chúng em ông tủm tỉm cười! Ông Trăng ơi, nầy ông Trăng
ơi, xuống đây với chúng em cùng vui chơi! Ông Trăng ơi nầy ông Trăng ơi,
Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… Có chi nữa không? Có trống
ếch cà lùng tùng xèng… Có chi nữa không? Có bánh ngọt thơm phưng
phức… Có chi nữa không? Có những đèn Trung Thu ở miền Nam tự do, ấm
no hạnh phúc… ông Trăng ơi! Ông Trăng ơi, xuống đây với chúng em cùng

vui chơi… Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… ông Trăng ơi… nầy
ông Trăng ơi, ơi…”
Tiếng vỗ tay lớn và nhanh, làm em ngạc nhiên quá đỗi! Mèn ơi, ai mà
vỗ tay khen tặng em dữ vậy cà? Chắc chị anh mấy con nhỏ hàng xóm chớ
gì? Chớ tụi nó thì còn khuya à, chúng nó ganh tị chẳng thèm nghe em hát,
thiếu điều muốn bịt hai cái lỗ tai lại nữa kìa, chớ ở đó mà chúng vỗ tay khen
em hát bao giờ…
Nhưng chao ôi, sừng sững lồng dưới ánh trăng rằm lộng lẫy! Người
lính chiến hiên ngang, oai phong đứng đó! Ông mặc bộ trây-di màu cỏ úa,
đầu đội nón sắt, và trên thắt lưng cây súng nhỏ… Giầy sô cao ống bám bụi
đường xa, mùi nắng cháy khen khét quen thuộc… ông trìu mến nhìn em
mỉm miệng cười! Rồi ông hơi khum lưng xuống, đưa hai tay đón chờ…
Thảy cái lồng đèn dưới sân, em phóng tới ôm chầm thật chặt lấy ba.
Hôn tứ tung lên mặt, lên mũi, lên ngực, lên áo ba…
Giọng em rộn ràng, vui mừng và ơi ới gọi lớn:
- Mẹ ơi, mẹ ơi ba về! Ba về, ba về mẹ ơi…
Trong nhà nhanh chân bước ra tới hàng ba. Mẹ nhìn hai cha con em
nở nụ cười mà mắt hoen dòng lệ hạnh phúc. Thế là đèn điện nhà em được
thắp sáng! Lồng đèn treo hai bên cửa trước, sân sau được ba châm lửa đốt
đèn cầy. Ánh lửa dạ giấy màu, hồng, vàng, tím, xanh… tươi trẻ, vui mắt.
Trong nhà mẹ lúi húi nấu nước châm trà, cắt bánh trung thu… Em vui mừng
chạy qua mẹ, rồi chạy sang ba… Em ôm cổ ba, nói cười líu lo như con chim
chích chòe vào buổi bình minh nắng ấm… Nhà em, những nhà trên trần thế
được thắp sáng ánh trăng vàng thanh thoát của đêm Trung thu.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam bị giặc cưỡng chiếm! Năm đó
trẻ con chúng em không có lễ Trung Thu! Ba em bị bắt tù cải tạo… nhà cửa
em trống trơn vì phải bán lần, bán hồi các đồ vật trong nhà… Rồi má em đi
bán chợ trời… Ðó là kế sinh nhai duy nhứt của mẹ con em, và chắt chiu
dành dụm để dành đi thăm nuôi ba.
Những năm về sau, vào đêm rằm tháng tám không ai còn nghe tiếng
hát hò, trống múa lân của đoàn dâng cộ đèn nữa. Chợ búa không có bánh
trung thu bày bán tự do khắp nơi như xưa. Có chăng họ chỉ làm chui, bán
lén… vì đó là mặt hàng xa xí phẩm! Thành phố em ở nhà nhà xác xao, cửa
đóng then gai dưới trăng. Mặc dù ánh trăng thu vẫn sáng tỏ nhưng lòng em
sao cảm thấy dìu dịu hắt hiu buồn! Những đứa nhỏ hàng xóm sống gần nhà
em thưa dần, vì chúng theo gia đình về quê ngoại, quê nội, hoặc đi kinh tế
mới… Và em không có đèn lồng trái bí dễ xếp cất, dễ đốt mẹ mua cho như
những năm qua!

Sau bao nhiêu năm giặc chiếm miền Nam. Là bấy nhiêu năm ba em bị
giặc nhốt trong tù cải tạo! Hôm nay không định trước, mẹ dắt em đi thăm ba,
lại lọt đúng vào ngày rằm của mùa Trung Thu.
Mẹ con em vượt qua biết bao nhiêu chặng đường lồi lõm có khi đi
bằng xe hơi. Có lúc lội bộ, có lúc bằng xe tàu mo, đò chèo… Khi thì mẹ
gánh em ngồi trong thúng bên đầu gióng nầy, đầu gióng kia chất chồng đồ
ăn, áo quần cũ, thuốc men.
Mẹ và em đi từ một hai giờ khuya đến chiều tối ngày sau mới đến nơi!
Khi đến trại tù thì đã quá giờ thăm nuôi, mẹ con em và một vài bà khác cùng
cảnh ngộ cũng đi thăm nuôi chồng con. Những kẻ lỡ bước chúng em được
chủ vườn ở gần trại tù (cách mấy cây số) tốt bụng cho ngủ trong trại ruộng
của nhà họ.
Tối đó, mọi người lỡ đường vùi mình vào đống cỏ khô dưới nền đất
sét nứt nẻ, thiếp đi vì mệt mỏi… May mà cả đêm qua trời không mưa, nhưng
gió núi tê tái lạnh lùng rung cây ào ào.
Hai mẹ con em nằm chèo queo một góc trong tại ruộng không vách,
không phên. Em nhìn trăng qua nhiều lỗ trống không trên mái chòi. Trăng
rằm lên cao, càng lên cao ánh trăng càng sáng vằng vặc. Sương khuya xuống
mịt mù đỉnh núi và chập chờn trên dải đồi mờ ảo xa xa. Tiếng côn trùng về
đêm, hòa cùng tiếng dế tỉ tê… Những con chim ăn đêm bay qua ẩn hiện mịt
mờ, kêu oang oác trên trời cao, cùng tiếng gió hú qua đồi làm xào xạc nhành
cây lá chung quanh, khiến em sợ hãi rúc vào lòng mẹ.
Ðể rồi sáng dậy ra mặt, tay, chân… người nào cũng đầy vết muỗi cắn.
Bầy muỗi đêm qua được ăn bữa giỗ no nê! Chúng thiệt là ác độc, nỡ đành
hút máu của những kẻ lỡ đường ngủ trong trại ruộng!
Mẹ em lồm cồm ngồi dậy khi nghe vẳng tiếng gà gáy trong xóm xa…
Bà sửa soạn lại túi nải chờ rạng đông đi vào trại tù thăm chồng. Bỗng bà
thấy hai bóng đen lù lù xuất hiện khi mờ khi tỏ trong màn sương sớm. Càng
lúc họ đến càng gần… mẹ em sợ quá gọi mấy người kia thức dậy, để cùng
đối phó nếu rủi gặp kẻ xấu, hoặc chuyện không may!
Họ càng đến gần trời cũng sáng thấy rõ hơn… Thì ra là hai người
thanh niên đi giỡ bẫy chim, chuột, gà rừng… Nói chuyện một hồi thì mấy bà
cùng mẹ con em vào nhà cha mẹ họ là chủ trại ruộng nầy để xin nước
uống…
Mẹ nhớ lại đã bao nhiêu năm rồi đây là lần đầu đi thăm nuôi chồng.
Ba đói khổ lắm mẹ liền cởi chiếc nhẫn cưới bằng vàng 18K đang đeo trên
ngón tay áp út ra. Ðó là di vật sau cùng của ba tặng bà trong ngày đính hôn!
Mẹ đem đổi lấy con gà giò (gà mới lớn nhổ lông xong, còn hơn nắm tay) và
lít gạo trắng của chủ nhà… Rồi mượn nồi niu của họ làm gà rô ti và nấu nồi
cơm còn nóng hổi đem cho ba em!

Bao nhiêu năm tù tội… Ðến bây giờ vợ, chồng, con mới gặp lại nhau!
Má em khóc sướt mướt chẳng nói nên lời! Ba ôm em vào lòng nghẹn ngào
thổn thức… Ba trông thật tiều tụy, ông ốm gầy, tay chân lỏng thỏng, mặt
mày hốc hác, mắt hõm sâu, da đen chì, mét chẹt, nắng cháy nám đen… Chân
tay ghẻ chốc, thẹo vít chỗ lành, chỗ lở… Ba già quá nhiều! Nếu bất ngờ gặp
ngoài đường không ai nói, chắc em sẽ không nhận ra, và sẽ không tin tù
nhân đó chính là cha của mình! Em xót xa thương ba vô cùng, ôm chặt ba
nức nở khóc òa…
Gần hết giờ thăm nuôi, mẹ đưa cho ba tất cả đồ đem theo, trong đó có
con gà được chặt ra làm bốn và nồi cơm đầy… Ba em múc hết nồi cơm, cạo
lấy luôn cơm cháy, đưa nồi không còn dính một hột để chút nữa đây trên
đường về má em ghé trả lại người cho mượn. Ba lấy hai cục thịt gà (nửa
con) đưa cho má và em. Mắt u buồn và rưng rưng dòng lệ mỏng, ông nhẹ
giọng bảo:
- Em và con đem theo ăn trên đường về. Chắc con và em đói khổ
lắm? Thôi mẹ con về đi, anh sẽ giữ gìn sức khỏe. Ðường quá xa xôi, khó
khăn đừng… đừng có lên thăm nữa!
Mẹ em nước mắt dâng tròng, lật đật lấy gà để trở vào gói cho ba, mếu
máo nói:
- Ở nhà không gì vất vả cả, chỉ lo cho anh thôi. Anh đem gà vào ăn
đi. Mẹ con em tới bến xe sẽ mua ăn, thiếu gì đồ ăn họ bán…
Dáng ba thất thểu đi vào trại tù… Và cửa tù từ từ kéo đóng lại! Mẹ em
nát dạ tan lòng đứng nhìn theo, rồi lủi thủi dắt con ra về. Vừa đi bà vừa lau
dòng lệ đau thương lã chã chảy dài xuống má, còn em nước mắt cũng trào
tuôn… Ðường về nhà em còn xa xôi lắm, lại gặp cơn nắng cháy, mưa sa!
Hai mẹ con không ai nói với ai lời nào, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của
mình… Trong đầu óc thơ ngây bé nhỏ của em lúc bấy giờ!
Ba em ngày xưa là sinh viên, bởi “Ðất nước lâm nguy/ Thất phu hữu
trách” nên học nửa chừng thì vào quân ngũ. Ba em có giành dân lấn đất hay
cướp giựt của ai đâu! Vậy thì ba em có tội tình gì, phải chăng tội ông làm
bổn phận người trai trong thời loạn vì an nguy của gia đình và bảo toàn lãnh
thổ? Giờ đây họ bắt nhốt trong tù nơi xa xôi hiểm trở? Ðể ba em và đồng đội
đau không thuốc uống, đói không có ăn, lạnh không đủ ấm! Lại bị nhốt trong
vùng hoang dã đìu hiu đi cả ngày không thấy bóng người như thế nầy...
Ði gần đến tối mà mẹ con vẫn chưa đến nhà. Giờ đây em vừa khát và
mỏi mệt cả tứ chi, và đói bụng, mẹ chép miệng bảo:
- Ráng nhịn về nhà sẽ có đồ ăn, vì mẹ chỉ còn đủ tiền để đi xe thôi.
Lúc nãy mẹ định bới cơm cho ba, còn miếng cơm cháy mẹ con ăn cho đỡ dạ
trên đường về. Nhưng thấy ba vét sạch nồi cơm nên mẹ làm thinh! Tội
nghiệp ba ở trong tù đói khát nhọc nhằn lắm con ơi…

Nói đến đó, mẹ em nghẹn lời sụt sùi dòng lệ khổ! Về đến nhà, em
không sao ngủ được. Hoàn cảnh trại tù, ba em và đồng đội của ông bị hành
hạ đọa đày cứ lởn vởn trong đầu óc thơ dại của em. Từ đó nỗi hờn oán nhen
nhúm ngày càng lớn trong tâm hồn: “Em sẽ không bao giờ! Phải, không bao
giờ em quên, và không bao giờ tha thứ cho những kẻ đã đày đọa ba,cùng
những đồng đội của ba em…”
Vào rằm tháng Tám năm sau, em thẫn thờ ngồi bên cửa sổ vò võ nhìn
bầu trời cao rộng, trong sáng ánh trăng thu! Và con mèo tam thể dễ thương
đó, vẫn cào, kéo lai quần em. Nó chạy nhảy tung tăng, kêu “meo, meo…”
giỡn trăng như để làm vui lòng cô chủ nhỏ. Thấy em buồn, má cũng chẳng
vui gì hơn! Một lúc sau, bà tìm ra cái lồng đèn trái bí mấy năm trước đã cũ
mèm, giấy dán đổi màu và bị chuột cắn tưa mấy lỗ. Nhớ lại lâu lắm rồi, em
đã cẩn thận nhét cái lồng đèn đó dưới chót, ở trong thùng tập vở, sách
truyện, và báo cũ của ba em.
Ðã mấy mùa Trung Thu qua đi, ba em vẫn chưa được thả về. Em lơ là
nhìn cái lồng đèn nghe chừng xa lạ, mà cảm thấy lòng xao xác héo hắt buồn
loang! Làm sao em vui được khi ba em còn bị đày nơi rừng sâu Việt Bắc,
nơi nổi tiếng rừng thiêng, và nước độc! Nước độc đến nỗi, từ bờ suối bên
nầy, lội qua bờ suối bên kia thì lông chân bị rụng hết! Ở đó họ chỉ uống
được nước mưa... và có khi đi cả mấy tháng trời, cũng không thấy bóng sơn
nhân, hay lâm nhân…
Em lại càng xót xa đau buồn nhức nhối hơn! Mỗi khi nửa đêm trở
giấc, em nghe mẹ khóc lén, khóc thầm! Thế nhân dù có buồn vui! Nhưng
đêm nay trăng thu vẫn ngạo nghễ lên cao. Càng lên cao, trăng càng trải ánh
sáng ngà ngọc xuống muôn loài. Gió thu vẫn nhè nhẹ man mác và mây thu
vẫn bàng bạc bay bay về phương trời vô định... Những cánh chim đêm thu in
chập chờn trên không gian và hối hả bay đi… Chúng như ngầm hiểu nỗi
thống khổ đoạn trường của con người theo vận nước nổi trôi! Và cảm thông
trời miền Nam tự do ấm no đã không còn nữa… Ôi đến cả loài chim muông
mà còn biết buông tiếng kêu áo não, oán, hờn, trách, hận... đau thương!
Sau khi ba em được thả về, gia đình đùm túm theo thuyền chài vượt
biển Ðông! Mười mấy ngày lênh đênh trên biển cả, gió dồn, sóng dập, đói
khát thảm thê. Tưởng chừng cả gia đình dìm dưới mồ huyệt lạnh của đại
dương rồi… Hành trình vượt biên trùng trùng hiểm nguy thừa chết thiếu
sống! Nhờ Ơn Trên, rồi gia đình em cũng trôi giạt vào Nam Dương
(Indonesia) quần đảo với những thuyền nhân chung chuyến tàu.
Sống lang thang từ đảo nầy qua đảo khác: Pacikata, Terrempa, Ku Ku,
rồi Galang (Trung tâm tị nạn Cộng sản vùng Ðông Nam Á) Tại trại tị nạn
Galang, nếp sống của người tị nạn Cộng sản có quy củ và khá hơn về nhiều

mặt. Nhứt là vấn đề y tế! Nơi đây có trường học dạy Anh văn, có nhà
thương, có nhà thờ, có chùa… Có văn phòng Cao ủy tị nạn làm việc, để
nhận người vào đệ tam Quốc Gia… Và nhiều tiệm buôn bán gia dụng nấu ăn
của dân bản xứ… dần dà có quán phở, quán hủ tíu, quán nhạc, quán cà-phê,
quán sinh tố…
Galang là một trong những hòn đảo đẹp của Nam Dương. Chùa được
cất trên đồi cao gần các dãy trại, để dân tị nạn dễ dàng chiêm ngưỡng và
cúng bái. Ngôi chùa khang trang có nhiều tượng phật cao lớn hơn người…
được tàu và trực thăng chở đến… Phí tổn của ngôi chùa nầy, nghe đâu do
các thương gia ở Nam Dương và Singapore góp gom để xây cất.
Sáng sớm và chiều tối nào em cũng theo ba má lên chùa. Vì trên chùa
gió mát, và đôi khi em được các sư cho trái cây hoặc bánh, kẹo… của bá
tánh đã cúng Phật. Ở đảo đói khát thấy mồ, em thèm đủ mọi thứ, hôm nào
được các sư cho đồ ăn dư của Phật thì em mừng húm! Em nghĩ bụng đồ ăn
thừa của Phật sẽ được phước đức (và má em cũng nói như vậy).
Phía sau chùa chừng hơn trăm thước cao, phóng tầm mắt nhìn, chúng
ta có thể thấy rõ bốn hướng của biển cả mênh mông vô bờ, vô tận… Và em
cảm thấy tâm hồn mình dạt dào hạnh phúc mỗi lần có dịp đứng bên ba má
em nhìn hoàng hôn xuống. Mặt trời chiều ráng màu đỏ nghệ có hình bầu dục
như quả trứng gà, treo lơ lửng trên nền trời nhiều mây có vân ngũ sắc ở
hướng tây. Nắng vàng trải trên mặt thủy triều của đại dương bao la xanh
ngát một màu, và ánh nắng lung linh chấp chóa lúc mây tạnh gió yên.
Vào những buổi sáng mờ sương, biển thanh thoát và hiền dịu vô
cùng… mặt nước lăn tăn gợn sóng theo từng đợt gió đùa… Nền trời trong
như ngọc, lác đác từng làn mây trắng mỏng như nằm bất động có pha những
sắc màu rực rỡ do những tia nắng bắn ra từ mặt trời cao ngạo vừa nhú lên ở
phương đông. Rồi sương mờ dần tan, chỉ trong chốc lác thôi… biển tịnh
yên, mặt biển xanh lơ, và vầng hồng rạng rỡ cho nắng ấm... gió the the man
mác lay nhẹ chòm lau, khóm đước hòa cùng lá thông reo dọc bờ biển tạo ra
âm thanh êm ấm dễ chịu vô cùng…
Hải âu xoãi cánh bàng bạc loang loáng trong ánh bình minh… “Chim
én không làm thành mùa xuân/ Nhưng có chim én mùa xuân thêm phần ý
nghĩa” Ở chốn hải đảo nầy, em xin nói lên thiển ý của mình rằng: “Nếu biển
không có cánh hải âu thì biển cả mất đi phần thi vị”.
Có hôm dưới mái hiên chùa, em phóng tầm mắt nhìn trời biển động!
Gió thổi vùn vụt, cây cối ngả nghiêng. Sấm ầm ầm, sét nổ giòn, những tia
chớp sáng lòe lên rồi phụt tắt! Mưa nặng hột tầm tã ào ào. Biển nộ cuồng
từng cột sóng dâng cao như muốn đảo lộn càn khôn! Thật dễ sợ cho sự nổi
trận lôi đình của Thủy Long Vương trong lòng biển cả(?) Em ngồi co ro,
chợt nhớ câu: “Ðời không đau khổ đời vô vị/ Biển chẳng phong ba, biển
chẳng hùng”.

Thuở đó gần cuối năm 1979, đảo Galang có mấy chục ngàn người dân
tị nạn Cộng sản, đại đa số là từ miền Nam Việt Nam. Họ bôn đào khi miền
Nam bị Cộng sản và Việt cộng cưỡng chiếm! Nơi trại tị nạn, ba khéo tay làm
cho em cái lồng đèn trái bí bằng lon nhôm coca-cola, trong mùa Trung Thu
ở trên hải đảo Galang. Lon nhôm sau khi rửa sạch, lau khô, ba em kiên nhẫn
dùng nhiều cục đá có cạnh nhọn, bén… Ông đục từng đường dài, nhắm sao
cho ngay và đều… Ba ngồi cả ngày trời tẳn mẳn đục, chà cạnh cho hết
bén… Rồi nhẹ tay bóp cho những cọng lon nhôm cong (không gãy) mà ông
đã bỏ không biết bao nhiêu cái lon nhôm. Bị xuể tay, rướm máu mới làm
được một cái lồng đèn trái bí, tạm vừa ý cho con gái mình!
Chiều đến cầm lồng đèn trái bí ba làm cho, lòng em tươi vui phơi phới
như hoa nở mùa xuân. Lon ton theo bọn trẻ con (tị nạn) trên đảo đi dâng cộ
đèn vòng vòng trong các trại do những anh chị hướng dẫn... Ôi hải đảo phủ
ánh trăng thanh thoát giữa vùng mây nước, có tiếng sóng biển bủa rạt rào,
tiếng gió vi vu hòa cùng tiếng hát mừng Trung Thu vang dội, rền vọng ngút
trời xanh… của những đứa trẻ đã cùng gia đình trốn chạy khỏi vùng Cộng
sản để đi tìm phương trời tự do…
Ðêm Trung Thu đó, chúng em được ăn nhiều bánh kẹo, uống nước
trái cây thơm ngọt, từ các nhà hảo tâm của xứ người chở đến cả tàu, cả xe
đến tặng. Họ còn đem cho cả lồng đèn làm đủ kiểu hình thù các con vật…
được sơn phết, dán giấy, vẽ, tô đẹp đẽ, màu sắc rực rỡ, chói lộng hấp dẫn và
quyến rũ vô cùng… Nhưng em không nhận đâu, bởi ba đã làm cho em lồng
đèn trái bí bằng lon nhôm rồi. Em quý cái lồng đèn nầy hơn tất cả mọi lồng
đèn trên thế giới, trong mùa Trung Thu. Bởi cái lồng đèn trái bí bằng lon
coca làm thành đó, ngoài tốn nhiều công sức, còn là tâm ý và gói ghém cả
tình cha thương con của ba em…
Mùa Trung Thu ở trại tị nạn Cộng sản Galang, khắc ghi đậm nét trong
đời, và cho em niềm nhớ không nguôi… Nó sẽ làm hành trang em mang
theo trong ký ức trên khắp quãng đường lưu lạc.
Thời gian qua mau quá, mới đó mà đã mấy mươi năm ở xứ người. Ba
má vất vả nuôi dưỡng chăm lo cho con học hành đỗ đạt nên người. Ngày nay
em đã thành nhân, ông bà có cháu ngoại để bồng bế thương yêu, nuông
chiều. Dòng thời gian thắm thoát cứ trôi mãi trôi, nay ba má em đã ngoài
tám mươi! Ông bà ở tuổi “Bát thập cổ lai hy” Cái tuổi dễ bịnh hoạn, và gần
đất xa trời khiến em buồn đau thắm thía trong lòng, mỗi khi nghĩ đến!
Nhưng phải làm sao đây? Vì đó là định luật của tạo hóa, mà trót sanh ra làm
kiếp con người thì kẻ trước, người sau không một ai tránh khỏi!
Rồi ngày đó cũng đã đến, một mất mát lớn cho gia đình! Má em đã
qua đời! Giờ đây, đêm đêm em luôn nguyện cầu, xin Ơn Trên cho ba em ăn

ngon, ngủ khỏe. Và em cố gắng làm mọi thứ để ba được an ổn tâm hồn, vui
vẻ hạnh phúc trong thời gian ngắn ngủi của đời người còn lại bên cháu con!
Dẫu biết rằng, trong cuộc đời có đầy dẫy hỉ, nộ, ái, ố… thăng trầm, dâu bể,
phế hưng, nhứt là trên quê hương khốn khổ Việt Nam của em sau ngày Cộng
sản và Việt cộng chiếm đóng!
Giặc đã mang nền giáo dục (ở mọi khía cạnh, mọi phương diện) của
làn sóng đỏ từ ngoài Bắc tràn vào miền Nam. Hoàn cảnh xã hội miền Bắc
mấy mươi năm theo chế độ Cộng sản đã gây và ảnh hưởng tác hại mọi mặt
về tâm lý, văn hóa, xã hội nhập vào đời sống. Ðã thấm nhuần, và ăn sâu
trong tâm hồn, trong máu huyết của con người từ trong gia đình, ra ngoài xã
hội người miền Bắc. Với những điều nghịch lý, giả nhân, giả nghĩa, lừa bịp,
dối gian, tính toán, tinh ma, ác hiểm… đã xẩy ra hàng ngày với cha con, anh
em, bạn bè, thì nói chi đến tình nghĩa xóm chòm, hay nặng nợ với ngọn rau
tấc đất, nước non…
Vì thế, những đổ vỡ của gia đình hiếu thảo con cái, tình nghĩa vợ
chồng nhan nhản xẩy ra hàng ngày trước mắt, và khắp nơi, không sao đếm
cho xuể! Khuôn ngọc thước vàng từ nghìn xưa ông cha ta để lại “Tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ” dưới chế độ Cộng sản vô thần, giờ đây đã bị thui chột,
vô nghĩa hết rồi! Thì thử hỏi xã hội Việt Nam ngày nay làm sao không rối
bời, và quê hương đất nước Việt Nam làm sao không nát tan, không bị chia
năm xẻ bảy… Ðó cũng chỉ vì lợi riêng của những kẻ cầm quyền hiến dâng,
bán đất, biển... cho ngoại bang!
Hôm nay là ngày rằm tháng Tám, đã vào chánh mùa Trung Thu. Em
đẩy ba ngồi trên xe lăn chầm chậm rẽ vào chợ (vì cả hai chân ba đều yếu).
Vùng gia đình em tạm cư, có rất nhiều chợ Á Ðông. Cả tháng nay, tiệm nào
cũng bán đầy dẫy bánh trung thu. Bánh trung thu đủ loại ở địa phương, nội
địa sản xuất… và bánh từ các nước khác nhập vào. Bánh trung thu nằm phơi
phới trong các hộp vẽ hoa bướm màu sắc tươi trẻ rực rỡ. Các hộp đều có nắp
đậy bằng kiếng, nhìn thấy rõ bánh bên trong, gợi thèm cho khách vào ra chợ.
Em nghĩ, năm nay các bánh được làm từ nước Tàu Cộng, Việt Cộng
chắc hẳn ít ai dám rớ tới? Vì lợi ích riêng, họ không nghĩ đến sức khỏe của
người tiêu thụ, đã dùng quá nhiều hóa chất … Ăn vào dễ, lấy ra khó, sẽ hại
cho thân thể, và có khi còn chết người!
Ba em nhìn từng hộp bánh trong tủ kiếng. Ông lựa rồi chỉ tay, muốn
mua một hộp bánh Trung Thu có trứng, và lấy thêm hộp bánh dẻo nữa. Nhà
em ngoài ba, chỉ có hai vợ chồng em và hai đứa nhỏ (nhưng chúng không
thích bánh trung thu) Ai cũng sợ ngọt, nên chắc chắn sẽ ăn không hết… Chỉ
cần mua một hộp, hai bánh nầy, hai bánh kia đủ rồi. Nhưng em lấy cả hai
hộp bánh người bán đặt vào bao xách, máng trên xe cho ba vui lòng. Ba em
chỉ hai chiếc lồng đèn treo trên vách. Em nghĩ chắc ba mua cho hai cháu
ngoại… Trả tiền xong em định đẩy ba đi ra, nhưng ông chỉ thêm cái lồng
đèn trái bí, làm em ngạc nhiên nhìn ba?
Ông nhìn em mỉm cười, trìu mến:
- Ba mua lồng đèn trái bí cho con! Nhớ thuở con còn bé nhỏ thích
chơi đèn Trung Thu với đám trẻ con trong xóm. Năm đó đi lính xa, bất ngờ
được về thăm nhà trong đêm Trung Thu. Ba đứng sau lưng cả buổi mà con
không hay! Khi thấy ba, con phóng tới ôm chầm thật chặt như sợ ba vuột
mất... rồi con mừng rỡ, líu lo gọi mẹ báo tin ba về.
Mắt già nua trắng dã, ba em cảm động nghẹn lời! Ông tiếp:
- Ba mua bánh về cúng má, lúc sanh thời bả ưa bánh Trung Thu và
bánh dẻo lắm. Cho dù con gái ba bây giờ tuổi đời có lớn hay già đi nữa,
nhưng trong mắt ba lúc nào con cũng còn nhỏ bé! Còn tình thương con
trong lòng ba càng ngày càng lớn vô bờ, vô tận con ơi...
Em dang đôi tay ôm chầm lấy ba! Hôn lên trán ba em, mà mắt rưng
rưng dòng lệ kính yêu và hạnh phúc ngập cõi lòng!
Em may mắn được sanh ra trong miền Nam! Em diễm phúc được thừa
hưởng rất nhiều, rất nhiều thứ mà chỉ ở miền Nam tư do dưới Chánh thể
Cộng Hòa mới có… Em đã nghe được câu nói của ai đó, để riêng mình thẩm
thấu và nghiệm thấy rằng: “Trên cõi đời nhiều hệ lụy khổ ải nầy, có hai
người đàn ông để cho em kính nể và yêu thương nhứt. Ðó là ba em và
chồng em!”
Ðường phố đã lên đèn, nhưng ánh trăng thu rực rỡ cao ngạo, thanh
thoát áp chế ánh đèn đường vàng võ. Cha con em dừng lại bên lề nhìn đoàn
múa lân dẫn đầu, các thiếu nhi dâng cộ đèn náo nhiệt đi qua. Trên đất nước
tự do, các em vô tư, thảnh thơi, mặt mày hớn hở nhịp nhàng cất tiếng hát
vang vang: “Ðêm Trung Thu em đốt đèn đi chơi/ Em đốt đèn đi khắp phố
phường/ Ðèn ông sao với đèn trái bí/ Ðèn xe tăng với đèn cá chép…Em đốt
đèn đi khắp phố phường…”

California, Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
DƯ THỊ DIỄM BUỒN
Tuyển tập truyện ngắn “Xứ Lạ Tình Quê”

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags NHỮNG MÙA TRUNG THU, DƯ THỊ DIỄM BUỒN
Comment

Phở Gánh ngày xưa (Đinh Hoa Lư)

August 16, 2026 Ninh Tran

CHUYỆN PHỞ GÁNH NGÀY XỬA NGÀY XƯA... - Đinh Hoa Lư

 

hình xưa: phở gánh Hà Nội và lính Pháp

Trước khi có xe phở đẩy trên thì người thành phố Quảng Trị có hàng phở gánh bán dạo từ lâu. Nghề phở gánh chỉ dành cho mấy bác. Mấy o mấy mệ thường gánh những triêng hàng bún xáo, cháo lòng hay đậu hũ chẳng thấy mấy bác đàn ông nào gánh bún xáo, bánh bèo đi bán dạo cả. Nói về phở gánh "ngày trước của ngày xưa", người viết còn nhớ người mình hồi đó chẳng ai phân biệt phở Bắc hay phở Nam gì cả. Phở là phở, khác với bún bò, cơm cháo... vậy thôi. Nhưng về tiếng để kêu thì ít ai nói "đọi phở" mà là "tô phở" do người mình biết nó là món ăn từ bắc vào. 

<!>

Ngược lại bà con mình lại kêu bình dân hơn là "đọi bún bò" hay "đọi bún xáo". Tiếng kêu "tô bún bò" khi chúng ta vào tiệm hay quán đó thôi.

 

Tôi lại không muốn nhắc hay tả lại tô phở trong tiệm, nó lủ khủ đủ thứ; nào rau, ớt, chanh, hành, hay ngò gai, húng quế. Người viết chỉ muốn kể lại với bạn đọc trước tiên là HÀNG PHỞ GÁNH của một bác bán phở năm xửa năm xưa lúc tác giả mới vài tuổi. Trong trí nhớ mù mờ đó, người kể chuyện mường tượng một bác dáng người lam lủ và gánh phở ám khói ngày đó. Gánh phở đó cũng ngang qua xóm chúng tôi, cũng bờ hồ thanh vắng và con đường thân yêu tưởng chừng là muôn thuở. Có thể khách ăn đêm như thế phải hòa mình trong không khí vắng vẻ cùng một cảm giác se se lạnh ở góc đường hay cuối kiệt nào đó.

 

hình ảnh phở gánh miền bắc thời còn Pháp

 

Từ xửa, từ xưa... người viết kể như thế cũng không đúng chuyện phở đâu là chuyện cổ tích ngàn năm? nhưng thuật ngữ này chẳng qua để nói lên một nỗi lòng thương về những gì thực sự "đã mất" đã bị hoàn cảnh nào đó dập vùi không còn trở lại được nữa...Không biết ai tạo ra gánh phở cho bác bán dạo về đêm quanh thành phố Quảng Trị. Ngày xưa ngoại ô thành phố QT có thể bác bán phở gánh còn gọi là phở triêng nữa. Tiếng "triêng" có thể người Quảng Trị hay Huế thường nói, nơi khác chẳng hề nghe?

 

Khi bầu trời thực sự tối hẳn, bác bắt đầu cuộc hành trình quanh thành cổ thân quen. Hình ảnh người viết còn nhớ, bác luôn mặc quần đùi. Có thể đời bác chẳng biết quần dài là chi nữa. Chiếc áo ka-ki bạc màu, vàng ố. Hai vai áo vá nhiều lớp do gánh phở hằn nặng lên đôi vai bác không biết bao năm? Người kể cũng muốn nhắc lại như trên khi tả về triêng hay gánh phở xưa thì chỉ có đàn ông đi bán thôi. Còn triêng hàng gánh dành cho đàn bà thì có ban ngày triêng bún xáo, triêng cháo lòng...của các o các mệ đi bán ban ngày. Người viết phải phân biệt cho rạch ròi như vậy hầu bạn đọc có thể tưởng tượng ra cho đúng hình ảnh đó thôi.

 

phở gánh Nam Kỳ Chợ Lớn thời Pháp Thuộc

 

Tả về gánh phở- nó được tạo từ hai thùng gỗ vuông, hình khối chữ nhật đứng, có 4 chân nhỏ. Trên mỗi thùng, bện hai sợi thừng chắc chắn để móc đòn gánh. Thùng sau được thiết kế làm sao để bác đặt gọn được nồi nước súp. Bên dưới nồi súp, có một bếp củi thật gọn, lửa cháy leo lét để giữ nồi súp luôn nóng. Thùng gỗ phía trước bác chia ra nhiều tầng, đủ thứ như tô, đũa, rau ,hành và thịt. Phía trên là một mặt bằng nhỏ , bác dành chỗ để làm phở cho khách. Thấy thì đủ thứ, nhưng bác sắp đặt thật khéo léo nên chẳng thiếu món gì. Đã thế, phía ngoài bác không quên móc theo cái đèn bão có 4 mặt kính chắn gió. Chiếc nón lá sờn rách theo năm tháng, bác không quên móc theo ở thùng gỗ sau, phòng mưa.

 

"Giang sơn" của bác chỉ có thế. Cái đòn gánh cong cong quằn nặng theo hai đầu gánh phở. Bác thường tìm một ngả ba hay trước mấy con hẻm lớn, cũng như mấy con đường kiệt.

 

-PH.. Ơ… Ở….

Bác cất tiếng rao, tiếng ngân vang sâu vào trong mấy xóm vắng ngoại ô.

 

Người viết có dịp so sánh khi vào nam.Trong nam, tiếng rao phở ban đêm được thế bằng tiếng gõ lóc cóc của hai thanh gỗ. Như vậy tôi có dịp so sánh với tiếng rao của gánh phở QTrị xưa nghe sao lanh lảnh, âm sau cùng khi nào cũng cao vút lên:

 

-ph…ơ…Ở……

SỬA SOẠN BÁN TÔ PHỞ GÁNH RA SAO

 

Ánh điện đường như biết 'cảm thông' giúp bác bán phở, đêm đêm tỏa xuống dù chỉ là thứ ánh sáng vàng vọt mờ mờ. Có khách mua phở, bác ngưng rao. Bác xem chừng thận trọng đặt cái tô nho nhỏ lên mặt trên chiếc thùng gỗ. Sau khi nhúng lại nắm phở tươi mềm mại, bác cắt nhanh thật mỏng từng lát thịt bò, không quên gia thêm một chút vị tinh (bột ngọt) hiệu Thái sơn từ cái hộp sắt Tây luôn đặt gần bên. Xong, bác quay lưng dở nắp nồi xúp đàng sau. Dưới ánh đèn đêm tôi thấy rõ nồi xúp đang bốc hơi, lan tỏa lên một làn khói trắng mờ.

 

 

về đêm ăn một tô phở bên đường bao giờ cũng ngon

 

Chẳng đòi hỏi chi, khách cứ tự nhiên tìm nơi nào thuận tiện bên vệ đường rồi ngồi xuống xì- xụp thưởng thức tô phở bình dân đó. Trời càng khuya con đường ngoại ô càng trở nên vắng vẻ. Hình như nhờ thế, khách ăn đêm cảm thấy tô phở ngon hơn và ấm áp lạ thường. Do chỉ là phở gánh, vì vậy phần đông khách mua hay đem tô (đọi) mang về nhà.

 

Sau khi đẩy lại mấy que củi, rảnh tay, bác lại cất tiếng rao mà giọng nghe không thay đổi

 

-PH...Ở!!!….

 

Có thêm khách rồi đây, ai đó trong xóm đang tất tả cầm tô chạy ra vừa lúc bác đang sửa soạn gánh đi nơi khác.

 

Thời gian tiếp tục trôi qua lặng lẽ . Chiếc đòn gánh cong cong, đen trùi trũi mãi kẻo kẹt trên vai bác. Tuy vậy, với cuộc đời cần cù chịu khó bác vẫn kiên trì đếm bước theo gánh phở thân yêu và là nguồn sống bao lâu nay của gia đình bác.

 

 

 

PHỞ XE

 

 

Trời khá khuya, tiếng chơi đùa của lũ con nít ngoài ngả ba xóm Cửa Hậu trước thành vắng dần. Vài anh học sinh lứa tuổi thanh niên đang ngồi trên bờ cống nước chảy vào hồ thành. Ánh sáng ngọn đèn đường đang giúp mấy anh đang ôn bài học luyện thi. Nghe thật xa, đâu đó thỉnh thoảng có vài tiếng đại bác vọng về thành phố.

 

Hơn mười giờ đêm rồi, con đường Lê văn Duyệt nép theo bờ hồ càng lúc càng vắng người. Rất lâu mới có tiếng honda chạy vội qua. Thỉnh thoảng có tiếng chim cuốc dưới hồ vọng lên nghe khá rõ. Tiếng quốc kêu đêm, tôi nghe đã quen tai, nhất là những đêm có trăng, tiếng cuốc kêu rộn rã hơn.

 

Bỗng có tiếng rao phá tan trời đêm tĩnh lặng...

 

-PHỞ!!!

 

Khoảng giờ này là xe phở của bác đi ngang qua ngả ba trước Cửa Hậu. Có ai đó đang cầm tô tất tả chạy ra. Đêm nào cũng vậy, dù có khách hay không chiếc xe phở đi ngang ngả ba xóm chúng tôi thì dừng lại. Bác bán phở vừa đợi khách vừa nghỉ mệt một lát.

 

Đời người ai cũng có lúc thay đổi, triêng hàng phở cũng thế. Những năm sau này phở gánh dần dần biến mất không còn thấy nữa.

 

hình minh họa xe phở

 

Có thể cũng là bác bán phở gánh năm trước nhưng nay bác đã có được chiếc xe phở đàng hoàng. Chiếc Xe hình khối, phía dưới có những bánh xe tự chế . Ngọn đèn giờ đã được thay bằng ngọn đèn đốt bằng khí đá hẳn hoi. Hai bên thành xe bác còn cẩn thận móc thêm hai cái ghế đòn bằng gỗ có chân cao cho khách ngồi. Giờ đây nồi xúp được làm lớn hơn, chồng tô trên thành xe trở nên cao hơn. Khách ăn đêm ngồi ăn phở vừa nghe tiếng lì- xì phát ra từ ngọn đèn carbur đó. Dù sau này xe phở có trang bị bằng đèn măng sông, tôi vẫn thích ngọn đèn các- buya hơn tiếng đèn các-buya nghe thật vui tai. Dạo này tiếng rao nghe to lắm. Người bán phở, hai tay chắp đằng sau hướng mặt vào trong mấy đường kiệt:

 

-Ph..ở…ơ..

Có ngọn gió nào trong đêm làm trời khuya lạnh thêm Trong sự yên tĩnh của góc ngoại ô quanh thành cổ, tôi vẫn còn nghe tiếng con chim quốc hằng đêm từ bờ hồ bên kia kêu bầy vọng qua. Hương phở dịu dàng tỏa ra bốn phía. Mùi thơm lan xa, quyến rũ khứu giác khiến ai cũng thèm ăn. Một ông khách đi đâu trên phố về khuya, ngang xe phở ông chợt dừng lại. Dựng chiếc xe đạp qua một bên đường, ông sà vào cái "quán khuya" lưu động đó ăn một tô cho "ấm bụng" trước khi về nhà.

 

Tiếp tục trên đường về nhà, chiếc xe được đẩy đến đầu con hẻm hay ngã ba đường cho đến khi nồi phở của bác không còn gì nữa. Nói thế, nhưng mớ xương xúp sau cùng, bác cũng bán được cho một vài người khách nào đó đang cần "men rượu" hay nhậu trong đêm. Mớ xương hầm cuối cùng cũng giúp cho bác bán phở kiếm thêm được chút tiền cùng chấm dứt một ngày miệt mài mệt nhọc.

 

Không ai để ý người bán phở đẩy chiếc xe lăn bánh trở về do trời đã thật khuya, ngoại trừ tiếng những con chim quốc dưới hồ Thành Cổ vẫn kêu mãi trong đêm trường tĩnh mịch. Tiếng bốn chiếc bánh nhỏ lăn còng cọc nghe nhỏ dần. Hình ảnh ngọn đèn cháy bằng khí car-bur đang cạn hơi cháy leo lét treo bên chiếc xe phở cũng xa dần, khuất hẳn tận ngã ba Góc Bầu. Từ ngã ba đó, chiếc xe phở sẽ theo con đường Duy Tân về Cửa Tả, đó là con đường về nhà của bác. Phở Ông Vọi, bác sống bên con đường hướng về Quy Thiện...tuổi cao sức yếu, chiếc xe phở đặt trước hiên nhà làm cái quán cố định do bác không còn sức đẩy xe đi hàng đêm như vậy nữa?!

 

PHỞ HÔM NAY RA SAO?

 

 

tiếng Phở đã được đăng vào tu từ hàng năm trong cuốn Tự Điển Oxford

Trước đây và hiện nay phở cũng hân hạnh sánh vai với các món ăn thịnh hành cùng phổ thông tại Hoa kỳ hay các nước Âu tây khác.

 

tác giả ĐHL từng đi làm nghề bưng phở từ 1995 tới 1997 tại Milpitas California (hình trên)

 

 

sau năm 1975 khi người Việt tỵ nạn hay không tỵ nạn ra nước ngoài đông dần, người ta thấy các tiệm phở đều có mặt tại các thành phố đông người Việt nhất là tại

Hoa kỳ, Úc, Âu châu .. người ngoại quốc họ bắt đầu ghiền ăn PHỞ.

 

Có khách Mỹ hay Âu châu đa số đều cho biết họ có cảm giác ăn xong tô phở là thấy khỏe và khoan khoái trong người!

phở 54 nổi tiếng tại nam California

 

Nếu nói Ẩm Thưc cũng là loại hình văn hóa nằm trong "Văn hóa ẩm thực" thì dân tộc nào khi ra nước ngoài cũng mang theo hình ảnh quê hương trong tiềm thức. Thứ nhìn thấy cụ thể đó là món ăn. Hiện nay nếu khách du lịch về Little Saigon tại nam California thì càng tha hồ lựa chọn món ăn đặc biệt nhất là món PHỞ. Tại bắc California nhất là thành phố San Jose, khách tha hồ lựa chọn tiệm phở. Các thành phố lân cận như Fremont, Mountain View, Santa Clara đều có tiệm phở VN thi nhau mọc lên để đáp ứng nhu cầu ăn phở cho giới thực khách nhất là vùng Silicon Valley cái "nôi điện tử" khách ăn là giới có tiền lương cao nhất nhì nước Mỹ!

 

 

MC Việt Thảo đang giới thiệu cho tiệm Phở 90 tại khu Saigon Town TP San Jose

 

Xét cho cùng, nhiều hương vị ngon lành, cám dỗ từ những thứ thức ăn đặc sản đó là những loại hình văn hóa ẩm thực đậm nét nhất, là sắc thái cụ thể cho chúng ta dễ dàng phân biệt sự khác nhau trong món ăn của từng dân tộc.

 

Lên đến San Francisco theo AI thì có tới 200 tiệm phở tại thành phố to lớn đó. Nhưng có thể hương vị Phở tại SFO có thể du di pha trộn cho hợp khẩu vị người Mỹ và người Trung hoa ...nhiều hơn. Khác với các nơi đông người VN như San Jose hay Garden Grove, Westminster hay Huston mùi vị phở không khác gì Sài Gòn, Hà nội. Tại các thành phố đông người nhưng ít người Việt, tìm tiệm phở đã khó nhưng hương vị và phụ phẩm ăn phở có thể khác đi./.

 

Tiệm phở 2000 tại San Francisco

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHUYỆN PHỞ GÁNH NGÀY XỬA NGÀY XƯA., Đinh Hoa Lư
Comment

Đời Thế Mà Vui (Trần Khải Thanh Thủy)

August 11, 2026 Ninh Tran

Đời Thế Mà Vui- Trần Khải Thanh Thủy

· .Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, hai mắt Châu vẫn mở thao láo. Căn nguyên của sự mất ngủ này dĩ nhiên đến từ cốc cà phê ban chiều, nể lời bạn mà uống. Không ngờ sự đời nhiều khi thật tréo ngoe :Cà phê ngon bao nhiêu thì giấc ngủ trằn trọc , phiền muộn bấy nhiêu.

 

Nghiêng người vào tường, anh cố dụ dỗ cái ngủ trở về nhưng càng dỗ càng bất lực, câu chuyện với mẹ cứ hiện lên rõ mồn một trong óc.

 

…Mẹ anh, một cán bộ thương nghiệp về hưu từ hơn chục năm nay với số lương còm cõi 4,4 triệu vnd một tháng, bố anh cũng vậỵ, cả đời vất vả , chắt chiu từng đồng lo cưới vợ, gả chồng cho ba đứa con, nay hai đứa em anh đã ra ở riêng , tưởng có lương hưu đàng hoàng thì ông bà có thể săn sóc nhau trong vô tư, thanh thản được. Ai ngờ cuộc sống vẫn còn nhiều vất vả ràng buộc quá, mỗi lần ốm đau là mỗi lần số tiền dành giụm đội nón ra đi, lại phải lệ thuộc vào con cái, mà con cái tuy rằng có nghề nghiệp chỗ đứng đàng hoàng nhưng nào có dư dả gì, chả thế mỗi lần đưa vợ vào bệnh viện, là mỗi lần ông than: “Cuộc sống thực dụng, khó khăn quá.. Kẻ sĩ lăn lộn tìm kiếm cái cao siêu thì được nhận một đời sống nghèo nàn, đạm bạc. Tiền bạc chứ có phải vỏ hến đâu mà cứ phải liên tục ném tiền qua cửa sổ… bệnh viện như thế này? Cứ chớm bước chân vào cửa bệnh viện là tiền triệu như bỡn, rồi tiêm, rồi chích, rồi thử máu…trăm thứ bà rằn, mỗi lần thử là một lần hối lộ lót tay để mua sức khỏe, mạng sống qua tay bọn “ lương y “kiêm hà bá, thầy thuốc kiêm mẹ mìn” thời nay…Cho dù phận hưu trí nghèo, cố nhẫn nại chịu đựng và chủ trương cắn răng nhẫn nhục vẫn không thể bỏ qua cái thủ tục đầu tiên, tiền đâu được. Vì thế mỗi lần ra khỏi cửa bệnh viện là hết một góc lương hưu của cả ông bà rồi , phải ngửa tay nhận tiền tài trợ của con mãi cũng ngượng… Cũng may lần này từ bệnh viện về, mẹ anh có vẻ lấy lại sức vóc, tuy vẫn hay bần thần nghĩ ngợi nhưng mặt đã bớt đi vẻ u oải, da không còn xanh rớt như tàu lá và những đường gân chằng chịt như những đám cây dại không còn nổi lên nữa. Trên 65 tuổi đầu , má đã trũng, mép bắt đầu xuất hiện nếp nhăn nhưng vẫn cố sức chống gậy ra công viên tập thể dục hoặc loạng choạng tập lại xe đạp hòng lấy lại sức khỏe như đám bạn già khác. Rất có thể nhờ những vị thuốc bắc sực nức trong nhà, dù vừa uống vừa than nồng, than đắng, nhiều hôm nước mắt nước mũi trào trạt cả ra ngoài, vẫn cố …

 

Tối nay vừa buông bát thuốc, cảm thấy tỉnh táo trong người, bà lại ngồi sẵn bên bàn nán đợi anh về để bàn chuyện tương lai của cháu nội, tức cái Thư , con gái anh.

 

-Châu này. Chuyện của con Thư với thằng Tú, con thấy thế nào?

 

-Kìa mẹ, anh bật ngửa, tưởng mẹ anh vẫn còn vướng vất sau sơn mê sảng vì bệnh tật, phải nằm nhiều…Sau ánh mắt thăm dò sắc mặt, tâm trạng, điệu bộ của mẹ, Anh rành rẽ đáp:

 

-Ngày xưa, mẹ cấm con không được chơi với cái Hoa nhà bác Lành hàng xóm cơ mà, sao bây giờ mẹ lại quan tâm tới thằng Tú, cháu ngoại bác ấy.

 

-Cha bố anh, mẹ anh gắt khẽ, chứng tỏ câu chuyện không hề đơn giản- Là tôi thấy hai đứa chúng nó quấn quýt với nhau nên muốn vun vào chứ sao

 

Ôi chao, anh tưởng mình nghe nhầm:

 

-Gia đình bác ấy là ngụy quân ngụy quyền cơ mà. Chồng thì đi cải tạo, con trai thì vượt biển, cái Hoa thì vì mẹ con mình mà bị ghi lý lịch, cấm thi đại học, cho dù bây giờ thằng Tú , con cái Hoa có du học ở Mỹ và rất quý cái Thư nhà mình đi chăng nữa, nhưng quan hệ giữa hai nhà đã như bát nước đổ đi rồi, làm sao vớt lại được?

 

Ôm bộ ngực gầy gò, mẹ anh gắt:

 

– Mày ngốc lắm. Ngày xưa khác , bây giờ khác, hồi ấy tao với bố mày là cán bộ phường, là đảng viên đảng cộng sản, phải giữ lý lịch trong sạch nên không muốn mày dây dưa với đám con cái thuộc chế độ cũ con ạ.

 

Vẫn chưa hiểu câu chuyện của mẹ sẽ đi đến đâu, anh im lặng ngồi nghe mẹ bộc bạch nỗi niềm tâm trạng, rồi cau mặt chất vấn:

 

– Con nhớ hồi mới chuyển từ ngoài Bắc vào, cả lớp có 49 đứa, khi cô chủ nhiệm hỏi “trong lớp ta trò nào là con cái gia đình cách mạng thì giơ tay”. Cả lớp có mỗi ba đứa bọn con rụt rè đưa tay lên làm con thấy ngại quá , về kể lại với mẹ thì mẹ bảo: “ Việc gì phải ngại, bố mẹ từ ngoài Bắc vào tiếp quản Sài Gòn của ngụy quân ngụy quyền để lại, phải tự hào chứ ? Vì thế ngoài ba đứa cùng thành phần cách mạng con có chơi với 46 đứa còn lại đâu . Giờ đứa nào cũng có vợ có chồng, con cái lớn tướng rồi mẹ lại xui đám cháu nội ngoại của mẹ lấy con cái của tụi bạn ngụy quân ngụy quyền một thời của con, ngượng chết đi được.

 

Coi anh như đứa trẻ chưa trưởng thành, lý lẽ chưa hiểu, phải trái chưa phân. Mẹ ngọt ngào dỗ dành:

 

– Thời thế khác rồi con ạ, bố mẹ về hưu từ lâu rồi, nhà cửa có gì đâu, còn họ nhờ có con liều chết đi vượt biển qua Mỹ gửi tiền về đều đặn , nên ăn sung mặc sướng, nhà cửa rộng rãi khang trang, con cháu du học nước ngoài …

 

Buộc phải nhớ về quá vãng, Anh nhăn nhó phản đối:

 

– Nhưng ngày trước mỗi lần bác Lành khoe anh Hải gửi tiền ở Mỹ về mẹ lại rủa “chẳng qua là tiền đế quốc” rồi khi anh ấy từ Hải Ngoại về, gia đình tổ chức ăn uống linh đình, mời cả họ hàng phố xá đến, mẹ lại rủa:

 

-“ Đồ liếm gót giày của Đế Quốc Mỹ, hưởng bơ thừa sữa cặn mà tưởng là oai lắm”.

 

Rồi :

 – “Chờ xem bọn tư bản chúng nó giẫy chết như thế nào, lúc ấy còn vênh cái mặt mo lên được không? “

 Mẹ nở nụ cười gượng gạo, đắng đót:

 – Thì tao bị ảnh hưởng của bố chúng mày chứ sao. Ông ấy là cán bộ phường, lúc nào cũng oai khăn, oai áo chứ đâu có như bây giờ, về hưu là bị hắt ra lề cuộc sống, nhà chỉ còn cái xác nhà không, mỗi lần đưa vợ vào bệnh viện lại kêu “oai oái như củ khoái xin tương”, rồi than không có tiền cho đám cháu nội cháu ngoại đóng học phí , không có cả tiền để mua vé đi câu cá thư giãn nữa…Ông ấy còn lôi cả câu thành ngữ của thời đại ra nữa. Nào:

 Tiền là tiên là phật

 là sức bật của lò xo

 là thước đo của lòng người

 là tiếng cười của tuổi trẻ

 là sức khỏe của tuổi già

 là cái đà danh vọng

 là cái lọng che thân

 là cán cân công lý .

 Rồi:

 Tiền thật là hết ý …

 

Vẫn biết mẹ anh bị cuộc đời dồn ép, sau mỗi lần đau ốm, va chạm với xã hội, bệnh viện là một lần cọ sát cuộc đời hơn, hiểu ra nhiều chân lý ở đời – mà trước đó chỉ là sự vô lý, nhưng cái định kiến bất hoà giữa hai gia đình vốn đã rất sâu nặng, rồi, làm sao có thể cứu lại được?.

 Nếu chỉ bình thường như những đám bạn cùng trường khác, theo thời gian và thời cuộc anh có thể xuề xòa cho qua, nhưng kỷ niệm như cái đinh nhọn xoáy sâu vào tim óc làm sao rút ra được? Ngày xưa anh nhớ, có lần cãi nhau với Hoa, bị cả đám bạn của Hoa gọi là “ Con của một lũ cán ngố”, “Một lũ Khỉ rừng vượt Trường Sơn”, anh chửi ngoa lắm: Nào :” Đồ ngụy quân ngụy quyền, ngụy diên ngụy diện*. Nào” bám đít đế quốc, không biết sợ, không biết nhục mà còn rống lên như thể oan ức lắm”… Vốn đanh đá, Hoa tức khí lấy luôn đôi guốc cao gót đánh thẳng vào mặt anh, giờ vẫn còn vài vết sẹo nhỏ li ti. Lần ấy, má Hoa phải đến nhà anh quỳ lạy như tế sao, coi như “con dại cái mang”, vậy mà mẹ anh vẫn lôi bác ấy lên phường để công an xử lý, ngoài việc bắt Hoa phải chuyển trường còn yêu cầu cô chủ nhiệm ghi vào lý lịch đoàn để sau này Hoa không được bén chân vào bất cứ cửa trường Đại học nào, dù chỉ là đại học Nông Lâm…Đến bác Đàng- ba Hoa đang đi học tập cải tạo cũng bị dọa sẽ ở tù mút mùa vì có con trai vượt biên, con gái có hành động “côn đồ”, dùng hung khí “nguy hiểm” đánh trọng thương con lãnh đạo phường … Bao nhiêu lần họp lớp nhân kỷ niệm 10 năm, 20 năm v.v. gặp Hoa, anh chủ động làm lành, chỉ nhìn thấy trong mắt Hoa một sự ghẻ lạnh, trống vắng… Lần thì phảng phất như từ một hồi ức cũ hiện rạ. Lần thì rõ nét như chứng tích của cuộc va chạm nảy lửa ngày xưa hiện về. Anh biết là Hoa vẫn chứa chất giận hờn, vì vậy anh luôn dự cảm được tình cảnh bi đát trong mối quan hệ giữa hai nhà. Bây giờ không biết ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế nào, thằng Tú, con trai Hoa lại là bạn thân của con gái anh, dẫu không học cùng trường cùng lớp như anh với Hoa, nhưng qua các dịp sinh nhật, lễ hội, hai đứa lại có dịp làm quen để rồi có thiện cảm với nhau.

 Là con đầu cháu sớm, nên Thư- con gái anh được ông bà nâng niu, dạy dỗ từ ngày mới lọt lòng.Tuy bé, nhưng vốn là đứa trẻ nhạy cảm tinh tế, nó đã cảm nhận được tình âu yếm từ lời ru, tiếng nói của từng người trong nhà, đặc biệt là bà nội. Vốn dạt dào tình thương con cháu và đức hy sinh như kinh nghiệm tổ tiên truyền lại: “Nhất con nhì cháu, thứ sáu người dung”. Hoặc; “Một bà, một cháu ngã sáu người dưng”, bà sớm nhận ra Thư , ngoài tư chất thông minh còn sở hữu nhan sắc hơn người, và bà luôn tự hào đó là của gia bảo, là vốn di truyền mà không phải đứa trẻ nào cũng may mắn có được, vì thế khi thấy Tú – con trai Hoa tỏ ra quý mến Thư thì bà thay đổi hoàn toàn tâm trạng, thái độ, nhất nhất vun vào cho hai đứa, dù cả hai còn trẻ và tình cảm vẫn còn mơ hồ, trong trắng chứ chưa thành một đường viền rõ nét, da diết, luyến nhớ như những cặp tình nhân khác.

 Chuông đồng hồ lại điểm thêm một tiếng, nằm mãi mỏi người, khát nước, anh lặng lẽ ngồi dạy ra bàn rót nước, và câu chuyện lại lượn lờ trong óc:

 Hồi ấy , cũng vì nghe lời mẹ mà suốt cả quãng thời gian đi học và đi làm anh đều né tránh chúng- những đứa bạn không cùng thành phần, giai cấp, lại thêm sự kỳ thị giữa kẻ Bắc, người Nam …đặc biệt là Hoa- kẻ đã có hành động “côn đồ”, dùng vũ khí “nguy hiểm” là hai chiếc guốc liên tiếp ném vào mặt anh gây chảy máu… Bây giờ mà làm thông gia với nhau nghe kỳ quá.

 Bên tai anh vẫn văng vẳng những lời trần tình, năn nỉ, ỉ ôi của mẹ:

 – Thì ai mà biết được thời thế lại quay ngược 180 độ như thế này? Cái Hoa con bà Lành ấy, một thời phải bỏ học, lê la buôn bán đầu đường xó chợ, thế mà chỉ một thời gian sau, nhờ có anh là Việt Kiều gửi tiền về, sang tên cả một sạp vải trong chợ, rồi cứ thế phất lên thành cửa hiệu thời trang, vừa bán hàng vừa mở thêm dịch vụ trang điểm cô dâu và cho thuê áo cưới. Bây giờ nhà to nhất phố, có xe tiền tỷ để đi, con trai lại sang ở nhà bác đi học, một năm về nước 2 lần…con gái mày mà lấy được con trai của nó thì phúc 70 đời đấy con ạ.

 

“Đã đành là thế , anh đâu dám phủ nhận những gì mẹ nói, mà con gái anh cũng quý mến thằng Tú con của Hoa thật. Lần nào thằng Tú từ Mỹ về nghỉ hè, nghỉ tết , cũng có quà cho Thư, hai đứa lại rủ nhau đi chơi cùng cả hội bạn bè, nhưng nghĩ đến cảnh phải làm thông gia với Hoa, anh thấy ngại chết đi được.

 

…Bát thuốc bắc đặc sánh nóng hổi lại được thằng út nhà anh bê ra mời bà uống, biết rõ những suy nghĩ giằng xé quyết liệt trong đầu anh, mẹ gàn quải:

 -Thôi thôi con ạ. Ngần này tuổi đầu mẹ biết thế nào là chủ nghĩa xã hội rồi, chỉ giỏi tuyên truyền ,cướp cạn thôi chứ thành phần ngụy quân Ngụy quyền có thân nhân ở nước ngoài chiếm 40% cả thành phố Sài Gòn này mới là cốt cán, căn bản đấy con ạ. Hơn nữa mẹ thấy thằng Tú cũng tốt, mấy lần đến nhà mình vẫn cứ cư xử đàng hoàng lễ phép, lần nào cũng khoanh tay “Con chào bà, Con chảo Nội” không những quý con Thư mà quý cả nhà mình nữa, Không như mấy thằng công tử bột trong xã hội cộng sản bây giờ. Giàu thì hợm, mà nghèo thì hèn … chỉ cần vào được nhà ấy thôi , dẫu thằng Tú học xong ở lại Mỹ với bác cả hay ông bà ngoại, hoặc về lại Việt Nam sinh sống cùng mẹ, cũng sướng cả đời con ạ.

 Một ý nghĩa vụt hiện trong óc, anh ngần ngại giãi bày:

 

– Mẹ làm con khó xử quá, thật tình con định nhận lời với cậu Luận cùng cơ quan, cho thằng Hiếu con nó yêu cái Thư nhà mình đấy, nhất cự ly, nhì cường độ mẹ à.

 – Giời ạ! Lấy con thằng tốt hỉn, trên răng, dưới dép đấy thì bốc đất mà ăn à?

 – Mẹ! Anh yếu ớt phản đối: – Mọi việc bây giờ chỉ phụ thuộc vào cái Thư thôi, thằng kia cũng tốt nghiệp đại học mà, Hơn 5,7 tuổi nên cũng chững chạc hơn.

 – Nhưng thất nghiệp có đúng không? Mẹ anh vằn mắt hỏi: -Thời đại này học để làm gì chứ? Cứ kéo nhau ra nước ngoài kiếm thẻ xanh, thẻ vàng mà sống chứ thẻ đỏ ở nước mặt trời lặn này thì cả đời không ngẩng mặt lên được đâu con ạ.

 – Kìa mẹ, Tiền bạc đâu có mua được hạnh phúc. Anh bào chữa.

 – Nhưng nếu không có tiền cũng không thể làm nên hạnh phúc…Mẹ anh khẳng định chắc như đinh đóng cột: – Mẹ là dân Thương nghiệp, mẹ biết rõ điều đó, bởi nó chính là hai mặt của một vấn đề”…Với lại…Ngừng lại giây lát như ngăn cơn xúc động trong lồng ngực trào dâng, mẹ tiếp tục bằng chất giọng hùng hồn, thuyết phục hơn… Anh thử nghĩ đi, lương kỹ sư ba đồng, ba cọc của anh với thằng Luận có để nổi chục tỷ mua nhà cho con Thư với thằng Hiếu không ,hay suốt đời chui rúc trong “vương quốc nhà trọ” ở thành phố này? Mỗi tháng trả tiền điện, tiền nước lại lên cơn co giật như người bị động kinh, lúc ấy hỏi có còn cơm lành, canh ngọt được không?

 Nhìn bát thuốc đã cạn, trời cũng đã khuya, anh bần thần thoái thác:

 – Thôi được, để con bảo vợ con khuyên nó

 – Khuyên khuyên cái gì? Cứ đan lồng cho thằng Tú bay vào rồi đóng sập cửa lồng lại là xong , tha hồ huởng thụ.

 – Mẹ, Không tin vào tai mình, anh oằn người hét lên: – ý mẹ là…để cái Thư làm mồi nhử ?

 – Chứ còn gì nữa? Thử hỏi cả dãy phố này có nhà nào còn được hưởng “của gia bảo”, xinh đẹp như nó?

 Sự chịu đựng nào cũng có giới hạn.. Với một người có học vấn và giầu lòng tự trọng như anh, luôn coi việc phải giữ gìn các mối quan hệ cho đúng phép tắc là điều quan trọng hàng đầụ vì thế cuộc nói chuyện sớm rơi vào bế tắc. Trước khi bỏ vào phòng , anh hằn gắt:

 -Thôi thôi con chịu thôi, chẳng có phép lạ nào có thể thay đổi được sự đổ vỡ trong mối quan hệ giữa hai gia đình … Nó giống như một bát nước đã đổ xuống đất rồị …mẹ đừng mong đầy lại nữa

 Sau lưng anh lời nói gay gắt của mẹ vẫn như mũi tên lao thẳng vào lục phủ ngũ tạng:

 – Mày muốn làm gì thì làm , nhưng đừng bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng này đấy, tao với bố mày cũng già rồi, chỉ muốn đu càng đuổi Mỹ quá đà một phen để hưởng bơ thừa sữa cặn, lấy oai với thiên hạ một lần thôi .“

 – Ôi, đúng là mẹ chẳng còn tí lập trường cách mạng nào cả. Trước khi đóng sập hai cánh cửa, anh vớt vát.

 Trong ánh sáng lờ mờ, với đôi mắt mở to thao láo, mẹ anh gắt:

 – Lập trường cái con khỉ. Thoát khỏi loài khỉ rừng Trường Sơn , vào tận hòn ngọc Viễn Đông này, tưởng thoát ,ai ngờ sắp chết rũ trong ngôi nhà chủ nghĩa xã hội trong vòng tay Đảng , Bác rồi, còn chưa sáng mắt sao ?

 Lê bước vào giường, thở hắt ra một hơi, anh âm thầm xác nhận: “Đúng là ở đời không ai biết được chữ ngờ, cũng chẳng ai giàu ba họ , chẳng ai khó ba đời thật. Bố mẹ anh trưởng thành nhờ cách mạng nhưng đám cháu nội cháu ngoại của ông bà thì đang lụi tàn dần vì cách mạng. Ra trường không có “chỉ tiêu” phải ra đường lái xe grap, hoặc ở nhà ăn bám bố mẹ , còn đám ngụy quân Ngụy Quyền sau 1975 phải khổ sở vì cách mạng, vì lý lịch gia đình, bây giờ nhờ “bơ thừa, sữa cặn” ,”liếm gót giày đế quốc” mà mở mày mở mặt với đời… Ôi, cuộc sống của cái cộng đồng nhỏ nhoi chỉ có mấy chục ngôi nhà trong dãy phố này sao mà phức tạp? Làm thế nào để gỡ rối đây? Cho dù là “một sự nhịn, chín sự lành”, hay một sự “xứng đôi vừa lứa” của đôi trẻ cũng không thể xô đổ bức tường vô hình bằng đá tảng ( dày hơn vạn lý trường thành) giữa hai nhà, nhất là với một trái tim đa cảm , giàu tự ái và đầy lòng kiêu hãnh như Hoa? Suy cho cùng , đời thế mà vui , muốn làm một ông “bố vợ phải đấm” với đám con cháu “ngụy quân ngụy quyền” thời này đâu có dễ ?

 

Sacramento, Nhâm Dần Khai bút đầu xuân

 

Trần Khải Thanh Thủy

In Giáo Dục, Quán Chiếu Tags Đời Thế Mà Vui, Trần Khải Thanh Thủy
Comment

CHUYỆN Y TẾ   VNCS/ HANOI Ngày Nay ! ( Một Dân Hà Nội...  kể sự thật !)

August 11, 2026 Ninh Tran

  CHUYỆN Y TẾ   VNCS/ HANOI ngày nay !  do 1 dân Hà Nội...  kể sự thật !

             ĐỌC ĐỂ BIẾT KHI VỀ VNCS du lịch, hay ở lâu ...

                             

                           Chẳng hiểu tại sao 

 

Nhiều bệnh nhân sáng đi khám kêu viêm nặng lắm cần phải điều trị, lấy một bịch thuốc. Bệnh nhân nói để kiểm tra một lần nữa coi sao, mình khám xong chẳng thấy bị cái gì cả.

 

Rất nhiều người kiểu vậy, đôi lúc nghi ngờ chính bản thân mình, hay là mình tệ quá nên không phát hiện ra bệnh? 

 **** 

 

ĐI KHÁM BỆNH LÀ PHẢI KHÁM ĐỐI CHIẾU KẺO CÓ NGÀY CHẾT OAN.

 

Bài: Trần Tuấn Phương

 

Đây là câu chuyện hoàn toàn có thật của tôi và những người thân xung quanh. Tôi sinh ra và lớn lên tại thủ đô Hà Nội trong một gia đình công chức bình thường. Về học vấn, tôi học chật vật vất vả, thậm chí học đến 3 giờ sáng, cuối cùng cũng thoát được nạn mù chữ, có được tấm bằng đại học xây dựng. Thế mà ở Việt Nam ta có nhiều người giỏi quá, có hàng vạn giáo sư tiến sĩ. Nhất là các bác quan chức của ta, các bác bận trăm công nghìn việc, cứ phải đi họp liên miên, cứ phải đi nước ngoài liên tục. Các bác vừa lãnh đạo công tác Đảng vừa lãnh đạo công tác chính quyền, vừa tham gia công tác quốc hội thế mà các bác vẫn bảo vệ thành công luận án TIẾN SỸ. Chả trách mà đất nước ta ngày càng đổi mới, ngày càng phát triển. Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ văn minh. Chẳng mấy mà đất nước ta sánh vai với Hàn Quốc, Nhật Bản. Chẳng mấy mà đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu. Điều tôi muốn nói với mọi người là: tôi là người bình thường và muốn chia sẻ với các bạn về một số vấn đề y tế.

 

CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT

 

Tôi thấy sức khoẻ không ổn, theo y tế cơ quan khuyên đi khám tổng thể, tôi chọn bệnh viện VIỆT PHÁP là bệnh viện của (Tây) thì chắc phải tốt, giá cả hơi đắt nhưng cũng chấp nhận. Khám cho tôi là một bác sĩ chuyên khoa lâu năm, sau khi đo huyết áp cho tôi, kết quả: 140/90.mmHg

 

Bác sĩ bảo huyết áp như vậy là cao và nguy hiểm và bác sĩ cho tôi đeo máy đo huyết áp 24/24. Kết quả HA thấp nhất: 120/75 , HA cao nhất : 145/90. Bác sĩ điều trị cho tôi nói rằng huyết áp này là cao và rất nghiêm trọng, cần phải điều trị. BS giảng giải cho tôi biết tác hại của huyết áp cao và nói bệnh tình của tôi rất nghiêm trọng và cho đơn một loạt thuốc uống. Tôi chẳng biết gì về bệnh huyết áp cao và về nhà tuân thủ theo thuốc bác sĩ đã kê đơn và luôn lo lắng đứng ngồi không yên về bệnh lý của mình. Tôi vẫn thường chơi tennis, mỗi lần đánh xong mệt quá thì tự nhiên tôi lại lo sợ rằng huyết áp có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ của mình. Tôi có phàn nàn với BS về tình trạng lo lắng sợ sệt thì BS kê đơn cho tôi 1 lọ thuốc Lexomil (thuốc điều trị rối loạn cảm xúc). 1 lọ có 30 viên , mỗi ngày uống 1/2 viên, uống trong 60 ngày. Tôi uống thuốc thì thấy tinh thần rất tốt, sau khi uống hết một lọ, tôi định đi mua tiếp và lúc ấy tôi mới đọc đến tính năng tác dụng phụ của thuốc là thuốc gây nghiện làm cho bệnh nhân có xu hướng muốn đi tự tử. Tôi sợ quá nên không mua nữa. Đây là thuốc gây nghiện rất mạnh, sau khi không uống thuốc, nó hành hạ tôi suốt ngày trong tình trạng hoảng hốt, lo sợ, lúc nào cũng tưởng như mình sắp chết. Trời ơi sao người ta lại làm ra loại thuốc khủng khiếp thế mà một bác sĩ tim mạch lại kê đơn thuốc tâm thần cho tôi. Suốt mấy năm trời tôi sống trong tình trạng hoảng hốt sợ chết, nhất là 2 năm đầu tiên. Có lần tưởng mình sắp chết, tôi bảo vợ tôi lấy sổ ghi chép xem ai nợ tiền mình, xem mình nợ tiền ai, công việc sau khi tôi có mệnh hệ nào thì bàn giao cho ai. Một lọ thuốc nhỏ bé mà không hiểu sao nó lại tác dụng mạnh và lâu dài đến thế. Nó biến tôi từ một người cao 1,75m nặng 65kg và có khuôn mặt cũng chấp nhận được trở thành một người già nua xấu xí béo phì nặng 90kg. Có người bạn bảo tôi ông vô lý quá, khi ông ko dùng thuốc lexomil thì 1 tuần sau thuốc trong người sẽ tan biến hết thì làm sao tác hại đến cơ thể ông được. 

 

Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu được, trường hợp của tôi giống như người nghiện ma tuý. Khi đưa ma tuý vào cơ thể. Cơ thể sẽ có 2 phản ứng cơ chế, thứ nhất: cơ thể sẽ không tạo ra moocphin nữa nó phụ thuộc vào việc đưa moocphin từ bên ngoài vào (đó là ma tuý). Nếu không có ma tuý người nghiện sẽ đau đớn vật vã. Cơ chế thứ 2 là ma tuý vào cơ thể đã biến đổi hệ thần kinh va tâm thần của người nghiện biến họ thành người khác. Dù cho cai được ma tuý thì ảnh hưởng của nó vẫn còn rất lâu dài. Trường hợp của tôi cũng vậy. Thuốc Lexomil tác động lâu dài lên hệ thần kinh và tâm thần của tôi. 

 

CÂU CHUYỆN THỨ HAI: 

 

Sau khi bị huyết áp cao, cứ 6 tháng tôi lại đi khám định kì 1 lần, tôi vẫn khám bác sĩ chuyên khoa cũ vì tôi nghĩ rằng bác sĩ đó đã nắm được bệnh của tôi, nếu thay bác sĩ mới thì người ta lại phải tìm hiểu bệnh tình của tôi lại từ đầu. Bác sĩ cho tôi chạy gắng sức trên máy tập và tôi rất mệt. Sau đó bác sĩ cho tôi đi chụp động mạch vành, kết quả là trong một nhánh nhỏ của tim, tôi bị hẹp 30% . Bác sĩ cho rằng bệnh tình của tôi rất nghiêm trọng và chuyển hồ sơ của tôi đến tham khảo bác sĩ Hùng chuyên khoa tim mạch bệnh viện tim - Bạch Mai. Tôi được biết bác sĩ Hùng là chuyên gia giỏi nhất Việt Nam về đặt stent cho động mạch vành. Hình như vào thời điểm đó, ở Việt Nam chỉ có 4 bác sĩ làm được việc này. Tôi mang hồ sơ đến cho bác sĩ Hùng, BS xem xong rồi bảo tôi chỉ định phải đặt stent. Tôi rất lo lắng và buồn phiền nhưng được biết BS Hùng là người nổi tiếng cho nên tôi cũng chấp thuận đặt stent, và tôi hỏi BS Hùng là tôi đã mua vé đi du lịch Thái Lan, để cho tôi đi du lịch 1 tuần rồi về đặt stent có được không. BS Hùng trả lời: “ANH HỎI THẾ TÔI CŨNG CHẲNG BIẾT TRẢ LỜI NHƯ THẾ NÀO“. Thế rồi về nhà tôi đánh liều, cứ đi du lịch Thái Lan. Bạn tôi khuyên mang hồ sơ bệnh án đi sang đấy để nếu có cấp cứu thì bệnh viện người ta còn biết bệnh án của mình. Sau đó, về Hà Nội, tôi có nói chuyện với gia đình về trường hợp động mạch vành của mình. Gia đình tôi giãy nảy lên “trường hợp của Phương quá nhẹ, chưa cần phải đặt stent“. Tôi phân vân và đi hỏi một số các bác sĩ khác, họ cũng khuyên là chưa cần phải đặt.

 Sau đó khoảng 3 năm, tôi lại đi chụp động mạch vành, kết quả là động mạch vành của tôi chẳng sao cả. Cái chỗ hẹp 30% lần trước nay không còn nữa. Thật may mắn cho tôi. Nhưng điều tôi không thể hiểu là một bác sĩ giỏi nhất Việt Nam trong lĩnh vực đặt stent lại quyết định chỉ định tôi phải đặt. Nếu tôi đặt stent thì dễ nhưng rút ra thì không thể , và tôi phải đeo dị vật trong tim suốt đời à?

 

CÂU CHUYỆN THỨ BA

 

Một lần tôi đi xe máy bị ngã đập vai xuống đường, người dân dìu tôi vào vỉa hè. Tôi nghỉ một lát rồi đi xe máy một tay về đến bệnh viện gần nhất, đó là bệnh viện 354 quân đội. Người ta cho tôi chụp XQ cái vai, tôi xem phim thấy vai của tôi có một vết rạn rất nhỏ, chỉ bằng sợi tóc . Sau đó họ chuyển hồ sơ đến bác sĩ chuyên khoa, ông ấy chỉ định: PHẢI MỔ. Tôi vừa sợ vừa ngạc nhiên, không biết mổ để làm gì, vai con người chứa rất nhiều dây thần kinh, gân, cơ. Nếu mổ thì biết bao giờ mới hồi phục đây? 

Rút kinh nghiệm của những lần trước, tôi chạy đến khám BS chuyên khoa người Pháp. Ông ấy xem phim rồi bảo trường hợp này quá nhẹ, không cần phải điều trị bất cứ điều gì, chỉ cần buộc một cái băng vào cánh tay treo lên cổ, 2 tuần sau sẽ khỏi. Mấy tháng sau, tôi vẫn đánh được tennis và golf bình thường. Tôi nghĩ mãi và không thể lý giải được quyết định chỉ định mổ của bác sĩ bệnh viện 354.

 

 Sao con người ta ĐỘC ÁC VÀ VÔ TRÁCH NGHIỆM đến thế .  

CÂU CHUYỆN THỨ TƯ

 

Có một lần đau lưng quá, tôi nghĩ mình cần phải đi kiểm tra cột sống. Lần này, tôi quyết định lựa chọn bệnh viện Vinmec, đó là bệnh viện tư nhân, giá cả hơi đắt nhưng có thể người ta nhiệt tình. Đến đấy, bác sĩ chuyên khoa chỉ định cho tôi chụp CT cắt lớp. Kết quả: cột sống của tôi rất xấu: rách đĩa đệm, hẹp ống sống... Bác sĩ bảo tôi là rất nghiêm trọng, cần phải mổ cột sống. 

Lần này, tôi đã có kinh nghiệm, không vội tin vào chỉ định của bác sĩ. Tôi mang hồ sơ đến một bệnh viện khác để kiểm chứng. Lần này tôi chọn BV 108 QĐ. Tôi đưa phim chụp cắt lớp cho ông BS xem. Ông BS xem rồi bảo cái phim này chẳng có tác dụng gì, chụp chỉ để cho vui, chụp chỉ để đi khoe. Rồi bác sĩ chỉ định tôi phải đi chụp một cái phim XQ bình thường. 

 

Sau khi có kết quả chụp phim, ông BS xem rồi bảo: “ANH CHẲNG CÓ BỆNH GÌ. Đây là trường hợp thoái hoá cột sống theo tuổi tác, không thể điều trị được, phải chấp nhận chung sống hoà bình. Để cải thiện cột sống, anh phải luyện tập thể thao. Nếu đau quá thì tôi sẽ kê đơn thuốc giảm đau cho anh”. Sau đó tôi chơi golf và thấy bệnh tình được cải thiện rất tốt. Một điều mà tôi không thể lý giải được là tại sao 2 bác sĩ chuyên khoa ở 2 bệnh viện lớn lại có chẩn đoán ngược nhau hoàn toàn.

 

CÂU CHUYỆN THỨ NĂM

 

Cùng phòng làm việc với tôi có một cậu tên là Trung - kĩ sư xây dựng. Một hôm, cậu ta bảo: “ông Phương ơi, ông xem cái cổ tôi mọc 4, 5 cái hạch, mai ông cho tôi nghỉ đi khám bệnh“. Tôi đồng ý. 

 

Sau đó cậu Trung đi khám bệnh theo tuyến, người ta thấy có vấn để chuyển lên các bệnh viện tuyến trên. Bệnh viện cuối cùng là bệnh viện truyền máu huyết học trung ương. Ở đấy, người ta làm một lô xét nghiệm và kết luận cậu Trung bị ung thư máu giai đoạn 4. Rồi đưa sang điều trị. Trong phác đồ điều trị có chạy xạ và truyền hoá chất, ở bệnh viện có bệnh nhân chạy xạ và truyền hoá chất được 5, 6 lần thì chết vì kiệt sức. Cậu Trung chạy xạ truyền hoá chất 2 lần thì tóc rụng hết, người rất yếu. 

 

Thế rồi cậu ta xin về nhà không điều trị nữa chờ chết. Mấy tháng sau, do không điều trị nên sức khoẻ có tốt hơn. Cậu ta gọi điện cho tôi: “ông Phương ơi, tôi về nhà chờ chết mà mãi không chết. Bây giờ tôi thấy người cũng khoẻ nhưng ở nhà cả ngày buồn quá, ông cho tôi đi làm. Tôi bảo ông cứ đi làm đi cho vui, tôi cho ông chế độ đặc biệt thích đi lúc nào thì đi, thích về lúc nào thì về”. Sau mấy tháng đi làm, tôi thấy cậu Trung vẫn khoẻ mạnh bình thường, tôi bảo: “trường hợp của ông lạ quá, người ta bảo ung thư máu chết rất nhanh mà tại sao ông vẫn khoẻ mạnh? Theo tôi ông nên đi khám lại“. Cậu Trung đến bệnh viện truyền máu huyết học trung ương, sau khi lại làm một lô xét nghiệm, người ta kết luận cậu ấy chẳng làm sao cả . Cậu ấy có hỏi tại sao trước đây lại chẩn đoán tôi bị ung thư? Bác sĩ trả lời: “đây là trường hợp hy hữu, xin chúc mừng anh“. 

 

Trời ơi, bệnh viện cứ chẩn đoán nhầm thế này thì chết con người ta.

 

CÂU CHUYỆN THỨ SÁU 

 

Ở cơ quan tôi có một cậu còn trẻ, con mới được 2 tuổi thế mà suốt một năm qua, cháu bị ho rất nhiều. Gia đình đưa đi khám nhiều bệnh viện huyện, tỉnh. Mỗi lần đi khám, bác sĩ kê đơn cho một bọc thuốc kháng sinh. Suốt một năm trời, cháu uống hết thuốc này đến thuốc khác. Người xanh xao vàng vọt, còi cọc không lớn được. 

 

Tôi bảo cậu ấy tôi có nghe bạn tôi giới thiệu có ông bác sĩ PHẠM THẮNG chuyên khoa tai mũi họng ở bệnh viện Bạch Mai có khám ngoài giờ ở ngõ Đoàn Nghĩ Hài phố Trần Quốc Toản, cậu mang con đến thử khám xem sao. Bác sĩ Phạm Thắng sau khi khám cho cháu bé xong chỉ cho phác đồ điều trị đơn giản như hút mũi, xông mũi, xông họng... Tất cả các loại thuốc kháng sinh cháu dùng trong năm qua đều bỏ hết. 

 

Sau khi điều trị một tháng, kỳ lạ thay cháu hết ho và sức khoẻ cải thiện rõ rệt. Với tôi, điều kỳ lạ là trong khi có nhiều bác sĩ ngu dốt và vô trách nghiệm thì vẫn còn có những bác sĩ tài năng . Vấn đề là người dân làm sao để tìm được bác sĩ có tài năng để khám chữa bệnh cho mình đây? 

 

CÂU CHUYỆN THỨ 7

 

A ruột tôi vừa mới rồi nửa đêm đi cấp cứu bị tai biến liệt nửa người. Vào khoa A9 bệnh viện Bạch Mai. Nửa đêm bác sỹ bảo nộp ngay 120 triệu để xét nghiệm và chiếu chụp . Nếu ko có tiền thì cứ nằm đấy chờ. Nửa đêm thì lấy đâu ra tiền đây. Trời ơi, bà Kim Tiến ơi. Bà phải xem lại quy trình cấp cứu như thế nào chứ. 

 

LỜI KẾT 

 

Rút kinh nghiệm của tôi, nếu các bạn đi khám bệnh mà bác sĩ kết luận có bệnh nặng thì đừng tin ngay, cần phải đi kiểm chứng nhiều bác sĩ và bệnh viện khác. 

 

Tôi không hiểu đội ngũ bác sĩ của Việt Nam như thế nào. Có người hỏi tôi tình hình các bệnh viện như thế nào.

 

tôi bảo bệnh viện bây giờ họ tốt lắm, họ chu đáo lắm. Nếu bạn vào viện họ sẽ cho bạn xét nghiệm, chiếu chụp khắp người. Ví dụ như bạn đau chân BS có thể cho bạn chụp não (để đề phòng mọi biến cố). Nếu bạn chết sẽ được nằm trong NHÀ XÁC. Yên tâm. Không ai bị đuổi ra ngoài đường, ai cũng có chỗ nằm. 

 

Khoảng 15 năm qua, các em các cháu thi vào trường đại học Y điểm rất cao chứng tỏ học lực các em rất giỏi. Tôi hy vọng các lứa bạn thanh niên này tương lai sẽ là những bác sĩ giỏi của Việt Nam.

Ps: Khuyến mãi thêm phần bổ sung của Fbker Hà Anh 

Mình tin câu chuyện bạn fb này chia sẻ là thật vì mình cũng đã từng rơi vào 2 lần như vậy 

 

Lần 1: mình đau bụng kinh khủng tưởng chết luôn được, chồng mình đưa ngay sang phòng khám đa khoa 125 Thái thịnh gần nhà toàn gs bác sĩ đầu ngành khám cấp cứu. 

 

Bác sĩ khám xong bảo phải mổ cấp cứu ngay lập tức cắt toàn bộ  kg vỡ tử cung nguy hiểm tính mạng chồng mình sợ quá đồng ý ngay nhưng mình nhất quyết không chịu vì nghĩ còn trẻ thế này cắt hết thì còn gì là phụ nữ nữa. Mình khăng khăng bắt chồng đưa lên bv phụ sản. Lên đến bv phụ sản vào siêu âm, bs bảo chả làm sao cả mang giấy siêu âm này về đập vào mặt pk Thái thịnh cho anh (may là hôm đấy mình đc bs siêu âm giỏi nhất bvps khám ) em về đi soi đại tràng cho a, chắc chắn e bị đau co thắt đại tràng, sau mình đi soi thì đúng là mình bị đại tràng táo bón co thắt. Hú hồn tí thì thành đực rựa, làm sao còn õng ẹo nữ tính như bây giờ. 

Lần 2: mình ngủ dậy tự dưng đau phần hông kinh khủng kg đi nổi cũng sang pk Trường sơn ở Thái thịnh ( vì phố Thái thịnh gần nhà mà) cũng biển toàn gs tiến sĩ đầu ngành khám, sau khi chiếu chụp bs kết luận mình bị viêm khớp háng hàng ngày phải sang pk tiêm ks liều cao trực tiếp vào háng  mình vừa sợ tiêm vừa rút kinh nghiệm lần trước đi vào Việt đức khám lại cho chắc sau khi chiếu chụp các kiểu, bs kết luận chả có viêm khớp háng gì hết chỉ là đau do thoái hóa cột sống dẫn đến chèn dây tk  và mình uống thuốc + châm cứu hết đau đi lại bình thường.

 

Kl: có rất nhiều bs giỏi và có tâm nhưng may mắn thì bạn gặp còn không thì bạn rất có thể lợn lành thành lợn què

 

CẢNH BÁO  

 

CÓ THỂ BẠN KHÔNG CHẾT VÌ BỆNH, MÀ CHẾT VÌ SỰ DỐT NÁT, VÔ TRÁCH NHIỆM, VÔ LƯƠNG TÂM, ÁC ĐỘC VÀ THAM LAM VÔ ĐỘ CỦA NHIỀU BÁC SỸ "DANH TIẾNG". 

 

Lưu ý: Ngành Y Việt Nam, có nhiều và rất nhiều thầy thuốc hết lòng vì người bệnh. Bài sưu tầm từ trang fb Bách Hoàng chỉ để nhắc nhở bản thân và gia đình, luôn tỉnh táo trước khi quyết định cho mình phương pháp điều trị thích hợp nhất mà thôi!

 

Chia sẻ từ fb Vanhoa Nguyen

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHUYỆN Y TẾ   VNCS/ HANOI Ngày Nay, Một Dân Hà Nội...  kể sự thật
Comment

ĐI GIẢI PHÓNG NGƯỜI TA... MÀ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ĂN MÌ TÔM, NGON QUÁ DỨT BA GÓI LUÔN! ( Bài Trên Net)

August 10, 2026 Ninh Tran

ĐI GIẢI PHÓNG NGƯỜI TA... MÀ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ĂN MÌ TÔM, NGON QUÁ DỨT BA GÓI LUÔN!

Lần đầu tiên trong cuộc đời được ăn Mì Tôm. Nếu không nhờ miền Nam, thì giờ đây đã giống Bắc Hàn, đời con, đời cháu vẫn không biết Mì Tôm Là gì. Cám ơn Miền Nam đã giải phóng nhân dân miền Bắc khỏi đói nghèo và lạc hậu.
Lịch sử chiến tranh thế giới chắc chưa bao giờ ghi nhận một nghịch lý nực cười hơn cuộc chiến tại Việt Nam: Một đội quân đến từ nơi không có đủ cơm ăn, áo mặc lại hăm hở xông vào "giải phóng" cho một nơi mà dân chúng đang sống trong sự dư dả về vật chất và tự do về tinh thần. Và thước đo cho sự "ưu việt" của chế độ sau ngày 30/4/1975, hóa ra không nằm ở các lý thuyết kinh tế vĩ mô, mà nằm vỏn vẹn trong một gói Mì Tôm.
"Đỉnh cao trí tuệ" và cơn choáng váng trước... vắt mì khô
Hình ảnh những người bộ đội cụ Hồ, vốn được nhồi nhét rằng miền Nam đang rên xiết dưới ách thống trị của "Mỹ - Ngụy" nghèo đói, bỗng chốc sững sờ khi bước chân vào Sài Gòn. Nhưng đỉnh điểm của sự mỉa mai là khi họ được nếm thử gói mì tôm – thứ mà người dân miền Nam bấy giờ chỉ coi là món ăn nhanh, ăn chơi cho vui miệng.
Lời thú nhận cay đắng: Ăn một lúc 3 gói vì quá ngon! Cái vị đậm đà của bột súp dường như đã đánh sập toàn bộ hệ thống tuyên truyền về một miền Bắc "thiên đường".
Sự thật phũ phàng: Hóa ra, "kẻ đi giải phóng" lại là người lần đầu tiên được biết đến những tiện nghi tối thiểu của cuộc sống văn minh. Trong khi miền Bắc phải xếp hàng chờ tem phiếu để nhận vài lạng thịt ôi, thì miền Nam "bị kìm kẹp" lại thừa mứa những món hàng mà miền Bắc gọi là "xa xỉ phẩm".
Cuộc xâm lược nhân danh lý tưởng "Đói đều"
Người ta đặt ra câu hỏi: Một chính thể không lo nổi bát cơm cho dân mình, lấy tiền đâu để đổ vào vũ khí, đạn dược và nướng hàng triệu thanh niên vào chiến trường miền Nam? Câu trả lời rất đơn giản: Họ không tích lũy để xây dựng, họ chỉ tích lũy để hủy diệt.
Việc "cưỡng chiếm" miền Nam thực chất không phải để đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho đồng bào, mà là để san bằng tất cả xuống một mức nghèo khổ chung. Đảng gọi đó là "xây dựng công bằng xã hội", nhưng thực tế là họ đã biến một hòn ngọc Viễn Đông đang rực rỡ thành một nơi mà sau đó vài năm, người dân phải độn khoai, độn sắn và coi mì tôm là món quà xa xỉ mang từ "phương Nam" về làm quà cho cả họ ở miền Bắc.
Nghệ thuật "cải lùi" vĩ đại

 Thật châm biếm khi nhìn lại:
Miền Nam: Trước 1975, mì tôm là món ăn của sinh viên nghèo hoặc lúc lười nấu cơm.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags ĐI GIẢI PHÓNG NGƯỜI TA... MÀ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ĂN MÌ TÔM, NGON QUÁ DỨT BA GÓI LUÔN!
Comment

Tôi Đi Học (Trần Xuân Ninh)

August 7, 2026 Ninh Tran

Tôi Đi Học

"Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không nhớ rằng tôi đã thuộc lòng  đoạn văn trên mở đầu truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh  vào lúc nào nhưng chắc chắn là vào đệ thất hay đệ lục niên khóa 1949 hay 1950.trường trung học Chu Văn An Hà nội. Ở tuổi 90 hiện nay nghĩ lại cả cuộc đời học chữ của mình từ lúc học vỡ lòng ở nhà ông nội đến khi đi học ở trường, chưa có lúc nào tôi thấy có được cái cảm giác thích thú thoải mái như  mô tả trong đoạn văn của Thanh Tịnh. Thực thế, khi ông nội tôi bắt đầu dậy cho mấy chữ cái a,b,c  rồi đến đánh vần, thì chỉ thoáng một cái là tôi đã  thuộc hết và được thả ra chạy nhảy. Cái thích là đến tối được ngủ với bà nội để được phe phẩy cái quạt nan cho mát và xoa lưng ru ngủ: 

“Đồng Đăng có phố Kỳ lừa, 

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Nhớ công bác mẹ sinh thành ra em…”

Chùa TamThanh mới làm về sau (hạ bán thế kỷ 20)

Bà ru thì thích nhưng tôi ham nghe không ngủ cho đến khi bà quạt rã tay ru mỏi miệng, phải dọa “không ngủ đi mẹ mìn nghe ru mãi nó biết nhà có trẻ con nó vào bắt đi là bà không làm gì được đâu. Mẹ mìn nó rình ở mấy bụi tre kêu kẽo kẹt sau nhà đấy”. Tôi tò mò hỏi “Sau nhà chỗ nào hở bà?”. “Ở phía ngoài cái chuồng chấu cạnh cái cối giã gạo chứ ở đâu? Nằm yên ngủ đi. Hỏi rợ mãi!”.

Câu chuyện mẹ mìn cắt ngang ở đó vì tôi sau đó không còn ở nhà quê với ông bà nội mà theo mợ tôi ra Nam định  ở phố Cửa Trường vì ba tôi xin được làm ký ga xe lửa. Người làng gọi là anh xếp An. Vì là nhân viên mới vào cấp thấp nên không làm ở một ga nào nhất định mà phải thay đổi vị trí làm viêc, di chuyển đến thế cho các đồng nghiệp khi họ được gọi  là đi phép tức là nghỉ nhiều ngày,  ở các ga xép quanh vùng Nam định-Hà nội như Phủ Lý, Thường Tín, Kép … Sau cùng thì ba tôi được đổi lên ở lâu tại Đồng đăng, tức là mạn ngược, sát biên giời Tầu. 

Về sau này lớn lên tôi nghĩ rằng người ta gọi tên phố là Cửa Trường có lẽ vì trong con phố này có một trường tiểu học. Nhà tôi ở một căn gác nhỏ trong cái nhà xế trưòng . Trong số những người cùng trong căn gác tôi nhớ nhất là bà phán Sài gòn. Người mập mạp, mỗi khi cười để lộ mấy chiếc răng vàng , nói tiếng líu lô lên lên xuống xuống khó nghe. Tới nhớ bà phán. Vì không hiểu sao bà thích tôi hay xin phép mẹ tôi cứ buổi chiều gần tối  dẫn tôi  ra bờ sông đi chơi. Đường ra bờ sông không xa, gió mát, mà tôi  cũng thích vì thường là bà cho tôi đến chỗ ông bán kem mua cho tôi một cái. Đó là những cái kem đầu tiên trong đời tôi được ăn. Ngọt, thơm và mát lạnh. Thời gian này không biết lâu mau nhưng đủ lâu để khi bà phán rời căn nhà về Sài gòn tôi ngơ ngẩn buồn.  

Căn nhà ở cái phố Cửa Trường này còn để lại cho tôi một bài học y khoa nhớ mãi về sau. Đó là một một buổi chiều đường phố đông người qua lại. Chợt cả xóm xôn sao. Vì ông Cấp một người trong căn nhà bên cạnh chạy băng qua đường bị một chiếc xe bò chở nặng tông vào té xuống đường. Ông được đưa vào nhà thương và không về nữa. Mấy ngày sau nghe hóng chuyện mợ tôi nói với các bà hàng xóm rằng ông chết vì càng xe bò đụng vào chỗ hiểm là mạng mỡ. Hai chữ chỉ cơ thể lạ tai này tôi nhớ đến lúc lớn nhiều chục năm sau. Và biết rằng đó là hai bên cạnh sườn chỗ lá lách và gan. Chấn thương vào đây có thể làm bể gan hay lá lách chẩy máu trong bụng và chết nếu không cấp cứu kịp. Mà có được mổ cấp cứu cầm máu thì cũng mười phần chết một phần sống. Vì sau này thì tôi biết rằng lúc đó không biết kỹ thuật hồi sinh và thuốc kháng sinh/ trụ sinh. Phải đến cuối thập niên 40 ở Việt Nam mới nghe nói đến Pénicilline rồi Streptomycine.

Tôi có một ông chú họ kể chuyện ông được mổ chảy máu bao tử. Được cho một chai nước biển và nhịn ăn uống.  Ông nói khát như cháy cổ. Không chịu được uống đại một cốc nước lã rồi đến đâu thì đến. Ông không chết. Và cuối thập niên 50 lúc tôi đã vào học y khoa ông cởi áo cho xem cái sẹo nằm chính giữa bụng chạy từ chấn thủy xuống dưới rốn. 

Trước giờ tan học học trò được hát đồng ca vang dội rồi đổ ra ngoài làm tôi náo nức chạy ra cửa xem. Mợ tôi thấy thế mới dẫn tôi sang bên trường nói với cô giáo xin cho tôi vào học. Thích thì thích vậy nhưng khi được nhận vào thì tôi sợ, òa lên khóc và đòi về. Buổi đầu tôi đi học là như thế. Không có cái tâm thức Tôi đi học mà Thanh Tịnh tả.

Tôi ở phố Cửa Trường một thời gian rồi sang ở phố hàng Cấp nhà ông giáo Thự là cậu ruột mẹ tôi, trên một căn gác nhỏ  Tuy ông được gọi là ông giáo nhưng ông lại làm lang thuốc. Tôi không thấy ông dậy ai. Ông ít nói. Thường mặc bộ áo dài quần dài trắng tinh. Đi đứng chậm rải ngay ngắn. Tôi không được gặp bà giáo bao giờ. Chỉ biết có bốn người con là cô Ng. cô L. cậu Nh. cậu T. Cô Ng. thân với mẹ tôi. Tôi còn nhớ ngày tết hai người làm mứt chung với nhau và hai người có đứng chụp chung với nhau dưới cành một cây đào trong sân nhà. Rất tiếc hình này không giữ được trong thời gian loạn lạc về sau này.  Nhà ông có tủ thuốc và dao cầu thuyền tán với những đôn sứ trắng có hình vẽ xanh đắt tiền hình con voi lưng phẳng để ngồi, bầy đây đó vừa trang hoàng vừa làm ghế. Mợ tôi kỹ lưỡng dặn những thứ đó quý lắm, không được đụng vào lỡ đổ bể thì đắt lắm không tiền đâu mà mua thay thế. Tôi tuy nghe lời mợ nhưng không khỏi tự hỏi  trong lòng những con voi sứ này để ngồi mà sao tôi không được ngồi lên. 

 Không biết mẹ tôi và ông giáo bàn tính thế nào mà một hôm tôi được đưa cho ông dậy học. Ông khăn áo chỉnh tề, đứng trước bàn thờ  cầm một lá sớ giấy bản nâu nâu trên viết chữ nho, suỵt soạt khấn vái những gì tôi không nghe hết. Nhưng nhớ được mấy chữ “…Thiên tích thông minh thánh phù công dụng…”. Mãi về sau này với số chữ Hán ăn đong mỗi tuần một giờ ở lớp đệ thất trung hoc phổ thông Chu Văn An với cụ nghè Nguyễn Sĩ Giác  người bé nhỏ gầy tong teo trong bộ âu phục, mới đoán ra đại khái là ‘trời cho thông minh, thánh giúp cho hữu ích’…  Tiếp theo lá sớ được đốt, tàn hương được giữ lại bỏ vào bát con nước cúng rồi cho tôi uống. Chẳng có mùi vị gì. Ngày đầu tiên đi học ông Cậu ruột mẹ tôi là như vậy.

Thế rồi tôi được ba tôi làm xếp ga (trưởng ga) Đồng Đăng đưa lên trên đó.  Ở ngay tại trên gác nhà ga. Sau nhà ga là một cái  nhà  thờ mỗi ngày làm tôi giật mình vì  tiếng chuông kêu vang dõng dạc. Trước nhà ga cách đường sắt không xa là một cái đồi trên có trại lính mà chẳng hiểu sao được gọi là Lính Khố Đỏ. Tại sao lại gọi là Khố Đỏ thì cho tới nay tôi vẫn không hiểu, vì không biết và không dám hỏi ai. Bởi Khố mà tôi biết chỉ là miếng vải thô bịt bộ phận sinh dục, chỉ có thanh niên không biết chữ nghèo nhất làng mới mặc để đi ra ruộng đánh giậm  bắt con tôm con tép với cá lẻm để sống. Mỗi ngày hai lần: Buổi sáng có kèn rề vây (réveil) báo thức, và buổi trưa có kèn la xiết (la sieste) ngủ trưa mà chú tôi từ Lạng Sơn tình cờ lên Đồng Đăng chơi với ba tôi, thấy tôi há hốc mồm nghe thì chế ra tiếng Việt để hát tôi nghe cho vui, nghe hay đáo để. Đại khái cho tới bây giờ tôi còn nhớ loáng thoáng “tò te tò te  tò te; tò te có con cò nheo nhéo. Tò te tò te tò te, tò te có con cò mè nheo… vân vân” và “Nay ta không ta không có tài, nay ta không ta không có chí… không ra người tài hoa. Ta- phải nên cố nên cố nên cố, cho ra người tài hoa. Ta phải nên gắng nên gắng nên gắng, cho ra người tài hoa”.  

Quê tôi ở một làng đồng chiêm nghèo là Lý Nhân tỉnh Hà nam mà tại sao chú tôi lại ở Lạng sơn? Ấy là vì chú tôi được học trường Thiếu Sinh Quân (enfants de troupe) ở Tông thuộc Lạng Sơn, bởi ông tôi làm chánh quản  (thượng sĩ nhất) là cấp hạ sĩ quan cao nhất thời bấy giờ (đầu thế kỷ thứ 20) mà người Việt Nam đi lính lên tới. Mở ngoặc nói thêm ở đây là chú tôi học khóa chót, gần tốt nghiệp thì Nhật đảo chính Pháp ngày 8 tháng 3 năm Ất Dậu. Chưa đeo lon chuẩn úy. Thất nghiệp về nhà ông nội ở. 

Chú tôi là người đẹp trai nhất nhà. Ăn nói hoạt bát. Có lẽ vì thế mà trong thời gian học thiếu sinh quân chú có một cô đầm mê mệt. Bà nội tôi nghe tin, tức tốc lôi chú về bắt lấy vợ.

Thời bấy giờ lấy vợ cho con là do người mai mối giới thiệu sao cho môn đăng hộ đối.  Nhà cô dâu được giới thiệu là ở trên phủ Lý Nhân cách nhà ông bà nội tôi không xa. Cũng cùng cấp chánh quán hồi hưu. Bà vợ có cửa hàng vải, lúc đó kể là thứ hàng đắt giá sạch sẽ, gọi là hàng tấm, không giống như các loại tạp hóa lỉnh kỉnh mùi tương chao mắm muối hay hàng sáo bán gạo phải vất vả qua các giai đoạn xay lúa, giã gạo, giần sàng… rồi mới đội đi bán được. Nhà có 4 chị em gái. Hai chị lớn đẹp gái lấy chồng khá giả. Người thứ ba theo như bà mối giới thiệu thì da trắng tóc dài ngồi coi hàng tấm.  Người út còn nhỏ mới biết chạy lẫm chẫm, gọi  là cô Tư.

Chú tôi được đưa đi xem mắt (tức là xem nhan sắc) cô vợ tương lai thì cô gái này sẽ bưng trà ra tiếp khách Theo tục lệ thông thường. Nhưng một trong hai người chị xinh đẹp lại bưng nước ra mời khách (là bà nội tôi và chú tôi). Và thế là xong. Chú tôi lòng tuy không vui, vì phải bỏ cô tình nhân người đầm,  nhưng không chống đối như dự tính vì người bưng nước ra mời theo thông lệ là cô dâu, có nhan sắc. Những chi tiết này là do các cô tôi kể lại còn cá nhân tôi mới năm sáu tuổi thì chỉ nhớ loáng thoáng đoạn cuối. Là thấy nhà ông nội tôi nhộn nhịp ồn ào vì mổ heo để mời khách khứa họ hàng. 

Rồi sau đó tôi lần đầu tiên trong đời được coi một đám cưới và đua theo một lũ trẻ con trong làng hô to “cô dâu chú rể đội dế lên đầu, cô dâu chú rể đội dế lên đầu”. Chú rể chẳng phải ai xa lạ mà chính là  ông chú tôi nhưng đi trong đám rước dâu nên tôi không nhìn thấy.

Lấy vợ xong thì cả hai vơ chồng chú thím tôi lên Lạng sơn là nơi chú tôi làm việc. Ba tôi làm ga xe lửa nên từ Đồng Đăng xuống Lạng Sơn chẳng khó khăn gì. Nhưng vừa theo bố tôi vào nhà chú thì thím tôi ngồi một góc mắt đỏ hoe, miệng méo sệch sang một bên. Chú tôi dắt bố con tôi ra khỏi nhà. Và thế  là tôi đươc dắt đi xem chùa Tam Thanh. Tôi đầu óc hoang mang, chẳng hiểu gì. Chỉ còn nhớ mang máng rằng đó là một khoảng đất với những núi non lởm chởm. Đến gần một ngọn núi trên đỉnh có cái  miệng hang to chú tôi chỉ tay lên bảo kia là động Tam Thanh và tiếp tục lên giốc.  Đi một lên giốc một quãng nữa chú ngừng lại ở một cái lỗ tròn giữa núi đá chừng bằng cái miệng nồi theo trí nhớ của tôi, nước trong và mát rượi. Chú bảo người ta gọi là Giếng Tiên vì ở trên đồi cao mà không bao giờ nước trong ngưng tràn lên. Sau đó tiếp diễn ra sao  tôi không còn nhớ, chỉ biết đó là chuyến đi thăm cái núi trên gần đỉnh có cái hang, gọi là Chùa Tam Thanh nhưng không thấy có người ra vào lễ bái.

Chuyện tôi đi học đã diễn ra trong cái khung cảnh mạn ngược Đồng Đăng có phố Kỳ lừa này.

Ngay trên gác nhà ga có phòng để ở. Ba tôi là xếp ga, cấp lớn hơn được hai phòng. Còn một phòng nhỏ hơn cho bác Tước  là người thư ký bán vé tầu. Buổi chiều khi chuyến tầu chót đã rời ga về suôi và cơm nước xong thì ba tôi cho tôi vào giường ngủ. Rồi đi đến chơi ở nhà mấy người bạn là ông chủ nhà Giây Thép, ông chủ Nhà Đoan, mấy ông thầy giáo mà tôi chỉ biết tên có một người là bác Hợi vì tôi là học trò của ông ấy. Lúc nào ba tôi về tôi không biết vì đã ngủ say.

Mợ tôi từ Nam định lên thăm mang theo khoai lang luộc chin xém vỏ thơm lừng là món quà tôi thích. Cho nên cơm xong rồi nhưng tôi nán lại chờ khoai luộc chin ăn xong mới đi học. Đến nơi thì học trò đã vào lớp hết. Tôi sợ không dám vào. Đứng chờ ở ngoài đến  khi trường tan thì về cùng. Ai ngờ sau khi cho chuyến tầu chót về suôi, thì ba tôi hầm hầm giận dữ nghiến răng cầm cái phất trần nọc ra giường, hỏi ‘N. mày trốn học đi đâu’ rồi quất cho một cái thẳng cánh vào nhượng chân trái. Tôi choáng người không dám khóc. Cũng không dám giải thích rằng tôi không trốn học đi chơi mà chỉ không dám vào lớp vì đến trường trễ bởi nán lại ăn khoai mẹ tôi luộc xém vỏ. Đâu có ngờ rằng thầy giáo Hợi đã gặp ba tôi lúc về qua ga  và hỏi tôi có đau ốm gì  không mà vắng mặt!

Cái vết đánh mạnh trên da mỏng đứa trẻ con nít mới đi học là tôi đã rướm máu rồi mấy hôm sau mưng mủ. Mợ tôi đã phải lấy nước chè tươi để chấm rửa cho tôi. Nước mắt chảy, mẹ tôi khuyên nhủ đừng dại như vậy nữa ba đánh chết. Tôi không biết nói sao, chỉ chẩy nước mắt, không dám khóc lên tiếng.  Rồi cũng qua, đánh dấu bước đầu tôi đi học ở ga Đồng Đăng yên bình, chỉ có tiếng kèn lính, chuông nhà thờ ngày vài lần, và lặng lẽ xa xa mấy người Thổ áo chàm bước vào sau những trái núi xanh.

Trần Xuân Ninh

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa Tags Tôi Đi Học, Trần Xuân Ninh
Comment

Có Kiêng Có Lành (NHH)

August 2, 2026 Ninh Tran

Có Kiêng Có Lành

Đây là câu chuyện cá nhân, không liên quan gì tới niềm tin Tôn Giáo.

Chuyện xảy ra năm 1979, lúc đó tôi mới ở tù “Cải Tạo” về, chưa lập gia đình, lại phải sống với cộng sản nên niềm tin Tôn giáo hãy còn… lơ mơ lắm.

May mắn làm sao khi đi hỏi vợ thì lại lọt vào một gia đình rất sùng đạo Phật, mọi chuyện quan trọng liên quan tới “Quan, Hôn, Tang Tế” đều phải nhờ… ‘Thầy’ xem ngày giờ kỹ càng rồi mới quyết định.


Hồi đó, gia đình vợ tôi tin tưởng tuyệt đối Thượng Tọa Thích Thiện H... (trụ trì tại chùa Pháp Hoa trên đường Công Lý) nên khi xin cưới đã buộc tôi phải tới nhờ... “Ngài” chọn ngày lành tháng tốt.

Con rể mới, tốt nhất là phải ngoan ngoãn nghe lời…mẹ vợ; nên tôi đành nghiêm chỉnh đến chùa thăm…Thầy.


Chùa Pháp Hoa là ngôi chùa…“uy tín” nhất thời đó, rất dễ tìm. Nhiều người còn gọi đó là chùa “Mác-Lê !!!” do ngay trước cổng có treo hai tấm bảng lớn “Không có gì qúy hơn Độc Lập Tự Do” và “Chủ Nghiã Mác - Lê Nin Vô Địch Muôn Năm”, che lấp cả tên chùa; bên cạnh là bức ảnh Hồ Chí Minh vớí nụ cười hiền, trông rất… “đểu.”

Thoạt nhìn cũng hơi nản; nhưng là ngôi chùa duy nhất được… cấp “giấy phép hành nghề” nên một người mới ở tù ra như tôi cũng thấy… yên tâm một chút !!! Ít nhất cũng không sợ bị bắt về tội “mê tín, dị đoan.”


Tình cờ hôm tôi ghé chùa là vào lúc Chính Ngọ. “Ngài Ngự” bắt đầu dùng bữa, nên phải đứng chờ trước sân cùng với cả chục người nghèo đói và các Tăng Ni cấp nhỏ đứng quanh bàn ăn chờ... Thầy.

Bữa ăn của bậc chân tu cũng… có khác !!!: “Ngài” ngồi thưởng thức một minh. Trước mặt “Ngài” là một tô…“Bún Bò Huế”... chay (?), mấy cái đùi gà rán… chay (?) và một miếng “steak” to tướng, cũng là đồ… chay (?) ... “nghe nói” chế biến từ… măng và đậu phụ nhưng được gọt, tiả rất công phu, nhìn mà phát thèm vì trông chẳng khác gì đùi gà rán và steak... thật. Thảo nào, trông dáng Thầy cũng... phương phi lắm.


Sau khoảng 2 tiếng chờ đợi, bữa ăn vừa chấm dứt, chưa kịp dọn bàn là nhóm “bần dân” khốn khổ đã xông đến tranh nhau dành giật thức ăn còn sót lại. Rồi một nữ phật tử bưng thau nước cho Thầy rửa tay. Một nữ nhân khác bưng trà và tăm xiả răng cho Thầy. Dễ thường cũng cả nửa giờ sau Thầy mới quay lại giải quyết công việc cho … thế nhân.


Là “chuẩn” chú rể, tôi ăn mặc trông cũng… đàng hoàng lắm nên được Ngài chiếu cố tới trước nhất:


“Thằng kia, nẫy giờ… mày đứng làm gì mà mắt cứ lom lom nhìn tao ăn? Muốn quy y hả? Chùa này không còn chỗ cho người quy y đâu!!!”


Khi nghe tôi chỉ muốn hỏi việc chọn “ngày lành tháng tốt” để… cưới vợ, Thượng Tọa cũng chẳng cần đối chiếu tuổi của chúng tôi, vội vã “phán” ngay:


“Cưới với xin gì?... Tháng 9 này kỵ tuổi chồng, tháng 10 kỵ tuổi vợ, tháng 11 kỵ tuổi bố chồng, tháng 12 kỵ tuổi bố vợ, tháng giêng kỵ tuổi mẹ chồng, tháng hai kỵ tuổi mẹ vợ v..v..”


Tôi nghe mà hoảng qúa, cứ cái đà này thì chắc là…ế vợ mất; Nhưng vẫn phải xuống nước:


“Thưa Thầy, thế còn những tháng sau nữa thì sao?”


Phải công nhận là “Ngài” rất thông minh, đáp ngay:


“Lại còn sao nữa, muốn chết hả? Mấy tháng sau đó thì kỵ tuổi… mấy con bồ cũ cuả anh. Còn rắc rối hơn nhiều !!!”


Đón tin vui giữa giờ … tuyệt vọng, tôi đành móc ra một món tiền lớn trao tận tay “Ngài” để làm... Công Quả.

 

Nhìn đống tiền, Thượng Tọa có vẻ cảm động lắm bèn dịu giọng:


“Nếu có lòng thành thì việc đời cái gì cũng có ngoại lệ! Có thể làm đám cưới bất cứ ngày nào, tháng nào cũng được !!! vì toàn năm nay là năm... hỷ sự”.


Tôi vốn cũng biết một chút về cách xem ngày giờ; nhưng thấy ông này… hơi quá. Bản tính “nổi loạn” tự nhiên trổi dậy, bèn…tự chọn chọn ngày “xấu” nhất dựa theo lịch Tam Tông Miếu để “thử” xem sao! Rồi về báo với gia đình vợ, cứ xem như là đã nhờ... Thầy.


Dù sao tôi cũng cảm thấy hài lòng vì đó là một ngày rất dễ nhớ: Ngày 26 tháng 10 Dương Lịch, tức là ngày Lễ Quốc Khánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa.


Ngày “xấu” thế mà chúng tôi vẫn sống với nhau tới hôm nay, chưa hề một lần to tiếng.

Cũng xin thú thật là tính tới hôm nay, tôi đã mua nhẫn cưới… tất cả 7 lần, vì các cặp vợ chồng trẻ sau này trước khi cưới đều đến xin cặp nhẫn của chúng tôi đang đeo để… cầu phước. Và tới nay họ vẫn sống tốt đẹp.

Xin xác nhận cho rõ là mua tới 7 cặp nhẫn cưới nhưng trước sau vẫn chỉ có… một bà.


Hóa ra việc đời, nhiều khi cứ tự quyết định lấy mà lại tốt hơn. Chúng tôi lấy nhau được mấy năm, khi ông thân sinh cuả bà xã mất, tôi lại được gia đình cử tới chuà Pháp Hoa nhờ vị Thượng Tọa này tới đọc kinh cầu siêu và xem hướng đặt mộ.
Đã biết mặt tôi, nhất là biết là tôi vẫn chưa… bỏ vợ, Thầy có vẻ vui lắm, nói chắc như đinh đóng cột gỗ… mục:


“Nếu không nhờ tôi chọn ngày, anh chị chắc chắn đã… lỵ dị rồi ..!!!”


Sau thủ tục... nhận tiền, “Ngài” cho phép tôi được đi ké trên chiếc “Toyota” riêng mới toanh tới tận “tang gia” để làm lễ và không quên mang theo chiếc “cassette” trong có băng “Kinh Cầu Siêu” thâu sẵn.

Vừa đúng giờ “lành” không sai một phút, Thượng Tọa cất giọng trầm buồn:


“Bây giờ tất cả các con hãy qùy xuống để Thầy làm lễ cầu cho hương hồn người quá cố được... Phiêu Diêu Miền Cực Lạc.”


Mọi người qùy xuống im phăng phắc. Phường Bát Âm cũng im bặt, Thầy trịnh trọng thò tay bấm nút.

Trong bầu không khí thiêng liêng, nghe được cả tiếng ruồi vo ve trên các mâm cỗ, bỗng dưng có tiếng hát Khánh Ly phát ra từ chiếc“cassette”:

“Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn….

Đôi khi lầm lỡ…đánh mất ân tình cũ …”


Hóa ra tại đêm trước, Thượng Tọa… “xỉn” qúa, nằm nghe nhạc tình rồi quên đi, sáng ra chưa kịp thay lại cuốn băng… “Kinh cầu siêu.”

Cũng may cho Thầy, mọi người đều còn đang... bỡ ngỡ thưởng thức Nhạc Vàng, chưa kịp phản ứng gì thì bỗng nhiên có tiếng khóc bi ai:


“Ối ông ơi, ông đi bỏ lại mẹ con tôi… bơ vơ…”


Tôi quay nhìn lại thì thấy một bà tương đối còn trẻ mặc tang phục, tay dắt theo hai đứa con. Hoá ra đây là … bà vợ hai mà trước đó tôi cũng có nghe phong phanh. Bà Hai khóc một lúc rồi… ngất đi. Bà Cả, mẹ vợ tôi thấy thế thì thương cảm lắm, quên hết mọi chuyện ghen tuông, hét người đưa Bà Hai vào nhà ... đánh gió. Rồi từ đó “hai chị em” đem tình thương… xoá bỏ hận thù.

Quả thật Bà Hai đã cứu… vị Thượng Tọa một bàn thua trông thấy! Nhưng trước khi ra cửa, Ngài còn lẩm bẩm… gỡ gạc:


“Nuôi mấy thằng ăn hại trong chùa, đúng là… nuôi ong tay áo. Suốt ngày chỉ rượu với gái! Đã bảo chúng nó mỗi khi nghe nhạc xong, phải “check” lại cẩn thận mà cũng làm không nên thân.”


Rồi Thượng Tọa nhìn tôi:


“Thiện Tai! Thiện Tai! Con thấy đấy. Có Tin thì… Có Lành !!! Oán thù nên cởi chứ không nên buộc. Nếu không nhờ Thầy xem giờ “tốt” thì hai bà còn ghen tuông tới bao giờ ?”



05/02/2017

In Giáo Dục, Quán Chiếu Tags Có Kiêng Có Lành, Nghiêm Hữu Hùng
Comment

Một Kỷ Niệm về Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

August 2, 2026 Ninh Tran

Một kỷ niệm về Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

 

Tôi thuộc lòng bài thơ “Après la bataille” cuả Victor Hugo và luôn xem đó là hành trang vào đời khi nhập ngũ:

“Làm cách nào đối xử với con người cả bạn lẫn thù với lòng nhân”

Tuy nhiên những gì xảy ra ngoài chiến trường nhiều khi khác hẳn với thơ Victor Hugo.
Nhân vật chính (mon père) trong bài thơ là một vị tổng chỉ huy, có toàn quyền quyết định về hành động của mình còn tôi chỉ là Y Sĩ Trung Úy, một cấp bậc rất nhỏ, ngoài phạm vi chuyên môn ra, có rất nhiều hoàn cảnh không thể tự mình quyết định được như câu chuyện sau đây:


Thời Chiến Tranh Việt Nam, thông thường các Sĩ Quan cao cấp đối xử với Bác Sĩ rất tốt, cả hai bên đều tỏ lòng qúy trọng lẫn nhau.
Nhưng cũng có rất nhiều ‘nghịch cảnh,’ một chuyện ai cũng biết là đôi khi có vài binh sĩ vì sợ chết nên đã “tự huỷ hoại thân thể” bằng nhiều cách như:

. Chích mủ xương rồng vào ngón tay để gây gangrène (mất ngón trỏ bàn tay phải thì sẽ được giải ngũ vì không thể bóp cò súng)

. Tự bắn vào lòng bàn tay.

. Đào một cái hố, thò bàn chân vào trong rồi ném kíp lựu đạn xuống hố, tự hủy hoại bàn chân v…v
Đại khái có rất nhiều cách mà chỉ trong thời gian ngắn, một Bác Sĩ có thể phân biệt được vết thương nào là thật, vết thương nào tự tạo
Tuy nhiên cái khó nhất là phải xử sự ra sao với tình trạng hủy hoại thân thể.
Trong phần lớn trường hợp, dù biết tôi cũng bỏ qua không báo cáo, vẫn cho xe cứu thương hoặc gọi trực thăng tải thương.

Lần đầu tôi phải đối phó với sự trớ trêu là tháng 8 năm 1974 khi đi hành quân tăng phái cho Tiểu Khu Chương Thiện, lúc đó, vị Tỉnh Trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (Đại Tá Cẩn sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 bị Việt Cộng kết án tử hình và xử bắn tại Sân Vận Động Cần Thơ).
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn lớn hơn tôi khoảng 5-7 tuổi, có vẻ mặt thư sinh và nho nhã, xuất thân từ Thiếu Sinh Quân. Nhưng trái với những huyền thoại về một chiến binh can trường, cách nói chuyện cuả ông lại rất từ tốn và chín chắn, tuy ông vẫn lấy làm tiếc là không được học cao, nhưng là một quân nhân đúng nghĩa, thương binh sĩ, chiến đấu hết mình và rất trọng người có học.
Đại Tá Cẩn tỏ ra rất qúy mến tôi, mỗi buổi chiều thường mời ăn cơm chung và những lúc rảnh rỗi ông bỏ ra cả giờ để tâm sự về cuộc đời.
Nhưng một buổi sáng giao tình của chúng tôi đột nhiên trở nên căng thẳng khi ông “mời” tôi đến thăm “chuồng cọp”, nơi giam giữ các quân nhân bị kỷ luật và các quân nhân tự hủy hoại thân thể.
Đại Tá Cẩn chỉ một anh lính bị vết thương hoại tử (gangrène) ở mắt cá chân rồi hỏi tôi, rất lịch sự:
-Xin Bác Sĩ cho biết trường hợp này nếu đưa vào Bệnh Viện sẽ phải cưa chân tới đâu ?
-Tôi thấy là phải tải thương anh ta ngay, còn cưa chân tới đâu thì Bác Sĩ ở Bệnh Viện mới quyết định đươc.

Rồi tôi cũng gần như quên hẳn chuyện này vì người lính đó là thuộc cấp của ông ta, không thuộc quyền tôi.
Nhưng hai, ba hôm sau Đại Tá Cẩn lại mời tôi tới thăm “chuồng cọp”.
Tôi ngạc nhiên tới mức không còn phản ứng gì khi thấy vẫn là anh lính cũ mà vết thương đã nặng hơn nhiều, sốt cao và gangrène đã tới gần đầu gối, Đại Tá Cẩn vẫn nói rất từ tốn nhưng có vẻ hơi lạnh lùng:
-Bác Sĩ cho biết nếu bây giờ tải thương thì phải cưa chân tới đâu?
-Xin Đại Tá cho tải thương ngay đi, vì cầm chắc phải cưa tới đầu gối.
-Vậy tôi nhờ Bác Sĩ mỗi ngày ghé qua đây một lần, khi nào cưa tới háng thì báo cho tôi biết.

Bây giờ thì tới lượt tôi nổi nóng:
-Đại Tá có đùa với tôi không đấy? là y sĩ tôi không thể mất nhân tính như vậy được.
Mặt ông ta đột nhiên đỏ bừng và chuyển thái độ xưng hô:
-Anh có biết là chưa có một ai trong Tỉnh này dám trái lệnh tôi không ?
Và cũng là lần đầu tôi lớn tiếng với một Sĩ Quan cao cấp:
-Tôi biết, người đầu tiên dám trái lệnh ông là tôi, ngay từ bây giờ ông có thể kiếm bất cứ ai không dám trái lệnh ông mà hỏi, tôi sẽ không làm việc với ông nữa.
Rồi cả hai chúng tôi đều quay mặt bỏ đi không nói với nhau thêm lời nào.
Một điều tôi biết chắc chắn là ngoài chiến trường, những Sĩ Quan cao cấp và có toàn quyền như Đại Tá Cẩn, nếu muốn giết một Quân Y Sĩ như tôi rất dễ dàng, có thể sai bất cứ thuộc cấp nào làm rồi đổ cho chiến tranh là xong.

Tối hôm đó khi trở về phòng ngủ, mấy người lính Quân Y và người cận vệ lo ngại lắm, tổ chức gác vòng trong vòng ngoài nhưng tôi chỉ biết cám ơn và nói với họ:
-Nếu họ muốn giết tôi thì canh gác được tới bao giờ?
Tôi ngồi viết một bản tường trình nhờ người cận vệ cất giữ để “nếu có gì xẩy ra” sẽ trao cho gia đình tôi.
Qua hai ngày như thế, tới đêm thứ ba thì bỗng nhiên Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đích thân tới phòng tôi mời lên tư dinh để “nhậu chơi” với thái độ rất hòa hoãn và lịch thiệp.
Trong bữa tiệc rượu chỉ có hai người, ông tâm sự:
-Bác Sĩ có thể xem thường tôi, nhưng thử nghĩ xem, tôi là một quân nhân thuần túy, phải trừng phạt họ để cảnh cáo chứ tôi cũng biết đau lòng, và nếu ai cũng hủy hoại thân thể thì lấy ai đánh Việt Cộng?
Khi đất nước mất rồi thì chúng nó “cưa đầu” tất cả anh em mình thành ra cái chân của một thằng hèn đâu có nghĩa lý gì?

Tôi thật sự cảm động với thái độ hết sức lý lẽ của ông ta nên cũng đáp lại:
-Tôi cũng suy nghĩ nhiều mấy ngày hôm nay, tôi hiểu và cảm phục Đại Tá nhưng mong Đại Tá cũng hiểu cho là những gì tôi được dạy dỗ từ trong gia đình tới học đường đều là đúng và tôi không thể thay đổi cách suy nghĩ được.
Đaị Tá Hồ Ngọc Cẩn đã đứng dậy bắt tay tôi rồi nói:

-Tôi thành thật xin lỗi việc vừa qua, sáng mai nhờ Bác Sĩ tải thương binh này sang Quân Y Viện.

Câu chuyện đã gần 40 năm mà mỗi tháng tư đến, tôi vẫn nhớ tới Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn như chuyện mới xảy ra hôm qua và rất khâm phục thái độ “quân tử” của ông.
Bây giờ nghĩ lại tôi vẫn tiếc là ngày đó mình còn qúa trẻ đầy tự ái và cao ngạo.
Đúng ra tôi phải tìm đến trước để nói chuyện với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn thì mới phải lẽ !
Mong hương hồn Đại Tá xem đây là một lời tạ lỗi cuả tôi, dù có hơi muộn màng.

NHH

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Một Kỷ Niệm về Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Comment

Tản mạn về Nam Định (NHH)

July 30, 2026 Ninh Tran

Phố cổ Nam định

Tản mạn về Nam Định

 

Thân tặng TMC, người bạn thời thơ ấu ở trường Nguyễn Bá Học (Nam Định) cũng là người hàng xóm ở Phú Nhuận.


Đang lang thang ở Hàm Long đi tìm "Phố Quần" như lời anh dặn (đây là Phố 'Quần Ngựa', có nhắc đến trong tiểu thuyết Vũ trọng Phụng, nơi các Me Tây, và các Sĩ quan Pháp vui chơi, chứ không phải 'Quần Vợt' như những người tuổi trẻ sau này hiểu lầm).

Cảnh vật thay đổi quá nhiều khiến tôi kiếm mãi không ra, may lại thấy một chỗ cho thuê internet, vào check email thì mới thấy bạn TMC "bắt" về thăm quê Nam Định.

Chặc lưỡi một cái: "Ừ thì đi, có sao đâu, kẻo bạn mình lại trách".

 

Tôi nhảy đại lên chỗ cuối cùng của chuyến xe Van 15 người, đâu dè phải ngồi ngay trên hai bánh sau, quãng đường dài 90 cây số, "bàn tọa" chịu đựng suốt 3 giờ đồng hồ, xóc ơi là xóc!

Nhưng đau khổ một chút lại có cái hay, vì không thể nhắm mắt ngủ được nên có thì giờ ôn lại chuyện cũ:

Trên đường đi, thoáng hiện trong đầu tôi là một bài thơ cổ:
 
"Khứ niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện, đào hoa tương ánh hồng
Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu, tiếu đông phong"

 

Lời dịch 2 câu cuối trong Truyện Kiều:

(Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông)
 

Nhưng đó chỉ là suy nghĩ vẩn vơ, vì ngày rời Nam Định lên đường di cư vào Nam, trong tim tôi cũng có một bóng hình nhưng ngày nay bóng hình đó đã quá xa, chẳng biết tìm ở đâu.

Những năm 1952, 1953 tôi xuôi ngược Hà Nội - Nam Định gần như mỗi tháng. Lúc đó ít khi đi bằng xe ô-tô vì Việt Minh đặt mìn mỗi ngày, thành ra phải dùng tầu thủy, cứ 10 chuyến tầu thì ít nhất cũng 2,3 chuyến người ta phải dùng sào tre để đẩy cái "bềnh bồng" khỏi chạm vào tầu.

 

"Bềnh bồng" thường là xác người bị Việt Minh ám sát, thủ tiêu bằng cách vứt xuống sông. Cái lạ nhất là mấy người chống sào, chỉ nhìn từ xa đã biết xác người trôi sông là nam hay nữ.

Tôi nghe họ nói là xác nam nằm ngửa, còn xác nữ nằm xấp, cũng chẳng biết có đúng không ?

Ban đầu còn có hai hãng tầu thủy: "Trưng Vương" và "Giang Sơn", cạnh tranh đón khách, thay nhau xuống giá mãi. Cuối cùng "Giang Sơn" chơi đòn "độc": cho hành khách trên tầu đi "free" và còn được ăn cơm miễn phí.

"Trưng Vương" chịu hết nổi, phá sản và bán hết tầu cho "Giang Sơn”. Hãng "Giang Sơn" trở thành độc quyền rồi tự động tăng giá gấp đôi.

Hai ông chủ hãng tầu dù "chơi" nhau hết mình nhưng đều “sợ” ... Việt Minh, và đều rất quân tử. Năm 1954, ông "Giang Sơn" trước khi lái tầu di cư vào Nam, đã về quê tìm cho bằng được "đối thủ" một thời, rủ đi cùng vào Sài gòn, và trên tầu đã rưng rưng nước mắt xin hỏi cưới con gái đối thủ thất thế cho con trai mình.

Chắc chắn chỉ có loại người không theo VẸM mới cao thượng như thế!

Nghe nói là ngày đám cưới, trước mặt quan viên hai họ, ông đã "dặn dò" con trai mình phải hết lòng..."sợ vợ":

"Ít nhất cũng bằng tao sợ mẹ ... mày!"

Để chuộc lại lỗi xưa đã làm bạn đồng nghiệp phá sản.
Anh chàng sợ vợ này là một học sinh Chu văn An, vẫn thường tham dự CVA Reunion, nhưng trong bài này tôi chưa thể tiết lộ. Vốn là một người con hiếu thảo, luôn nghe theo lời "giáo huấn" của bố nên anh rất hãnh diện về thành tích sợ vợ, chẳng ngại khoe ra:

"Nhưng để đợi xem ... bà xã có cho phép nói không đã!" 

Nam Định trong tôi có rất nhiều kỷ niệm vì tuy sinh tại Hà Nội, tôi đã sống ở đó từ năm1948. Bà Ngoại tôi là một nhà buôn giầu có nhưng không có con trai, nên theo phong tục xưa,  đã đứng ra cưới cho ông chồng thêm 3 nàng hầu để có người ... "nối dõi tông đường".
Lo cho chồng xong, cụ cảm thấy cô đơn nên đã xin với mẹ tôi mang tôi về nuôi, để có cháu trai "thủ thỉ" và nhất là mong đến ngày cháu biết đọc sẽ đọc Truyện Tầu cho bà nghe.

Với ước vọng như thế, bà đã bỏ tiền thuê Ông Giáo Quảng ở Trường Tiểu Học Nguyễn Bá Học về nhà để dậy tôi học chữ Quốc Ngữ mỗi ngày.

"Cháu bà sáng dạ lắm"!

Bà Ngoại tôi thường hãnh diện khoe với mọi người khi thấy chỉ mất vài tháng là tôi đã đọc truyện "vanh vách" cho Bà nghe, dù chưa hề tới trường.

Nhưng Cụ Bà không hề biết là tôi còn "sáng dạ" hơn cụ nghĩ, vì Ông Giáo Quảng là một... "tay chơi"! Nên cũng chỉ trong thời gian ngắn ngủi vài tháng, học trò "ruột" của thầy mới chưa tới 5 tuổi mà đã tinh thông "thập bát ban võ nghệ" từ Tổ tôm, Chắn, Tài Bàn, Mạt Chược, sẵn sàng trong mọi "chiếu" bài, chiến đấu ngang ngửa với các ông Quan Phủ, Quan Đốc, ông Tây "đoan”, ông Chánh Sở Cẩm trên mọi chiến trường, khi bất cứ sòng nào "thiếu tay".

Hầu bài mấy ông này, thỉnh thoảng được nghe trộm các ông "bàn" về các món ăn chơi, loại chuyện mà Đức Khổng Phu Tử nghe thấy cũng phải quăng sách mà ... chạy trốn.

Nhưng thôi, để tôi kể chuyện về những nét độc đáo của Nam Định ngày nay cho các bạn nghe trước đã:

     Phở Thìn:

Tôi đã đến Phở Thìn bên hông Chợ Rồng để ăn thử, vẫn còn rất ngon, nhưng cũng nên biết một chút lịch sử về Quán Phở này.

Bà Cụ Thìn nếu còn sống thì năm nay chắc cũng đã trên một trăm tuổi. Bà nổi tiếng nhờ ngày Việt Minh kêu gọi "Toàn Quốc Kháng Chiến" năm 1946, bà nhất định không chịu đi đâu cả, cương quyết bám trụ và kêu gọi mọi người ở lại, rồi bà mở quán Phở. Lúc đầu hổ lốn đủ thứ thịt trâu, bò, heo, gà v...v... nên bà bầm cho nhão ra chứ không phải thịt bò thái mỏng như bây giờ.

Nhưng Phở Thìn chỉ "khởi sắc" vào năm 1952, khi cô Dậu, cô con gái cưng được xem là "Hoa Khôi Nam Định", bắt đầu ra quân. Và các văn nhân nghệ sĩ trong số có Thi Sĩ VHC, nhà thơ HD ... "dinh tê" về thành ngày nào cũng ra quán ngồi làm thơ!

Không hiểu sao Quán Phở Thìn tự nhiên biến thành Phở "giải rút"! Có lẽ vì mấy ngài thi sĩ này trong cơn say thuốc phiện, đã tưởng tượng ra chuyện là vào một buổi sáng đẹp trời, cô Dậu vì "vô ý" đã đánh rơi "giải rút quần" vào thùng nước phở, làm nước phở ngọt, thơm hẳn lên.

Tôi không tin chuyện này, vì nếu quan sát người chế biến bát phở, sẽ thấy họ phải dùng cả hai tay để trần bánh, sắp thịt, múc nước dùng.... Nếu cô chủ rơi mất giải rút thì phải lấy tay giữ chặt lưng quần cho khỏi tụt, tay đâu mà làm phở để bán?

Khi còn bé, tôi có bệnh hay sợ vu vơ, nghe bà tôi kể chuyện vào năm đói Ất Dâu, có người đã lóc thịt người chết để làm giò lụa, nên mãi cho đến ngày nay, tôi cũng chưa bao giờ dám ăn giò lụa. Những năm nghe danh phở "giãi rút", tôi đâm ra sợ Phở. Nhưng lần này ăn lại thấy ngon, có lẽ "giải rút" của cô chủ luộc hơn mấy chục năm nay đã "hết mùi".

     Bánh Gai Nam Định:

Nam Định nổi tiếng vì bánh gai là điều ai cũng công nhận. Nhưng nổi tiếng nhất là bánh gai "Mỹ Lợi".

Mỹ Lợi là tên của một ông Võ sĩ Quyền Anh Việt Nam đầu tiên đoạt giải Hội Chợ Đấu Xảo, khi đánh "knock-out" nhà vô địch "Kid" Dempsey của quân đội Pháp. Nhưng sau trận đấu này, bọn Tây Thuộc Địa ê mặt, tức quá đã bắt nhốt võ sĩ Mỹ Lợi, cắt gân tay, biến ông thành Nhà Vô Đich "què tay", ông đành phải "quy cố hương" về làm ... bánh gai và bánh gai Mỹ Lợi  trở nên nổi tiếng khi ông phát ra những tờ "flyers" quảng cáo, mặt trước in:

"BÁNH GAI MỸ LỢI KHÔNG NGON ĐÂU, XIN MỜI QUÝ VỊ DÙNG THỬ"

Nhưng nếu lật mặt sau của tờ qủang cáo sẽ thấy giòng chữ:

"THẰNG NÀO SAU KHI ĂN MÀ CHÊ, ÔNG ĐÁNH BỎ MẸ" !!!

 

Thế nhưng từ đó Bánh Gai Mỹ Lợi bán chạy như tôm tươi, có lẽ ông Mỹ Lợi vì bất mãn, tiếc nuối thời oanh liệt đấm đâu thắng đó, trở nên hơi "ngông", mà lại ăn khách.

Nhưng từ khi có tiền ông sinh ra nghiện thuốc phiện. Người ta đồn rằng bí quyết của ông là trộn nước sái thuốc phiện vào bánh gai khiến người ăn trở nên "ghiền". Cũng chẳng biết có đúng không?

Nhưng bánh gai phải ăn tại Nam Định thì mới ngon, loại "xuất khẩu" thì chẳng ra gì vì không được gói bằng lá gai mà bằng giấy plastic, trông chẳng khác gì cô gái mặc áo dài mà "quên" không mặc quần!
Đường lên hồ "La két" ngày nay không thấy nhiều lá gai như khi xưa.

     Cô Hàng Cà Phê:

 

"Ở Chợ Rồng, có hàng cà phê, có một cô nàng be bé xinh xinh"!

Bài hát nổi tiếng của Canh Thân cũng được người Nam Định giải thích theo cách riêng cuả họ.


Theo dư luận ở Nam Định, Ở chợ "Rồng" chứ không phải "Ở chợ Dầu" như trong bản nhạc được in:

"Lúc trở về để kiếm cô nàng, cùng nàng chắp mối tình xưa, thì em đã rời nơi ấy. Để cho quán hàng lạnh lẽo..."

Mà vì trong tận bão năm Thìn 1952, cây bàng trước cưả Chợ Rồng bị trốc gốc, đã đè chết cô chủ. Nhưng tác giả không muốn cho kết thúc bi thảm quá nên cho cô ấy đi lấy chồng.
Mới đây, một người bạn ở bên Úc cho tôi biết đó chỉ là lời "tán nhảm" của mấy anh trồng “cây si”, lấy "râu ông nọ cắm cầm bà kia" hổ lốn cả hai bài hát "Cô hàng cà phê" và "Cô Hàng Nước" để đặt chuyện.
Nhưng dù sao bây giờ vẫn còn có người tin và có miếu thờ cô hàng cà phê

 

Thời thơ ấu ở Nam Định

 

Những năm tháng sống ở Nam Định đã để lại trong tôi rất nhiều ấn tượng trái nghịch. Có một chút ảm đạm với không khí ghen tương, nghi kỵ trong phim "Raise the Red Lantern", (do ông ngoại tôi có đến 3 nàng hầu thiếp mà tôi gọi là "Bà Cô", cả 3 bà đều do Bà Cả đứng ra cưới cho ông chồng, nên sợ "Mẹ Cả" một phép), cộng với một chút bệ rạc của những người nghiện ngập trong phim "Indochine".

 

Nhưng riêng tôi thì lại ở một vị trí đặc biệt: "Thiên Thượng Địa Hạ, Duy Ngã Độc Tôn"! Là "cháu cưng" nên chẳng bao giờ biết sợ ai vì được sự bảo bọc nuông chiều của Bà Ngoại.

Tình thương dành cho tôi rất dễ hiểu, vì bà cả sau khi cưới vợ bé cho chồng, đã tự nguyện ... "tắt lưả lòng", theo hủ tục đa thê của các cụ thời xưa nên cả ba nàng hầu đều phải "lấy lòng" tôi, như muốn bắn tiếng chứng tỏ sự phục tùng "Mẹ Lớn".

Có lẽ tôi đã biết làm chính trị theo lối …"đu dây" từ đó, chẳng muốn làm mất lòng bà nào !

Thực ra "Bà cô Út" cao cường hơn cả, dù chỉ bằng đúng tuổi của ông anh lớn của tôi! Bà này cực đẹp, như mọi người thường nói: “trông” rất giống Thúy Vân (dù là chỉ “thấy” Thúy Vân qua Truyện Kiều), dĩ nhiên được ông Ngoại cưng chiều nhất, nhưng lại không có con, trở thành "yếu thế" nên đã xin với Mẹ Lớn nhận tôi làm con.

"Để sau này em chết, có người bưng bát hương"! (bà cô Út nói với Bà Ngoại như thế).

 

Sự đồng ý của bà Ngoại làm tôi rất lúng túng mỗi khi xưng hô, nhất là đối với các Chú, Cô (dù mấy người này chỉ lớn hơn tôi vài tuổi) con của hai bà kế thất lớn. Cuối cùng tôi cứ "mày, tao" bừa đi với các người mà đúng ra mình phải gọi là Cô, Chú. Mãi tới hai chục năm sau mới sửa được "đâu ra đó".

Không biết Bà Cô Út có phải vì đẹp và hay chữ nên rất đa cảm, thích đọc thơ văn và đặc biệt mê truyện "Hồng Lâu Mộng", tự ví mình với nhân vật Lâm Đại Ngọc trong truyện, nên "vận" vào người -như bà ngoại tôi giải thích- mà bà đã bị chó dại cắn chết. Vì tôi là "con" nên được phân công bưng bát nhang đi trước, dưới sự phản đối kịch liệt của hai "bà trẻ" còn lại, chỉ đến khi "Mẹ Cả" trừng mắt lên mới vì sợ mà chịu im.

Tôi còn nhớ, sau khi "mẹ" Út mất mỗi ngày đều phải lên "phòng thờ" trên lầu hai để thắp nhang. Phòng này rất tối, có ảnh của cả vài chục cụ "từ đời nảo, đời nào", cả hình chụp lẫn hình vẽ mà hình như mọi người đều chăm chăm đưa mắt nhìn tôi nên trông rất "dễ sợ"!

 

Cho đến một đêm, ông chú và một người làm "thách thức" nếu tôi dám một mình lên phòng thờ, thì sẽ "dạy" tôi cách "bóc lưỡi" chim sáo cho nó biết nói. Tuy rất sợ, nhưng giải thưởng "hấp dẫn" quá khiến tôi sinh liều, cầm  theo một con dao sắc, một mình leo lên phòng thờ trên lầu hai.

Hai "bố" này đã rình sẵn từ trước với hai cây nhang. Ngay khi thấy tôi bước vào, đút cây nhang vào miệng, hà hơi khiến cây nhang sáng rực đỏ lòm trong miệng, trông chẳng khác gì hai con qủy, làm thằng bé sợ quá hét lên rồi dùng dao chém loạn đả  trước khi bỏ chạy và té lăn xuống chân cầu thang.

Cũng may mà hai ông này đều lớn hơn tôi nhiều, nên đỡ được phần lớn các nhát chém, dù máu chảy đầy người.

Bà ngoại tôi "sót" thằng cháu cưng lắm bèn sai anh Nhiếp (là quản gia, anh này sau đi theo kháng chiến, lên tới Thượng Tá) dùng "roi" cá sấu nọc mỗi ông ra phết cho vài chục roi.

Ông Ngoại "sót" thằng … đích tôn là chú tôi lắm, nhưng cũng không dám can thiệp, mà lại nhờ tôi nói với bà Ngoại "nương tay" xin bớt cho ông chú 10 roi.

Sau này tôi mới nghiệm ra là dù các Cụ có nhiều vợ, nhưng vẫn sợ bà vợ Cả, nhất là khi bà vợ Cả lại là "tay hòm chià khoá". Nhưng điều lạ nhất là Bà Ngoại luôn luôn "dạy" tôi:

"Lớn lên cháu không được "sợ vợ", giống như bà đây, luôn luôn "tuân phục" ông Ngoại, và muốn không sợ vợ thì tuyệt đối không được giao du với … con gái, không được cầm quần áo phụ nữ, kể cả chui qua dây phơi quần áo !

Có lẽ đây là lời giáo huấn duy nhất tôi không đồng ý, vì thấy Cụ Ông vẫn "nể" Cụ bà và cấm tôi giao du với con gái thì chơi với ai?

Ngay cả mấy Bà trẻ, mỗi khi rủ tôi sang chơi cũng phải mắt trước mắt sau thu dọn sạch quần áo, vì nếu để "Mẹ Lớn" thấy được là sẽ bị mắng!

Cuộc sống của tôi rất lạ, nhỏ tuổi nhất trong căn nhà có đến mấy chục người, nhưng lại chỉ toàn giao thiệp với người già. Vì là nhà buôn sỉ nên trong nhà có đến hơn 15 "gia nhân", trong đó có năm nữ gia nhân, sau này đều được bà ngoại tôi gả chồng tử tế. Bà Ngoại tôi kể cũng có lòng từ tâm, khi tuyệt đối cấm dùng chữ "người làm" hay "con ở" (là những chữ nôm na hay dùng thời bấy giờ).

Và cũng trong căn nhà đó tự nhiên tôi "mất" tên! vì mọi người chỉ dùng chữ duy nhất để gọi là "cậu"

"Tốt nhất là đừng đụng đến "cậu"! Các gia nhân thường xì xào với nhau như thế.

Năm học đệ tứ, có lần tôi đã bị một giáo sư Việt văn trẻ tuổi mắng sối xả vì đã bật cười khi nghe thầy "lên án" lối sống "vô tích sự" của Tú Xương, nào là: "rượu sớm, trà trưa"; rồi: "cao lâu thường ăn quỵt, thổ đĩ rặt chơi lường"!

Thực ra tôi bật cười chỉ vì vị giáo sư này chắc không hề biết có những lối sống "tệ" hơn Tú Xương rất nhiều! Vì ít nhất là Cụ Tú Xương cũng đã đỗ Tú Tài trong kỳ thi Hương rất khó, khi mà cả nước chỉ lấy ra có 100 người, rồi "nhất Cử, tam Tú" và Cụ Tú Xương cũng rất thương bà vợ "quanh năm buôn bán ở ven sông".


Lối sống "rựơu sớm, trà trưa" qủa thật chẳng ăn thua gì nếu so với các cụ không bao giờ uống rượu, mà chỉ "Hít-Tô-Phe" (vì rượu làm "rã thuốc” nhanh lắm). Thuốc đây là thuốc phiện, và "thời khoá biểu" của các cụ cũng khá "đơn giản":

Mỗi buổi sáng thức dậy, chỉ cần chút bánh đậu xanh Rồng vàng Bảo Hiên, nhấm nháp với Trà Mạn Sen, và trà phải pha thật đúng cách. Nước sôi phải đun bằng đèn cồn cho đến khi "sủi tăm" rồi mới "lược trà", trước khi đổ vào ấm, mà nhất định phải là ấm "gan gà".

"Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần".

 

Rồi san trà vào chén “Tống", trước khi đổ ra chén “hột mít" để uống. Trông thủ tục còn cầu kỳ phức tạp hơn các bà mỗi buổi sáng "dâng hương lễ Phật".

Ăn uống thì không cần nhiều, nhưng thứ gì cũng phải cực nóng, thành ra hễ gọi là phải "dâng" ngay cho các ngài.
Rồi cho có vẻ "văn nhân", các ngài đi một màn Vịnh Kiều với vài hội Tổ tôm:

"Làm trai biết đánh Tổ tôm 

Uống trà Mạn hảo xem nôm Thúy Kiều"

 

Nhưng tôi xem ra mấy “ngài” cũng không... hay chữ lắm, vì ngài nào cũng chỉ biết bằng ấy câu, lập đi lập lại rồi tự khen thưởng lẫn nhau. Có khi còn biết ít hơn bà ngoại tôi, dù bà chưa bao giờ đến trường, chỉ nhờ tôi đọc cho bà nghe mỗi ngày mà nhớ.

Các ngài lại chúa là "dị đoan", trước khi nhập hội, bao giờ cũng lẩm nhẩm "bói Kiều"!

"Lậy vua Từ Hải, lậy vãi Giác Duyên, Lậy Tiên Thúy Kiều, xin cho con "ù" một ván Thập Hồng, hoặc tệ nhất cũng Bạch thủ chi chi chì mó "

 

Hoàn toàn không phải ăn thua vì tiền mà vì muốn chứng tỏ mình "đánh cao".

Sau nhiều năm "trau dồi nghề nghiệp", tôi thành một thằng bé rất lanh tay lẹ mắt, vưà ngủ gật vừa chia bài bằng cả  hai tay mà chẳng bao giờ nhầm lẫn, cộng thêm tự "sáng tác" được "card trick". Ngồi cạnh ông nào muốn ông ấy được "thập hồng" thì còn khó, chứ muốn cho ông ấy "bạch thủ" chì mó thì dễ như chơi. Thành ra ông nào cũng chỉ muốn ngồi cạnh thằng bé để lấy hên!

Nhưng tôi rất "sợ" vì nhiều lúc hứng quá với các ván ù lớn, các ngài lại vỗ vào đùi thằng bé cái "đét" vưà tỉnh ngủ, vưà đau tái cả người.

"Gần mực thì đen, gần “bàn…đèn” thì sáng"!

 

Gần mấy ông này lâu tôi cũng rất mau hiểu nhiều chuyện, khi nghe các ông tán với nhau về "tai hại" của thuốc phiện:


"Cái món này bổ ÂM mà hại... DƯƠNG"!

Ban đầu tôi cứ nghĩ đã "hại...DƯƠNG" thì hút làm gì? Nhưng chẳng mấy lúc tôi hiểu ra khi thấy mấy bà đang đánh mạt chược, khi nghe  chồng nói thế thường đỏ mặt phàn nàn:

 

"Người gì mà đêm hôm cứ "dai" như ... điả !?"

 
Quan trọng nhất là hai "cữ" hút mỗi ngày. Các cụ càng giầu càng chúa là khó tính. Hút không những để thỏa mãn cơn ghiền mà còn gần như là một "nghi thức" tôn giáo nhất là với những người giầu có, dùng "hồng phiến" (loại thuốc phiện hạng nhất).

Các ông bận rộn bao nhiêu thì tôi cũng bận không kém do các ông rất thích tôi giúp chuẩn bị "bàn đèn". Vì là thú phong lưu nên các ông này cũng kén chọn lắm. Giống như người ghiền thuốc lá thích sưu tầm bật lửa đắt tiền hoặc lạ như Dunhill, Zippo ... thì “tẩu” thuốc phiện cũng vậy, các loại đắt tiền thường làm bằng ngọc Phí Thúy hay Mã Não, có trạm rồng phượng hoặc đề thơ rất công phu, nên phải có người biết cách săn sóc, nhẹ nhàng mỗi khi nạo sái hoặc "thông nòng". “Viên” thuốc phiện phải nhẹ tay, để khi "kéo" viên thuốc sẽ phồng lên và cháy đều hết.

Ngay sau khi ngọn đèn dầu lạc được bưng ra, vì phòng hút hơi tối, để lại một quầng sáng trên trần nhà là tôi bắt đầu thích thú quan sát mấy chú thạch thùng rục rịch "hành quân" chung quanh vòng ánh sáng, và khi khói thuốc bắt đầu được nhả lên thì thế nào cũng có vài chú rơi lộp độp vì say khói thuốc.

Lúc còn nhỏ, tôi khá tinh nghịch, rất thích bắt mấy chú thạch thùng say khói thuốc phiện, cắt đuôi để xem đuôi có mọc lại không? và ngạc nhiên thích thú khi thấy chiếc đuôi dù đã bị cắt rời ra mà vẫn ngọ nguậy.

Nạo sái thuốc phiện không phải là công việc dễ dàng như mọi người vẫn tưởng, vì không được mạnh tay, có thể làm hư hỏng những chiếc "dọc tẩu" quý hiếm, và sau khi thông nòng vẫn còn lại một lớp than rất mịn để điếu thuốc sau khỏi "lạc điệu".

Sinh hoạt của các đệ tử "Nàng Tiên Nâu" không hẳn đã yên lặng, trầm lắng như mọi người lầm tưởng. Nó chỉ yên lặng sau khi các "ngài" lơ mơ đủ cữ, đôi mắt mơ màng, miệng há hốc, thở khò khè. Còn khi đã "lai tỉnh", với một chút mặc cảm của những người "vô tích sự", các ngài cũng thích phát biểu lắm, đặc biệt là thích làm thơ. Có lẽ do ảnh hưởng chữ "đi mây, về gió", các thi sĩ “ghiền” rất hay đặt bút hiệu với chữ "VÂN" nào là Bằng Vân, Vân Hữu, Vân Lai và ...Vân Vân, đủ cả!

Tôi nhớ nhất là "Đại Thi Sĩ" Vân Hữu. Năm 23 tuổi ông này tình cờ trúng độc đắc sổ xố "Đông Dương" được một vạn đồng, một số tiền rất lớn thời bấy giờ. Sau khi đi chu du "vòng quanh Thế Giới" (đó là lời ông ta khoe với mọi người), ông về lấy một bà vợ là Hoa Khôi Hàng Bạc, rồi dấn thân vào chốn "phong lưu"! Những lúc tỉnh táo giữa hai bữa hút ông thường hùng hồn phát biểu:

"Tôi đã đi chu du khắp 5 châu, 4 bể, qua cả Ấn Độ, nơi quê hương của Đức Phật, thì thấy nơi này trồng rất nhiều cây "thẩu". Có lẽ nhờ thế mà Đức Phật đã trở thành Vĩ Nhân của nhân loại!

Nhưng Phật Giáo không phù hợp với người Việt, vì ..."thụ động" quá! không thể dùng đánh thắng "thằng" Pháp được. Cái món này (thuốc phiện) sẽ giúp tôi tìm ra một đối sách mới để hướng dẫn cách mạng Việt Nam, rồi sẽ trao đổi với các cụ Phan Bôi Châu, Phan Chu Trinh và Kỳ Ngoại Hầu Cường Để!"


Còn nữa:
"Bao nhiêu gia sản mà cha mẹ tôi tạo ra đều do một tay tôi "lên" kế hoạch"

Do hứng quá nên ông quên rằng nếu quả thực như vậy, thì ông đã biết lập kế hoạch từ trong bụng mẹ!

Công việc nạo sái, thông nòng không ngờ lại đưa uy tín tôi lên cao chót vót, vì mỗi khi Bà Ngoại hoặc các "bà trẻ" có việc đi ra đường thì các ông phu xe xích lô xúm lại, tranh dành nhau:

"Để cháu rước bà đi". Và không bao giờ tính tiền.

 

Bà Ngoại tôi thích lắm:

"Cháu bà chắc có số làm quan, vì mới từng này tuổi đầu đã có uy, sai khiến được bao nhiêu người"!

Ông Vân Hữu thì xen vào lấy lòng:

"Cháu đã xem Tử Vi cho thằng bé, Mệnh có Riêu, Y lại được đủ bộ “Khoa, Quyền, Lộc”. Cụ sau này mát mặt nhớ đừng quên cháu nhé"

Bà ngọai tôi cứ khen ông là một thầy Tử Vi "có một, không hai"


Nhưng đó là ông ta chỉ võ vẽ, nói lấy được, chứ thực ra có gì lạ đâu, cứ vài bữa là tôi lại mang sái thuốc phiện và mấy tấm giẻ thông nòng, mỗi lần cho một ông phu xe. Các ông này mang về gói ghém thành "sái nhì" rồi "sái ba" để hút, sau đó mấy cái giẻ lau lại đem nấu thành nước "Cam Lồ" dùng đỡ cơn ghiền.

Tuy nhiên thời thơ ấu của tôi không phải chỉ quanh quẩn bên "bàn đèn". Là cháu cưng nên tôi chẳng phải làm gì, kể cả ... đến trường! Quanh năm suốt tháng chỉ vui chơi và quan sát những ngưòi chung quanh làm việc.

Bà ngoại tôi là một nhà buôn vưà sỉ vưà lẻ, "tất cả mọi thứ trên đời" như mọi người thường nói, nhưng chính yếu nhất là gạo, thuốc lào và trà, đều là những đồ rất nặng hoặc cần chế biến nên nhà có rất đông gia nhân.

Thuốc lào là thứ tiêu thụ nhiều nhất của người miền Bắc thời đó. Mỗi ngày ít nhất là có vài thuyền thuốc lào mộc được chở từ Ninh Bình tới, giao hàng trước, lấy tiền sau.

Mỗi nhà "sản xuất" sẽ có cách riêng để tạo hương vị cho nhãn hiệu của mình. Hai khâu quan trọng nhất là "hồ" và "sấy". Thường kỹ thuật "hồ" là một bí mật, chỉ có người nhà làm trong phòng riêng, không cho gia nhân biết, họ chỉ sấy, đánh tơi và đóng bánh sau khi đã hút thử, (phần này thì chỉ có bà dì tôi làm được) sẽ được phân chia làm ba loại "CHUA", "ĐẦM" và "SÓC" tùy theo ý thích của những "nhà con".

 

Phần rời thì được mang ra bán lẻ, khâu này cũng phức tạp và rất bận rộn vì được chia thành ba loại gói: 2 đồng, 5 đồng và 10 đồng, giấy gói có kích thước khác nhau, loại hình vuông, hình củ ấu và hình chữ nhật.
Chuyên viên "rọc giấy" đặt cả sấp giấy trên phản, rối dùng lưỡi cưa sẻ giấy qua kẽ của 2 cánh phản theo những kích thước khác nhau, tuỳ theo nhu cầu.

Ông này "cưa" suốt ngày không nghỉ nên cánh tay rất to và được đặt biệt danh là "thằng giã giò". Nhưng cũng vì khoẻ quá nên ông "giã" luôn cô hầu gái mới 15 tuổi! và Bà ngoại tôi đành phải làm đám cưới cho hai người, khi thấy cô hầu gái "nôn oẹ", sau khi mắng cho một trận:

"Chúng mày chỉ giỏi làm cái trò mèo mả, gà đồng. Nếu chúng mày có thèm bánh rán, dầu cháo quẩy thì cũng phải cho người lớn biết mới phải "!

Rồi chu cấp tiền cho họ ra riêng. Ông "giã giò" sau đó bị Pháp bắt lính và nghe đâu chết ở Mặt Trận Điện Biên Phủ. Cô Hoa, người đàn bà "cao số" theo bà ngoại và tôi di cư vào Nam rồi lấy một ông Sĩ Quan, được một đứa con trai thì ông chồng cũng chết trận ở Cao Lãnh.

Người chồng thứ ba của cô là một 'đồng hương' Nam Định, bộ đội phục viên, "tương tư" cô từ lúc còn trẻ, gập lại nhau sau hơn 20 năm đất nước chia cắt, tay này làm trưởng phòng thuế vụ, tính tình hiền lành, vưà nể vợ vừa rất có của. Năm tôi ra Bắc chơi, hai vợ chồng đã đón tôi, nhắc lại chuyện cũ rất lễ độ:

"Cậu sang Mỹ nhớ kể lại chuyện này cho gia đình ta nghe"!

Công việc bận rộn không kém là chế biến trà. Tôi rất thích quan sát cách "sao" trà, phân biệt kỹ thuật làm trà "Thiết Quan Âm", "Ô Long" rồi trà "Thái Đức" (nhiều người gọi đùa là "Thức...Đ.." vì thực ra chỉ là loại trà vụn rơi rớt lại, chẳng ra mùi vị gì cả). Sau này tôi không thích uống trà Lipton, chỉ vì liên tưởng tới trà Thái Đức.

Nhưng thú vị nhất là trà ƯỚP SEN. Muà hè sen chở tới đầy sân thơm ngát, tôi thích nhất là tách hột sen ra ăn sống, chỉ chừa cái nhân xanh hơi đắng, nhưng sau ăn mãi quen đi, đâm ra ghiền, và nghe mọi người nói đó là một "vị thuốc"... bổ dương rất tốt!
Việc tách nhụy sen thường được giao cho những người hầu gái. Thỉnh thoảng "cậu" dù còn bé tí cũng "lên mặt" khi thấy nàng nào vắng mặt:

"Sao không ra gỡ nhụy sen" ?

Cô ta đỏ măt, lúng túng:

"Hôm nay Bà không cho cháu làm"

Tôi thắc mắc lắm, vì công việc nhiều thế mà tại sao Bà Ngoại không cho cô ấy làm thì chỉ được trả lời cho qua chuyện:

"Tại hôm nay nó ... khó ở trong người"!

Mãi về sau tôi mới hiểu ra là ngày nào con gái ...có kinh, không được "đụng" vào sen, vì sợ trà "mất mùi".


Có lẽ trong đời sống dân gian Miền Bắc, hai loại cây có công dụng nhiều nhất là CHUỐI và SEN, vì ít thấy phần nào trong hai loại cây này bị bỏ phí. Chỉ tưởng tượng nếu cốm "Vòng" mà không gói bằng lá sen thì chắc cũng không thể tạo ra mùi vị tuyệt vời. Chuối và Sen vì thế đều đi vào văn, thơ, ca dao và không thể thiếu trên bàn thờ Phật.
Câu ca dao:
 
"Trong đầm gì đẹp bằng sen ...........Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn"


Luôn luôn được nhắc đến trong những cuộc tranh luận sôi nổi của các đệ tử của nàng Phù Du. Ông nào cũng góp ý hăng say. Có ông đi xa hơn, tự nhận mình là người đã "gà" cho Phan Khôi trong cuộc "đấu khẩu" với Nguyễn văn Vĩnh! để sửa sang một chữ trong lời ca dao:

Ông ta cả quyết: Sen là "từ" bùn mà ra, chứ không gần gũi gì cả! Phải sửa lại cho đúng !

 

Nhuỵ vàng, bông trắng, lá xanh.

"Từ" bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn!

 

Tôi phục ông này lắm, cho đến khi nghe ông ta nói mãi rồi nói "lộn" là ông đã giúp Phan Khôi "mắng mỏ" ... Cụ Trương Vĩnh Ký (vì tên của 2 vị đều có chữ Vĩnh)


"Tôi là bạn học cùng lớp với "thằng" Trương Vĩnh Ký" !

Đúng là đi mây về gió, nếu nói thêm nữa, chắc là ông ta dám học chung lớp với Vua Minh Mạng.
Có ông còn "cả quyết" hai câu thơ:

"Nằm gắng vẫn không thành mộng được,
Ngâm tràn cho đỡ lúc buồn thôi" (1)

là từ một bài Đường Thi "trác tuyệt" của Thôi Hộ!

(Sở dĩ tôi hơi dài giòng ở đoạn này vì tôi biết chắc trong những dòng chữ viết ra, 10 dòng thì có đến 7 dòng sai! do kiến thức "Văn học Nghệ Thuật" tạp nhạp của một thằng bé 6,7 tuổi đầu, đều được thu thập từ các vị "giáo sư" như thế, các bạn cứ việc phê bình và sửa giúp.)


Ướp trà sen là cả một nghệ thuật, mà không thể thiếu cái bao tải để "ủ" trà. Nhưng khi sấy trà lại vất vả hơn nhiều, non lửa hay qúa lửa đều làm hỏng mẻ trà. Mua trà sen cũng phải tinh ý và đúng mùa. Vào những khi thiếu sen, các nhà buôn thường trộn thêm bông “sói” trông cho hấp dẫn, nhưng đối với người sành điệu, chẳng cần ngửi mà chỉ nhìn qua cũng biết.
Công việc bận rộn như thế, tất nhiên mang lại rất nhiều tiền, nên cứ khoảng 8 gìờ tối, sau khi đóng cửa hàng, hàng chục người lại phải ngồi dùng hồ để "dán" tiền có khi tới 1, 2 giờ sáng, vì đồng tiền lúc đó làm bằng giấy, rất dễ mủn và rách.

Anh Nhiếp, người quản gia trưởng trông nom và đốc thúc tất cả các việc này. Có một điều lạ nhất cho tới nay tôi vẫn không hiểu được là Bà Ngoại tôi, dù chưa bao giờ được đi học nhưng công việc kế toán phức tạp như thế thì trong khi ông quản gia còn loay hoay dùng bàn tính gẩy lách tách suốt buổi, ghi ghi chép chép thì bà ngoại tôi chỉ "tính nhẩm" trong đầu mà kết quả đối chiếu vẫn trùng hợp. Thỉnh thoảng có sự khác biệt thì phần sai luôn luôn ở phiá người dùng bàn tính.

Có lần tôi hỏi bà lý do tại sao ngày xưa, con gái không được đi học thì bà trả lời:

"Các cụ sợ con gái biết chữ thì chỉ lo ... viết thư cho "trai" mà quên việc trau dồi Công, Dung, Ngôn, Hạnh"

Nhưng cũng vì thế mà cụ bà "nể" cụ ông ra mặt, vì dù sao cụ ông ngày xưa cũng là một người giỏi nhất Tổng, đã đỗ đến Tam Trường, sách chứa đầy nhà.

Với mặc cảm như thế, mẹ và Dì tôi đều được đi học đàng hoàng, và đến khi ông anh cả tôi đỗ Tú Tài Tây vào năm 1953 thì bà tôi mời hầu như cả tỉnh ăn mừng ba ngày  ba đêm, ở cả Hà Nội lẫn Nam Định.

Kỷ niệm buồn cười nhất trong tôi là khi ông chú (con bà trẻ, do anh cả tôi kèm học) thi trượt "Xéc-ti-phi-ca", bà ngoại tôi đã yêu cầu anh cả tôi nọc ông chú ruột ra đánh 20 roi. Cụ giải thích:

"Tình là tình chú cháu, nhưng nghiã là nghiã thầy trò, đã vì nghiã thì phải quên tình"!

 

Sau này có dư luận xầm xì là sở dĩ bà cụ cho ông cháu đánh đòn ông chú chỉ vì ông chú là con... bà nhỏ.

Tôi không tin như vậy vì lúc thường bà vẫn thương "cậu cả…con bà hai" lắm, vì: "dù sao nó cũng là người cúng giỗ tôi", và theo ông anh tôi kể lại, trước khi cho đánh đòn cậu cả, bà còn mang cho ông chú này vài cái quần dài mặc thêm bên ngoài để ... khỏi đau và dặn ông anh tôi:

"Cháu đánh nó nhè nhẹ thôi, dậy để "nó" biết sợ mà học hành cho nở mặt, nở mày dòng họ".

Theo tôi đoán thì cụ bà rất giỏi "chính trị", mượn ngọn roi này để thể hiện kế "Nhất tiễn hạ ...tam điêu"  trong sách Tam Thập Lục Kế mà tôi đọc cho cụ nghe mỗi đêm và cụ rất đắc ý -“Tam Điêu” ở đây là 3 bà trẻ!-
Ông cụ chắc cũng không vui lắm, nhưng vì "nể" vợ, đành im lặng và thỉnh thoảng  dùng thế"cách sơn đả ngưu" để đối phó!

Hậu qủa là mấy gia nhân lãnh đủ, anh chàng nào thuộc "phe" bà ngoại mà phạm lỗi thì sẽ bị chính cụ ra tay "trừng trị"!
Nhưng cũng chẳng ăn thua gì, vì họ đã có một "Đại ân nhân" là tôi.

Thực ra với sức của cụ ông sau nhiều năm làm bạn thân thiết với Nàng Tiên Nâu, nếu có đánh đòn thì chẳng qua cũng như "phủi bụi", chỉ trừ khi nào cụ dùng roi "cá sấu".

Các gia nhân này khôn "dàn trời", mỗi khi thấy cụ hầm hầm định trừng phạt là cầu cứu "Cậu". Cậu chẳng nói chẳng rằng, một mặt dấu biến roi cá sấu, mặt khác mở cửa cho bị can "Tẩu vi thượng sách" rồi vờ vịt nói với cụ:

"Cháu sai nó đi mua thức ăn cho cháu rồi”

Lánh mặt một chút thì lại đến... cữ, cụ quên ngay và sức đâu mà đi tìm roi.

Tôi bị ảnh hưởng truyện Thủy Hử, nên rất thích bênh vực người cô thế, hơn thế nữa, họ đều là những người bạn thân thiết nhất của tôi trong mọi sinh hoạt hàng ngày.

Qua khỏi trận đói năm Ất Dậu 1945, nhà nào có tí "của ăn của để" cũng đều tính đến chuyện tích trữ một ít thóc gạo. Bà ngoại tôi để dành nguyên một phòng trên lầu hai làm kho thóc. Phòng này luôn khóa chặt, chính bà cụ giữ chià khoá.

Thú vui của tôi là mỗi buổi sáng lấy chiếc chià khóa duy nhất này mở cửa kho thóc lừa mấy chú bồ câu nhà hàng xóm bay sang "ăn sáng" rồi đóng sầm cửa lại, tha hồ mà bắt, và món ăn "hàng ngày" của tôi là "Bồ Câu nhồi đậu xanh, hạt sen và nhân sâm hầm thuốc bắc".

(Mấy anh Cộng Sản nhà quê, trong cuốn Đại Thắng Muà Xuân đã "phịa" ra là khi vào Dinh Độc Lập, đã "chộp" được tấm thực đơn trên bàn giấy của Tổng Thống Dương Văn Minh có món này, hí hửng dùng làm thành tích tố cáo sự xa xỉ của Tổng Thống Ngụy! Các chú em đâu biết là "cậu" đây đã ăn món này nhiều đến ... phát khiếp, cần gì phải giầu có!?)


Nhưng sự nghịch ngợm đã giúp tôi phát giác nhiều "kế hoạch" hay hơn, chẳng cần mở kho thóc cho mất công! chỉ trộn ít sái thuốc phiện hoặc ngâm thóc vào nước “Cam Lồ”, là mấy chú chim vô tội sẽ tự động trình diện "nhập ngũ" mỗi ngày, và nhà tôi tuy không có chuồng chim nhưng đã có thời gian "hút" gần hết chim bồ câu ở Nam Định, quét rửa cứt chim không cũng đủ mệt.

Chim sáo cũng vậy, tôi thích nhất là nếu biết cách "bóc lưỡi" là chim sáo sẽ biết nói. Nhưng quý nhất là loại chim "chân vàng, mỏ bạc", chứ loại chân “chì” thì "ngu" hơn, rất khó huấn luyện.
Nuôi sáo là một nghệ thuật. Phải chăm sóc thức ăn theo từng giai đoạn phát triển, châm nước uống, tiả lông và tắm cho chú mỗi ngày. Lồng đựng chim cũng là món ganh đua của những người nuôi chim, phải là "lồng son" thì mới ra vẻ sành điệu.
Chim sáo tương đối chậm quen lồng, ít nhất phải mất vài ba tháng mới không sổ lồng bay đi mất. Nhưng "tuyệt chiêu" ngâm thóc vào nước sái thuốc phiện thì chú nào muốn trốn đi đâu thì cũng phải "trở về mái nhà xưa".

Việc đời, cái gì cũng có hậu quả. Một ông gia nhân thân nhất vì gần bằng tuổi tôi, muốn "lập công dâng Cậu", một buổi tối đã lén nhét luôn một cục sái thuốc phiện vào miệng sáo. Sáng hôm sau chú sáo này chết lăn quay và tôi đã làm đám ma chú rất trọng thể và buồn suốt mấy ngày.
Từ khi di cư vào Nam tôi không còn tìm thấy thú chơi chuột bạch. Thú vị nhất là quan sát chuột bạch "đánh vòng".
Những buổi trưa hè tôi thường theo người nhà ra hồ La-két để ngắm những nàng thôn nữ giặt chiếu, tưởng tượng cảnh "Tây Thi giặt lụa trên bến Trữ La", và bắt đầu thích nuôi chó vì con vật này khôn quá, biết giúp chủ giặt chiếu và bơi ra kéo chiếu về mỗi khi tấm chiếu cói trôi xa.

Thời khoá biểu vui chơi của tôi suốt ngày "bận rộn" như thế, nên việc đọc sách mỗi đêm cho bà ngoại nghe là một cực hình, vì cứ cầm cuốn sách lên là mắt đã díu lại. Bà tôi cũng biết như thế, nên cụ cũng ít khi thúc dục. Nhưng đặc biệt câu chuyện về Mạnh Thường Quân thì cứ vài ngày cụ lại bắt tôi đọc lại cho nghe và cứ tấm tắc khen hay.

Lúc còn nhỏ đọc thì cứ đọc, nhưng tôi cũng chẳng hiểu hay ở chỗ nào vì thấy nhân vật Mạnh Thường Quân giầu có và tốt bụng như thế mà cuối cùng lại phải sống một cuộc đời nghèo khổ.

Nhà bà tôi lúc nào cũng đông bạn bè giống như trong truyện, chỉ khác là các bạn cũa Mạnh Thường Quân toàn là người Tầu (!) và chỉ thích ăn chứ không hút thuốc phiện còn quanh bàn đèn của ông tôi thì Tây, Ta, Tầu đủ cả. Và tai ông nào cũng "bẹp" vì nằm hút nhiều quá.

Một bà cụ rất thân với bà tôi vì là bạn từ thời con gái, có người con trai làm "Quan Hai" trong quân đội Pháp. Vào năm 1952, đây là một chức rất lớn. Có một lần Chợ Rồng bị cháy, tôi chạy sang xem xe chữa lửa, chẳng biết vô tình hay cố ý, một ông lính chữa lửa, ngứa mắt vì thấy thằng nhỏ làm vướng chân, nên cầm vòi rồng nhắm ngay tôi mà "xịt" khiến thằng bé lăn long lóc mấy vòng, xây sát đầy người, ôm đầu máu mếu máo trở về nhà thì gập lúc ông Quan Hai này đến chơi. Nghe tự sự, ông chẳng nói chẳng rằng chạy ngay sang chợ, bắt tất cả lính cứu hỏa đứng im trình diện, tát cho mỗi anh một cái rồi mới cho chữa lưả tiếp!

Câu chuyện này truyền tụng khắp tỉnh, từ đó tôi mới thấy tầm nhìn xa của bà ngoại và biết được mình rất an toàn trong sự che chở của các "quan" Tây.

Một hôm ông Quan Hai này dẫn một người bạn học cũ đến nhà, giới thiệu với bà tôi xin cho làm quản gia, do hoàn cảnh gia đình sa sút. Anh Nhiếp là một thanh niên to lớn, có đôi mắt sáng và rất trí thức, mỗi khi nhà chỉ có hai người, tôi thấy họ tranh luận với nhau toàn bằng Tiếng Pháp mà tôi chỉ nhớ được có hai chữ là Voltaire và Montesquieu, vì được lập đi lập lại nhiều lần.

Bà ngoại tôi dù hay trách: "Hai đứa này chỉ toàn nói chuyện "rạng đa"!  Nhưng lại qúy anh Nhiếp lắm, vì anh ít nói với tất cả mọi người khác và làm việc rất đứng đắn, không bao giờ sai sót về tiền bạc.

Tôi phục anh Nhiếp sát đất vì nghe nói anh có võ "Hồng Mao", đã từng vì bênh bạn mà đánh mấy thằng Tây con nên mới bị đuổi học.

 

'Chánh Sở Cẩm' là người uy quyền ai cũng sợ, đi đâu cũng kè kè súng lục và hai "đội xếp" cận vệ, nhưng ông ấy lại rất nể (?) tôi (hay ít nhất lúc còn bé tôi đã nghĩ như thế), vì mỗi lần tới nhà, ông đều mang cho tôi đồ chơi sản xuất từ "Mẫu Quốc" và đòi hỏi gì ông cũng chiều. Chỉ vì hồi đó, võ vẽ đọc "Chiếc Lư Đồng Mắt Cua" của Nguyễn Tuân, tôi học cách "pha" chè sen rất điệu nghệ ! các ông ghiền thuốc phiện, sau khi "bắn khỉ" thế nào cũng phải "hãm" với chè sen.

Nhưng ông "nể” tôi một thì ông sợ vợ mười! Marlène là một bà đầm "rau muống"! Tôi cũng không biết tên Việt của bà, nhưng bà ta rất thích và hãnh diện khi được gọi là cô "Bưởi", có lẽ vì bộ phận nào trên người cô cũng to!  Da trắng như... “đầm”, là một người "ruột để ngoài da" và có cặp mắt lá răm rất "lẳng" (đó là tôi nghe người lớn nói thế chứ cũng chẳng hiểu "lẳng" là gì)
Tính tình cô Bưởi rất dễ chịu, thích cười lớn và nói năng chẳng nể ai. Cô đặc biệt qúy tôi, chuyên xưng là chị và gọi tôi là cậu em út.

Cô còn có tính rất lạ là chỉ thích "bẹo" bắp vế đàn ông! càng nhéo trên cao càng thích, nên các nam gia nhân sợ một phép. Có lần một anh chàng bưng trà nóng lên "dâng" cô, bị cô véo một cái đau điếng gần "vùng cấm địa". Anh này đau qúa làm đổ cả khay trà, bị phỏng nặng đến nỗi phải cuốn "sà rông" cả tháng, vì không mặc quần đùi được!
Chỉ có tôi và anh Nhiếp là không bị cô "véo". Có lẽ vì đùi tôi nhỏ quá, không hấp dẫn, còn anh Nhiếp thì ở địa vị quản gia nên không có cơ hội tiếp xúc, dù rằng cô luôn tìm cách gần anh Nhiếp và gọi "anh" xưng "em" ngọt sớt. Cô còn nhiều lần ngỏ ý nhờ anh dậy thêm tiếng Pháp và mấy lần nhờ tôi trao thư cho anh, nhưng anh luôn từ chối.

Ông chồng Tây thì ai cũng sợ nhưng không nể, vì sợ vợ quá! Tôi chỉ hiểu lờ mờ lý do khi nghe cô Bưởi nói với các bà về ông chồng mình trong lúc đánh chắn:

"Gớm, ngày thì hùng hùng, hổ hổ như thế chứ ban đêm thì ủ rũ như… gà cắt tiết!"

Tôi mừng lắm vì tưởng là có “đồng minh” ! khi thấy ông Tây cũng "sợ ma", đêm không dám ngủ một mình.

Một lần khác tôi nghe mấy bà kháo nhau về chuyện sao ông chồng Tây trông gầy quá, thì một bà lên tiếng:

"Gớm, ngữ ấy thì ... Tây Đen cũng chạy, chứ Tây trắng chịu gì nổi, không lao lực chết đã là may rồi." 

Anh Nhiếp hơn tôi cả chục tuổi, tôi thường gọi anh ấy là anh xưng em nhưng theo thói quen xưa, anh ta lại gọi tôi là Cậu xưng Cháu.

Những ngày hè nóng bức, tôi với anh lên sân thượng ngủ, anh dậy tôi đủ thứ từ Thiên văn tới Lịch Sử, kể chuyện các Hiệp sĩ Nhật Bản, có thể phi thân, leo tường vào nhà giết kẻ thù dễ dàng, nhất là dậy cách "thôi miên". Lúc đầu cứ ngồi tập trung vào một tấm giấy trắng chính giữa dán một vòng tròn đen kích thước bằng một đồng xu, nhìn cả giờ mà không được chớp mắt.

Qua giai đoạn 2 là đấu "nhỡn lực", hai người ngồi đối diện nhìn nhau chăm chăm, thằng nào chớp mắt trước là thua!
Tôi đã thấy anh Nhiếp làm cho mấy người hàng xóm "ngủ" thật, nhưng không hiểu sao những lần đấu “nhỡn lực” với tôi anh đều chịu thua. Lúc còn bé hãnh diện lắm, nhưng lớn lên một chút thì hiểu ra đó là anh cố tình để dùng tôi vào những việc khác.

Cho đến một ngày, anh "biến mất", lúc còn nhỏ tôi rất thích anh nhưng rồi quên đi. Cho đến đêm giao thừa năm 1953, trong khi Chánh Sở Cẩm đang lơ mơ say thuốc ở nhà Ông Ngoại thì tôi nhận được mảnh giấy của anh Nhiếp:

"Cậu nói với ông Cẩm xin tha cho cháu",  hoá ra anh đang bị giam ở Trại Giam Nam Định vì tội "đặc công".

Tôi xin ông Tây này tha cho anh. Y trả lời:

"Thằng này nguy hiểm lắm, tha sao được"

Còn nhỏ, tôi cũng không biết gì nên vưà khóc vừa nói:

"Mày không tha anh tao, tao "ĐÉ..." pha trà cho mày nữa" !

Tất cả mọi người sợ xanh mặt ôm chặt lấy tôi và xin lỗi ông Tây rối rít "cháu còn nhỏ dại!"

Nhưng không ngờ tay này cười cười:

"Tao tha cho nó nhưng mày phải tiếp tục pha trà cho tao"

"Đắc ... co"!

Sau này tôi mới hiểu là anh Nhiếp muốn nhờ tôi đánh tiếng cho cô Bưởi can thiệp chứ lời nói của tôi nào có ăn thua gì.

Cuối cùng anh Nhiếp được tha và biến mất một lần nữa.

Năm 1975, anh Nhiếp vào Sài gòn tìm tôi! Tôi rất ngỡ ngàng nhìn anh bằng ánh mắt nghi ngờ vì lúc đó anh đã mang lon Thượng Tá. Còn ngờ ngợ nhưng anh lại nhận ra tôi, vẫn xưng với tôi là "Cậu Cậu, Cháu Cháu" và:

"Cậu cứ gọi Cháu là thằng Nhiếp ... Việt Cộng"!

Anh ta tỏ ra rất vui mừng khi biết cả nhà tôi đã thoát sang Mỹ, chỉ bùi ngùi khi thấy tôi mình tôi còn ..."kẹt" lại.

"Cháu nói thật, bằng mọi cách cậu phải đi đi"

Và cho biết anh chưa bao giờ vào Đảng vì "họ" tàn ác lắm !

Thế mới biết tình người Nam Định.

Anh mất năm 1992, anh em tôi đóng góp được 1.200 USD (một số tiền rất lớn đối với gia đình anh) gửi cho bà vợ để làm đám ma.

 

Chuyện tình buồn


"Hai con bé đó thật khác nhau như nước với lửa"!

Đó là lời kết luận của bà tôi khi đem so sánh Cô "Bưởi" (tức là bà đầm rau muống Marlène) với cô Nguyệt Biều.

Trong cuộc sống nghèo nàn của đa số người dân Nam Định, gầy guộc vì thiếu ăn,  khuôn mặt núc ních phấn son, với đôi mông đồ sộ và bộ ngực "nuôi được cả nước" của cô "Bưởi" trở thành biểu tượng của "vinh hoa phú qúy". Đó là chưa kể lối nói chuyện chẳng biết sợ ai của cô "Me Tây"!

Cô Bưởi có thói "đãng trí" rất lạ. Không ai biết vì vô tình hay cố ý, thỉnh thoảng trong chiếu bài, cô lại kéo cặp quần nhìn sâu vào bên trong! Nếu có ai thắc mắc, cô sẽ "vui lòng" giải thích:
"Không nhớ hôm nay tôi có mặc quần lót hay không, mà thấy hơi ngứa !" !

Bên cạnh đó là vẻ đẹp qúy phái và lối nói chuyện dịu dàng, tế nhị, luôn quan tâm

đến người khác của cô Nguyệt Biều làm ai cũng yêu mến.

Tôi vẫn còn nhớ như in cảnh tượng mỗi buổi sáng vừa thức dậy, tôi phải "tiểu tiện" vào cái bát ăn cơm và cô đã bịt mũi, ngửa cổ uống hết một mạch, để tránh bị "hậu sản" vì lúc đó cô có bầu được ba tháng.
Cô Nguyệt Biều chỉ hơn tôi mười hai, mười ba tuổi, nhưng lại làm cho tôi rất "mơ hồ" trong cách xưng hô. Cô thường gọi bà ngoại tôi là "bà" xưng "cháu".
Bà ngoại tôi, lịch sự và khéo léo, luôn luôn gọi cô là "Bà Chánh" (do cô Nguyệt Biều là vợ của Quan Tây Chánh sở Kiểm lâm) dù là cô chỉ bằng tuổi cô út con bà hai.

Theo lẽ, tôi phải gọi cô Nguyệt Biều là "cô" xưng "cháu", nhưng cô chỉ thích tôi gọi bằng "chị" xưng "em", và suýt nữa cô lại là "mẹ vợ" của tôi!

Dù bề ngoài hiền hậu như thế, cô Nguyệt Biều luôn luôn là đề tài tranh luận của mọi người. Đã có một thời người dân Nam Định gọi cô một cách trìu mến là "Cô Đốc" vì năm 1953 một dịch đau mắt đã quét qua Nam Định đúng vào thời điểm cô Nguyệt Biều đang cho con gái đầu lòng là bé Sophie bú, do bị căng sữa nên mỗi buổi sáng cô phải nặn ra để "đổ" đi..

Bà ngoại tôi chẵng biết nghe ai mách hoặc vì sợ 'phí của giời' nên đã dùng sữa đó để nhỏ mắt cho mấy người trong nhà, thế mà mọi người lại hết bệnh. Tiếng đồn lan mau đến nỗi, mỗi buổi sáng, cả đoàn người bị dịch đau mắt xếp hàng trước cửa chờ  đợi để được nhỏ một giọt sữa vào mắt, ai cũng hân hoan vì chỉ mấy hôm sau là mắt hết sưng đỏ.

Ông Đốc "thật sự" trong tỉnh thì lại bị đau mắt nặng nhất!

Nhưng là người theo Tây học, ông nhất định không tin phương pháp này, mãi sau chịu không nổi ông đành phải tìm đến, nhưng vì sợ "quan trên trông xuống người ta trông vào" nên mỗi ngày ông luôn đến sớm nhất để xin những giọt sữa đầu tiên!

Qủa nhiên chỉ vài ngày sau, mắt ông khỏi hẳn! nhưng lại xuất hiện một vết sướt trên má, trông giống như vết mèo cào mà người ta đồn là bà vợ đã ra tay trừng trị vì ... "ghen".

Ông Đốc cải chính: "vết sướt là do tôi vô ý khi cạo râu". Nhưng không thuyết phục được ai, vì mọi người đều biết mặt ông vốn nhẵn nhụi, không hề có một sợi râu nào!

Có lẽ tin đồn 'bị vợ đánh ghen' này là do cô Bưởi tung ra, vì sau đó thấy cô hậm hực tuyên bố:

"Chỉ tiếc rằng tôi không có con, nếu không tôi đã có đủ sữa để chữa bệnh cho... "toàn cõi" Đông Dương"!

Thái độ yên lặng và nụ cười nhẹ nhàng phảng phất trên khuôn mặt đẹp nhưng hơi buồn của cô Nguyệt Biều càng làm mọi người thắc mắc, kể cả cái tên cô vì "ngoài mình đâu có chữ …Biều"


Một lần bà ngọai tôi đã cho biết nguyên do:

"Con bé ấy, chỉ vì theo Tây học mà hỏng"! 

Gia đình gốc Bắc, ông cố theo cụ Phan Đình Phùng  chống Pháp, nên từ quan về ở ẩn tại làng Nguyệt Biều nơi cô chào đời. Cô được học hành đến nơi đến chốn, nhưng lại nhiễm tư tưởng phóng khoáng của Tây phương và các sách báo “Văn Hoá Ngày Nay”, “Tự Lực Văn Đoàn”, kêu gọi "giải phóng phụ nữ", “Tự do luyến ái”...

Trong một lần đi cắm trại, gập một ông kỹ sư Lâm Nghiệp phải lòng cô, về xin cưới hẳn hoi, nhưng gia đình cô nhất định không chấp nhận cho con gái lấy ...Tây! cô đành khăn gói theo người yêu về Nam Định, không một người thân và ông chồng thường hay công tác kiểm lâm trên mạn ngược, nên gửi cô cho bà ngoại tôi săn sóc.

Bà ngoại tôi hơi cổ kính nên không mấy tán thành cuộc hôn nhân này, nhưng cụ nói gì thì nói, đây là cặp vợ chồng mà tôi quý mến nhất vì tính tình phóng khoáng, hoà  đồng với mọi người chứ không "hách xì xằng" như những ông Tây khác, và đặc biệt từ khi em bé Sophie ra đời thì tự dưng tôi không còn hứng thú chơi chim sáo, xem chuột bạch đánh vòng hay dẫn chó đi tắm sông nữa, vì xem "con đầm con" da trắng bóc như búp-bê, bú sữa, tắm rửa hay thay tã... vui và "lạ" hơn!

Cho đến một lần tôi nghe cô Nguyệt Biều nói với bà tôi:

"Sau này xin bà cho hai đứa nó lấy nhau, vì phong tục ở quê con, đứa con trai nào nhìn thấy con gái tắm truồng là phải ...cưới"!

Hai vợ chồng Ông Chánh Kiểm Lâm này là một ân nhân của tôi, vì trong những ngày cuối cùng của cuộc di cư, họ đã mang hai bà cháu tôi cùng với cô người làm lên sân bay Gia Lâm  để vào Nam, trước khi họ về Pháp định cư. Cụ ông nhất định không đi vì còn đến mấy…bà, nhưng có lẽ quan trọng hơn là vì sợ vào trong đó không có "thuốc" mà hút.

Tôi và Sophie vẫn giữ liên lạc thư từ và tình cảm trong sáng suốt hơn mười năm, chỉ hơi khó khăn một chút vì "bất đồng" ngôn ngữ! Nhưng dù sao tiếng Việt của Sophie cũng khá hơn tiếng Tây của tôi!

Năm 18 tuổi Sophie vừa có ý định về Việt Nam thăm tôi thì chết trong một tai nạn giao thông. Cho đến bây giờ mỗi khi nghĩ đến Sophie tôi vẫn còn buồn.

Nguyệt Biều (là cô, chị, hay... mẹ vợ hụt của tôi?) mất sau đó vài năm, đến lúc nghe tin xấu, gia đình cô mới tha thứ cho người con gái "lãng mạn" và sang tận Marseille dự đám tang.

 

*****

Ở lứa tuổi "nhi nhĩ thuận", tôi thường bỏ bữa ăn trưa, mỗi ngày ra thư viện ngồi một tiếng đánh máy vớ vẩn mấy dòng chữ này.

Nhìn qua khung cửa sổ bên kia đường là một căn nhà đang xây cất dở dang nhưng vẫn còn giữ lại một bức tường cũ.

Những công nhân ra vào rồi biến mất sau bức tường chợt gợi nhớ lại những hình ảnh quá khứ.

Hoá ra mình bắt đầu già rồi !

In Giáo Dục, Quán Chiếu Tags Tản mạn về Nam Định, Nghêm Hữu Hùng
Comment
Older Posts →
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories
Summary Block
This block is invalid. Please check the block settings and try again.
Featured
Aenean eu leo Quam
Aenean eu leo Quam

Quisque iaculis facilisis lacinia. Mauris euismod pellentesque tellus sit amet mollis.

Read more →