Tầm gửi sống lâu ngày có thể làm cho "cây chủ" suy yếu dần. Trong chính trị, một thể chế "tầm gửi" thường không chú trọng xây dựng nội lực, khoa học kỹ thuật hay sản xuất trong nước mà chỉ trông chờ bên ngoài. Quốc gia đó khó có tiếng nói bình đẳng trên trường quốc tế, dễ bị biến thành "quân cờ" hoặc là vùng đệm cho các nước lớn. Vì sự sống hoàn toàn gắn liền với cây chủ, nếu cây chủ bệnh tật, chặt bỏ hoặc thay đổi chính sách, thì quốc gia "tầm gửi" đó sẽ lập tức rơi vào khủng hoảng trầm trọng, sụp đổ hoặc bị thâu tóm.
Read moreTHIỀN
THIỀN
Thiện tâm, thiện tánh, thiền tâm tưởng,
Như đóa bạch liên thanh sắc hương,
Đường thế gian sân si thôi vướng,
Nghiệp ân tình thôi hết vấn vương,
Phù du không sắc vòng ảo tưởng,
Thả dòng đục trong, hướng vô thường.
Nguồn chân như hạnh thông tâm tưởng,
Ngộ an bình, hòa họp âm dương.
Huỳnh Anh Trần-Schroeder
Phiếm luận hài hước – Chuyện giả tưởng, cười cho vui cuối tuần! (Bài trên NET)
Nghe nói tỷ phú Elon Musk đang có tham vọng đưa xe Tesla tự lái đi khắp thế giới, nhưng vào VNCS, thì…bó tay!
Xe chạy ngon lành trên xa lộ Mỹ, vượt đèo ở Thụy Sĩ, luồn lách giữa phố chật chội Paris, Tokyo, thậm chí còn biết tự động né chó, tránh mèo, nhường đường cho cụ già, xe bus học sinh và dừng lại trước đèn đỏ.
Elon Musk hãnh diện vỗ ngực tuyên bố:
– Trí tuệ nhân tạo của Tesla số một, có thể giải quyết bất cứ những tình huống giao thông phức tạp nhất hành tinh này!
Một kỹ sư người Việt nghe vậy, cười khẩy:
– Anh Elon ơi! Đừng có gáy sớm! Anh đã cho xe chạy thử ở Việt Nam chưa? Mà tuyên bố láo như vậy?
Musk ngạc nhiên:
– Việt Nam CS có gì đặc biệt?
– Có chứ! Bên Mỹ, xe phải tuân theo luật giao thông. Còn ở Việt Nam CS , muốn sống sót, trước hết phải biết… “bố thằng bên cạnh là ai!”
Read moreTĨNH LẶNG THỜI GIAN (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)
1-TĨNH LẶNG THỜI GIAN (Bài Tiếng Việt)
Thành cầu lóe vạt nắng tà,
Sóng triền lóng lánh vàng ngà thiên nhiên.
Liễu dương rủ nhánh ngả nghiêng,
Chiều tàn trên sóng, về miền hoang sơ.
Thuyền neo trên bến mong chờ,
Mạn thuyền sóng vỗ, lững lờ nước trôi.
Bè rong trên sóng nổi trôi,
Vi veo gió lướt núi đồi rừng hoang.
Ngẩn ngơ bức họa chiều vàng,
Thuyền đi trên sóng, mời nàng ngao du.
Vàng trời lóng lánh rừng thu,
Lối mòn lá trải, hương thu nhiệm mầu.
Vai anh, em hãy tựa đầu,
Nghe chiều dần tắt trên cầu thời gian.
Màn đêm buông xuống thênh thang,
Sao trời cần ngọc nạm vàng vòm cao,
Lụa trời ai rải thanh màu,
Viền hồng vân bạc đường sao thiên hà.
Thiên nhiên tĩnh lặng bao la,
Thời gian ngưng đọng trên nhà hư không.
Thời gian như có, như không,
Miên man một chuỗi mênh mông ẩn hình.
2- A SERENE TIME (English Version)
On the bridge arch the late rays cast silvery gleams,
The flirty breeze caresses the crests of blushing waves,
The water glows glistening golden and amber beams,
Darling, come and glide with me on the mellow evening waves.
On the waves, to the soothing murmur of pliant willows,
The cadencing lullabies of the wind, the shimmering evening shadows,
Peaceful is the moment, serene is the mind,
We leave all thoughts to glide with the twilight time.
Softly, the evening is falling, the tide is receding,
Soon the sky will be filled with shimmery stars,
O darling, on my shoulder, rest your head,
Listen to the song of corals and mermaids,
Feel the touch of the wind, the light of the stars.
Into dreams we will travel on waves of nature,
In the realm of all things beautiful and pure,
Bathed in the infinity of the universe of God and all beings,
Realizing that time is nothing,yet is everything.
3- UN TEMPS SEREIN (Version Francaise)
Sur le parapet du pont, quelques raies attardées projettent jets d’argent scintillant,
Le vent badin caresse les crêtes des vagues rougissantes,
Les flots du soir se paradent de faisceaux d’or et d’ambre,
Chérie, sur barque légère, nous voguons les vagues ondoyantes.
Sur eaux limpides, dans murmures des saules pliants,
Berceuses cadencées des vents, clignotantes ombres drues,
Si serein est notre esprit, si paisible est ce moment!
Dans crépuscule moiré, nous laissons toutes pensées s’envoler sans retenue.
Doucement le jour s’estompe, la marée se retire,
Bientôt, le firmament se couvre d'étoiles radieuses,
Qui dans les lacs de tes yeux dansent et se mirent.
O chérie, sur mon épaule, poses ton front las,
Écoutes les histoires d’amour que le vent te raconte tout bas,
Berces toi des rythmes de coraux mélodieux, des chants de sirènes gracieuses,
Touches la luminescence des étoiles, sens le vent dans tes cheveux,
Vers royaume des songes nous voguons sur ondes de la nature,
Vers domaine béni de toutes choses belles et pures,
Nous baigner dans l’ univers immense de Dieu et de toutes créatures,
Réalisant que le temps n’est que poussière du cosmos et pourtant règne sur toute éternité.
Huỳnh Anh Trần-Schroeder
Chả giò và Người Việt ở Hoà Lan (Châu Âu du ký from Quinhơn11)
Nhìn chung đời sống người Việt ở Hoà lan nếu chịu khó sẽ rất sung túc. Mà ai không chịu khó cũng không sao, chính phủ sẽ giúp đở toàn diện từ nhà cửa, y tế, thức ăn, quần áo mùa hè, mùa đông ...thậm chí cho cả tiền đi du lịch, nghĩ hè giúp cho tinh thần đở buồn chán. Thật ngưỡng mộ khi thấy chính phủ chu đáo lo cho dân từ vật chất tới tinh thần.
Chuyện khó tin quá phải không ?
Nước người ta là xã hội tư bản sưu cao thuế nặng, mà sao người dân sung sướng thế? đến những người tỵ nạn, di dân ăn nhờ ở đậu như người Việt nam ta, mà cũng được hưởng sái ấm no sung túc một đời.
Có một đều lạ, những ngày ở đó, chúng tôi mỏi mắt cũng không thấy cái gọi là cảnh lẻ loi cô độc trên xứ người. Cũng như nhìn quanh quất, tìm mãi cũng không thấy cái hình ảnh người bóc lột người thường bị gán cho xã hội tư bản ở đâu cả?.
Hoà lan xứ người buổi chiều thường hay mưa, có người bảo xứ này một ngày có đủ bốn mùa, nhưng nhìn đâu chúng tôi cũng thấy không khí trong lành, hoa khoe sắc thắm, thấy phố, thấy nhà . .. Không như những câu thơ của thi sĩ Trần Dần ... khi bước đi trên chính quê hương mình mà không thấy gì cả ... chỉ thấy có một điều mà không tiện viết ra ở đây!
Vậy thì ... tốn bao nhiêu xương máu và nước mắt. Đốt cháy, đui chột cả một thế hệ tuổi trẻ, lót đường đi tới "Xã hội chủ nghĩa cộng sản" để làm gì nhỉ ??
KHOẢNG CÁCH GIỮA ĐẠO VÀ ĐỜI ( Nghiêm Hữu Hùng)
Nhân chuyến về Việt Nam năm 2010, tôi đã thu hết can đảm tìm thăm cháu Phương Thanh tại một ngôi chuà bên Gia Định.
Thật may mắn, “ni cô” Phương Thanh đã tiếp chuyện tôi với vẻ khoan hoà cuả một người tu hành. Phương Thanh cho biết -nhờ ánh sáng của cửa Từ bi- cô đã an tâm tha thứ và quên hết chuyện cũ kể từ khi biết tin thằng em bị công an bắn chết tại Vũng Tàu vì tội ăn cướp.
Có lẽ cho tới ngày hôm nay, tôi chưa từng tự tay giết một sinh vật nào dù nhỏ bé đến đâu.
Nhưng không hiểu sao khi nghe tin một người bị bắn chết mà lòng tôi lại vui đến thế?
Read moreNhân Chuyến Viễn Du Cuối Cùng của Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần (Bác Sĩ Trần Xuân Ninh)
Đầu tháng 9/2026. Một ngày như mọi ngày?
Buổi sáng mùa thu nắng ấm. Tôi ngồi trước cái laptop mở trước mặt, theo thói quen đọc lướt qua tất cả các tin tức thư từ nhận được trong đêm hôm trước, đại loại như là:
*Những tường thuật, bình phẩm, thông báo… về Donald Trump từ mạ lỵ đến tâng bốc mà chẳng sao. Những vụ kiện tụng dính dấp đến ông ta kéo dài từ các tòa địa phương đến tối cao pháp viện với hàng đàn luật sư, bồi thẩm đoàn đẩy qua đẩy lại hết tiểu bang đến liên bang chẳng có gì được thi hành với đủ lý cớ. và nay vẫn trở thành lãnh đạo đệ nhất cường quốc thế giới.
*Những lời qua tiếng lại trên mạng giang hồ điện tử - để chứng tỏ mình trên cơ - giữa đám hậu duệ của bên thua cuộc cũng như thắng cuộc về những danh từ cách mạng tháng 8, về chào mừng quốc khánh mồng 2 tháng 9, về cướp chính quyền, về thế chính thống của đế quốc Việt nam với vua Bảo Đại (bù nhìn) không có sức nên sẵn sàng để bị đớp, và những trao đổi về tuổi già làm sao hưởng đời … làm tôi chợt thấy mình đã qua lâu rồi cái giai đoạn phải biết mũ ni che tai theo lối phân chia cuộc đời của Khổng Tử (1), mà còn để mất thêm thì giờ cho những chuyện tầm phào thì thật chẳng giống ai.
Quả thế, ngồi trước bàn viết nếu nhìn qua cái cửa số phía đông - bên tay phải, mở xuống cái sân nhỏ lát xi măng giới hạn về phía nam bởi cây lê hoa trắng sai quả mà những con sóc thi nhau vừa ăn vừa bỏ không kịp phá hết, về phía bắc bởi cây đào non tuổi hơn trĩu quả ngả rạp xuống đất làm đứa con trai tôi phải dùng mấy thanh gỗ 2’’x 4’’ chống cho khỏi gẫy. Gần cây đào là một cụm cúc nở vàng mùa thu. Trên cái khuỷnh sân nhỏ xi măng dẫn ra cổng sau nhà đó tôi hay rắc một ít cơm nguội vào những khi nắng ráo để dụ lũ chim sẻ từ đâu đó bay tới - mà lúc đông nhất đếm được 15 con nhẩy qua nhẩy lại nhặt ăn từng hạt và chọc ghẹo nhau. Thảng hoặc có một vũng nước đọng lại sau cơn mưa lớn nhiều giờ khi gặp điều kiện ánh sáng thuận lợi có thể phản chiếu cho thấy một khoảng trời xanh mây trắng thơ mộng. Cho tới nay sau mấy chục năm ở ngôi nhà này chưa bao giờ tôi thấy những cảnh như thế này mà khám phá ra một điều hiển nhiên, là có tìm thì có thấy. Tất cả những thứ này khiến tôi mỗi năm 4 mùa đều có điền kiện để tưởng tượng ra mà hưởng cái thú trong 4 câu thơ cổ chép trên một cái quạt giấy trắng kèm theo mấy cái hình thủy mạc đơn sơ của ông bạn thân phụ tôi: Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì, Thu ẩm hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi (mùa xuân đi chơi cỏ xanh non, mùa hạ ngắm ao hoa xúng xanh, mùa thu uống rượu cúc, mùa đông ngâm thơ tuyết trắng).
Xin mở ngoặc nói ở đây, để cho thấy những xu hướng xã hội chính trị quần chúng Việt Nam đa dạng đa diện, phi Cộng sản trong những vùng Pháp kiểm soát những năm 1947-1954 chứ không như Việt cộng dán nhãn “Việt gian theo Tây” và về sau này xấc láo gọi xách mé là “ngụy” và tưởng thế là hay - rằng ộng này là một đồng chí thân cận với Lý Đông A đảng trưởng Đại Việt Duy Dân. Khi đảng này bị Việt Minh vây đánh tiêu diệt năm 1947 (để giành độc quyền thống trị theo bản luận cương của Lenin như chính Hồ chí Minh viết ra năm 1921 trong giai đoạn thất cơ lơ vận sống ở Paris) ông này ở mật khu Nga Sơn Thanh Hóa thì lạc khỏi nhóm Lý đông A, trôi giạt dần ra Hà nội rồi được giới thiệu đến tá túc với gia đình tôi lúc đó ở phố Tô Hiến Thành(Wiélé). Sau một thời gian khoảng trên 1 năm, ông bị đau bệnh nặng, đưa vào nhà thương Bạch Mai vài hôm thì mất. Ông nội tôi dùng một khúc gỗ lim cưa cắt làm bia, khắc tên là Bùi Tiên Tiến tức Nguyễn thế Vinh.
Trong cái khuỷnh thanh thản sống với ký ức đó, tin Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần từ trần đến với tôi từ một đồng nghiệp - Bác Sĩ Ngô Thế Vinh bằng một cái email ngắn ngủi. Thư còn nói anh Thuần là bạn thân của hai anh em tôi (Trần Xuân Dũng và tôi). Đồng thời gợi ý tôi viết vài giòng và xin tôi một cái ảnh anh Thuần. Tôi không có ảnh nhưng có một cái khác. Cái khác này anh Thuần đã tặng tôi hôm tôi sang ở Melbourne Úc châu 10 ngày khi Dũng mất cách đây 3 năm. Tôi đã ý thức lúc đó rằng có lẽ đó là chuyến cuối cùng của tôi sang Úc với tổng số đường dài từ thành phố gió(windy city) Chicago bên bờ hồ Michigan trong nhóm Ngũ đại hồ miền Trung Tây Hoa kỳ trên dưới một ngày bay. Thân già ngồi vé-máy-bay-hạng-tiết-kiệm-tối-đa (basic economic) khó mà chịu nổi sự ê càng xẩy đến: đau lưng nhức chân. Cho nên đã bỏ hai ngày bay lên Brisbane gặp thân hữu xa gần và bạn bè đồng nghiệp như Bác Sĩ Đặng vũ Thúy Doan, Bùi Trọng Cường (ít lâu sau thì mất), và Hà Ngọc Thuần mới ra đi…. Lúc đó anh Thuần đã có vẻ yếu và chậm chạp trông thấy. Tôi chỉ đơn giản nghĩ là vì tuổi già. Anh Thuần đưa cho tôi một tặng phẩm và nói nhỏ vài câu mà đôi tai già nghễnh ngãng của tôi nghe không rõ. Đó là bài thơ chữ Hán Nam Quốc Sơn Hà của đại danh tướng Lý Thường Kiệt đời Lý, với kỳ tích bắc phá quân Tầu (nhà Tống), nam bình giặc Chiêm Thành mà anh Thuần chép lại bằng lối chữ thảo. Tôi đã ôm về, thấp thỏm suốt chuyến bay lo lắng mặt kính bị vỡ, hay khung ảnh thiếp vàng trạm lá nguyệt quế (laurier) bị trầy trụa khi có người nặng tay sắp xếp đồ đạc cứng nặng trong hộc hành lý. Chụp lại gửi cho anh NTV kèm với thư này hôm nay xem cho biết. Và hiểu tâm sự người bạn thân của anh em tôi, Hà Ngọc Thuần, muốn nhắn gửi. Nói cho rõ, tôi chỉ có một bạn thân ở cấp trung học phổ thông Chu Văn An mới liên lạc được gần đây. Không có bạn thân nào từ khi lên đại học, vì tôi vốn quả giao. Nhưng những bạn thân của Dũng em tôi (con số chỉ vài ba) mà Thuần là một thì cũng là thân của tôi, vì tôi coi như người trong gia đình.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Đại loại dịch ý ra chữ nôm là:
Sông núi nước Nam, vua nước Nam ở,
Phân chia vị trí rõ ràng đã ghi trong sách trời.
Cớ sao các ngươi ngỗ ngược đến xâm phạm,
Chúng bay rồi xem, sẽ chuốc lấy thất bại tan tành.
Theo tôi một chiếc ảnh cho thấy ngoại hình thể chất kể là đẹp nhất nhưng có thể không tự nhiên, do làm dáng làm vẻ lúc chụp. Còn một bài viết trải ra trên giấy phản ảnh trọn vẹn hơn tâm thức con người qua nét chữ và nội dung. Anh Vinh chắc cũng đồng ý và hẳn sẽ hài lòng.
Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà (thủ bút bác sĩ Hà Ngọc Thuần)
Cũng ngạc nhiên vì nghe anh NTV làm tổng thư ký và chủ bút báo Tình Thương. Bởi vì tờ nguyệt san của sinh viên y khoa này ra đời là do tôi khởi động ở giảng đường M1 trường Y khoa đường Trần Quý Cáp trong không khí hưng phấn sau vụ lật đổ tổng thống Ngô đình Diệm (lúc đó được gọi là Cách mạng 1 tháng 11/1963). Sinh viên tham dự là do em tôi Trần xuân Dũng đang học năm thứ năm y khoa cùng với Hà ngọc Thuần là bạn thân từ hồi đệ ngũ trường Nguyễn Trãi Hà nội triệu tập vì lúc đó tôi đã ra trường. Cử tọa này tuyệt đại đa số là năm thứ ba y khoa, các lớp dưới thì học mờ người không có thì giờ mở mắt vì nếu thi 4 kỳ mà trượt là văng ra khỏi trường. Tôi nhớ không thấy có anh Ngô Thế Vinh. Khi tìm hỏi để viết bài này mới biết NTV ở lớp nhỏ hơn, không ở trong không khí cách mạng 1 tháng 11/1963. Anh phụ trách tờ Tình Thương khoảng năm 1966 (?)/1968 khi tình hình đất nước có nhiều sôi động và tâm thức con người phức tạp nên tờ Tình thương không tồn tại bao lâu sau đó nữa.
**
Đề nghị tên cho tờ báo tôi đưa ra ban đầu là Thông Xanh, cảm hứng từ đôi câu đối Hán Việt cổ xưa ý nghĩa tuyệt đẹp (đối với một thanh niên mới lớn là tôi): “Hàn khí tri tùng tiết / Lâm phong thức trúc can”, tạm diễn nghĩa là “Có khí lạnh mới biết cái tiết (hàm ý sức mạnh) của cây thông, Có gió rừng mới thấy gan (hàm ý sự gan lỳ dẻo dai) của cây trúc. Hay là “giữa trời vách đá cheo leo, ai mà chịu rét thì trèo với thông”. Tiếc rằng đám sinh viên chỉ nghĩ đến cái nghề chữa bệnh lấy tiền đúng mức - nghĩa là hành nghề theo những khuyến cáo của Hippocrate, được vẽ ra cụ thể qua nhân vật Angus Duer trong cuốn tiểu thuyết Dr Arrowsmith của Sinclair Lewis. Cũng nói thêm rằng năm 1970 khi tôi du học Chicago Hoa kỳ có đọc được một khuyến cáo (không nhớ nguyên văn) trong một tạp chí nhỏ y khoa cho sinh viên mới nhập học rằng y khoa là một thương nghiệp (business). Khuyến cáo này đã được thi hành trong thực tế. Bởi thế thống kê cho thấy chi phí cho ngành chăm sóc sức khỏe quần chúng ở Hoa kỳ cao hạng nhất thế giới nhưng kết quả thì ở dưới thấp, thua nhiều nước có chi phí y tế ít hơn.
Phải thú nhận rằng tôi đứng ra thúc đẩy sinh viên Y khoa thành lập tờ nguyệt san Thông Xanh mặc dầu là đã ra trường và học xong lớp huấn luyện quân sự một tháng ở trung tâm huấn luyện Quang Trung cho các bác sĩ trưng tập dân y, đeo lon trung úy chờ ngày đi nhận nhiệm sở ở Kontum, là vì nhiệt tình của một kẻ hăng say mới vào đời muốn duy trì tinh thần tranh đấu dài ngày cho gia đình sinh viên y khoa. Khác với sự làm đặc san của các trường khác là chuyện nhất thời để thỏa mãn nhu cầu viết lách cá nhân. Tôi nói gia đình vì đã thâm cảm những lời mở đầu bài cơ thể học thứ nhất của vị giáo sư tài danh Nguyễn Hữu mà tôi kính mến. Ông nói khi đã vào trường y khoa thì như trong một gia đình. Người đi trước là anh người đi sau là em nâng đỡ hướng dẫn nhau…
Nhiệt tình đã bùng lên vì bị kích thích bởi những luận cứ báo chí ngoại quốc - và truyền thông VN a tòng theo đó, loan đi rằng ông Ngô đình Diệm gia đình trị và tham nhũng thối nát, bà Ngô đình Nhu lộng quyền và đồi trụy, trấn áp Phật giáo. (Nghĩ cho cùng theo như truyền thống Việt Nam con người nếu không tin tưởng và dựa vào gia đình thì tin ai và dưa vão đâu). Bằng cớ trước mắt là thượng tọa Thích quảng Đức mà tôi cũng như quần chúng đa số chẳng biết là ai được xe hơi chở tới cho ngồi bất động giữa đường Thái lập Thành chỗ gần tòa đại sứ Cao mên. Rồi có người đến châm lửa vào áo vàng ướt đẫm săng bùng cháy. Truyền thông gọi là Sư “tự thiêu” phản đối đàn áp Phật giáo. Còn bà Nhu lúc đó đang công du ở Mỹ hồ đồ khinh miệt gọi chuyện đó là một vụ "barbecue". Mặt khác cũng hy vọng chuyện sinh viên ồn ào ủng hộ đảo chính sẽ có hệ quả (nhỏ thôi) là khiến giáo sư Trần đình Đệ giám đốc trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia kiêm Bộ Trưởng Y Tế bớt tác phong quan liêu khó chịu: Trong buổi khám bệnh hàng tuần thì ông khệnh khạng đi trước, vây quanh bởi mấy nữ hộ sinh cao cấp huấn luyện viên thân cận, rồi mới đến các bác sĩ phụ tá và nội trú với sinh viên. Không ngờ là chuyện hy vọng mơ hồ đó đã xẩy ra đúng như thế. Sau cuộc đảo chính giáo sư Đệ ngoài chuyện mất chức bộ trưởng là vì dính đến chính trị còn bị văng ra khỏi ban giảng huấn trường Y khoa sang tận Phi châu trú ngụ nhiều năm rồi mới âm thầm trở lại sống ở vùng Virginia/Maryland Hoa kỳ nơi nhiều người Việt trung lưu khá giả và các quan chức VNCH sau tháng 4/1975 cư ngụ, cho đến khi từ trần. Tôi chỉ còn biết chép miệng “đời có số”. Nhưng cũng thấm thía rằng còn có yếu tố nhân quả, với duyên: Trường Y Khoa không chỉ có một giáo sư Trần đình Đệ tham chính mà còn có các giáo sư khác làm bộ trưởng mà chẳng hề hấn gì trong những vụ đổi thay to lớn tương tự như 1 tháng 11/1963
**
Đúng ngày 1 tháng 11/1963 là ngày chấm dứt khóa học 1 tháng quân sự cho các bác sĩ dân y trưng tập trong đó có tôi ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung mà Chỉ Huy Trưởng là tướng Mai Hữu Xuân. Trung tâm mở một tiệc trà khoản đãi các học viên, có tướng Xuân tới tham dự lúc khoảng 11 giờ trưa. Sau ít phút, Tướng Xuân từ biệt. Đang cùng các bạn đồng nghiệp ăn bữa trưa cuối cùng của trung tâm dọn ra trước khi xuất trại thì tôi nghe thấy những tiếng súng nổ bất thường ở phía Sài gòn của cuộc Đảo Chánh (thứ hai) thành công lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng hòa đã dầy công 9 năm xây dựng được một Miền Nam ổn định thịnh vượng xóa bỏ mọi vết tích của thời Nam Kỳ Tự Trị thuộc Pháp.
Chứng kiến cuộc chấm dứt một chế độ 9 năm đã xây dựng nên một miền Nam ổn định bất giác tôi không khỏi nghĩ đến những ngày đầu ở tuổi đủ lớn khôn (18 tuổi) để nhớ rõ giai đoạn chông chênh chuyển tiếp từ vô cùng xáo trộn mọi loại đến yên bình thật sự của Miền Nam. Tôi đã lần đầu tiên được đi máy bay quân sự DC3 chở gia đình lực lượng Bảo An nho nhỏ độc nhất ủng hộ Thủ Tướng Diệm, từ phi trường Gia Lâm trời còn mờ tối một ngày hạ tuần tháng 7/1954. Phong phanh mặc áo sơ mi với quần short. Khi máy bay lên cao phải chịu lạnh hơn 4 tiếng đồng hồ trên trời để sau cùng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt ấm áp như chưa từng thấy và được đưa tới một chỗ tạm trú ở Bình Đông (hay Bình Tây?), Miền Nam. Ngày tết đầu tiên khi tình hình Sài gòn Chợ Lớn thực sự ổn định khoảng 1955-1956, nhà sản xuất phim ảnh Mỹ Joseph Leo Mankiewicz đã đến Sài gòn, dùng công trường trước chợ Bến Thành làm hậu cảnh quay phim. Hai anh em, là Trần xuân Dũng và tôi đã đến xem để biết các tài tử nam nữ đóng phim như thế nào. Thất vọng, vì chỉ thấy máy quay phim và đèn rọi sáng choang. Trong cơn thất vọng đó thì hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu cũng đi xem chợ Bến Thành ngày tết, trong đám đông tình cờ đến ngay cạnh anh em tôi, chẳng thấy có hộ vệ súng ống gì cả. Từ bấy đến nay ở nước Mỹ phồn thịnh tự do tổng cộng trước sau hơn nửa thế kỷ, chưa bao giờ tôi có được ấn tượng yên bình thoải mái như thế. Nhưng quy luật trời đất vốn hữu hình thì hữu hoại: Sau cuộc đảo chính 1 tháng 11/1963 tôi đã nhìn thấy hình hai ông Diệm và Nhu nằm chết trên vũng máu trong chiếc xe M113 ngày 2 tháng 11/1963.
Về cái kết thúc bi thảm này, nhiều năm sau đã có những diễn giải khác nhau từ mọi phía, kể cả từ phía kẻ chủ chốt là Mỹ, với đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. Sang tới Việt Nam Lodge Jr. lập tức diễn tuồng đội khăn đóng mặc áo dài đi thăm dân các tỉnh mua lòng dân chúng. Bên cạnh đó là những sự kiện không mấy ai để ý trong đám tướng tá khác. Như Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa trong chi đội xe M113 đi bắt hai ông Diệm và Nhu dưới sự điều động của Tướng Mai Hữu Xuân, sau này sang Mỹ cư trú ở một tiểu bang nhỏ vắng vẻ, yên lặng xuất gia đi tu…
Đến đây thì tôi bật nhớ lại hồi học Chu Văn An Hà nội câu nói của giáo sư Nguyễn Ngọc Cư dậy Việt văn và triết (cụ có cái cục u to sau gáy gần bằng quả cam nên bọn học trò gọi là cụ Cư bướu): Người là chó sói cho người (l’homme, c’est le loup de l’homme).
Trần Xuân Ninh (ngày 29 tháng 9/2026)
(1)Theo Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, cuộc đời con người được chia thành 6 giai đoạn phát triển gắn liền với sự trưởng thành:
15 tuổi (Thập hữu ngũ nhi chí vu học): Để hết tâm trí vào việc học tập, xác định chí hướng và tu dưỡng bản thân.
30 tuổi (Tam thập nhi lập): Vững vàng, tự lập và có chỗ đứng trong xã hội.
40 tuổi (Tứ thập nhi bất hoặc): Trí tuệ mở mang, thấu hiểu sự đời và không còn hoài nghi, mê hoặc trước mọi việc.
50 tuổi (Ngũ thập tri thiên mệnh): Hiểu rõ quy luật của tự nhiên và mệnh trời, biết rõ sứ mệnh của mình trong cuộc đời.
60 tuổi (Lục thập nhi nhĩ thuận): Nghe hiểu mọi chuyện, phán đoán sự việc thông suốt, lòng êm ái và không còn thấy khó chịu hay bực mình trước những lời trái tai.
70 tuổi (Thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ): Đạt đến cảnh giới tự do tâm tính, làm theo mong muốn của bản thân nhưng vẫn tự giác hòa hợp và không vượt quá khuôn phép đạo lý.
**++**
Đúng ngày đảo chánh là ngày tôi vừa cùng các bác sĩ dân y đồng khóa học xong một tháng quân sự ở Tung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Bế mạc huấn luyện là 11 giờ sáng 1 tháng 11/1963 có một tiệc trà mà ông Tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy trưởng trung tâm tới dự. Sau khi ông Xuân ra đi, lúc chúng tôi bắt đầu bữa ăn cơm trưa cuối cùng của khóa huấn luyện thì thấy có tiếng súng nổ phía Sàigon. Thế là cuộc đảo chánh (thứ hai) lật đổ ông Diệm mà dư luận lúc đó gọi là cuộc cách mạng 1 tháng 11 xẩy ra thành công chấm dứt chế độ đệ nhất VNCH sau 9 năm yên bình ổn định và miền Nam phát triển xóa hẳn những dấu tích một Sài gòn thuộc Pháp. Điều trớ trêu là tôi (tuy bị động, như ếch bị bỏ rọ) ở trong đơn vị của vị tướng quan trọng lúc xẩy ra đảo chính!
**++**
GIANG.. VÀ NHỮNG TÔ PHỞ KHÔNG KỂ HẾT CHUYỆN ĐỜI (Phạm Sơn Liêm)
Westminster không chỉ là nơi người Việt đến để ăn phở.
Đó còn là nơi người Việt mang theo quá khứ của mình.
Người thành công mang theo những ngày nghèo khó.
Người thất bại mang theo những ngày từng hy vọng.
Người già mang theo quê hương.
Người trẻ mang theo một quê hương mà đôi khi chính họ chưa từng biết.
Và những người muốn quên…cũng mang theo một phần ký ức mà họ tưởng mình đã bỏ lại.
Giang chỉ là người đứng trong một tiệm phở. Nhưng mỗi ngày, anh nhìn thấy cả một cộng đồng đi ngang qua đời mình.
Họ đến. Gọi một tô phở. Ngồi xuống. Ăn. Rồi đứng lên. Ra về.
Có người để lại tiền tip.
Có người để lại một câu chuyện.
Có người chẳng để lại gì.
Nhưng Giang biết…
Mỗi người bước ra khỏi cánh cửa ấy đều mang theo một câu chuyện riêng.
Và có những câu chuyện…cả đời họ cũng không thể kể hết.
Read moreEm Tôi (Phan Nhật Nam)
Năm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.
Read moreNhững Chiếc Giày Bên Bờ Sông Danube ( Nguyễn Văn Tới)
Budapest, mùa đông năm 1944. Khi cơn gió rét mướt từ phương Bắc thổi về, len lỏi qua những mái nhà cổ kính của thành phố hiền hòa, khiến khách bộ hành ngại ngùng khi bước ra đường. Dòng sông Danube hiền hòa biến thành một dải băng xanh thẫm lạnh giá, nằm im lìm ngủ đông. Nhưng cái lạnh của đất trời chẳng là gì so với bầu không khí khủng bố đang bao trùm lên những khu phố Do Thái.
Trong căn hầm tối tăm và ẩm ướt của khu tập trung, cô bé Hanna, bảy tuổi, đang ngồi thu mình trong lòng mẹ. Hanna có đôi mắt to tròn, trong veo như bầu trời mùa thu và mái tóc xoăn màu hạt dẻ. Em không hiểu tại sao thế giới bên ngoài lại tràn ngập tiếng súng, và tại sao những người đàn ông mang băng tay đỏ có hình chữ thập ngược, lại nhìn gia đình em bằng ánh mắt căm thù đến vậy.
Read moreĐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI BẠN CVA, MỘT CHIẾN HỮU & MỘT NGƯỜI HÙNG (NHH)
Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (1943-1975). Cựu học sinh Chu văn An, chức vụ sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 43 Ngăn Chận tại Tuyên Nhơn.
Ngày 30/4/75, sau khi nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng, Thiếu Tá Lê Anh Tuấn đã chở đồng bào tị nạn Cộng Sản tới nơi an toàn rồi trong đêm hôm đó, anh đã dùng súng Colt bắn vào đầu tự sát
Năm 1997, gia đình và bè bạn đã về Việt Nam tìm thi hài Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, được dân chúng chôn cất và săn sóc tử tế, đào lên thì thấy hài cốt nguyên vẹn cùng với thẻ căn cước quân nhân, thẻ bài, chứng chỉ tại ngũ và thẻ sinh viên năm thứ 4 Luật Khoa, tất cả được bọc cẩn thận trong bao plastic. Hiện tro cốt được mang về Mỹ, đặt tại chuà Giác Minh, San Jose, California
Bà cụ thân mẫu Thiếu Tá Tuấn năm nay vừa đúng 99 tuổi vẫn hàng đêm cầu nguyện cho người con trai ra đi khi chưa có gia đình.
***
Phần 1: Tình Bạn, Tình Chiến Hữu
Các Bạn,
Hôm nay ngồi trên máy bay lâu quá, nên tôi chợt nhớ ra một món nợ đối với các bạn là phải viết về Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, cựu học sinh Chu Văn An, một người đàn anh khả kính và khả ái, cũng là người bạn quân ngũ, đã từng cứu mạng tôi mấy lần.
Trước khi vào truyện, để các bạn có một ý niệm khái quát về Lê Anh Tuấn, xin đọc những vần thơ dưới đây cuả một nhà thơ Quân Đội:
"Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi Hành Quân mà ... rượu đế cũng đeo theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo,
Xem chiến cuộc là Tai Trời, ách nước
Ta bắn trúng ngươi, chỉ vì ngươi bạc phước
Là số phần cuả ngươi đó, ngươi ơi "
Theo ý tôi, đây có thể là những vần thơ mô tả rõ nét nhất con người Lê Anh Tuấn.
Trong chiến tranh Việt Nam, có ba tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, vì lý do địa dư, nằm ngay trên đường tiếp tế cuả Việt cộng, từ mật khu Mỏ Vẹt xuống, qua những kinh rạch chằng chịt đổ ra 2 con sông Vàm cỏ, do đó "Tam Kiến" (Kiến Hoà, Kiến Phong và Kiến Tường) là những địa danh chiến sự luôn luôn bùng nổ dữ dội nhất.
Kiến Hoà nằm trong phạm vi hoạt động cuả Sư Đoàn 7, tôi thuộc Sư Đoàn 9, nên xuôi ngược hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường không biết bao nhiêu lần. Những địa danh như "Bót 23”, Mỹ An, Mộc Hóa, Hậu Mỹ, Tuyên Bình và Tuyên Nhơn vẫn mãi mãi nằm trong ký ức của tôi.
Thời gian đã hơn 30 năm trôi qua là quá ... dài đối với mạng sống và trí nhớ cuả một quân nhân, nhưng chưa đủ dài đối với các nhân vật trong truyện, cho nên, dù những đoạn viết này phản ảnh hoàn toàn sự thật, nhưng sự thật nhiều khi rất .... "sống sượng", nên đã được "Tiểu Thuyết hóa" đi một chút.
Tôi sẽ không phổ biến rộng rãi truyện này. Những ai tình cờ đọc được, nếu có "động lòng" thì xin vui lòng xem đây là "Tiểu Thuyết".
Tôi chỉ viết ra để vinh danh một người bạn, một người anh hùng, dám hy sinh mạng sống cuả mình để bảo tồn danh dự.. Vì thế tôi sẽ không trả lời bất cứ thắc mắc nào, nếu có, cuả qúy vị đâu.
Những dòng chữ dưới đây ghi lại những kỷ niệm cuả một thời quá khứ, nên chắc cũng chẳng hay ho gì. Các bạn cứ việc phê bình, góp ý sửa đổi hoặc vứt đi cũng được, chẳng có gì phiền hà.
***
Tôi gập Thiếu Tá Tuấn lần đầu tiên là vào mùa mưa năm 1973 tại Tuyên Nhơn. Sở dĩ tôi nhớ rất rõ là vì ở vùng này, sau những cơn mưa đầu muà, người lính trận rất khó di chuyển, mỗi bước đi mang theo cả tảng đất phèn, to gấp ba đôi giầy ... đó là chưa kể nước phèn luôn luôn...’hành hạ’ đôi bàn chân.
Vưà nhảy xuống khỏi trực thăng, tôi thấy một Sĩ Quan trong bộ áo bà ba mầu đen, loại "thường phục" mà các Sĩ Quan hay mặc mỗi khi không đi hành quân, đứng đón sẵn ở dưới chân máy bay, với một cây gậy tre dùng để chống mỗi khi di chuyển trên đất bùn, với khuôn mặt sáng suả và nụ cười cuả trẻ thơ.
Trưóc mắt tôi là một thanh niên có nước da ngăm ngăm, vẻ mặt mỏi mệt nhưng ánh mắt sáng rực trong đôi kính cận thị, trông rất trí thức. Tôi mở lời chào xã giao:
"Thiếu Tá trông đẹp trai và Thư sinh quá!"
Câu trả lời cuả anh Tuấn kèm theo một nụ cười hiền hậu nhưng rất tươi:
"Ông Bác sĩ là dân Chu Văn An phải không?"
"Sao Thiếu Tá biết?"
"Ối ... giời ơi, cứ nghe cái giọng Bắc Kỳ và kiểu cách cuả ông là biết ngay chứ thế nào nữa"
"Thế Thiếu Tá đứng đây đón tôi đấy à ?"
"Tôi có đón ông đâu, tôi đứng đón... gói bún gửi mua từ Cao Lãnh ! Lát nữa sang tôi nhé. Ông may lắm, ông Trung sĩ Nghĩa cuả tôi đánh tiết canh và nấu bún sáo vịt... ‘hết xảy’.
Anh trao cho tôi cây gậy tre và nói:
"Ông dùng cái này, mùa này đường rất trơn, coi chừng té, tôi quen rồi"
Mấy năm lặn lội trên đường hành quân cho tôi một bài học kinh nghiệm là nếu đã nhận ra nhau là... dân Chu Văn An thì chẳng còn khoảng cách nào về Binh chủng, cấp bậc hay đơn vị gì nữa, nên từ đoạn này trở xuống, tôi chỉ xin viết là Anh Tuấn cho thân mật, vì kể từ sau buổi gập gỡ đó, chúng tôi chỉ xưng hô với nhau bằng Anh-Tôi, Ông-Tôi có khi là Cụ với Tôi hoặc Toa-Moa , tùy theo từng hoàn cảnh.
Tháng 6/1973, Mặt Trận Tuyên Nhơn khá nặng. Cứ nhìn hàng rào kẽm gai phòng thủ dầy đặc và ban đêm, pháo binh thường chiã thẳng nòng súng sang bên kia sông để có thể bắn trực xạ, sẳn sàng đối phó với chiến thuật biển người cuả Việt Cộng là biết ngay.
Anh Tuấn nói với Ông Trung Đoàn Trưởng cuả tôi:
"Thưa Đại Tá, Ông Bác Sĩ này là một bạn học cũ cuả tôi, xin phép Đại Tá cho ông ấy sang ở chỗ chúng tôi để nói chuyện chơi, cả chục năm rồi không gặp"
Rồi anh ghé tai tôi:
"Ông chẳng biết gì về quân sự, sang tôi cho... chắc ăn, lỡ chúng nó có "tapis" còn biết đường mà chạy!"
Lần gặp gỡ đầu tiên cuả hai cựu hoc sinh Chu Văn An giản dị và... dễ dàng như thế!
Giản dị như... con người Lê Anh Tuấn và dễ dàng... còn hơn đi tìm những thứ lỉnh kỉnh như: bún, măng khô, húng quế và đậu phộng... để nấu một món ăn thuần tuý Bắc Kỳ.
Là một người lính, tôi cũng không khỏi có chút "dị đoan"
"Anh Tuấn ơi, tôi nghe nói ở ngoài mặt trận, rất... kỵ ăn thịt vịt, anh không tin à?"
Thiếu Tá Tuấn trả lời rất tự nhiên:
"Ồ, may thì đạn nó tránh mình chứ mình có tránh được đạn đâu mà phải lo ! Cụ nói thế không sợ mấy ông chủ lò bún họ kiện cho à?"
Cái tính ... vui vẻ, tàng tàng rất Chu Văn An cuả Anh Tuấn khiến chúng tôi trở thành bạn thân rất nhanh, làm tôi quên hẳn chuyện ăn thịt vịt... hên hay sui.
Sở dĩ tôi phải viết lan man vài chuyện "bên lề" xẩy ra trước đó để các bạn thấy được phần nào cá tính cuả Lê Anh Tuấn.
Bạch Hạc và Phụng Nghi
Chuyện này xảy ra trước khi tôi gập Lê Anh Tuấn khoảng sáu tháng.
Hôm đó là ngày 30 Tết Âm Lịch, 1973. Ngày đầu tiên thi hành Hiệp Định Paris. Trung đoàn tôi vừa đổ quân xuống Mỹ An, Đồng Tháp Mười đêm hôm trước thì sáng mồng Một Tết, nhận được lệnh:
"Gửi Bác sĩ ra Bộ Chỉ Huy Tiền Phương gấp"
Ông Trung Đoàn Trưỏng cuả tôi lúc đó đang chờ Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm đi làm Tỉnh Trưởng nên đối xử khá "tế nhị" với cấp trên, mặc dù mặt trận đang bùng nổ lớn, tôi được trực thăng Hồng Thập Tự bốc ngay ra Bộ Chỉ Huy Tiền Phương lúc đó đang đóng ở Cao Lãnh, một nơi rất an toàn cuả Biệt khu.
Cả hai ông Tư Lệnh Biệt khu và Tư Lệnh Phó Sư Đoàn đều đang ở đó.
Hai ông này đều rất... oai, vì nghe đâu có họ hàng với Tổng Thống.
Đón tôi là ông Tư Lệnh Phó, rất vui vẻ và cởi mở, ghé vào tai tôi:
"Ê, Toa giúp Moa "Lên...Gà" một chút được không?"
Bộ Tư Lệnh Tiền Phương ở sát bên Bệnh Viện Tiểu Khu, nên thiếu gì Bác Sĩ lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm và giỏi hơn tôi, nhưng lý do hai vị này cho gọi tôi có lẽ là vì không muốn người khác biết, nhưng quan trọng hơn là vì tôi có hai bài thuốc ‘gia truyền’ rất công hiệu:
Một là "Thuận Khí" và Hai là "Cường Dương Đại Bổ" của Vua...Minh Mạng!
"Night Seven, Day Three, In, Out ... No Count!"
Lúc đó vì chưa có Viagra nên nhờ sở hữu hai Bài thuốc này mà tôi rất có ... "uy tín". Dĩ nhiên là một quân nhân, tôi luôn luôn phải theo yêu cầu của cấp trên.
Sau đó, tôi được dẫn vào... "Hậu Viên" để gập hai cô... trông còn rất trẻ và rất quen mặt, dường như tôi đã gập nhiều lần mà không nhớ ở đâu. Cả hai nàng đều trang điểm son phấn rất kỹ nhưng trông vẫn không được… đẹp lắm vì cả hai đều đang... "nhăn nhó".
Tôi đang cố suy nghĩ xem là ai, thì một cô nói:
"Bác sĩ không biết em là ai à? Em là Bạch Hạc, còn kia là con nhỏ Phụng Nghi"
Đến lúc đó, tôi mới nhận ra là mình hân hạnh được gập hai "Cải Lương Chi Bảo" cùng một lúc!
"Thế hai cô cần tôi có việc gì ?"
"Em đang bị…’kẹt,’ còn con Phụng Nghi thì đang... tiêu chảy"
Chữa bệnh như cứu hoả! Tôi tức tốc sử dụng xe Jeep cuả Bộ Tư Lệnh phóng ngay ra tiệm Thuốc Bắc để cắt toa thuốc... Vua Minh Mạng, rồi sang Bệnh Viện Tiểu Khu lấy thuốc và nước biển cho Phụng Nghi..
Còn cái vụ... "kẹt" cuả Bạch Hạc thì thú thật, tôi cũng chẳng biết chữa ra sao ! mà cũng chẳng muốn khám nữa.
Điều đặc biệt là vào thời điểm đó, ngoại trừ ở ngoài mặt trận thì không kể, chứ nếu ở Hậu cứ, mỗi khi muốn dùng một chai nước biển, phải ký cả chục thứ giấy tờ, thế mà khi tôi sang đến Bệnh Viện Tiểu Khu thì kho Y dược đã được mở sẵn, muốn lấy gì thì lấy.
Ai dám bảo là đàn bà... bị các ông lấn quyền ?
Suốt cả đêm đó, tôi ngồi chơi Mạt Chược với hai ông Tư Lệnh ! Bạch Hạc thì đánh Tứ sắc với các bà... "tai to mặt lớn" trong Tỉnh, 50 đồng một "lệnh". Bạn nào biết đánh Tứ sắc thì chắc phải biết... ăn thua lớn cở nào.
Riêng tôi thì cứ phải chạy ra, chạy vào để coi chừng chai nước biển cuả Phụng Nghi, và xem cô nàng... "cầm" chưa
Mạt chược là thứ mà tôi bắt đầu chơi từ lúc 10 tuổi nên rất ít khi thua. Nhưng hôm đó lại thua và... thua đậm ! Chẳng hiểu lỗi tại Bạch Hạc hay Phụng Nghi?
Sau hai hôm thì bệnh tình cuả hai "Cải Lương Chi Bảo" đã hết hẳn và toa thuốc... Vua Minh Mạng chắc đã có hiệu lực, nên tôi bèn chào từ giã hai cô để trở về đơn vị tác chiến bằng Trực thăng riêng !
Trước khi ra cửa, Bạch Hạc còn khen tôi:
"Ông Bác sĩ còn trẻ và... đẹp trai quá ... "chời!"
Rồi cô dúi vào tay tôi 30 ngàn và 2 tấm vé xem Cải Lương đặc biệt, có con dấu mầu đỏ, cuả 2 đoàn Cải Lương nổi tiếng nhất Saigon thời đó, muốn vào coi lúc nào cũng được.
Cô ta còn dặn thêm:
"Sau này, Bác sĩ gập bất cứ chuyện gì... kẹt, thì cứ kêu em"
Tôi đang ngần ngại chưa chịu nhận thì cô nói thêm:
"Bác sĩ đừng lo, con Phụng Nghi này nó kiếm mỗi tuần nửa triệu. Ông mà chịu đi coi Cải Lương, nó sẽ... làm mai cho ông cả đám... ĐÀO trẻ đẹp"
"Why not?" Tôi bèn cầm gói quà về, nhưng vì tự ái của tuổi trẻ, còn cố chống chế thêm:
"Tôi nhận món qùa này chỉ vì cô là người... đầu tiên khen tôi... đẹp "chai"
Ba chục ngàn lúc đó là gần bằng một tháng lương cuả tôi, nhưng cũng chẳng có gì là lớn, chỉ một hai lần đãi bạn bè đi nhậu là hết... rồi về đơn vị ăn cơm "nhà bàn" tiếp.
Nhưng 2 cái vé Cải Lương thì lại là một..."thiên tình sử"
Số là lúc đó, tôi có quen một cô nữ sinh Gia Long, gia đình thuộc loại:
"Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn giòng lá thắm, dứt đường chim xanh"
"Cuộc tình lên cao vút"! Nhưng chỉ khổ một nỗi là bà mẹ Nam Kỳ cuả cô ta lại có máu... kỳ thị !!!,"Những ánh mắt Hỏa Châu" cuả bà luôn luôn nhìn dân Bắc Kỳ, nhất là Bắc Kỳ Chu Văn An, là những người thuộc thành phần "Tiết Hạnh Khả...Nghi !"
Nhưng may quá, bà lại có máu... mê Cải Lương, nay thấy tôi đưa hai tay kính cẩn dâng 2 tấm vé Cải Lương... "free" cuả hai Đại Đoàn Dạ Lý Hương và Hương Mùa Thu, thì rất là hài lòng với thằng con trai Bắc Kỳ... biết điều, và ánh mắt có dịu đi một chút !
Tuy nhiên, vì tính cẩn thận cuả một bà... Hiền Mẫu, mỗi lần đi coi Cải Lương bà lại bắt cả cô con gái cưng và tôi... đi theo !
Chưa bao giờ trong đời tôi lại... túng tiền đến thế, vì mỗi lần tháp tùng lại phải mua 2 vé hạng nhất, để bà hiền mẫu này kiểm soát... song phương !
Bà còn cẩn thận ngồi chính giữa, để hai... đứa nhỏ ngồi hai bên, thành ra khoảng cách của một cái ghế chưa tới một mét thấy còn xa hơn cả... Vạn Lý Trường Thành !
Trong bóng tối cuả rạp Cải Lương, "Ngưu Lang - Chức nữ " chỉ được "lặng lẽ nhìn nhau...không nói một câu"
Sau mấy tháng nhịn ăn để coi hát như thế, "credit" cuả tôi được nâng cao đôi chút... biểu lộ bằng cách cho cô nàng... ngồi giữa, tôi một bên, bà mẹ một bên.
Nhưng đến lúc đó mới thật là....khốn khổ, vì đến lượt cô nàng mê Cảỉ Lương !
Cứ mỗi lần tôi đưa tay định nắm thì chỉ thấy cô ta cầm khăn tay.... ướt đẫm, lau nước mắt !
May mắn nhất trong đời tôi nhờ là học sinh Chu Văn An, chứ không đã ghi tên theo học Vọng Cổ... để trở thành mầm non, chuẩn bị thay thế Hùng Cường và Thành Được ! Nhưng cũng có thể vì thế mà nền Cải Lương Việt Nam lại mất đi một nhân tài !
Mối tình tuyệt đẹp kết thúc:
"Thôi là hết...em đi đường em" chỉ vì 2 vé hát Cải Lương.
Cá tính của một người CVA
Đóng chung căn cứ Tuyên Nhơn với Anh Tuấn, tôi thường ăn chung và kéo thêm một giường ngủ ở chung phòng. Khi tôi kể câu chuyện.... bi hài này cho anh nghe, chỉ thấy anh nhăn mặt:
"Các "cha nội" mà cứ làm như thế thì... hỏng rồi ! Quân Đội đâu được quyền lạm dụng như thế. Lần sau mà có chuyện tương tự như vậy xảy ra, ông cứ cho tôi biết"
Lời nói vẫn rất nhẹ nhàng, nhưng đó là cách biểu lộ sự bất bình lớn nhất cuả anh Tuấn.
Lúc đó và mãi đến về sau này, tôi cũng không hề biết anh có một ông anh ruột là... Trung Tướng, vì chẳng bao giờ thấy anh đề cập tới, nhưng kể từ khi chúng tôi trở thành bạn thân thiết thì tôi có cảm giác là các cấp chỉ huy có vẻ ...nể vì tôi hơn một chút.
Tôi bắt đầu "khoái" anh Tuấn và Hải Quân từ ngày đó. Binh chủng này thật lạ. Đến giờ ăn cơm là các ông phục vụ dọn bàn, khăn ăn, muỗng, đũa rất ngay hàng thẳng lối. Các Sĩ Quan phải chờ vị Sĩ Quan cao cấp nhất theo thứ tự ngồi xuống rồi mới trịnh trọng bưng mâm cơm lên, gồm vài... quả cà với một hũ mắm tôm !!! dăm bẩy con cá khô nướng và vài lát thịt hộp, trông cứ lịch sự như...Tây
Quanh năm suốt tháng ăn uống "thịnh soạn" cỡ này, tôi biết chắc chắn là không hề có tham nhũng ở Giang Đoàn 43 cuả Thiếu Tá Tuấn.
Một lần sau bữa cơm tối, anh Tuấn cho đem ra một chai Johnny Walker mà anh nói là quà tặng từ thời Cố vấn Mỹ, mời tôi uống.
Uống rượu với ông này chán lắm! vì ông ấy cứ tợp vài hớp là lại chạy ra, chạy vào kiểm soát thứ nọ, thứ kia và rượu Whisky mà lại đi pha với nước ... xá xị con Cọp thì chẳng còn mùi vị gì cả.
Nhưng đây chính là sự khác biệt giữa anh Tuấn và tôi. Tôi uống rượu để ngủ, còn ông ấy uống rượu để... thức ! Nước xá xị mầu nâu đậm nên có rót rượu ít đi một chút thì cũng không ai biết, nhưng lại làm cho "đối thủ" rất dễ say. Chẳng phải anh Tuấn muốn ăn gian, nhưng vui bạn bè mà vẫn phải lo nhiệm vụ. Tuy nhiên anh ấy vẫn được tặng biệt danh 'Ông Cọp', mặc dù hiền khô.
Trong lúc ngà ngà say, anh có tâm sự với tôi là sau khi tốt nghiệp Trung học, anh cũng có ý định học Y khoa, nhưng vì thời cuộc, thấy trách nhiệm cuả thanh niên thời chiến quan trọng hơn nên đã quyết định gia nhập Hải Quân, vì thế anh rất thích nghe tôi kể những chuyện liên quan tới ngành Y khoa. Khi nghe tôi kể chuyện về Bạch Hạc và Phụng Nghi, anh nói với tôi, nửa đùa, nửa thật:
"Lần sau mà có vị nào đòi hỏi như thế nữa, ông nhớ "bàn giao" cho tôi. Tôi sẽ thay ông chữa bệnh cho hai... Bà Nội này, bảo đảm không ai dám kêu ông nữa đâu"
"Còn về mối tình ... Cải Lương cuả ông, thoát được cô ta thì nên lắm. Đời lính sống nay chết mai, vướng bận làm gì, nếu sống sót, vài chục năm nữa, có gập lại cô ta, ông sẽ thấy ông may mắn lắm đấy"
Vả lại "Thương Nữ bất tri Vong Quốc hận", các cụ nói chớ có sai đâu !
Anh Tuấn còn nói thêm
"Gia đình tôi cũng thế, bà mẹ tôi mà biết con trai theo nghề...Cải Lương thì dù có mang... vài chục đứa cháu nội về "Từ Thứ...quy Tào" chắc cũng chẳng ăn thua gì"
Tình cờ năm ngoái tôi gập lại "người tình.... Gia Long" cuả năm xưa, bây giờ đã "em tay bế, tay bồng" mà vẫn hát Cải Lương, trông chán lắm!
Đây là lần thứ nhất anh Tuấn "cứu mạng" tôi, vì nếu không có lời khuyên này chắc các con tôi bây giờ cũng... ca Vọng Cổ rất mùi.
"Chỉ có mỗi một điều đáng tiếc là nếu ông trở thành kép Cải Lương, biết đâu sau này khi cuộc chiến tàn, tôi sẽ giúp ông "kéo.. màn"! Nhưng nói đùa thế thôi chứ anh em mình là lính tráng, hơi đâu mà nghĩ quá xa: "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" phải không cụ? Tôi ước vọng khi hoà bình trở lại sẽ đi dạy học, chứ làm kép "kéo màn" thì còn gì là... gia phong Chu Văn An !
Đây là lần đầu tiên tôi thấy tuy là nói đùa mà trong ánh mắt anh thoáng một chút suy tư.
Nhưng cũng chẳng biết tai sao mà sau bữa tiệc rượu đó mà tôi lại mang biệt danh được "mã hóa" mỗi khi liên lạc qua máy truyền tin PC 25 là..."Ông Xếp Bông Gòn Bạch Tuyết", hoặc có khi thân mật hơn, mỗi khi anh Tuấn nhờ lính mời tôi sang chơi:
"Mày sang Ông Trùm...Băng Vệ Sinh", mời ông ấy sang đây uống bia"
Tôi thích "biệt danh" này vô cùng ! Ông CVA Lê Anh Tuấn đã tặng cho tôi một biệt danh vừa "trinh bạch", vừa ... "hợp vệ sinh" lại có chỗ đứng "khiêm tốn" nhất trong lòng quần....chúng phụ nữ.
Câu chuyện vui đùa giữa hai người bạn cứ kéo dài như thế cho đến khi tôi say hẳn, trước khi đi vào giấc ngủ, tôi còn nhớ mang máng anh Tuấn có kêu Trung sĩ Nghĩa, một ông Trung sĩ già Bắc Kỳ Công Giáo "ri...cư", một con người chất phác, hết sức trung thành và có tinh thần chống Cộng quyết liệt !
"Ông Nghiã ơi, sáng mai ông sang Chợ Quận mua cho tôi một gói Băng Vệ Sinh Bạch Tuyết và 2 cái nút chai nhé !.. để tôi tặng ông Bác sĩ, chỉ cho ông ấy cách chữa bệnh"
Chợ Quận có một depot pharmacie, cô chủ là người "Sè...ghềnh", còn rất trẻ và dĩ nhiên nhan sắc vượt trội so với người dân...nông thôn. Cô có tình cảm "thắm thiết" với Thiếu Tá Tuấn, đến nỗi không chịu về Sài gòn nữa..
Tuy nhiên "Love story" này thuộc về đoạn sau.
Sáng hôm sau, nhân có chuyến bay, tôi được phép về thăm gia đình vài ngày và vì vội vã, cũng không để ý là có "gói quà" đặc biêt này cuả anh Tuấn mà ông Trung sĩ Nghiã, một con người thật thà... "như đếm", theo lệnh cấp chỉ huy đã tống vào trong ba-lô.
Về đến nhà, vừa trút quần áo là tôi chạy ngay vào buồng tắm, tẩy bớt đất bùn cuả vùng hành quân ! Khi tắm xong, định thay quần áo mới đi bát phố thì thấy bà mẹ và bà chị tôi đang xầm xì thảo luận với vẻ rất nghiêm trọng:
"Mẹ mừng nhé ! Thế là bà sắp có cháu nội rồi đấy. Em ơi, khi nào em định đem cô "Hoa khôi Miệt Vườn" về ra mắt mẹ và chị đây ?"
Bà mẹ tôi thì tỏ ra rất... phân vân:
"Cô nói sao ấy, chứ "nó" còn đeo...Bông gòn Bạch Tuyết thì làm sao tôi đã có cháu nội được? Nhưng tôi không biết nó dùng hai...cái nút chai để lam gì nhỉ ?
Hóa ra bà mẹ tôi hay có thói quen "kiểm soát" ba-lô cuả con mỗi khi về phép, và đã khám phá ra trong đó có... một hộp Băng Vệ sinh và... hai cái nút chai ! do ông Trung sĩ Nghiã để vào, nhất định cho là qùa tặng cuả Thiếu Tá Tuấn.
"Oan ơi Ông Đia" hồi đó chính tôi cũng không biết là bên Mỹ họ dùng "tampon", chắc ông Tuấn này đã từng đi du học Mỹ, nên... chơi trác tôi, vì giải thích thế nào bà mẹ tôi cũng không tin, nhất định chuẩn bi mọi thứ cần thiết để nghênh đón đứa cháu nội...Nam Kỳ.
Hóa ra, nếu không biết đùa nghịch thì không phải là học sinh CVA !
Lê Anh Tuấn, một vị chỉ huy rất tư cách
Từ đoạn này trở đi thì tôi không còn là một thanh niên dưới 30 tuổi nữa, mà sẽ viết theo cái nhìn khách quan ở thời điểm của 34 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt.
Ngày 30 tháng 4 vừa qua, do một sự gặp gỡ tình cờ với một nhóm bạn Hải Quân hiện đang sinh sống ở San Jose, nhắc đến những câu chuyện trong thời chiến, tất cả các anh em Hải Quân đều ngậm ngùi khi nói đến Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, một cựu học sinh CVA và còn là một huyền thọai của QLVNCH ! Các bạn đều lấy làm tiếc là:
"Lịch Sử sẽ không công bằng khi bỏ quên Lê Anh Tuấn"
Tuy nhiên nhiều bạn không biết là chính tôi lại là người có cơ hội gập gỡ anh Tuấn và ít nhất là cơ duyên này đã cứu mạng tôi đến ba lần
Những giòng chữ đầu tiên, tôi chỉ có thể nói là:
Trong cuộc sống, có những người bạn mà chỉ cần gập một lần, mình vẫn có thể nhớ mãi. Lê Anh Tuấn là một người như thế :
Chân thành, giản dị, có óc khôi hài sâu sắc, hết mình với nhiệm vụ, bạn bè, đồng đội.
Nhưng trên tất cả đây là một quân nhân có tiết tháo, chẳng thà hy sinh tính mạng chứ không thể hy sinh danh dự. Những con người như thế không nhiều lắm trong Lịch sử Việt nam.
Khi nghe tin anh đã tự sát chứ nhất định không đầu hàng Việt Cộng, tôi rất buồn, nhưng lại cảm thấy rất hãnh diện vì đã được quen biết anh.
Trước hết, xin nói qua về lối sống của anh. Lê Anh Tuấn là một con người sống hết mình, luôn luôn đặt trách nhiệm lên trên tất cả, suốt ngày lo lắng công việc, kiểm soát chỗ này chỗ kia, để bảo đảm an toàn cho lính và dân chúng sống ở vùng trách nhiệm của Giang Đoàn 43, nhưng ban đêm, tôi lại thường thấy anh thức rất khuya để đọc sách.
Phòng ngủ cuả anh tuy ngăn nắp nhưng rất chật hẹp vì chứa đầy sách. Tôi để ý nhiều nhất là sách về Thế Chiến Thứ Hai.. Tôi vẫn còn nhớ anh cho tôi mượn 3 cuốn: "Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh"(All Quiet On The Western Front) của Enrique Maria Remarque, cuốn "One day in the Life of Ivan Denisovich" của Solzenitsyn và cuốn "Biệt Đoàn Thần Phong".
Đến bây giờ, suy nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu những sách vở nói trên có ảnh hưởng gì đến quyết định của anh không ? và hình như anh còn học Luật vì tôi thấy có nhiều sách của Trường Đại Học Luật Khoa để trên đầu giường.
Câu chuyện còn khá dài, nhưng máy bay đã sắp đáp xuống, nếu các bạn còn muốn nghe thêm thì xin cho tôi... nghỉ ngơi một chút, vì tôi sẽ phải tra cứu lại sách địa dư cho thêm phần chính xác.
Còn nếu thấy chán hoặc dở quá thì cũng xin cho biết.
Phần 2: Thiếu Tá Lê Anh Tuấn và tôi
Mỗi Đại Đội Quân Y yểm trợ cho Trung Đoàn có 2 quân y sĩ, chúng tôi thay phiên nhau mỗi nửa tháng, khi một người đi hành quân thì người kia trông coi bệnh xá ở hậu cứ.
Từ quận Tuyên Nhơn ra ngoài quốc lộ 4 có 3 phương tiện:
- Đường thuỷ, thường chỉ dùng cho phụ nữ hoặc dân điạ phương, vì rất dể bị Việt Cộng chận bắt, nếu còn trẻ và lạ mặt.
- Đường bộ thì chỉ có một chiếc xe khách, vài ngày mới có một chuyến và cũng rất nguy hiểm vì mìn cuả VC.
- Trực thăng là phương tiện chúng tôi hay dùng nhất mổi khi thay phiên, thường là đi cùng máy bay chở vị Tư lệnh thị sát mặt trận hoặc trực thăng tải thương, dĩ nhiên chỉ có quân nhân và một vài vị khách được "gửi gấm" đặc biệt mới được dùng trực thăng, một trong những vị khách đó là Kim Hoa, cô chủ depôt pharmacie ở chợ quận.
Căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân đóng ở Cần Thơ, nên cũng do "yêu cầu" của Anh Tuấn, vì...."thương cho thân gái dặm trường", anh hay nhờ tôi đi chung xe đò đưa Kim Hoa về Sàigòn, vì thế tôi có nhiều cơ hội hiểu thêm về mối giao tình giữa cô Kim Hoa và Thiếu Tá Tuấn.
Thoát chết lần thứ nhất nhờ anh Tuấn
Nói đến Tuyên Nhơn là phải nói đến "bắn xẻ" và chiến thuật "tiền pháo, hậu xung" của Việt Cộng.
Mỗi khi Trung Đoàn đổ quân xuống Tuyên Nhơn, công việc đầu tiên là phải xây "bunker" cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân và Bệnh Xá. Chỗ ở dành riêng cho tôi thường là một bunker rất nhỏ khoảng 2 mét x 3 mét cạnh bệnh xá, vừa đủ kê một chiếc giường sắt và thùng dược phẩm.
Các bunker này được xây rất kiên cố, trụ làm bằng các thùng phuy chứa đất, vách toàn là bao cát và trần làm bằng nhiều lớp bao cát chất trên các lớp sắt PSP, loại sắt dùng làm phi trường dã chiến.
Với cấu trúc như thế, các loại đạn tương đối chính xác như cối 82 hoặc đại bác 122 ly thì chẳng ăn thua gì ! Chỉ có hỏa tiễn 220 ly "delayed" là có thể xuyên thủng trần, tuy nhiên loại hỏa tiễn này chẳng đáng để ý, vì dàn phóng thô sơ nên rất ít khi chính xác, thường chỉ rơi vào... nhà dân!
Ngày thứ ba sau khi chúng tôi đến Tuyên Nhơn là trận tập kích đầu tiên cuả Việt Cộng. Các sỉ quan và binh sĩ mỗi khi nghe tiếng pháo "cấp tập" để chuẩn bị xung kích, thì việc đầu tiên là phải sang bộ chỉ huy hoặc ra hố chiến đấu cá nhân để chuẩn bị tác chiến. Riêng đối với Quân Y thì cứ việc ngồi chờ để "tiếp đón" thương binh nếu có.
"Cò iả miệng ve " -chữ anh Tuấn thường dùng- ngay trong đợt pháo kích đầu tiên đêm hôm đó, bunker dành riêng cho tôi trúng ngay một hỏa tiễn 220 ly "delayed" nổ tung và xập hoàn toàn !
Tin tức tôi đã "tử thương" loan đi rất nhanh và chừng nửa giờ sau thì đến tai anh Tuấn, lúc đó đang chỉ huy phản pháo tại Bộ Chỉ Huy Giang Đoàn. Anh chạy như bay, không kịp cả đội nón sắt về hầm cá nhân chỗ của anh và tôi đang ở, hét to từ ngoài cửa hầm;
"Ông còn đó không?"
Anh ôm chặt vai tôi mừng rỡ, khi thấy tôi đang ngồi nghe nhạc !
"Ông làm tôi hết hồn ! Cứ tưởng ông được vinh thăng "Cố" Đại Úy rồi !"
Hóa ra anh Tuấn là người đầu tiên báo cho tôi biết là’.. tôi còn sống! Cũng nhờ món tiết canh và bún xáo vịt mà anh khoản đãi.
Thực ra, rời bỏ đơn vị để đi "ngủ hoang" là một vi phạm quân kỷ rất nặng. Nhưng trong trường hợp "kỳ diệu" này thì chẳng ai muốn đề cập tới làm gì, nên mấy ngày sau Thiếu Tá Tuấn đã ký cho tôi một bằng "Tưởng Lục" vì đã phối hợp trợ giúp đồng đội!
Đến bây giờ, tôi cũng không biết anh Tuấn theo Đạo gì, nhưng mấy hôm sau vụ "chết hụt" cuả tôi, tôi đã thấy anh thắp nhang cúng Ông Địa cho tôi một cách rất "thành khẩn".
Cầu 'Ông Tuấn'
Đây là cây cầu sắt đầu tiên ở Tuyên Nhơn, do Công Binh Chiến Đấu xây dựng, nối liền Chợ Quận với Chi Khu.
Ngày cắt băng khánh thành có ông Quận Trưởng, Thiếu Tá Tuấn, Đại Úy Chỉ huy lực lượng Công Binh xây cầu và một vài vị cao niên trong Quận, trong đó có Bà ngoại cuả cô Kim Hoa.
Nhưng kể từ sau ngày khánh thành, cũng chẳng ai hiểu vì sao cây cầu này được gọi là "Cầu Ông Tuấn"
Lúc còn nhỏ, từ khi vào miền Nam, tôi rất ít khi tìm hiểu về cách đặt tên cuả những cây cầu, thảng hoặc có nghĩ đến thì cũng ngầm chê bai về những cái tên có vẻ hơi "bình dân" như "Cầu Kiệu", "Cầu Bông" !
Nhưng sau khi đi qua những cây cầu ở miền Nam, tôi mới biết đây là một vinh dự vô cùng lớn khi được đặt tên cho một cây cầu, vì người miền Nam quan niệm cây cầu là một cái gì vĩnh viễn, nối liền con người với con người.
Điều này có thể kiểm chứng được: sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Sàigòn và các con đường đều đã bị đổi tên, nhưng "Cầu Kiệu", "Cầu Bôn"g thì vẫn còn giữ nguyên tên.
Năm 1986, tôi có dịp về thăm lại Tuyên Nhơn thì cây cầu vẫn còn đó và vẫn được dân chúng gọi là "Cầu Ông Tuấn" !
Kể từ ngày thi hành Hiệp định Paris, công tác lớn nhất cuả Quân Lực VNCH là chiến dịch "chiếm đất, giành dân". Được đem tên đặt cho một cây cầu, có thể là thành quả lớn nhất cuả Thiếu Tá Tuấn trong chiến dịch này. Tuy nhiên, theo ý cuả riêng tôi thành quả lớn hơn nữa là giành được... cô Kim Hoa !
Love story
Kim Hoa là một người con gái đẹp, với đôi mắt to linh động, dáng người cao, nước da rất trắng, cực hiếm ở vùng nước... phèn, xà bông có dùng cách mấy cũng không thể xủi bọt! Tuy nhiên sức quyến rũ nhất ở cô là vẻ hiền hậu và giọng nói chất phác đặc biệt cuả người miền Nam. giọng nói mà sau này tôi thường đem ra để "chọc" anh Tuấn:
"Ông Tuấn ơi, nếu tác giả "Tiêu Sơn Tráng Sĩ" mà cho Quỳnh Như là dân Nam Kỳ thì đời Phạm Thái còn... thê thảm hơn nhiều"!
Anh Tuấn nghe thế thì tháo kính ra lau, một cử chỉ chàng ta hay làm nhửng khi... bối rối:
"Ông nói đúng đấy"!
Kim Hoa mồ côi cha mẹ từ lúc còn rất nhỏ, cô được bà dì ruột nuôi dạy xem như con gái, học trung học ở Mỹ Tho và Đại Học Dược Khoa Saigon.
Ông Dượng của Kim Hoa là một Dược Sĩ tốt nghiệp bên Pháp, mở một nhà Thuốc Tây trên đường Phan Đình Phùng, khoảng trước cửa Chợ Vườn Chuối, và còn có một cửa hàng bán thực phẩm nhập cảng từ Pháp trên đường Lê Thánh Tôn. Vì thương bà ngoại của Kim Hoa nên mở depôt pharmacie ở Tuyên Nhơn như một phương tiện giúp đỡ bà mẹ vợ.
Cô Kim Hoa về thăm bà ngoại trong dịp nghỉ hè, khoảng một tuần lễ sau khi tôi đến Tuyên Nhơn.
Sự hiện diện cuả cô ở Chợ Quận lập tức trở thành một "hiện tượng". Bà ngoại của cô tự nhiên trở thành "bà ngoại" cuả... tất cả các Sĩ Quan còn độc thân trong Quận.
Và tôi bỗng dưng... thất nghiêp ! vì mấy ông "cháu ngoại hờ" này chỉ tìm đến tôi khi cần chữa những bệnh "thầm kín", còn ngoài ra, bệnh hay... không bệnh, các "bố" chỉ lảng vảng sang tìm cô Kim Hoa để khai bệnh và... mua thuốc !
Có khi mua xong lại quẳng đi, để ngày hôm sau... có cớ mua tiếp!
Tôi đoán là ban đầu anh Tuấn cũng không để ý lắm tới cô, dù là "ngoại" rất qúy mến anh, vì trước đó anh đã giúp đỡ bà sửa sang hầm cá nhân chống pháo kích. Sau đó, vì sự hiện diện cuả cô cháu gái, lại giúp nới rộng hầm cho ... "an toàn" !
Và Hải Quân cũng là lực lượng duy nhất có khả năng chở nước ngọt từ vùng "Đầu Bờ" (tôi cũng chỉ nghe nói chứ chưa được đến vùng này bao giờ) ... giúp cho nước da cô không bị rám nắng vì nước... phèn!
Ngày Kim Hoa chào từ giã bà ngoại để trở lại trường Dược là một ngày "định mệnh" cuả cô chuẩn... Dược Sĩ ! Vì chậm trễ nên cô lỡ chuyến xe khách ra ngoài quốc lộ, ngay đúng lúc chiếc xe Jeep chở Thiếu Tá Tuấn đi công tác vừa tới, và cô được phép... quá giang, nhưng chưa đi được nửa đường thì chiếc xe khách đi phía trước trúng mìn cuả Việt Cộng nằm quay lơ và tất cả hành khách trên xe chết hết ! Bà ngoại cuả cô Kim Hoa đưa ra kết luận ... xanh rờn:
"Kể từ nay, cháu là người cuả... ông ấy!"
Vì chữ "hiếu", tên Kim Hoa tự nhiên... biến mất thay bằng tên mới: "Cô Tuấn"! Và cũng từ đó pharmacie vắng hẳn khách, dù cô chủ quyết định bỏ học ở lại luôn Tuyên Nhơn để... chăm sóc cho "ông ấy".
Người con gái miền Nam luôn luôn được giáo dục đặc biệt:
"Con đường đi vào tim người đàn ông bao giờ cũng.... xuyên qua bao tử!". Tôi chưa bao giờ gập cô gái Bắc Kỳ nào nấu những món "nhậu" nhanh hơn và ngon hơn "Cô Tuấn".
Thức ăn cuả người miền Nam cũng có tính cách khá đặc biệt, thí dụ như trái sầu riêng, nếu không ăn được thì thôi, nhưng nếu đã ăn được thì sẽ trở thành ... ghiền.
"Cô Tuấn" là người nắm được những bí quyết ấy! Một lần cô gửi cho tôi quà Sàigòn đem lên cho anh Tuấn gồm có một chai rượu Martel và vài bánh fromage Camembert và Roquefort, cô còn dặn với:
"Anh nhớ nói "ảnh" ăn mấy thứ này với...cọng hành sống"
Bản chất tôi là một người "nhà quê" nên thú thật cũng không biết thưởng thức mấy món ăn... Tây này, nhưng ông Tuấn thì "Nam Kỳ....hoá" rất nhanh, chỉ uống rượu Martel với phô-mai Camembert và... cọng hành sống thì mới thấy ngon!
Tôi vẫn nghe đồn là đàn ông mà mê phô-mai Camembert đều là những người đàn ông rất... chung tình! Tiếc thay bây giờ lại mất đi một người để kiểm chứng!
Đầu năm 1980, tôi được thả từ "trại cải tạo" về, và người đầu tiên tôi đến thăm là cô Kim Hoa, ở pharmacie trên đường Phan Đình Phùng nay đã bị đóng cửa, chỉ còn quầy hàng trống trơn ! Tôi cố quan sát để tìm xem có sự thay đổi nào trong cô không? Là một người con gái thông minh cô như đoán được ý nghĩ của tôi:
"Đời em chỉ lấy chồng có một lần!"
Và cô đã kể cho tôi nghe về cái chết của anh Tuấn.
Cho đến hôm nay, tôi vẫn không thể quên được ánh mắt buồn cuả cô khi nhìn bức ánh nhỏ của anh Tuấn để ở một góc khuất cuối quầy hàng.
Tháng 2 năm 1980, Kim Hoa theo gia đình sang Pháp, tôi bị đuổi khỏi Saigon sau mấy lần vượt biên thất bại và mất liên lạc từ đó.
Đây là một chuyện tình buồn, tiêu biểu cuả thời chiến:
"Anh yêu em một lần rồi xa nhau trọn kiếp! "
Vì sự tôn trọng đối với người đã khuất, tôi xin ngưng đoạn này ở đây và cũng không muốn tìm hiểu thêm nữa!
"Bác Sĩ" Lê Anh Tuấn và thằng con trai bây giờ không biết đang ở đâu.
Có hai công tác đáng nhớ nhất mà tôi được thực hiện chung với anh Tuấn:
Một là đốt kho lúa của Việt Cộng: hàng trăm tấn lúa được chất trong những chòi lá để chuẩn bị chở vào mật khu! Công tác này chẳng có gì là nguy hiểm, chỉ việc đốt cháy càng nhiều càng tốt, phần còn sót lại thì phải vùi trái khói để lúa sẽ có mùi không thể ăn được nữa. Nhưng quan trọng hơn cả là phải thi hành "nghiêm lệnh":
"Tuyệt đối không được mang ra, dù chỉ một ký trên hàng trăm tấn thóc!"
Lý do: các vị Tư Lệnh không muốn Việt Cộng xúi dục dân chúng đi thưa kiện là Quân Đội chiếm lúa của dân".
Công tác tuy thấy đơn giản nhưng để được chỉ định thực hiện lại là cả một vinh dự lớn: phải còn trẻ, độc thân, có quá khứ trong sạch, và có kỷ luật…
Nói thì dễ, nhưng thực hiện việc đốt kho luá không dễ chút nào.. Hoàn toàn không phải vì lòng tham mà vì chung quanh chúng tôi, hàng ngày vẫn có những cô nhi, quả phụ không có gạo để ăn. Đối với một người quân nhân, cái chết tuy đáng buồn nhưng vẫn còn ít buồn hơn khi phải đốt bỏ thóc gạo trong khi rất nhiều người... đang đói.
Đó là một nghịch lý trong chiến tranh Việt Nam, khi chúng ta phải đối đầu với một địch thủ quá dơ bẩn.
"Nhảm nhí" - Đó là kết luận cuả anh Tuấn khi thực hiện xong công tác và cũng là lần đầu tiên tôi thấy anh rưng rưng nước mắt !
Công tác thứ hai thì còn "độc đáo" hơn:
Hôm đó, vào khoảng 1, 2 giờ đêm, có một chiếc thuyền tam bản do một người đàn bà vừa chèo vừa la to:
"Chúng tôi tìm cô mụ, có người... sanh khó"
Rất không may, hôm đó cô mụ duy nhất ở trong Quận lại ra Tỉnh để sanh! mà vùng của sản phụ lại toàn là ... Việt Cộng, không hề thấy bóng đàn ông mà các bà lại... có bầu liên tục.
Bộ Chỉ Huy họp gấp, quyết định là gửi 2 trung đội đi mở đường để bảo vệ an ninh đường bộ, tôi và Thiếu Tá Tuấn cùng với lực lượng giang thuyền hành quân đường thủy. Tôi chỉ kịp gom vội đống dao kéo cho "mission impossible" này.
Thực chưa bao giờ có cuộc hành quân nào "bi, hùng" hơn thế ! Hành Quân đi vào hang ổ cuả Việt Cộng để... đỡ đẻ !
Đến nơi, sau khi bố trí canh gác, chỉ có "Bác Sĩ" Tuấn và tôi được vào ... "phòng sanh". Dưới ánh sáng mập mờ cuả ngọn đèn dầu là một "ca"... sanh ngược rất khó, cần phải cắt vá, “Bác Sĩ” Tuấn tình nguyện chiếu đèn "pin" cho tôi giải phẫu!
Thật chán mớ đời, Thiếu Tá Tuấn nổi tiếng là người chấm tọa độ phản pháo trên bản đồ... hết xảy, thế mà cái "tọa độ" to tướng của bà sản phụ, thì ông ấy cứ chiếu đèn "pin" đi mãi đâu, tôi nhìn lên mới biết ông "Bác sĩ" Tuấn vừa ... đỡ đẻ, vừa ... quay mặt đi nơi khác, báo hại tôi trở thành Hiệp Sĩ...mù !
Mãi cho đến lúc có tiếng trẻ con khóc oe oe, thì ông Tuấn la lên:
"Ơ, bà sanh được một thằng con trai, thế bà đặt tên cho nó chưa" ?
Bà sản phụ trả lời:
"Cám ơn Thiếu Tá, xin cho phép em đặt tên nó là... Tuấn, giống người sanh ra nó!
"Bà đặt tên nó theo tên tôi cũng được, nhưng nhớ bảo nó sau này không được theo...Việt Cộng mà bắn lại tôi đấy nhé!
Sáng hôm sau, chúng tôi sang Quận để giúp làm giấy khai sanh cho thằng nhỏ và sau đó ghé cô Kim Hoa mua một ít thuốc cho sản phụ. Tôi nói đùa để trêu cô Kim Hoa:
"Tôi mua thuốc này cho thằng... con Ông Tuấn đấy" !
Chỉ thấy cô vùng vằng bỏ đi, nước mắt như muốn trào ra và nhất định không chịu bán! khiến tôi phải giải thích hết lời cô mới nguôi cơn giận
"Em "hổng" có tin đâu, "ảnh" nhát.... thấy mồ" !
Nhìn sang thì thấy ông Tuấn, lau kính liên tục, mà càng lau ...thì kính càng mờ, vì mồ hôi tay ướt đẫm.
Anh hùng cách mấy cũng phải chịu thua nước mắt giai nhân !
Cứu mạng tôi lần thứ hai
Khoảng giữa tháng 12 năm 1974, chúng tôi đang ở Tuyên Nhơn thì nhận khẩn lệnh sang giải cứu Mộc Hóa, 2 Đại Đội Cơ Động được điều động theo chiếc Trực Thăng Chinook tiến vào trước, để lập "cầu nối" cho phần còn lại của Trung Đoàn, vì Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 114 đang bị thương mà không thể tải thương ra được nên tôi cũng được lệnh theo chiếc Chinook này vào trong chuyến đầu tiên. Vừa theo sau thùng thuốc để bước lên máy bay, thì ông Trung sĩ Nghĩa, cận vệ của Thiếu Tá Tuấn chạy lại nắm tay tôi nói :
"Thiếu Tá bảo ông quay về gấp vì còn ... bỏ quên nhiều đồ"
Tưởng thật, tôi chạy ngược lại Bộ Chỉ Huy để lấy đồ bỏ quên, thì kịp cùng với anh Tuấn nhìn lên chiếc Trực thăng Chinook, đang cháy như một cây đuốc do trúng hoả tiễn "tầm nhiệt" SA7 cuả Việt Cộng.
Một người bạn Chu Văn An của tôi, là Nhiếp Ảnh Gia Quân Đội cũng chết trong chuyến bay này!
Tôi vừa sợ, vừa bàng hoàng nói lời cám ơn thì anh Tuấn an ủi:
"Mạng ông lớn lắm, nếu ông đi lính tác chiến thì dám lên... Tướng như chơi" !
Mấy hôm sau hoàn hồn, tôi mới hỏi lý do tại sao anh gọi tôi trở lại, thì anh nói nửa đùa, nửa thật:
"Tôi thấy ông đi theo hai người lính khiêng thùng thuốc giống như khiêng quan tài, trông... kinh quá ! Vả lại ở vùng này lâu rồi nên tôi biết Chinook rất nặng nề, khó tránh được SA7"
Tôi và cô Kim Hoa rời Tuyên Nhơn ngày 20 tháng 4 năm 1975, đó cũng là lần gặp gỡ cuối cùng, anh Tuấn có dặn tôi:
"Tình hình bây giờ khá bi đát, nhưng chưa tuyệt vọng, nếu có gì xảy ra tôi sẽ đợi ông ở Long Xuyên" rồi anh cho tôi tần số và ký hiệu liên lạc, nhưng những ngày sau đó mọi việc biến chuyển quá nhanh và sau cùng, tôi chui đầu vào ... Trại Cải Tạo
Đoạn Kết
Về cái chết oai hùng của Thiếu Tá Tuấn, nếu các bạn muốn biết thì có thể xem ở bất cứ đặc san Hải Quân nào, số Kỷ Niệm 30 tháng Tư.
Năm 1986, tôi quyết định bỏ ra một năm để đi khắp Việt Nam, thăm lại những chốn xưa. Trên Quốc Lộ 4, khi ngang qua "bót 23", một động lực vô hình đã thôi thúc tôi trở về thăm Tuyên Nhơn dù là lòng không muốn, vì nỗi ám ảnh bởi những kỷ niệm không vui về Thiếu Tá Lê Anh Tuấn. Thuê một chiếc "xe đạp thồ", khi vào đến Tuyên Nhơn thì trời đã xế chiều.
Cảnh cũ còn nguyên nhưng người xưa đã không còn nữa!
Trong buổi chiều sương mờ, đứng trên Cầu Ông Tuấn nhìn sang Bộ Chỉ Huy Chi Khu cũ, nay đã biến thành "Doanh trại Quân Đội Nhân Dân". Tôi có cảm giác như muốn khóc và bên tai tôi bỗng nhiên văng vẳng lời đồng dao:
"Quân đội nhân dân là...con Rận nhân đôi !
Con Rận nhân đôi là...Con Rận nhân Hai
Con Rận nhân Hai là...Con Hại Nhân Dân !"
Việt Cộng bao giờ cũng... HÊN !
Chỉ vì sự gượng ép trong cách gieo vần mà Quân đội nhân dân được ví... với con RẬN NHÂN ĐÔI.
So sánh như thế thì thực là OAN cho CON RẬN ! Đúng ra phải so sánh Việt Cộng với con gì khác ‘tồi bại’ hơn nhiều !
Con rận và Việt Cộng chỉ giống nhau ở điểm cả hai đều là loại ký sinh trùng ... hút máu người.
Nhưng con rận "CÓ TƯ CÁCH" hơn Việt cộng nhiều! vì RẬN đâu có cầm súng bắn vào đàn bà, trẻ con.
Tuy nhiên, với sự công bằng tối thiểu của một học sinh Chu Văn An, tôi cũng phải khen bọn Việt Cộng một điều:
Nếu không có những thằng Việt Công dơ dáy, bẩn thỉu thì làm sao nổi bật lên tư cách của người anh hùng.
Ngủ ngon nhé, Anh Tuấn!
Chúng tôi vẫn còn nhớ đến anh
Nghiêm Hữu Hùng
Tưởng niệm HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn
Đệ Nhị Kim Ngưu
LỄ AN VỊ HÀI CỐT
HQ TH/TÁ LÊ ANH TUẤN
Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn xuất thân Khoá XIV HQ Nha Trang, nguyên Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 43 Ngăn Chặn đã tuẫn tiết đêm 30 Tháng 4 Năm 1975 tại Kinh Thủ Thừa, Long An, cương quyết không đầu hàng giặc cộng.
Sóng Tiền Giang vang lời sông núi
Kinh Thủ Thừa muôn thuở lưu danh
Ðệ Nhị Kim Ngưu
Cáo Phó: Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần
YÊU NGƯỜI MIỀN TÂY (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)
THƠ: YÊU NGƯỜI MIỀN TÂY
Tôi yêu em gái xứ miền Tây,
Tóc cài hoa bưởi, dáng em gầy,
Trong chiều buông nắng em hong áo,
Tha thướt, mượt mà, suối tóc mây.
Có lẽ quê em xứ nhà nông,
Xa phố Hà Nội, phấn bụi hồng,
Chẳng màu hư ảo, hương không sắc,
Nên anh mơ ước chốn dòng trong,
Có em mặc quần lĩnh, áo nâu,
Tóc buông lơi, nón lá đội đầu,
Áo bà ba, khăn rằn, mộc mạc,
Đẹp làm sao, guốc mộc qua cầu.
Đơn sơ em hò giọng miền Nam,
Vịnh nước phù sa, sóng ngoài vàm,
Thong dong khua chèo trên sóng nước,
Chẳng ngại bùn đen, nước rừng tràm.
Tôi yêu nàng quán xuyến sớm hôm,
An nhiên cuộc sống, chẳng ôm đồm,
Yêu da em dòn nâu sông nước,
Má hồng nắng sớm, ráng chiều hôm.
Yêu người tâm hiền hòa thanh thản,
Như gió rì rào cánh đồng hoang,
Như hương lúa chín ngày gặt hái,
Mùi cơm gạo đỏ, nồng bếp than.
Chẳng nghe líu lo lời quan thoại,
Tiếng ngoại bang trên xứ quê nhà,
Chỉ nghe thân thương lời quê ngoại,
Như gió hạ luồn mái hiên nhà.
Miền Tây sông nước đất hiền hòa,
Xin giữ thuần phong xứ quê nhà,
Mênh mang tâm hồn người xứ Việt,
Bao la ân nghĩa đất ông cha.
Dù anh lãng bạt khắp đó đây,
Nương cao, suối biếc, chắn rừng mây
Mỏi cánh chim bay dài sông núi,
Vẫn mộng về em, người miền Tây.
Huỳnh Anh Trần-Schroeder
BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH (Vĩnh Chánh)
BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH
Tôi bắt đầu biết đến BS. Trần Xuân Dũng vào khoảng gần cuối thập niên của đầu của thế kỷ 21 sau khi đọc được mấy bài của tác giả trên mạng lưới và lai rai qua Tập San Y Sĩ Canada, và biết đó là một đàn anh từng phục vụ trong Quân Y Thủy Quân Lục Chiến. Lời văn đượm vẻ khí khái của một tinh thần bất khuất, nhất là từ một số bài thơ và những câu truyện ngắn.
Giữa năm 2013, tình cờ được một bạn cho đọc ké cuốn “Y Sĩ Với Nàng Thơ” – một chủ đề được chính BS. Trần Xuân Dũng đề xướng và kêu gọi đóng góp trong đại hội y sĩ thế giới 2011 - tôi nhận thấy các bậc trưởng thượng, các niên trưởng, quý đàn anh với đa số từng là những quân y sĩ trong mọi binh chủng, có thật nhiều tài hoa thi phú. Thật đáng nể! 100 tác giả, theo lời tựa của BS. Phạm Hữu Trác “không hẹn mà gặp, cùng chung một căn cước tương đối đồng nhất là nghề thầy thuốc, sinh hoạt trong một khoảng dài thời gian ba chục năm trên tờ Tập San Y Sĩ, tụ họp lại trên trang giấy trắng này…Xin người đọc đừng trông đợi một sự đồng hành, cũng đừng tìm trong sách một đề tài chung. Họ là những tấm lòng trên không gian rộng và thời gian dài… Họ dùng ngôn ngữ, âm điệu, ý tưởng để tạo ấn tượng cảm giác. Như những nét vẽ trên một bức họa, có những màu sắc để người xem tranh chấm phá cho mình, xin tìm trong thơ những góc trống tâm cảm thường dành cho người đọc tham gia vào sáng tạo”. Phải chăng tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ” nói trên cùng lời tựa đã đánh động khả năng sáng tạo và thúc đẩy cá nhân tôi trải bày tâm tư trên trang giấy, với bài viết đầu tay “Tháng Ngày Tao Loạn”.
“Không hẹn mà găp” - xin được lập lại một câu viết trên của BS. Trác, khi vào năm 2017 đến thăm Bác Sĩ Hoàng Ngọc Vinh ở Montreal, người bạn thân từ thủa sinh viên YK ngoài Huế, tôi tìm thấy và đọc bài “Thương Vong Các Y Sĩ TQLC” của tác giả Trần Xuân Dũng, nằm kế bài “Tôi Đi Nhảy Dù” của mình trong Tập San Y Sĩ “Quên Mình Cứu Người” xuất bản tháng 5, 2017. Một bất ngờ rất thú vị, đánh dấu một liên hệ tâm linh nào đó đang phôi thai giữa người đàn anh tên tuổi và thằng em đang chập chững vào đời?!
“Hồn linh còn vương trên tóc bạc
Anh nhớ sa trường, em có hay”
Thấm thoát vài năm sau, nhân biết chị Trần Tường Vi Bảo Anh đi Úc thăm anh mình, tôi nhờ chị mang cuốc sách “Tháng Ngày Tao Loạn” của mình vừa xuất bản tháng 7, 2019, tặng BS. Trần Xuân Dũng sống tại Melbourne. Tháng 9 cùng năm, tôi nhận sách của BS. Dũng tặng ngược lại cho mình, không phải một cuốn sách mà đến 2 cuốn. Cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” (dài 696 trang) và “Văn Học Quân Đội”(khổ lớn, gồm có 630 trang). Cả 2 cuốn sánh luôn chiếm vị trí trân trọng trên kệ tường, ngay trước mặt mỗi khi tôi ngồi gõ viết bài. Ngoài tôi, anh Dũng còn gởi thêm mấy cuốn Văn Học Quân Đội nhờ tôi trao tặng cho Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quân Lực VNCH ở Little Saigon.
Tôi chọn cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” đọc trước vì cái đầu đề hấp dẫn – với ý nghĩ hầu như đa số người tỵ nạn CS chúng ta hiện sống tại hải ngoại đều một lòng nghĩ như thế!? Cuốn sách là một tự truyện viết về thân thế gia đình cha mẹ, 3 anh em Trần Xuân Ninh, Trần Xuân Dũng và Trần Tường Vi, từng lớn lên và sinh sống ở Vinh, đã phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn tìm đường lên Hà Nội, rồi sau đó vào Nam ngay sau khi hiệp định Genève. Cả 3 anh em hết sức cố gắng học hành, vì thương thân phụ cực khổ nuôi 3 con khi thân mẫu lại mất sớm. Anh Cả là Bác Sĩ Trần Xuân Ninh tốt nghiệp YK Saigon năm 1963, về sau trở thành một Giảng Sư về môn Giải Phẫu Nhi Khoa; em kế là Bác Sĩ Trần Xuân Dũng tốt nghiệp YK Saigon 1965, sau đó trưng tập và tình nguyện phục vụ Quân Y Thủy Quân Lục Chiến; em gái Trần Tường Vi tốt nghiệp Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Saigon năm 1968.
Khi gia nhập Quân Y TQLC, BS. Trần Xuân Dũng được đưa về làm Y Sĩ Trưởng TĐ 4 TQLC một thời gian khá lâu rồi qua phục vụ các TĐ 3 TQLC và TĐ 6 TQLC trước khi trở thành Y Sĩ Trưởng Chiến Đoàn B TQLC vào cuối tháng Giêng 1968. Vì vậy BS. Dũng đã tham gia trận đánh Mậu Thâu 1968 với Chiến Đoàn B tại Tân Sơn Nhất, Saigon và tỉnh Gia Định. Gần nửa năm sau, anh lại được thuyên chuyển ra Quảng Ngãi làm Đại Đội Trưởng ĐĐ 2 Quân Y, về sau trở thành Tiểu Đoàn 2 Quân Y khi đơn vị Bộ Binh được nâng cấp lên Sư Đoàn 2 BB. Tại đây thật đúng số trời, anh lại có mặt trong cuộc chống trả đợt tấn công Mậu Thân lần 2 khi VC manh nha đánh phá thị xả Quảng Ngãi nhưng rút lui sau một đêm bị thiệt hại nặng và không thành công. Và sau đó anh trở thành Y Sĩ Trưởng của Tiểu Doàn 2 Quân Y với cấp bực Thiếu Tá.
Khi Anh được thuyên chuyển về phục vụ Trường Quân Y, BS. Dũng viết “Nay tôi đã về trường Quân Y Saigon, công việc tương đối nhàn…Năm 1973, tôi lập gia đình với Cô Sẻ, một thiếu nữ mảnh mai, sinh tại Hội An. Song thân nàng đều chính gốc Quảng Nam”. Hay là chổ này, trong một câu viết rất đơn giản, anh nhẹ nhàng giới thiệu ngắn gọn về người bạn phối ngẫu, với một chút kín đáo giữ riêng cho mình. Tôi đoán chừng có lẽ anh từng gặp chị trong thời gian anh làm việc ở Quảng Ngãi và trở thành vợ chồng trong khi anh thuyên chuyển vào Saigon.
Trong khi đa số các bác sĩ đồng nghiệp đều có phòng mạch tư, anh vẫn đạp xe đạp và sau này đi xe mobilette cũ rích đi làm việc. Anh viết “Tôi mang cấp bực Thiếu Tá, lương khoảng 40.000 đồng mỗi tháng. Một bác sĩ làm phòng mạch tư, trước và sau giờ làm việc, có thể kiếm được 200.000 đồng mỗi tháng, hay hơn nữa”. Một bạn đồng nghiệp trẻ nói “Anh Dũng ạ. Anh hiện đã lập gia đình. Nghèo quá không nên”. Có người nhờ anh coi giùm phòng mạch của họ khi đi vắng, anh vui vẻ nhận làm vào những giờ nghỉ và được các đồng nghiệp đưa nguyên số tiền khám bệnh. Đồng thời, anh Dũng còn xin trực gát thêm tại Bệnh Viện Vì Dân và Bệnh Viện Nhi Đồng, ngoài những giờ làm việc tại Trường Quân Y.
Tháng ngày tại trường Quân Y rồi cũng qua nhanh, dù có đôi chút đụng chạm. Tình hình đất nước đến hồi cận tử. Ngày Chủ Nhật, 27 tháng 4, 1975, BS. Trần Xuân Dũng gặp mặt Đại Tá Hoàng Cơ Lân tại trường Quân Y trong phòng trực của mình. Sáng sớm ngày thứ Hai, 28 tháng 4, 1975, Đại Tá Hoàng Cơ Lân gọi điện thoại, với lời đối thoại như sau “Đại Tá Lân: Sáng thứ Hai sẽ phải có lễ chào cờ vào lúc 7 giờ. Ý toi thế nào? - Tôi trả lời: Tôi đề nghị mình nên hủy bỏ buổi lễ chào cờ sáng thứ Hai này. Lý do: Việt Cộng pháo kích nhiều. Một trái có thể rơi vào vũ đình trường bất cứ khi nào.Số sinh viên và sĩ quan, hạ sĩ quan cũng như các khóa sinh sẽ bị tử vong, thương vong rất nhiều. Xin Đại Tá quyết định – Ông ngưng một phút rồi nói: Ừ thôi! Moi quyết định theo ý toi. Toi hủy bỏ buổi lễ chào cờ đi – Tôi đáp: Tuân lệnh. Đại Tá Chỉ huy trưởng buông máy xuống…Như vậy tôi là người sĩ quan trực cuối cùng của Trường Quân Y. Và cũng là người nói chuyện cuối cùng với Chỉ huy Trưởng cũng như nhận lệnh của Đại Tá Hoàng Cơ Lân, một cấp chỉ huy đáng kính, trước khi mất nước”
Đến chiều này 29 tháng 4, 1975, anh cho biết “vợ tôi bắt đầu chuyển bụng…Tôi định chở vợ tôi bằng cách cho ngồi sau chiếc xe Mobilette cũ rích… đến BV Từ Dũ…Lúc 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Tường Vi xuống tìm tôi báo tin cho biết: vợ tôi đã sinh rồi, lúc 5 giờ. Một bé gái… Tới 10 giờ sáng, ngày 30 tháng 4 Dương Văn Minh lên tiếng đầu hàng. Thế là hết”.
Một ngày vui với một mầm sống vừa vương lên với ánh sáng bình minh. Nhưng oái ăm thay đó cũng là một ngày buồn, một ngày đen tối, vĩnh viễn trở thành ngày quốc hận.
Giống như bao nhiêu quân nhân khác, BS. Trần Xuân Dũng vào trại tù cải tạo, cũng bị bầm dập, chà đạp nhân phẩm, đói khổ, lao động chân tay. Cũng nhìn những cảnh trái tai gai mắt, của những tên trở cờ, antenne… Cũng chứng kiến nhiều cái chết của tù trốn trại bị án tử hình, hay tù bị chết vì bệnh không có thuốc chửa. Hay những bệnh tâm thần, trầm cảm do tuyệt vọng, mất hy vọng trong tương lai, mất niềm tin vào người thân, đưa đẩy bạn tù tìm đến quyên sinh…
Tôi ngạc nhiên, cảm thấy gần gủi với anh Dũng một cách tự nhiên khi nhìn hình 4 chiếc lược anh làm tặng vợ, 2 con gái và cô em gái Tường Vi của mình trong thời gian ở tù-- Vì chính cá nhân tôi cũng từng làm chiếc lược tặng vợ mình khi ở tù . Trong khi trên chiếc lược tôi chỉ đơn giản khắc tên vợ mình, anh Dũng lại khắc 1 câu thơ tình tứ “Gởi nhớ thương về trên tóc em”. Thật lãng mạn và tình tứ!
Sau khi ra khỏi ra khỏi tù cải tạo vào năm 1978, anh Dũng được cho làm bác sĩ tại một phòng y tế phường ở Saigon. Tại đây anh có dịp chửa bệnh cho một thiếu nữ đang bị lên cơn suyễn nặng và tiếp tục điều trị cho cô ta trong nhiều lần sau đó. Khi biết được cha của cô hiện đang tù đày ngoài Miền Bắc, anh cố tình viết nhiều toa thuốc gồm những thứ thuốc thông thường nhưng rất cần thiết cho người trong tù, để cô ta lãnh thuốc từ dược phòng nơi anh làm việc và gởi, đem ra cho cha mình. Chính sự chửa trị “mát tay” và sự giúp đở vô tình nhưng rất nhân đạo của anh đã động lòng thân mẫu của cô bệnh nhân, để cuối cùng bà sắp xếp cho con gái bị suyễn kinh niên của mình vượt biên cùng một lần với gia đình vợ chồng anh cùng 2 con gái Chim Khuyên và Vàng Anh. Chuyến đi song suốt, tàu đến Mã Lai vào tháng 6, 1978. Tháng 8 cùng năm, gia đình anh chị chọn nước Úc làm miền Đất Hứa.
Như có bàn tay nhiệm mầu sắp đặt, đời sống gia đình anh chị ổn định dần, nhất là sau khi anh bắt đầu hành nghề bác sĩ tư vào năm 1984 tại Melbourne. Theo thời gian, Chim Khuyên tốt nghiệp Dược Sĩ, em gái Vàng Anh tốt nghiệp trường Luật, và con trai út Xuân Vũ, sinh năm 1987 trên đất nước tự do, tốt nghiệp Nha Sĩ. Cây lớn mạnh thành cổ thụ, mọc rể, cành lá sum sê. Gia đình vui hưởng hạnh phúc. Tình thân ái nở rộ giữa các anh em đồng môn, đồng nghiệp, giữa các đồng đội và các cựu quân nhân. Trong hơn 4 thập niên xây dựng sự đoàn kết và tình tương ái của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, BS. Trần Xuân Dũng trở thành một khuôn mặt quý mến, từng đóng góp ý kiến, bài viết, vần thơ… cho nhiều nhóm bạn thân hữu, nhiều diễn đàn xa gần. Anh từng được vinh danh là người bác sĩ “nghèo” nhất Úc Châu – Thật đáng khâm phục - Nhưng tôi cũng hiểu, bên cạnh, anh rất “giàu” về tình yêu quê hương đất nước, tình đồng đội, tình chiến hữu, tình nhân ái, tình người với người, tình yêu mến phục vụ bệnh nhân… Cũng vì vậy anh đã nhận lại bao nhiêu sự thương mến của biết bao đồng hương, bệnh nhân, đồng nghiệp và người thân quen.
Qua sáng kiến và cố vấn của người anh là anh Trần Xuân Ninh, bấy giờ đang ở năm cuối Nội Trú 1963, một người từng có sở thích làm báo từ khi còn ở trường Trung Học Chu Văn An, một nhóm sinh viên nòng cốt trường YK Saigon quyết định thành lập một tờ báo riêng cho toàn trường. Vậy là Báo Tình Thương được ra đời và chính anh Trần Xuân Dũng hân hạnh được bầu làm Tổng Thư Ký đầu tiên của tờ báo khi anh gần cuối năm thứ Năm Y Khoa. Sự kiện này giúp tôi hiểu vì sao chuyện viết lách, làm thơ rỏ ràng không phải là một vấn đề với BS. Dũng. Anh đam mê với công việc rao truyền văn chương và lịch sử, nên khi tôi nghe được chuyện vợ anh phải thế chấp căn nhà để lấy tiền cho anh in cuốn “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến”, tôi ngưỡng mộ anh bốn, năm thì thán phục chị đến sáu, bảy. BS. Trần Xuân Dũng hoàn tất tập thơ Sử “Như Sóng Thần Lên” sớm sủa vào năm 1990, sau đó là cuốn “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến” vào năm 1995, còn trước cả cuốn sách tương tự của binh chủng Nhảy Dù của tôi, rồi cuốn “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa” vào năm 2000, tập thơ “Nhị Thập Bát Tú” năm 2015. Về sau “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến” được chính con trai út Trần Xuân Vũ dịch qua tiếng Anh, và “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” dịch qua song ngữ Anh Pháp. Biết bao nhiêu tâm trí và đam mê đổ hết vào đây!?
Tương tự như tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ”, tác giả của “Văn Học Quân Đội” gom khoảng 42 bài viết từ những quân nhân gồm đủ mọi nghành, từ tác chiến cho đến yểm trợ, bao gồm cả quân y…mong nói lên, không những tinh thần chiến đấu dũng cảm, lòng hy sinh vô bờ bến của các chiến sĩ Miền Nam, mà còn cho thấy tinh thần thượng võ, cá tính nhân đạo của những người cầm súng chống xâm lăng. Đó thật sự là sự khác biệt quan trọng làm thấy rỏ làn ranh phân biệt giữa con người sống tự do, có nhân tính, dựa trên nền tản tử tế từ giáo dục gia đình của Miền Nam, và con người cộng sản với mưu mô thâm độc, được nuôi dưỡng trong hận thù vô sản với mục đích giết và giết để cưởng hiếp chiếm đoạt tất cả cho chủ nghĩa của chúng. Đây là một tác phẩm rất giá trị không những về lịch sử quân đội nói chung, về Thủy Quân Lục Chiến nói riêng mà còn về văn học.
Về sau, tôi cũng đọc vài bài thơ của anh Dũng, thưa thớt dần theo thời gian, trong Tập San Y Sĩ, như “Khóc Y Sĩ Dù Hoàng Ngọc Khôi” – Khiêm cung, tài đức nhiều vô kể, Lời tiếc thương Anh khóc tứ bề - “Hoa Sen và Giai Nhân” – Hoa Sen được ví như Giai Nhân, ngày đẹp như tranh, đêm tuyệt trần – “Thiếu Nữ Bên Hồ Sen” – Búp Sen e ấp cạnh nền xanh, Đêm về, trinh bạch tình dâng hiến, Sớm biệt, liêu trai dạ chẳng đành – tôi mường tượng anh bắt đầu tìm về cái tinh khiết nhẹ nhàng và hương gió đồng nội trong tuổi già. Nhất là khi tôi nhìn thấy những tấm hình chụp nông trại rộng lớn của cháu Vũ với cảnh những thiên nga bơi trong hồ, những con bò bình an gặm cỏ trong bải cỏ thênh thang, và nhất là hồ Sen khá rộng với bông Sen màu cánh sen và lá Sen xanh to tươi tốt. Đúng vậy, cháu Xuân Vũ đã tạo dựng một quê hương nhỏ Việt Nam cho cha mẹ dưỡng già. Tôi chia sẻ niềm vui cùng Anh khi biết về sau Anh tìm thấy sự đam mê trong chơi đàn Tây Ban Nha với loại nhậc Flamenco và chìm đắm trong nhiếp ảnh với máy ảnh luôn đeo trước ngực và một tập ảnh đen trắng nghệ thuật – Khói Mây Quên Bẵng Duyên Phàm Trước – in tặng cho nhóm bạn thân. Phải chăng “Quên Bẵng Duyên Phàm Trước” nói lên chặng đường đời anh sẳn sàng nuông bỏ?!
Tôi tìm thấy bài thơ “Bức Tượng Thương Tiếc Nghĩa Trang Quân Đội” được đăng nhiều nơi, trong Tập San Y Sĩ, trong “Y Sĩ Với Nàng Thơ”, trong “Văn Học Quân Đội” và trên nhiều diễn đàn thân hữu. Tôi cho đây là một trong những bài thơ BS. Trần Xuân Dũng đắc ý nhất, và bài thơ dễ dàng gây xúc cảm cho độc giả.
Đêm tráng sĩ qua sông lần vĩnh biệt
Tưởng đang còn cuộc rượu lúc tàn canh.
Làm sao mà không xúc động thương tiếc những người chết trận vì không có gì cao quý hơn khi chết trận. Chết trận là chết không một than vãn, không một ai oán. Không có lấy một lời trân trối cho người yêu, không một lời xin lỗi với vợ dại con thơ. Người lính chết thật sự là những anh hùng đã đi vào huyết sử của dân tộc, là hồn thiêng của sông núi, là huyền thoại của đất nước. Họ vĩnh viễn là cánh gió tung bay trên vạn nẻo đường đất nước.
“Đêm sâu em nghe rờn rợn - Mắt Anh rực lá Quốc Kỳ - Hãnh diện đền ơn Tổ Quốc – Chiến trường nào Anh ra đi?”
Cho đến cuối cuộc đời, BS. Trần Xuân Dũng chứng tỏ mình là một con người chính trực, nhân hậu với nụ cười hiền lành luôn nở trên môi. Một con người trước sau như một, trong một dáng người roi roi khiêm tốn, không màng đến danh lợi. Anh là một bác sĩ công tâm, một quân y sĩ thanh liêm, đầy nhiệt huyết với Tổ Quốc, một chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến hết mình với anh em đồng đội, làm trọn nhiệm vụ với các thương binh. Một Sĩ Quan Quân Y thâm niên duy nhất còn lại làm việc tại trường Quân Y cho đến phút chót. Với gia đình, Anh là một người chồng lý tưởng, lo toan chu đáo cho vợ con; và một người cha gương mẫu, hiểu biết, nhận được sự thương mến và kính phục từ các con.
Em Vĩnh Chánh viết bài này như một lời ngưỡng mộ gởi đến niên trưởng đáng kính BS. Trần Xuân Dũng. Dù chưa một lần hân hạnh “diện ngộ và hàn huyên” với Anh.
Em xin thành kính phân ưu với phu nhân BS. Trần Xuân Dũng và gia đình. Cầu mong phu nhân và gia đình bảo trọng.
Em cũng xin chia buồn với BS. Trần Xuân Ninh và chị Trần Tường Vi.
Em Vĩnh Chánh cũng xin chia buồn với Ban Biên Tập “Tập San Y Sĩ Canada” vì sự mất mát của một cọng tác viên thâm niên và thân quý.
Em xin cùng được thắp nén nhang lòng, cầu nguyện hương hồn Bác Sĩ Trần Xuân Dũng vĩnh viễn bình an trong cõi vĩnh hằng, sau khi “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo – Thảnh thơi thơ túi rượu bầu”
Cho phần kết, đàn em xin mượn mấy vần thơ “Xin Bình Yên Cuối Đời”của Bác Sĩ Trang Châu để tưởng nhớ đến anh Dũng – mỗi khi nhìn thấy sao băng trong đêm – một Đàn Anh xứng đáng để thương tiếc.
“Đôi mắt, ngày xưa trừng nhìn biên ải
Quắt hận thù khi đồng đội vùi thây
Từng giận người đi, sầu người ở lại
Giờ, đêm về xin làm ánh sao bay”
Em Vĩnh Chánh - Quân Y Nhảy Dù
Quên quá khứ...( Nguyễn Văn Dõng)
Quên quá khứ... Nguyễn Văn Dõng
Sự đời có rất nhiều chuyện không nên nhớ, nhưng không vì thế mà phải quên đi tất cả. Mặt khác, có những người, trong vài trường hợp khá đặc biệt, không có quá khứ để quên. Ta có thể liên tưởng đến ông bộ trưởng hải quân Hoa Kỳ, Hùng Cao.
Ngày ông cùng gia đình trốn khỏi Việt Nam đi tỵ nạn CS, ông còn là một đứa bé con. Vì thế nên ông không thể có một quá khứ nào để nhớ để quên trên đất Việt. Cũng vì thế nên, 50 năm sau, khi trở về VN, với tư cách một người Mỹ, ông lớn tiếng kêu gọi chúng ta những người tị nạn CS, “Hảy quên đi quá khứ...”, ông làm tôi tưởng ông là VC ! Những kẻ ở Bắc bộ phủ có dư lý do để kêu gào người tị nạn CS nên quên di quá khứ - của VC - để “mang tiền về giúp họ xây dựng lại bằng 5, bằng 10, tô son trét phấn cho cái bản mặt ghê tởm của XHCN “...Quá khứ của họ chỉ gồm toàn xương máu đồng bào, nên họ cần được mọi người quên đi. Trái lại quá khứ của kẻ thù thì họ luôn mồm nhắc đi, nhắc lại nhằm che giấu bao nhiêu tội ác của chế độ CS, và cũng để đánh bóng tính cách “ưu việt” của kẻ chiến thắng...Người ngu vẫn nghĩ rằng thiên hạ đần độn hơn họ...
Ví như ông Hùng Cao có thân nhân bị VC chôn sống ở Huế, hay bị thảm sát trên đại lộ kinh hoàng ngày nào, hay bị VC giết chết trên chiến trường dù đã bị thương, thay vì giúp đở cứu chửa hợp nhân đạo... liệu ông có đủ can đảm, đủ khôn ngoan, để kêu gọi xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, và tự nguyện làm “trung gian” hoà hợp hoà giải với CS, giúp chúng nó xây dựng một xã hội tù đày, tham ô, thô bạo ?...
Người Mỹ có mục tiêu, chính sách riêng của họ. Ông Hùng Cao chỉ là con chốt sang sông. Ông đến VN với nhiệm vụ của chính phủ Mỹ giao phó; ông không có tí quyền hạng nào để bàn về vấn đề của người Việt tị nạn với VC. Những gì ông nói trong các lần hội kiến với các đảng trưởng CS, chúng ta không phải nhọc công thắc mắc, bình luận. Nếu có thắc mắc chăng, ta nên lưu ý đến cung cách “cà chớn” của VC, một tiểu xão tuyên truyền rẽ tiền của kẻ tiểu nhân : chúng nó không treo cờ Mỹ trong phòng hợp với các thẫm quyền cao cấp. Thiên hạ chỉ thấy Hùng Cao ngồi dưới tượng giặc Hồ hay đứng phát biểu với lá cờ đỏ sau lưng. Kẻ vô tâm, tối dạ sẽ lầm Hùng Cao là người nhà của VC. Chỉ có người không dầy dạng gió sương giang hồ mới chấp nhận sự việc như vậy. Một nhân vật quan trọng của một cường quốc mà được đón tiếp “đơn sơ” đến không có được lá cờ xứ mình ngang tầm cở với lá cờ đỏ trong phòng hợp !“Sự cố” nầy tôi mới gặp lần đầu, và có lẽ chỉ có ở VN.
Trái lại chúng ta phải hiểu một điều : tất cả những thành công rực rỡ của người tị nạn trên đất Mỹ đều thuộc về Mỹ, dân Việt không được hưởng một tí nào, ngoài chút hư danh theo kiểu thấy sang bắt quàng làm họ. Những quả bom phá sập núi non, tàn sát bọn phiến loạn, khủng bố Taliban có làm rụng sợi lông nào của VC để giải cứu dân ta đang bị đàn áp, nghèo đói đâu ? Đây cũng chính là điều làm tôi đau lòng không thua gì khi nhìn các đồng đội gục ngã trên chiến trường tuổi mới đôi mươi. Trí tuệ dân ta có kém ai đâu, cớ sao dân ta vẫn triền miên trong chậm tiến, nghèo đói..? Cái đau đớn, nhục nhằn nhứt là chúng ta đã bị Mỹ bán đứng cho CS, đẩy chúng ta xuống 9 tầng địa ngục; để rồi chúng ta lại phải mang ơn họ cứu vớt. Cuối cùng chúng ta đã cống hiến cho họ những thành phần ưu tú nhứt, giúp họ xây dựng một nước Mỹ hùng mạnh, giàu có. Dân ta thì vẫn khố rách áo ôm...Chúng ta đã thua, thua trên mọi mặt, thua tận xương tủy, thua không còn manh giáp !
“Buồn nầy bao kiếp nguôi”...?
Trên mạn khi đọc thấy hay nghe nói Ô. Hùng Cao về VN, tôi bắt tức cười : những nhà báo nầy nếu không dốt tiếng Việt thì cũng có hậu ý đánh lừa thiên hạ, những người dễ tính, lười suy nghĩ. Có bao giờ trong tư thế một người tị nạn nay đã nghiễm nhiên thành một nhân vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ, ông lại tự nhiên về thăm VN như mọi người? Vì không thể về VN như trăm ngàn người tị nạn khác đã làm, ông Hùng Cao chỉ về với một nhiệm vụ được chính phủ giao phó. Từ đó phải hiểu rằng những gì ông nói là nói với tư cách một người...Mỹ. Những câu “khách sáo” bên lề chỉ để cho vui vậy thôi, để khoe rằng ông cũng rành tiếng Việt, cũng “mang trong người dòng máu Việt”(chẳng lẽ máu của ông đã biến thành máu..Mỹ ?)... Ai tin là quyền của họ; kinh nghiệm sống cho thấy đối với người làm chính trị nên... cẩn thận. Ông bà ta đã dạy : ăn cơm chúa phải mùa tối ngày. Người biết chuyện khi nói đến ông Hùng Cao trong thời gian ông thăm VN, đểu phải nêu rõ danh tính của ông : “Bộ trưởng bộ Hải quân Hoa Kỳ” để tránh rất nhiều nhầm lẫn như đang lan tràn trên mạn, nhầm lẫn đưa đến tranh cải rất buồn cười. Đã có không ít người lớn tiếng gán cho ông Hùng Cao hai tiếng phản bội. Họ nói mà rõ ràng là họ chẳng biết nói gì khi họ vô tình trách ông bộ trưởng Hải quân Hoa kỳ đã phản bội công đồng người Việt tị nạn ! Toàn những cái thùng rổng thích kêu to. Có lẽ họ muốn ông Hùng Cao lợi dụng chuyến đi nầy để chống cộng...dùm họ ? Họ không vui tí nào khi thấy ông Hùng Cao tay bắt mặt mừng với các tay đầu xỏ VC, lại còn khuyến khích đôi bên cùng hợp tác trên nhiều mặt, từ kinh tế đến quốc phòng...Không một người tị nạn chân chính nào không “ nóng mặt” trước cảnh tượng đó cả. Đấy là phản ứng tự động rất tư nhiên, hợp tình, hợp lý. Nhưng người hiểu biết thì vẫn “mặt lạnh như tiền”; trên chính trường “thấy vậy mà không phải vậy, thưởng thì tệ hơn vậy nhiều”. Tôi cứ ngở bao nhiêu cái tối dạ, dốt nát VC đã gồm thâu làm của riêng hết rồi chứ...
Người Mỹ họ không chống cộng như chúng ta. Họ nói ít nhưng âm thầm làm nhiều. Hảy mở to mắt ra mà nhìn những gì TT Trump làm và đã làm được, từ Vénézula đến Cuba vì họ có dư phương tiện...VC bề ngoài vui vẽ đón tiếp “sứ thần” Hùng Cao, nhưng trong lòng lo bấn xúc xích : họ dư hiểu số phần của họ đang trong “tẩm nhắm” của Trump, một người mang quyết tâm không chấp nhận CNXH có mặt trên địa cầu nầy. Ngày nào Trung cộng bị đánh tan xác, không bằng súng đạn mà bằng kinh tế, ngày đó VC và cả Bắc Hàn cũng không thể sống sót. Riêng Cuba thì chế độ đã đến ngày tàn. Nhắc đến Cuba bổng thấy tức...cười. Tức vì người Cuba họ chống CS rất tích cực; họ không khi nào trở về “thăm nhà”, du hí và mang tiền về giúp CS sống vững như người Việt. Và cười vì người Việt còn hơn người Cuba xa, không những họ chỉ về “chơi” mà còn mang cả tài sản về dưởng lão nữa cơ. Còn gì để nói nữa không ? Mà nói gì với những kẻ trong đầu không có óc chỉ có bả đậu ?
Gần đây ông Hùng Cao xuất hiện và phát ngôn hơi nhiều trên mạn làm tôi lo cho ông ta, bởi vì người khôn nói ít nghe nhiều. Trong chính trường những cuộc phỏng vấn thường là những cái bẩy mà Tây gọi là “attrape-nigaud”. Nhìn lại thì trong bao nhiêu nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng VN chẳng có mấy ai xuất hiện nhiều như ông Hùng Cao. Phe ta vẫn còn cái cố tật thấy sang bắt quàng làm họ, nếu kéo vào băng để được dựa hơi lấy tiếng...Họ ồn ào mà chẳng bao giờ chịu hiểu rằng các chế độ đọc tài không bao giờ do dân trong nước đứng lên tự giải phóng được: họ sẽ bị tàn sát không thương tiếc. Chuyện Thiên An Môn còn đó, và gần đây hơn, trên 40 ngàn người Iran xuống đường biểu tình chống chế độ đọc tài của các giáo chủ hồi giáo, đã được các giáo chủ nầy giải thoát đưa lên “thiên đàng” để các tiên nữ trên đó hầu hạ... Đối với những kẻ chỉ biết dùng bạo lực để tồn tại, chúng ta phải mạnh hơn họ mới mong tự cứu được. Vì không hiểu điều nầy nên đa số chúng ta đã bị gạt một cách hết sức nhẹ nhàng qua cuộc kháng chiến cuội năm nào...
VNCH đã bị Mỹ Dân Chủ bán cho CS, thì nay Mỹ Cộng Hòa chứ không ai khác sẽ đủ sức mạnh để giải cứu VN.
Clermont Ferrand, một ngày vào Hạ 2026.
NỢ ẤM Ớ (Nghiêm Hữu Hùng)h
Hình trên Nét
NỢ ẤM Ớ (NHH)
Trước hết xin thưa với các bạn đọc là chữ NỢ ẤM Ớ tôi dùng làm đề tựa cho câu chuyện này, hoàn toàn đứng đắn, không hề có dụng ý giễu cợt, chỉ vì tôi không biêt dùng chữ nào khác để diễn tả câu chuyện dười đây:
"Tôi không hề NỢ ông bạn này bất cứ một thứ gì. Tiền cũng KHÔNG mà ÂN TÌNH lại càng KHÔNG.!
Thế mà tôi đã phải ký giấy cho ông ta, nhận là mình đã nợ và cũng đã trả cho ông ta gấp cả chục lần về một thứ mà mình… không hề nợ !".
Câu chuyện tuy hơi dài dòng, nhưng với ai đã từng đi "Tù Cải Tạo" sẽ dễ thông cảm hơn.
Ngày 22 tháng 5 năm 1979, sau gần 4 năm tù, và nhiều lần chuyển trại, tới Hốc-Môn, thì tôi nhận được "Lệnh Tha", và được phóng thích 2 ngày sau đó, tình cờ trùng vào đúng ngày Sinh Nhật của tôi. Sở dĩ tôi bị tù lâu hơn các chuyên viên khác một năm vì trong hồ sơ đã từng bị kỷ luật, cùm chân, vì những "phát ngôn linh tinh".
Và đây là câu chuyện nợ:
Ở Hốc-Môn, đời sống tù tương đối dễ chịu vì có đất để canh tác, nên những bạn tù giỏi về mưu sinh, đã trồng thêm rau, bầu, bí, mướp v...v...
Nhân vật "chủ nợ" của tôi là một ông Thiếu Úy đã lớn tuổi, gốc Hạ Sĩ Quan, đi lính từ thời Pháp, dân Nghệ An, có cái tên khá hiếm và tương đối dễ nhớ là Nguyễn văn RA.
Ban đầu ông Ra có biệt danh là 'Ra-ăng-ten' vì là tổ trưởng, nhiêm vụ chính của anh ta là báo cáo với trưởng trại giam về những lời nói và hành động của tù nhân có thể gây nguy hiểm cho ... "Cách Mạng".
Sau đó ông Ra lại được đăt thêm một tên nữa là "Ra-Vịt" , không phải tên Tây, mà vì đã tận tình làm ‘ăng-ten’ nên anh ta được hưởng đặc ân cho nuôi một đàn vịt khoảng 7, 8 con.
Sinh ra từ vùng đất 'Chó ăn đá, gà ăn muối' ở Nghê An, cũng là quê hương của Hồ chí Minh, cộng thêm cuộc sống đói khổ trong tù, nên ông Ra xem bày vịt là cả một gia tài, sẵn sàng... "hy sinh tính mạng" để bảo vệ ... mấy con vịt!.
Nuôi vịt trong trại tù là một công việc cực kỳ khó khăn, đất Hốc-Môn khô cằn nên đào bới suốt ngày để tìm 'giun', thức ăn khoái khẩu của loài vịt mà vẫn không thấy, ông Ra đành phải chầu chực bên bếp ăn với chút hy vọng xin cơm thừa của bọn cán bộ việt cộng!
Nhưng kế hoạch này coi bộ cũng không khá vì bọn bộ đội có thói quen từ trong rừng, theo lời dạy "Cần; Kiệm, Liêm Chính"của bác Hồ: "Phải liếm đến hột cơm cuối cùng để vừa khỏi đói, vừa không tốn nước rửa bát".
Sau cùng, vì lo lũ vịt đói nên ngày ngày ông Ra phải ra cầu tiêu công cộng của trại giam, dùng vợt vớt lũ giòi lúc nhúc đem lên tắm rửa sạch sẽ cho từng con giòi, rồi "dâng" lên cho lũ vịt của ông... 'sơi'.
Chắc nhiều người cũng chưa từng được chứng kiến cảnh mỗi khi ông Ra khệ nệ bưng mâm giòi ra, lũ vịt cũng ... rùng mình bỏ chạy !
Lo toan đến thế mà lũ vịt của ông ta vẫn còi cọc, nên ông Ra than thở: "Bọn tù còn thiếu ăn nên 'phế phẩm' không đủ các loại vi-ta-min B1, B12, cholesterol .... Làm cho vịt của tui vừa thiếu thông minh, vừa ... chậm lớn" !!!.
Thật tình mà nói, trên đời này. rất khó tìm ra người nào mang sắc đẹp tổng hợp của "hồn thiêng sông núi" như ông Ra !
Đôi mắt ti hí, cùng với đôi môi sưng phồng như "Lồn trâu đến tháng đẻ" của đồng chí Thủ Tướng Phạm văn Đồng, đươc gắn trên khuôn mặt dài như mặt... "ngựa cái tới ngày động đực" của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn một cách rất 'hài hòa'!
Thế mà ông Ra vẫn lấy làm tiếc vì bộ răng vẩu đã làm cho phát biểu của ông trong những buổi học tập về lời dạy của Lê Duẩn: "Chúng ta đánh Mỹ ở đây là đánh giúp cho ông Liên Xô và ông Trung quốc!", trở nên thều thào, mất hẳn đi tính chất "oai hùng" của đồng chí Tổng bí thư!.
Thật đến khổ cho tôi ! vì chỗ nằm của tôi ngay bên cạnh ông Ra! Nên mỗi buổi tối trước khi ngủ, ông ta bắt mấy con vịt cho nằm chung trong mùng vì sợ chúng đi lạc hoặc bị đánh cắp.
Tôi mất ngủ vì mùi hôi của vịt và tiếng lục xục của lũ vịt cứ "cạp-cạp" cả đêm !
Mùi hôi thì chịu mãi cũng quen, nhưng tối ngủ mà hai tay tôi cứ phải bịt chặt phần...dưới, vì những cơn 'ác mộng' xảy đến hàng đêm, lũ vịt đói với cặp mỏ cứng như thép, tốc mùng chui vào, cứ nhằm đúng cái gì trông giống như con giun mà mổ, rồi 'nuốt chửng' cái dụng cụ để 'nối dõi tông đường' của mình, trong lúc tuổi còn xuân, chưa từng biết yêu ai!
Nên mỗi buổi sáng thức dậy kiểm soát thấy vẫn còn 'nguyên vẹn hình hài' mới thật sự ... yên tâm!
Hơn thế nữa, ở cạnh một tên 'ăng-ten', tôi tự nhiên biến thành một người tu 'tịnh khẩu' để khỏi mang họa vào thân, mặc cho ông Ra 'độc thoại'.
Câu chuyện đắc ý nhất mà ông ta kể cho tôi nghe cả trăm lần:
"Sở dĩ tôi mang tên RA là vì ở quê bác, đàn bà ăn nhiều mắm quá nên đều... đẻ khó, tới lúc mạ tui sanh tui, tía tui đứng ngoài vừa giậm chân vừa chửi "Đụ mạ mi, RA... mau đi, thế là tui... "phọt" ra!
Dù xấu người xấu nết nhưng vẫn phải công nhận ông Ra là người có tầm nhìn xa, không thua gì... Bác Hồ ! Mỗi tối trước khi ngủ ông đều lục trong ba-lô tấm hình của cô con gái, say sưa ngắm nghía, rồi chìa ra cho tôi xem, nức nở khen ngợi sắc đẹp con gái mình vì trông cô ta... "giống y như bố"!!!
Tuy nhiên, nhờ tầm nhìn xa, ông Ra chỉ đem khoe hình cô con gái với những anh còn trẻ và độc thân -trong số đó có tôi- và đối xử khá nương tay, tránh cho những công việc nặng nhọc và không báo cáo với bọn cán bộ mỗi khi mình vi phạm nội quy.
Tôi đang sống yên ổn nhờ cái "mác" độc thân thì bỗng một hôm bị ông Ra coi như kẻ thù "không đội trời chung!".
Buổi sáng bôm đó, khuôn măt luôn cau có, khó đăm đăm của ông ta tự nhiên trở nên vui tươi, nhẹ nhõm và ông ta ra lệnh cho anh em được miễn lao động nặng nhọc một ngày.
Thái độ bỗng nhiên quay ngoắt 180 độ của ông ta, được một anh bạn trẻ, vui tính giải thích:
"Đêm qua, nghe tiếng vịt rên la thảm thiết, thức dậy đi đái, qua chỗ ông Ra nằm, nhìn vào mùng thì thấy ông ta đang ... ''ấy" với con vit, nên sáng nay mặt mũi mới tươi tỉnh như thế !!!".
Một anh bạn khác, chẳng hiểu vì tò mò hay vì muốn trêu chọc ông Ra, còn bắt con vịt đang đi lạng quạng cuối đàn, rồi vạch đít ra xem, sau khi bị ông Ra... "ấy", nó có mắc bệnh trĩ, giống ông Ra, chủ của nó không?
Sau lời đồn này, ông Ra tự nhiên có thêm một biệt danh mới là "Mông sừ Đu-Vi", mà vì không biết tiêng Pháp nên tôi cũng không rõ ý nghĩa và điển tích ra sao.
Chẳng biết lời đồn bắt đầu từ ai, nhưng ông Ra cứ cả quyết tôi là "thủ phạm", vì chỗ nằm của tôi ngay cạnh ông ta!
Kể từ hôm đó, bao nhiêu "đau khổ của trần gian" đều giáng lên đầu tôi ! Những công việc lao động nặng nhọc nhất ông ta đều bắt tôi làm một mình và báo cáo cho bọn cán bộ là tôi "học tập không tiến bộ," "trây lười lao động", kể cả chuyện ... ban đêm tôi ngủ mà tay cứ bịt chặt phần dưới, làm mất cả "khí thế cách mạng !!!"
Kể ra, với những người suốt đời đói khổ, nếu có xấu tính một chút cũng là điều có thể hiểu được, nhưng không may cho tôi, lúc đó mỗi lần được thăm nuôi, anh em tôi ở Mỹ đều gửi quà cho, mà tôi lại cố tình lờ ông ta đi vì khinh ghét những con người chỉ vì một chút quyền lợi nhỏ mà sẵn sàng chà đạp lên thân xác người khác !!
Trở lại với câu chuyện NỢ
Sau khi nhận 'Lệnh Tha và chờ ngày phóng thích, thường thì những người may mắn được về trước sẽ để lại số tiền nhỏ nhoi còn sót lại và tất cả mùng-mền-chăn-chiếu rách nát cho các bạn tù kém may mắn còn ở lại. Và theo thông lệ cùng nhau đóng góp chút tiền để tổ chức một bữa tiệc chia tay.
Bữa tiệc chia tay tôi hôm đó do "giặc lái" Mai văn Kỳ, biệt danh "Kỳ Rỗ", phi công C130, đảm nhận. Mai văn Kỳ, người bạn thân nhất của tôi trong tù, là một chàng phi công cực kỳ nóng tính nhưng hiểu đời, rất thông minh và tốt bụng.
"Giăc lái" Mai văn Kỳ, liên lạc với một thằng bộ đội nhóc con (sau mấy năm 'giải phóng' đã bắt đầu biết ăn hối lộ), nhờ mua một bi-đông rượu đế và một con vịt để nấu cháo và đánh tiết canh. Dĩ nhiên giá con vịt này ít nhất cũng gấp 3 lần bên ngoài, nhưng sống trong tù, quanh năm đói khổ nên thức ăn quan trọng hơn tiền nhiều.
Chuyện mua bán 'lậu' này được trao đổi bí mật qua hàng rào kẽm gai của trại giam, với lời dặn của thằng bộ đội:
"Nếu lỡ bị bắt gập, các anh nhớ không được khai em ra, để mấy người khác sau này còn mua bán được, và các anh sẽ bị kỷ luật, nguy hiểm hơn em nhiều"
Tôi không hề biết chuyện mua bán này, nếu biết chắc chắn tôi đã cản vì nhớ lại cảnh vịt ăn giòi và những cơn 'ác mộng' ban đêm đang ngủ, bị lũ vịt đói tấn công vào tận 'mật khu', để biến tôi thành một anh chàng pê-đê... miễn phí, mà vẫn còn ... ớn lạnh !
Không may cho chúng tôi, đúng ngày hôm ấy, đàn vịt của ông Ra bị mất 2 con, nên ông ta cả quyết con vịt bị mất là do chúng tôi ăn cắp !
"Tình ngay mà lý gian!" vì cả bọn chẳng có ai nuôi vịt mà lại có vịt để ăn, nhưng không thể giải thích về gốc tích của con vịt !
Suốt cuộc đòi tôi chưa bao giờ được thấy cảnh một người đàn ông "Khóc cho con vịt ... vừa nằm xuống" vừa bi thương vừa hung dữ đến thế !
Ông Ra xông lại chỗ chúng tôi vừa khóc vừa chửi thề rất tục tĩu:
"Đụ mạ bọn trí thức Ngụy như chúng bay chỉ toàn là một lũ ...ăn cắp! Tao sẽ báo cáo cho cán bộ biết để bỏ tù chúng bay... rục xương!"
Nghe thế, Kỳ rỗ nổi điên, vác ngay con dao vừa cắt cổ vịt để đánh tiết canh, xông tới định ... cắt cổ Ra-Vịt. Cũng may mà chúng tôi dành lại được, nên mới tránh được cảnh … "Máu nhuộm Bến Thượng Hải" trong Trại Cải Tạo.
Tình thế thật khó cho tôi, vì nếu ông Ra làm lớn chuyện, báo cáo cho bọn cán bộ, thì không chừng tôi sẽ phải ở tù thêm, không có ngày về.
Sau cùng một vị Tu Sĩ Phật giáo -suốt đời ăn chay- đã đứng ra gỡ rối cho tôi, bằng cách tự "nhận tội" trộm vịt vì quá thèm tiết canh và cháo vịt !!!
Chúng tôi gom góp tiền để đền cho "Mông Sừ Đu-Vi" và dâng luôn đĩa tiết canh cho ông ta vì chẳng còn hứng thú gì.
Nhìn cảnh ông Ra khóc thương con vịt mà miệng đỏ lòm vì ngồm ngoàm... tiết canh, tôi bỗng nhiên vừa buồn vừa thương hại nên an ủi anh ta:
"Anh Ra ạ, gia đình tôi bên ngoài dư ăn nên mai mốt anh được tha về, cứ ghé nhà tôi, tôi sẽ cho anh đủ tiền để ăn thịt vịt một tháng'
Điều lạ nhất là ông Ra không tin tôi, nên bắt tôi ký giấy nợ anh ta một tháng ...tiết canh vịt !!!
Hai năm sau, một hôm ông Ra đạp xích lô (nghề mới của anh ta sau khi ra tù) đến nhà tôi, chìa ra tờ giấy nợ.
Cả tháng sau đó, mỗi buổi chiều, tôi và Kỳ Rỗ chễm chệ ngồi trên xích-lô do Ra-Vịt đạp tới quán cháo vịt nổi tiếng gần Chợ Bến Thành để nhậu rượu đế với tiết canh vịt.
Tôi rất vui khi làm việc trả nợ này vì đọc ở đâu đó lời khuyên:
"NỢ là phải TRẢ, nếu kiếp này không trả được thì sẽ vướng mắc tới kiếp sau!".
Trong câu chuyện này, tôi không hề NỢ ông Ra bất cứ một thứ gì! TIỀN cũng không mà ÂN TÌNH lại càng KHÔNG !
Nhưng tôi vẫn cứ "tạm ứng" ra mà trả cho ông ta, vì "Duyên Khởi Trùng Trùng"
Nếu kiếp sau mà tôi có gập lại ông Ra thì cũng chẳng sao, dù nhớ hay quên vẫn có thể dắt nhau ra quán nhậu rượu đế với tiết canh, chẳng hận thù gì.
Nhưng nếu lỡ chẳng may mà gập phải con gái ông ta thì ...’Bỏ Mẹ.’
NHH
Người Em Sầu Mộng
Bà là Phùng Thị Cúc, sinh năm 1920; một người con gái xứ Huế. Trong tập Hồi ký có tựa Nửa đêm sực tỉnh (Nxb Thuận Hóa, 1989), nhà thơ Lưu Trọng Lư kể: Khi đó Phùng Thị Cúc là một cô nữ sinh từ Huế ra Hà Nội học.Trên chuyến tàu tốc hành Huế – Hà Nội, cô được người chị là bạn của Lưu Trọng Lư gửi gắm nhà thơ trông nom giùm em gái, với lời dặn thân tình “dọc đường giúp em một chút”.
Cúc là cô gái Huế sang trọng, đài các, hoa khôi của Trường Đồng Khánh Huế đã hút hồn nhà thơ đa tình ngay từ phút đầu gặp gỡ. Suốt chặng đường dài, hai người cũng chẳng có chuyện gì nhiều để nói với nhau. Cúc im lặng ngắm cảnh dọc đường. Và nhà thơ thì lẳng lặng nhìn ngắm giai nhân. Khi tàu về đến ga Hà Nội, thay vì chia tay nhau, nhưng nhà thơ đã hỏi địa chỉ và tình nguyện đưa cô đến tận nơi.
Tìm đến đúng địa chỉ, ông đưa Cúc lên tận căn gác nhỏ, nơi có căn phòng của những người bạn, người chị của cô đang ở. Chào hỏi, dặn dò rồi chia tay. Khi vừa xuống gác, ra đến đường thì tình cờ nhà thơ gặp thi sĩ Phạm Hầu. Phạm Hầu mời Lư vào nhà chơi. Khi lên gác, bước vào một căn phòng, mở cửa sổ ra, nhà thơ giật mình khi nhìn thấy người bạn đường xinh đẹp mà mình vừa chia tay ít phút trước đây đang ở ngay bên khung cửa sổ căn phòng đối diện!
Vậy là không một chút đắn đo, Lư quay sang nói ngay với bạn: “Mình ở luôn đây với cậu được không?”. Phạm Hầu nhiệt tình vui vẻ đồng ý. Suốt mùa đông năm đó, giữa cái giá lạnh của tiết trời Hà Nội, nhà thơ đã được sống trong sự ấm áp dịu nhẹ của một mối tình sáng trong, thơ mộng. Và cũng từ đấy bài thơ Một mùa đông của Lưu Trọng Lư đã ra đời với những câu thơ bất hủ như:
Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói,
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng…
Ở căn phòng bên này cô gái cũng không thể vô tình. Bởi ngay lần đầu tiên, khi nhà thơ nhìn qua cửa sổ đã bắt gặp đôi mắt Cúc mở to, sững sờ nhìn người anh “dẫn đường” rồi sau đó bối rối mỉm cười rời khỏi khung cửa. Sau này, thật lạ lùng mỗi khi nhà thơ bất thần mở cửa sổ lại nhìn thấy Cúc: khi thì đang ngồi đọc sách ôn bài, khi thì đang cắm một lọ hoa. Cũng có khi Cúc chẳng làm gì, ngồi suy tư mơ mộng. Cũng có khi nghe một tiếng ho nhẹ, nhà thơ mở hé cửa nhìn sang lại bắt gặp nụ cười bối rối, e thẹn của người đẹp. Cũng có lần khi mở cửa sổ, nàng không hề ngước lên nhìn, cho đến lúc cánh cửa như tự nó khép lại. Lại có lần không biết vì chuyện gì, Cúc ném sang bên này một cái nhìn hờn giận, trách móc khiến nhà thơ ngơ ngẩn suốt một buổi chiều.
Mọi việc dường như chẳng có gì khác lạ: Cửa sổ mở rồi lại đóng, đóng rồi lại mở. Thế nhưng sự trông đợi nhớ nhung đã thấm vào gan ruột từng ngày từng ngày một. Làm sao có thể nhớ hết được biết bao lần Cúc đã vào trong giấc mơ của thi sĩ đa tình, đã trở thành nguồn cảm hứng cho bài thơ Một mùa đông ra đời. Bài thơ gồm những đoạn kể lại một chuyện tình trong mộng ảo mà thấm đẫm những nỗi đau có thật.
Yêu hết một mùa đông
Không một lần đã nói,
Nhìn nhau buồn vời vợi
Có nói cũng không cùng.
Trời hết một mùa đông
Gió bên thềm thổi mãi,
Qua rồi mùa ân ái:
Đàn sếu đã sang sông
Em ngồi trong song cửa
Anh đứng dựa tường hoa,
Nhìn nhau mà lệ ứa,
Một ngày một cách xa.
Đây là dải Ngân Hà,
Anh là chim Ô thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Một đêm một lần qua…
Nhà thơ đã lý giải thật tài tình tâm trạng và nỗi lòng của mình. Có lẽ đây là đoạn thơ có những câu thơ ấn tượng hơn cả:
Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời,
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.
Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân?
Thật thú vị khi được biết rằng trong bài thơ lãng mạn này lại chứa đựng những câu chuyện hoàn toàn có thực. Nhà thơ kể rằng, sau một thời gian sống cạnh nhau, tình cảm của hai người cũng có “bước phát triển” mới. Theo sự sắp đặt của những người bạn, có lần hai người đã đi chơi Chùa Thầy cùng với một nhóm bạn. Sau một hồi leo núi, nhìn chung quanh chẳng thấy ai, chàng và nàng ngượng ngập đi bên nhau. Đến trưa cả nhóm mới trở lại sân chùa cùng ăn trưa. Bữa trưa có gà quay và rượu vang Pháp. Bắt chước mọi người, Cúc cũng uống vài ly rượu nho. Đôi má ửng hồng và cặp môi nhuốm màu nho chín, rơi trên trán vài lọn tóc đen nhánh… Tất cả đã tạo thành một hình tượng nghệ thuật có sức ám ảnh lớn:
Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em vẫn đùa nô uống rượu say.
Em có biết đâu đời vắng lạnh,
Lạnh buồn như ngọn gió heo may.
…
Tuy môi em uống, lòng anh say,
Lời em càng nói càng chua cay
Anh muốn van em đừng uống nữa,
Lệ buồn sẽ nhỏ trong đêm nay…
Nhà thơ Lưu Trọng Lư
Nhưng câu chuyện tình thơ mộng của họ cũng chỉ đi đến đó. Họ mãi mãi chỉ là đôi tình nhân giữa một nghìn trùng xa cách vì rất nhiều lý do. Mãi đến năm 1975 họ mới có dịp gặp lại nhau. Lúc đó Phùng Thị Cúc từ Paris về Hà Nội. Người em gái bé bỏng ngây thơ hôm nào bây giờ là bà Điềm Phùng Thị – một Điêu khắc gia nổi tiếng thế giới.
Tìm hiểu thêm sự nghiệp của bà Điềm Phùng Thị thì được biết: năm 1946, bà tốt nghiệp Bác sĩ Nha khoa tại Hà Nội, nhưng không lâu sau đó, vì mắc phải một cơn bạo bệnh, bà được đưa sang Pháp điều trị. Tại Pháp, sau khi khỏi bệnh, bà tiếp tục theo đuổi con đường học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án Tiến sĩ Nha khoa. Trong khoảng thời gian này, bà đã cùng một người bạn mở một phòng khám nha tại Paris. Tại đây bà đã gặp, yêu và kết hôn cùng ông Bửu Điềm, vốn là một bác sĩ đang sống ở Pháp. Cái tên Điềm Phùng Thị của bà cũng ra đời từ đó khi họ của bà được ghép cùng tên của chồng.
Sau khi lấy được tấm bằng tiến sĩ, thay vì cống hiến cho sự nghiệp khoa học, bà lại bước vào thế giới nghệ thuật với rất nhiều điều lạ lùng. Đến với điêu khắc từ 1959 khi vừa 40 tuổi, bà vừa làm phòng mạch, vừa tự học điêu khắc. Ít lâu sau, để hoàn thiện bà ghi danh theo học điêu khắc tại xưởng của điêu khắc gia Volti ở Paris.
Năm 1966, bà có triển lãm riêng đầu tiên tại Galerie des Jeunes, Paris. Tượng Mẹ và con của bà đã hoàn toàn chinh phục được công chúng thưởng lãm. Chính phủ Pháp đã quyết định mua bức tượng để đặt trong một công viên trẻ em.
Thành công từ bức tượng đầu tiên ra mắt công chúng yêu nghệ thuật, bà bắt tay vào làm nhiều tượng mới để một năm sau đó bà lại có cuộc triển lãm tại Gallery Kasler ở Copenhagen, Đan Mạch, và sau đó là các cuộc triển lãm riêng và chung ở nhiều nơi khắp châu Âu.
Bà cũng là người có nhiều sáng tác thơ văn. Bài thơ “Marie, em vẫn đẹp!”” do bà sáng tác lúc về an dưỡng tại quê nhà:
“Và nếu có ai đó ngắm nhìn
dừng chân và cảm mến
con người trong tôi
tức là tôi đã thành công
Nếu tôi thất bại và chẳng ai chìa tay cho tôi
tôi sẽ đút tay vào túi, thật sâu
mặc kệ không sao đâu,
Marie, em vẫn đẹp như thường!”
Tháng 2/1994, Nhà Điềm Thị Phùng ở số 1 Phan Bội Châu, Huế chính thức khánh thành. Đây là nơi ở cuối đời và cũng là nơi trưng bày hơn 200 tác phẩm của bà. Trước khi qua đời vào năm 2002, bà quyết định chuyển toàn bộ tác phẩm còn lại ở Sài Gòn (trên 130 tác phẩm) và ở Pháp (trên 50 tác phẩm) về Huế. Đây thật sự là món quà vô giá mà bà gửi tặng quê hương trước khi đi vào cõi vĩnh hằng…
Tôn Thất Thọ
-Nhạc phẩm Người Em Sầu Mộng- Ca sĩ Sĩ Phú trình bày:
https://youtu.be/ASU7Lv2fv7I?si=t9JER_wmUzog6uUN
Lake America
LBJ would prank guests at his ranch by driving his car into the lake.
LBJ would prank guests at his ranch by driving his car into the lake.
Not many people were lucky enough to own an Amphicar, the only mass-produced civilian amphibious vehicle, but at least one of them put theirs to good use. Lyndon B. Johnson, the 36th president of the United States, used his Lagoon Blue model to prankunsuspecting guests at his ranch in Stonewall, Texas, by driving it into the lake without warning. On land, the Amphicar looked like any other car; once in the water, propellers turned it into a boat.
One victim of the prank, Joseph A. Califano Jr., served as LBJ’s special assistant for domestic affairs at the time. As the car began rolling down an incline at the lake’s edge with Califano in it, he recalled the president shouting, “The brakes don’t work! The brakes won’t hold! We’re going in! We’re going under!” It took him a few moments to realize he was safe, but LBJ teased him for his reaction later: “Did you see what Joe did? He didn’t give a damn about his president. He just wanted to save his own skin and get out of the car.” Good thing Califano wasn’t in the Secret Service.
DID YOU KNOW?
LBJ won his Senate primary by just 87 votes.
The future president had represented Texas’ 10th congressional district for 12 years by the time he decided to take a second go at the upper chamber, having lost a 1941 election to fellow Democrat Pappy O’Daniel by 0.23%. His next Senate race was even closer. His opponent for the Democratic nomination in 1948 was Coke Stevenson, who had just finished six years as governor of the Lone Star State. The initial tally was 477,077 votes (39.68%) for Stevenson and 405,617 (33.73%) for Johnson. Because neither candidate reached 50%, it went to a runoff. This was the real nail-biter, as Johnson emerged victorious with 494,191 votes (50.004%) to Stevenson’s 494,104 (49.996%) — a difference of just 87 ballots. The controversial bout was rife with claims of voter fraud from both camps, with LBJ earning a tongue-in-cheek nickname in the process: Landslide Lyndon. He lived up to it in the Senate general election though, winning 66% of the vote and holding the office until becoming vice president in 1961

Quisque iaculis facilisis lacinia. Mauris euismod pellentesque tellus sit amet mollis.