• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

Cáo Phó: Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần

September 13, 2026 Ninh Tran
Tags Cáo Phó: Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần
Comment

YÊU NGƯỜI MIỀN TÂY (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

September 9, 2026 Ninh Tran

THƠ: YÊU NGƯỜI MIỀN TÂY

 

Tôi yêu em gái xứ miền Tây,

Tóc cài hoa bưởi, dáng em gầy,

Trong chiều buông nắng em hong áo,

Tha thướt, mượt mà, suối tóc mây.

 

Có lẽ quê em xứ nhà nông,

Xa phố Hà Nội, phấn bụi hồng,

Chẳng màu hư ảo, hương không sắc,

Nên anh mơ ước chốn dòng trong,

 

Có em mặc quần lĩnh, áo nâu,

Tóc buông lơi, nón lá đội đầu,

Áo bà ba, khăn rằn, mộc mạc,

Đẹp làm sao, guốc mộc qua cầu.

 

Đơn sơ em hò giọng miền Nam,

Vịnh nước phù sa, sóng ngoài vàm,

Thong dong khua chèo trên sóng nước,

Chẳng ngại bùn đen, nước rừng tràm.

 

Tôi yêu nàng quán xuyến sớm hôm,

An nhiên cuộc sống, chẳng ôm đồm,

Yêu da em dòn nâu sông nước,

Má hồng nắng sớm, ráng chiều hôm.

 

Yêu người tâm hiền hòa thanh thản,

Như gió rì rào cánh đồng hoang,

Như hương lúa chín ngày gặt hái,

Mùi cơm gạo đỏ, nồng bếp than.

 

Chẳng nghe líu lo lời quan thoại,

Tiếng ngoại bang trên xứ quê nhà,

Chỉ nghe thân thương lời quê ngoại,

Như gió hạ luồn mái hiên nhà.

 

Miền Tây sông nước đất hiền hòa,

Xin giữ thuần phong xứ quê nhà,

Mênh mang tâm hồn người xứ Việt,

Bao la ân nghĩa đất ông cha.

 

Dù anh lãng bạt khắp đó đây,

Nương cao, suối biếc, chắn rừng mây

Mỏi cánh chim bay dài sông núi,

Vẫn mộng về em, người miền Tây.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Thơ Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, YÊU NGƯỜI MIỀN TÂY
Comment

BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH (Vĩnh Chánh)

September 9, 2026 Ninh Tran

BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH

        Tôi bắt đầu biết đến BS. Trần Xuân Dũng vào khoảng gần cuối thập niên của đầu của thế kỷ 21 sau khi đọc được mấy bài của tác giả trên mạng lưới và lai rai qua Tập San Y Sĩ Canada, và biết đó là một đàn anh từng phục vụ trong Quân Y Thủy Quân Lục Chiến. Lời văn đượm vẻ khí khái của một tinh thần bất khuất, nhất là từ một số bài thơ và những câu truyện ngắn.

          Giữa năm 2013, tình cờ được một bạn cho đọc ké cuốn “Y Sĩ Với Nàng Thơ” – một chủ đề được chính BS. Trần Xuân Dũng đề xướng và kêu gọi đóng góp trong đại hội y sĩ thế giới 2011 - tôi nhận thấy các bậc trưởng thượng, các niên trưởng, quý đàn anh với đa số từng là những quân y sĩ trong mọi binh chủng, có thật nhiều tài hoa thi phú. Thật đáng nể! 100 tác giả, theo lời tựa của BS. Phạm Hữu Trác “không hẹn mà gặp, cùng chung một căn cước tương đối đồng nhất là nghề thầy thuốc, sinh hoạt trong một khoảng dài thời gian ba chục năm trên tờ Tập San Y Sĩ, tụ họp lại trên trang giấy trắng này…Xin người đọc đừng trông đợi một sự đồng hành, cũng đừng tìm trong sách một đề tài chung. Họ là những tấm lòng trên không gian rộng và thời gian dài… Họ dùng ngôn ngữ, âm điệu, ý tưởng để tạo ấn tượng cảm giác. Như những nét vẽ trên một bức họa, có những màu sắc để người xem tranh chấm phá cho mình, xin tìm trong thơ những góc trống tâm cảm thường dành cho người đọc tham gia vào sáng tạo”. Phải chăng tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ” nói trên cùng lời tựa đã đánh động khả năng sáng tạo và thúc đẩy cá nhân tôi trải bày tâm tư trên trang giấy, với bài viết đầu tay “Tháng Ngày Tao Loạn”.

          “Không hẹn mà găp” - xin được lập lại một câu viết trên của BS. Trác, khi vào năm 2017 đến thăm Bác Sĩ Hoàng Ngọc Vinh ở Montreal, người bạn thân từ thủa sinh viên YK ngoài Huế, tôi tìm thấy và đọc bài “Thương Vong Các Y Sĩ TQLC” của tác giả Trần Xuân Dũng, nằm kế bài “Tôi Đi Nhảy Dù” của mình trong Tập San Y Sĩ “Quên Mình Cứu Người” xuất bản tháng 5, 2017. Một bất ngờ rất thú vị, đánh dấu một liên hệ tâm linh nào đó đang phôi thai giữa người đàn anh tên tuổi và thằng em đang chập chững vào đời?!

                   “Hồn linh còn vương trên tóc bạc

                     Anh nhớ sa trường, em có hay”

   Thấm thoát vài năm sau, nhân biết chị Trần Tường Vi Bảo Anh đi Úc thăm anh mình, tôi nhờ chị mang cuốc sách “Tháng Ngày Tao Loạn” của mình vừa xuất bản tháng 7, 2019, tặng BS. Trần Xuân Dũng sống tại Melbourne. Tháng 9 cùng năm, tôi nhận sách của BS. Dũng tặng ngược lại cho mình, không phải một cuốn sách mà đến 2 cuốn. Cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” (dài 696 trang) và “Văn Học Quân Đội”(khổ lớn, gồm có 630 trang). Cả 2 cuốn sánh luôn chiếm vị trí trân trọng  trên kệ tường, ngay trước mặt mỗi khi tôi ngồi gõ viết bài. Ngoài tôi, anh Dũng còn gởi thêm mấy cuốn Văn Học Quân Đội nhờ tôi trao tặng cho Viện Bảo Tàng Lịch Sử Quân Lực VNCH ở Little Saigon. 

          Tôi chọn cuốn “Sống Chẳng Còn Quê” đọc trước vì cái đầu đề hấp dẫn – với ý nghĩ hầu như đa số người tỵ nạn CS chúng ta hiện sống tại hải ngoại đều một lòng nghĩ như thế!? Cuốn sách là một tự truyện viết về thân thế gia đình cha mẹ, 3 anh em Trần Xuân Ninh, Trần Xuân Dũng và Trần Tường Vi, từng lớn lên và sinh sống ở Vinh, đã phải lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rốn tìm đường lên Hà Nội, rồi sau đó vào Nam ngay sau khi hiệp định Genève. Cả 3 anh em hết sức cố gắng học hành, vì thương thân phụ cực khổ nuôi 3 con khi thân mẫu lại mất sớm. Anh Cả là Bác Sĩ Trần Xuân Ninh tốt nghiệp YK Saigon năm 1963, về sau trở thành một Giảng Sư về môn Giải Phẫu Nhi Khoa; em kế là Bác Sĩ Trần Xuân Dũng tốt nghiệp YK Saigon 1965, sau đó trưng tập và tình nguyện phục vụ Quân Y Thủy Quân Lục Chiến; em gái Trần Tường Vi tốt nghiệp Nữ Hộ Sinh Quốc Gia Saigon năm 1968.

Khi gia nhập Quân Y TQLC, BS. Trần Xuân Dũng được đưa về làm Y Sĩ Trưởng TĐ 4 TQLC một thời gian khá lâu rồi qua phục vụ các TĐ 3 TQLC và TĐ 6 TQLC trước khi trở thành Y Sĩ Trưởng Chiến Đoàn B TQLC vào cuối tháng Giêng 1968. Vì vậy BS. Dũng đã tham gia trận đánh Mậu Thâu 1968 với Chiến Đoàn B tại Tân Sơn Nhất, Saigon và tỉnh Gia Định. Gần nửa năm sau, anh lại được thuyên chuyển ra Quảng Ngãi làm Đại Đội Trưởng ĐĐ 2 Quân Y, về sau trở thành Tiểu Đoàn 2 Quân Y khi đơn vị Bộ Binh được nâng cấp lên Sư Đoàn 2 BB. Tại đây thật đúng số trời, anh lại có mặt trong cuộc chống trả đợt tấn công Mậu Thân lần 2 khi VC manh nha đánh phá thị xả Quảng Ngãi nhưng rút lui sau một đêm bị thiệt hại nặng và không thành công. Và sau đó anh trở thành Y Sĩ Trưởng của Tiểu Doàn 2 Quân Y với cấp bực Thiếu Tá.

          Khi Anh được thuyên chuyển về phục vụ Trường Quân Y, BS. Dũng viết “Nay tôi đã về trường Quân Y Saigon, công việc tương đối nhàn…Năm 1973, tôi lập gia đình với Cô Sẻ, một thiếu nữ mảnh mai, sinh tại Hội An. Song thân nàng đều chính gốc Quảng Nam”. Hay là chổ này, trong một câu viết rất đơn giản, anh nhẹ nhàng giới thiệu ngắn gọn về người bạn phối ngẫu, với một chút kín đáo giữ riêng cho mình. Tôi đoán chừng có lẽ anh từng gặp chị trong thời gian anh làm việc ở Quảng Ngãi và trở thành vợ chồng trong khi anh thuyên chuyển vào Saigon. 

Trong khi đa số các bác sĩ đồng nghiệp đều có phòng mạch tư, anh vẫn đạp xe đạp và sau này đi xe mobilette cũ rích đi làm việc. Anh viết “Tôi mang cấp bực Thiếu Tá, lương khoảng 40.000 đồng mỗi tháng. Một bác sĩ làm phòng mạch tư, trước và sau giờ làm việc, có thể kiếm được 200.000 đồng mỗi tháng, hay hơn nữa”. Một bạn đồng nghiệp trẻ nói “Anh Dũng ạ. Anh hiện đã lập gia đình. Nghèo quá không nên”. Có người nhờ anh coi giùm phòng mạch của họ khi đi vắng, anh vui vẻ nhận làm vào những giờ nghỉ và được các đồng nghiệp đưa nguyên số tiền khám bệnh. Đồng thời, anh Dũng còn xin trực gát thêm tại Bệnh Viện Vì Dân và Bệnh Viện Nhi Đồng, ngoài những giờ làm việc tại Trường Quân Y. 

Tháng ngày tại trường Quân Y rồi cũng qua nhanh, dù có đôi chút đụng chạm. Tình hình đất nước đến hồi cận tử. Ngày Chủ Nhật, 27 tháng 4, 1975, BS. Trần Xuân Dũng gặp mặt Đại Tá Hoàng Cơ Lân tại trường Quân Y trong phòng trực của mình. Sáng sớm ngày thứ Hai, 28 tháng 4, 1975, Đại Tá Hoàng Cơ Lân gọi điện thoại, với lời đối thoại như sau “Đại Tá Lân: Sáng thứ Hai sẽ phải có lễ chào cờ vào lúc 7 giờ. Ý toi thế nào? - Tôi trả lời: Tôi đề nghị mình nên hủy bỏ buổi lễ chào cờ sáng thứ Hai này. Lý do: Việt Cộng pháo kích nhiều. Một trái có thể rơi vào vũ đình trường bất cứ khi nào.Số sinh viên và sĩ quan, hạ sĩ quan cũng như các khóa sinh sẽ bị tử vong, thương vong rất nhiều. Xin Đại Tá quyết định – Ông ngưng một phút rồi nói: Ừ thôi! Moi quyết định theo ý toi. Toi hủy bỏ buổi lễ chào cờ đi – Tôi đáp: Tuân lệnh. Đại Tá Chỉ huy trưởng buông máy xuống…Như vậy tôi là người sĩ quan trực cuối cùng của Trường Quân Y. Và cũng là người nói chuyện cuối cùng với Chỉ huy Trưởng cũng như nhận lệnh của Đại Tá Hoàng Cơ Lân, một cấp chỉ huy đáng kính, trước khi mất nước”

Đến chiều này 29 tháng 4, 1975, anh cho biết “vợ tôi bắt đầu chuyển bụng…Tôi định chở vợ tôi bằng cách cho ngồi sau chiếc xe Mobilette cũ rích… đến BV Từ Dũ…Lúc 6 giờ sáng ngày 30 tháng 4, 1975, Tường Vi xuống tìm tôi báo tin cho biết: vợ tôi đã sinh rồi, lúc 5 giờ. Một bé gái… Tới 10 giờ sáng, ngày 30 tháng 4 Dương Văn Minh lên tiếng đầu hàng. Thế là hết”.

Một ngày vui với một mầm sống vừa vương lên với ánh sáng bình minh. Nhưng oái ăm thay đó cũng là một ngày buồn, một ngày đen tối, vĩnh viễn trở thành ngày quốc hận.

Giống như bao nhiêu quân nhân khác, BS. Trần Xuân Dũng vào trại tù cải tạo, cũng bị bầm dập, chà đạp nhân phẩm, đói khổ, lao động chân tay. Cũng nhìn những cảnh trái tai gai mắt, của những tên trở cờ, antenne… Cũng chứng kiến nhiều cái chết của tù trốn trại bị án tử hình, hay tù bị chết vì bệnh không có thuốc chửa. Hay những bệnh tâm thần, trầm cảm do tuyệt vọng, mất hy vọng trong tương lai, mất niềm tin vào người thân, đưa đẩy bạn tù tìm đến quyên sinh…

Tôi ngạc nhiên, cảm thấy gần gủi với anh Dũng một cách tự nhiên khi nhìn  hình 4 chiếc lược anh làm tặng vợ, 2 con gái và cô em gái Tường Vi của mình trong thời gian ở tù-- Vì chính cá nhân tôi cũng từng làm chiếc lược tặng vợ mình khi ở tù . Trong khi trên chiếc lược tôi chỉ đơn giản khắc tên vợ mình, anh Dũng lại khắc 1 câu thơ tình tứ “Gởi nhớ thương về trên tóc em”. Thật lãng mạn và tình tứ!

  Sau khi ra khỏi ra khỏi tù cải tạo vào năm 1978, anh Dũng được cho làm bác sĩ tại một phòng y tế phường ở Saigon. Tại đây anh có dịp chửa bệnh cho một thiếu nữ đang bị lên cơn suyễn nặng và tiếp tục điều trị cho cô ta trong nhiều lần sau đó. Khi biết được cha của cô hiện đang tù đày ngoài Miền Bắc, anh cố tình viết nhiều toa thuốc gồm những thứ thuốc thông thường nhưng rất cần thiết cho người trong tù, để cô ta lãnh thuốc từ dược phòng nơi anh làm việc và gởi, đem ra cho cha mình. Chính sự chửa trị “mát tay” và sự giúp đở vô tình nhưng rất nhân đạo của anh đã động lòng thân mẫu của cô bệnh nhân, để cuối cùng bà sắp xếp cho con gái bị suyễn kinh niên của mình vượt biên cùng một lần với gia đình vợ chồng anh cùng 2 con gái Chim Khuyên và Vàng Anh. Chuyến đi song suốt, tàu đến Mã Lai vào tháng 6, 1978. Tháng 8 cùng năm, gia đình anh chị chọn nước Úc làm miền Đất Hứa. 

Như có bàn tay nhiệm mầu sắp đặt, đời sống gia đình anh chị ổn định dần, nhất là sau khi anh bắt đầu hành nghề bác sĩ tư vào năm 1984 tại Melbourne. Theo thời gian, Chim Khuyên tốt nghiệp Dược Sĩ, em gái Vàng Anh tốt nghiệp trường Luật, và con trai út Xuân Vũ, sinh năm 1987 trên đất nước tự do, tốt nghiệp Nha Sĩ. Cây lớn mạnh thành cổ thụ, mọc rể, cành lá sum sê. Gia đình vui hưởng hạnh phúc. Tình thân ái nở rộ giữa các anh em đồng môn, đồng nghiệp, giữa các đồng đội và các cựu quân nhân. Trong hơn 4 thập niên xây dựng sự đoàn kết và tình tương ái của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại, BS. Trần Xuân Dũng trở thành một khuôn mặt quý mến, từng đóng góp ý kiến, bài viết, vần thơ… cho nhiều nhóm bạn thân hữu, nhiều diễn đàn xa gần. Anh từng được vinh danh là người bác sĩ “nghèo” nhất Úc Châu – Thật đáng khâm phục -  Nhưng tôi cũng hiểu, bên cạnh, anh rất “giàu” về tình yêu quê hương đất nước, tình đồng đội, tình chiến hữu, tình nhân ái, tình người với người, tình yêu mến phục vụ bệnh nhân… Cũng vì vậy anh đã nhận lại bao nhiêu sự thương mến của biết bao đồng hương, bệnh nhân, đồng nghiệp và người thân quen.

Qua sáng kiến và cố vấn của người anh là anh Trần Xuân Ninh, bấy giờ đang ở năm cuối Nội Trú 1963, một người từng có sở thích làm báo từ khi còn ở trường Trung Học Chu Văn An, một nhóm sinh viên nòng cốt trường YK Saigon quyết định thành lập một tờ báo riêng cho toàn trường. Vậy là Báo Tình Thương được ra đời và chính anh Trần Xuân Dũng hân hạnh được bầu làm Tổng Thư Ký đầu tiên của tờ báo khi anh gần cuối năm thứ Năm Y Khoa. Sự kiện này giúp tôi hiểu vì sao chuyện viết lách, làm thơ rỏ ràng không phải là một vấn đề với BS. Dũng. Anh đam mê với công việc rao truyền văn chương và lịch sử, nên khi tôi nghe được chuyện vợ anh phải thế chấp căn nhà để lấy tiền cho anh in cuốn “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến”, tôi ngưỡng mộ anh bốn, năm thì thán phục chị đến sáu, bảy. BS. Trần Xuân Dũng hoàn tất tập thơ Sử “Như Sóng Thần Lên” sớm sủa vào năm 1990, sau đó là cuốn “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến” vào năm 1995, còn trước cả cuốn sách tương tự của binh chủng Nhảy Dù của tôi, rồi cuốn “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa” vào năm 2000, tập thơ “Nhị Thập Bát Tú” năm 2015.  Về sau “Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến” được chính con trai út Trần Xuân Vũ dịch qua tiếng Anh, và “Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” dịch qua song ngữ Anh Pháp. Biết bao nhiêu tâm trí và đam mê đổ hết vào đây!? 

Tương tự như tập thơ “Y Sĩ Với Nàng Thơ”, tác giả của “Văn Học Quân Đội” gom khoảng 42 bài viết từ những quân nhân gồm đủ mọi nghành, từ tác chiến cho đến yểm trợ, bao gồm cả quân y…mong nói lên, không những tinh thần chiến đấu dũng cảm, lòng hy sinh vô bờ bến của các chiến sĩ Miền Nam, mà còn cho thấy tinh thần thượng võ, cá tính nhân đạo của những người cầm súng chống xâm lăng. Đó thật sự là sự khác biệt quan trọng làm thấy rỏ làn ranh phân biệt giữa con người sống tự do, có nhân tính, dựa trên nền tản tử tế từ giáo dục gia đình của Miền Nam, và con người cộng sản với mưu mô thâm độc, được nuôi dưỡng trong hận thù vô sản với mục đích giết và giết để cưởng hiếp chiếm đoạt tất cả cho chủ nghĩa của chúng. Đây là một tác phẩm rất giá trị không những về lịch sử quân đội nói chung, về Thủy Quân Lục Chiến nói riêng mà còn về văn học.

Về sau, tôi cũng đọc vài bài thơ của anh Dũng, thưa thớt dần theo thời gian,  trong Tập San Y Sĩ, như “Khóc Y Sĩ Dù Hoàng Ngọc Khôi” – Khiêm cung, tài đức nhiều vô kể, Lời tiếc thương Anh khóc tứ bề -  “Hoa Sen và Giai Nhân” – Hoa Sen được ví như Giai Nhân, ngày đẹp như tranh, đêm tuyệt trần – “Thiếu Nữ Bên Hồ Sen” – Búp Sen e ấp cạnh nền xanh, Đêm về, trinh bạch tình dâng hiến, Sớm biệt, liêu trai dạ chẳng đành – tôi mường tượng anh bắt đầu tìm về cái tinh khiết nhẹ nhàng và hương gió đồng nội trong tuổi già. Nhất là khi tôi nhìn thấy những tấm hình chụp nông trại rộng lớn của cháu Vũ với cảnh những thiên nga bơi trong hồ, những con bò bình an gặm cỏ trong bải cỏ thênh thang, và nhất là hồ Sen khá rộng với bông Sen màu cánh sen và lá Sen xanh to tươi tốt. Đúng vậy, cháu Xuân Vũ đã tạo dựng một quê hương nhỏ Việt Nam cho cha mẹ dưỡng già. Tôi chia sẻ niềm vui cùng Anh khi biết về sau Anh tìm thấy sự đam mê trong chơi đàn Tây Ban Nha với loại nhậc Flamenco và chìm đắm trong nhiếp ảnh với máy ảnh luôn đeo trước ngực và một tập ảnh đen trắng nghệ thuật – Khói Mây Quên Bẵng Duyên Phàm Trước – in tặng cho nhóm bạn thân. Phải chăng “Quên Bẵng Duyên Phàm Trước” nói lên chặng đường đời anh sẳn sàng nuông bỏ?!

Tôi tìm thấy bài thơ “Bức Tượng Thương Tiếc Nghĩa Trang Quân Đội” được đăng nhiều nơi, trong Tập San Y Sĩ, trong “Y Sĩ Với Nàng Thơ”, trong “Văn Học Quân Đội” và trên nhiều diễn đàn thân hữu. Tôi cho đây là một trong những bài thơ BS. Trần Xuân Dũng đắc ý nhất, và bài thơ dễ dàng gây xúc cảm cho độc giả.

Đêm tráng sĩ qua sông lần vĩnh biệt

Tưởng đang còn cuộc rượu lúc tàn canh.

 Làm sao mà không xúc động thương tiếc những người chết trận vì không có gì cao quý hơn khi chết trận. Chết trận là chết không một than vãn, không một ai oán. Không có lấy một lời trân trối cho người yêu, không một lời xin lỗi với vợ dại con thơ. Người lính chết thật sự là những anh hùng đã đi vào huyết sử của dân tộc, là hồn thiêng của sông núi, là huyền thoại của đất nước. Họ vĩnh viễn là cánh gió tung bay trên vạn nẻo đường đất nước. 

“Đêm sâu em nghe rờn rợn - Mắt Anh rực lá Quốc Kỳ - Hãnh diện đền ơn Tổ Quốc – Chiến trường nào Anh ra đi?”

            Cho đến cuối cuộc đời, BS. Trần Xuân Dũng chứng tỏ mình là một con người chính trực, nhân hậu với nụ cười hiền lành luôn nở trên môi. Một con người trước sau như một, trong một dáng người roi roi khiêm tốn, không màng đến danh lợi. Anh là một bác sĩ công tâm, một quân y sĩ thanh liêm, đầy nhiệt huyết với Tổ Quốc, một chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến hết mình với anh em đồng đội, làm trọn nhiệm vụ với các thương binh. Một Sĩ Quan Quân Y thâm niên duy nhất còn lại làm việc tại trường Quân Y cho đến phút chót. Với gia đình, Anh là một người chồng lý tưởng, lo toan chu đáo cho vợ con; và một người cha gương mẫu, hiểu biết, nhận được sự thương mến và kính phục từ các con.

          Em Vĩnh Chánh viết bài này như một lời ngưỡng mộ gởi đến niên trưởng đáng kính BS. Trần Xuân Dũng. Dù chưa một lần hân hạnh “diện ngộ và hàn huyên” với Anh.

Em xin thành kính phân ưu với phu nhân BS. Trần Xuân Dũng và gia đình. Cầu mong phu nhân và gia đình bảo trọng.

Em cũng xin chia buồn với BS. Trần Xuân Ninh và chị Trần Tường Vi.

Em Vĩnh Chánh cũng xin chia buồn với Ban Biên Tập  “Tập San Y Sĩ Canada” vì sự mất mát của một cọng tác viên thâm niên và thân quý.

Em xin cùng được thắp nén nhang lòng, cầu nguyện hương hồn Bác Sĩ Trần Xuân Dũng vĩnh viễn bình an trong cõi vĩnh hằng, sau khi “nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo – Thảnh thơi thơ túi rượu bầu”

          Cho phần kết, đàn em xin mượn mấy vần thơ “Xin Bình Yên Cuối Đời”của Bác Sĩ Trang Châu để tưởng nhớ đến anh Dũng – mỗi khi nhìn thấy sao băng trong đêm – một Đàn Anh xứng đáng để thương tiếc.

“Đôi mắt, ngày xưa trừng nhìn biên ải

            Quắt hận thù khi đồng đội vùi thây

            Từng giận người đi, sầu người ở lại

            Giờ, đêm về xin làm ánh sao bay”

 

Em Vĩnh Chánh - Quân Y Nhảy Dù

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags BÁC SĨ TRẦN XUÂN DŨNG MỘT ĐÀN ANH ĐÁNG KÍNH, Vĩnh Chánh
Comment

Quên quá khứ...( Nguyễn Văn Dõng)

September 9, 2026 Ninh Tran

            Quên quá khứ...   Nguyễn Văn Dõng

 

Sự đời có rất nhiều chuyện không nên nhớ, nhưng không vì thế mà phải quên đi tất cả. Mặt khác, có những người, trong vài trường hợp khá đặc biệt, không có quá khứ để quên. Ta có thể liên tưởng đến ông bộ trưởng hải quân Hoa Kỳ, Hùng Cao.

Ngày ông cùng gia đình trốn khỏi Việt Nam đi tỵ nạn CS, ông còn là một đứa bé con. Vì thế nên ông không thể có một quá khứ nào để nhớ để quên trên đất Việt. Cũng vì thế nên, 50 năm sau, khi trở về VN, với tư cách một người Mỹ, ông lớn tiếng kêu gọi chúng ta những người tị nạn CS,  “Hảy quên đi quá khứ...”, ông làm tôi tưởng ông là VC ! Những kẻ ở Bắc bộ phủ có dư lý do để kêu gào người tị nạn CS nên quên di quá khứ - của VC - để “mang tiền về giúp họ xây dựng lại bằng 5, bằng 10, tô son trét phấn cho cái bản mặt ghê tởm của XHCN “...Quá khứ của họ chỉ gồm toàn xương máu đồng bào, nên họ cần được mọi người quên đi. Trái lại quá khứ của kẻ thù thì họ luôn mồm nhắc đi, nhắc lại nhằm che giấu bao nhiêu tội ác của chế độ CS, và cũng để đánh bóng tính cách “ưu việt” của kẻ chiến thắng...Người ngu vẫn nghĩ rằng thiên hạ đần độn hơn họ...

Ví như ông Hùng Cao có thân nhân bị VC chôn sống ở Huế, hay bị thảm sát trên đại lộ kinh hoàng ngày nào, hay bị VC giết chết trên chiến trường dù đã bị thương, thay vì giúp đở cứu chửa hợp nhân đạo... liệu ông có đủ can đảm, đủ khôn ngoan, để kêu gọi xóa bỏ hận thù, quên quá khứ, và tự nguyện làm “trung gian” hoà hợp hoà giải với CS, giúp chúng nó xây dựng một xã hội tù đày, tham ô, thô bạo ?...

Người Mỹ có mục tiêu, chính sách riêng của họ. Ông Hùng Cao chỉ là con chốt sang sông. Ông đến VN với nhiệm vụ của chính phủ Mỹ giao phó; ông không có tí quyền hạng nào để bàn về vấn đề của người Việt tị nạn với VC. Những gì ông nói trong các lần hội kiến với các đảng trưởng CS, chúng ta không phải nhọc công thắc mắc, bình luận. Nếu có thắc mắc chăng, ta nên lưu ý đến cung cách “cà chớn” của VC, một tiểu xão tuyên truyền rẽ tiền của kẻ tiểu nhân : chúng nó không treo cờ Mỹ trong phòng hợp với các thẫm quyền cao cấp. Thiên hạ chỉ thấy Hùng Cao ngồi dưới tượng giặc Hồ hay đứng phát biểu với lá cờ đỏ sau lưng. Kẻ vô tâm, tối dạ sẽ lầm Hùng Cao là người nhà của VC. Chỉ có người không dầy dạng gió sương giang hồ mới chấp nhận sự việc như vậy. Một nhân vật quan trọng của một cường quốc mà được đón tiếp “đơn sơ” đến không có được lá cờ xứ mình ngang tầm cở với lá cờ đỏ trong phòng hợp !“Sự cố” nầy tôi mới gặp lần đầu, và có lẽ chỉ có ở VN.

Trái lại chúng ta phải hiểu một điều : tất cả những thành công rực rỡ của người tị nạn trên đất Mỹ đều thuộc về Mỹ, dân Việt không được hưởng một tí nào, ngoài chút hư danh theo kiểu thấy sang bắt quàng làm họ. Những quả bom phá sập núi non, tàn sát bọn phiến loạn, khủng bố Taliban có làm rụng sợi lông nào của VC để giải cứu dân ta đang bị đàn áp, nghèo đói đâu ? Đây cũng chính là điều làm tôi đau lòng không thua gì khi nhìn các đồng đội gục ngã trên chiến trường tuổi mới đôi mươi. Trí tuệ dân ta có kém ai đâu, cớ sao dân ta vẫn triền miên trong chậm tiến, nghèo đói..? Cái đau đớn, nhục nhằn nhứt là chúng ta đã bị Mỹ bán đứng cho CS, đẩy chúng ta xuống 9 tầng địa ngục; để rồi chúng ta lại phải mang ơn họ cứu vớt. Cuối cùng chúng ta đã cống hiến cho họ những thành phần ưu tú nhứt, giúp họ xây dựng một nước Mỹ hùng mạnh, giàu có. Dân ta thì vẫn khố rách áo ôm...Chúng ta đã thua, thua trên mọi mặt, thua tận xương tủy, thua không còn manh giáp !

                                             “Buồn nầy bao kiếp nguôi”...?

Trên mạn khi đọc thấy hay nghe nói Ô. Hùng Cao về VN, tôi bắt tức cười : những nhà báo nầy nếu không dốt tiếng Việt thì cũng có hậu ý đánh lừa thiên hạ, những người dễ tính, lười suy nghĩ. Có bao giờ trong tư thế một người tị nạn nay đã nghiễm nhiên thành một nhân vật quan trọng trong chính quyền Hoa Kỳ, ông lại tự nhiên về thăm VN như mọi người? Vì không thể về VN như trăm ngàn người tị nạn khác đã làm, ông Hùng Cao chỉ về với một nhiệm vụ được chính phủ giao phó. Từ đó phải hiểu rằng những gì ông nói là nói với tư cách một người...Mỹ. Những câu “khách sáo” bên lề chỉ để cho vui vậy thôi, để khoe rằng ông cũng rành tiếng Việt, cũng “mang trong người dòng máu Việt”(chẳng lẽ máu của ông đã biến thành máu..Mỹ ?)... Ai tin là quyền của họ; kinh nghiệm sống cho thấy đối với người làm chính trị nên... cẩn thận. Ông bà ta đã dạy : ăn cơm chúa phải mùa tối ngày. Người biết chuyện khi nói đến ông Hùng Cao trong thời gian ông thăm VN, đểu phải nêu rõ danh tính của ông : “Bộ trưởng bộ Hải quân Hoa Kỳ” để tránh rất nhiều nhầm lẫn như đang lan tràn trên mạn, nhầm lẫn đưa đến tranh cải rất buồn cười. Đã có không ít người lớn tiếng gán cho ông Hùng Cao hai tiếng phản bội. Họ nói mà rõ ràng là họ chẳng biết nói gì khi họ vô tình trách ông bộ trưởng Hải quân Hoa kỳ đã phản bội công đồng người Việt tị nạn ! Toàn những cái thùng rổng thích kêu to. Có lẽ họ muốn ông Hùng Cao lợi dụng chuyến đi nầy để chống cộng...dùm họ ? Họ không vui tí nào khi thấy ông Hùng Cao tay bắt mặt mừng với các tay đầu xỏ VC, lại còn khuyến khích đôi bên cùng hợp tác trên nhiều mặt, từ kinh tế đến quốc phòng...Không một người tị nạn chân chính nào không “ nóng mặt” trước cảnh tượng đó cả. Đấy là phản ứng tự động rất tư nhiên, hợp tình, hợp lý. Nhưng người hiểu biết thì vẫn “mặt lạnh như tiền”; trên chính trường “thấy vậy mà không phải vậy, thưởng thì tệ hơn vậy nhiều”. Tôi cứ ngở bao nhiêu cái tối dạ, dốt nát VC đã gồm thâu làm của riêng hết rồi chứ...

Người Mỹ họ không chống cộng như chúng ta. Họ nói ít nhưng âm thầm làm nhiều. Hảy mở to mắt ra mà nhìn những gì TT Trump làm và đã làm được, từ Vénézula đến Cuba vì họ có dư phương tiện...VC bề ngoài vui vẽ đón tiếp “sứ thần” Hùng Cao, nhưng trong lòng lo bấn xúc xích : họ dư hiểu số phần của họ đang trong “tẩm nhắm” của Trump, một người mang quyết tâm không chấp nhận CNXH có mặt trên địa cầu nầy. Ngày nào Trung cộng bị đánh tan xác, không bằng súng đạn mà bằng kinh tế, ngày đó VC và cả Bắc Hàn cũng không thể sống sót. Riêng Cuba thì chế độ đã đến ngày tàn. Nhắc đến Cuba bổng thấy tức...cười. Tức vì người Cuba họ chống CS rất tích cực; họ không khi nào trở về “thăm nhà”, du hí và mang tiền về giúp CS sống vững như người Việt. Và cười vì người Việt còn hơn người Cuba xa, không những họ chỉ về “chơi” mà còn mang cả tài sản về dưởng lão nữa cơ. Còn gì để nói nữa không ? Mà nói gì với những kẻ trong đầu không có óc chỉ có bả đậu ?

Gần đây ông Hùng Cao xuất hiện và phát ngôn hơi nhiều trên mạn làm tôi lo cho ông ta, bởi vì người khôn nói ít nghe nhiều. Trong chính trường những cuộc phỏng vấn thường là những cái bẩy mà Tây gọi là “attrape-nigaud”. Nhìn lại thì trong bao nhiêu nhân vật nổi tiếng trong cộng đồng VN chẳng có mấy ai xuất hiện nhiều như ông Hùng Cao. Phe ta vẫn còn cái cố tật thấy sang bắt quàng làm họ, nếu kéo vào băng để được dựa hơi lấy tiếng...Họ ồn ào mà chẳng bao giờ chịu hiểu rằng các chế độ đọc tài không bao giờ do dân trong nước đứng lên tự giải phóng được: họ sẽ bị tàn sát không thương tiếc. Chuyện Thiên An Môn còn đó, và gần đây hơn, trên 40 ngàn người Iran xuống đường biểu tình chống chế độ đọc tài của các giáo chủ hồi giáo, đã được các giáo chủ nầy giải thoát đưa lên “thiên đàng” để các tiên nữ trên đó hầu hạ... Đối với những kẻ chỉ biết dùng bạo lực để tồn tại, chúng ta phải mạnh hơn họ mới mong tự cứu được. Vì không hiểu điều nầy nên đa số chúng ta đã bị gạt một cách hết sức nhẹ nhàng qua cuộc kháng chiến cuội năm nào...

 VNCH đã bị Mỹ Dân Chủ bán cho CS, thì nay Mỹ Cộng Hòa chứ không ai khác sẽ đủ sức mạnh để giải cứu VN.

                                                           Clermont Ferrand, một ngày vào Hạ 2026.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Quên quá khứ..., Nguyễn Văn Dõng
Comment

NỢ ẤM Ớ (Nghiêm Hữu Hùng)h

September 2, 2026 Ninh Tran

Hình trên Nét

NỢ ẤM Ớ (NHH)

 

Trước hết xin thưa với các bạn đọc là chữ NỢ ẤM Ớ tôi dùng làm đề tựa cho câu chuyện này, hoàn toàn đứng đắn, không hề có dụng ý giễu cợt, chỉ vì tôi không biêt dùng chữ nào khác để diễn tả câu chuyện dười đây:

 "Tôi không hề NỢ ông bạn này bất cứ một thứ gì. Tiền cũng KHÔNG mà ÂN TÌNH lại càng KHÔNG.! 

Thế mà tôi đã phải ký giấy cho ông ta, nhận là mình đã nợ và cũng đã trả cho ông ta gấp cả chục lần về một thứ mà mình… không hề nợ !".

 Câu chuyện tuy hơi dài dòng, nhưng với ai đã từng đi "Tù Cải Tạo" sẽ dễ thông cảm hơn.

 Ngày 22  tháng 5 năm 1979, sau gần 4 năm tù, và nhiều lần chuyển trại, tới Hốc-Môn, thì tôi nhận được "Lệnh Tha", và được phóng thích 2 ngày sau đó, tình cờ trùng vào đúng ngày Sinh Nhật của tôi. Sở dĩ tôi bị tù lâu hơn các chuyên viên khác một năm vì trong hồ sơ đã từng bị kỷ luật, cùm chân, vì những "phát ngôn linh tinh".

 

Và đây là câu chuyện nợ:

Ở Hốc-Môn, đời sống tù tương đối dễ chịu vì có đất để canh tác, nên những bạn tù giỏi về mưu sinh, đã trồng thêm rau, bầu, bí, mướp v...v...

Nhân vật "chủ nợ" của tôi là một ông Thiếu Úy đã lớn tuổi, gốc Hạ Sĩ Quan, đi lính từ thời Pháp, dân Nghệ An, có cái tên khá hiếm và tương đối dễ nhớ là Nguyễn văn RA.

 

Ban đầu ông Ra có biệt danh là 'Ra-ăng-ten' vì là tổ trưởng, nhiêm vụ chính của anh ta là báo cáo với trưởng trại giam về những lời nói và hành động của tù nhân có thể gây nguy hiểm cho ... "Cách Mạng".

 

Sau đó ông Ra lại được đăt thêm một tên nữa là "Ra-Vịt" , không phải tên Tây, mà vì đã tận tình làm ‘ăng-ten’ nên anh ta được hưởng đặc ân cho nuôi một đàn vịt khoảng 7, 8 con.

Sinh ra từ vùng đất 'Chó ăn đá, gà ăn muối' ở Nghê An, cũng là quê hương của Hồ chí Minh, cộng thêm cuộc sống đói khổ trong tù, nên ông Ra xem bày vịt là cả một gia tài, sẵn sàng... "hy sinh tính mạng" để bảo vệ ... mấy con vịt!.

Nuôi vịt trong trại tù là một công việc cực kỳ khó khăn, đất Hốc-Môn khô cằn nên đào bới suốt ngày để tìm 'giun', thức ăn khoái khẩu của loài vịt mà vẫn không thấy, ông Ra đành phải chầu chực bên bếp ăn với chút hy vọng xin cơm thừa của bọn cán bộ việt cộng! 

Nhưng kế hoạch này coi bộ cũng không khá vì bọn bộ đội có thói quen từ trong rừng, theo lời dạy "Cần; Kiệm, Liêm Chính"của bác Hồ: "Phải liếm đến hột cơm cuối cùng để vừa khỏi đói, vừa không tốn nước rửa bát".

Sau cùng, vì lo lũ vịt đói nên ngày ngày ông Ra phải ra cầu tiêu công cộng của trại giam, dùng vợt vớt lũ giòi lúc nhúc đem lên tắm rửa sạch sẽ cho từng con giòi, rồi "dâng" lên cho lũ vịt của ông... 'sơi'.

Chắc nhiều người cũng chưa từng được chứng kiến cảnh mỗi khi ông Ra khệ nệ bưng mâm giòi ra, lũ vịt cũng ... rùng mình bỏ chạy !

Lo toan đến thế mà lũ vịt của ông ta vẫn còi cọc, nên ông Ra than thở:  "Bọn tù còn thiếu ăn nên 'phế phẩm' không đủ các loại vi-ta-min B1, B12, cholesterol .... Làm cho vịt của tui vừa thiếu thông minh, vừa ... chậm lớn" !!!.

 

Thật tình mà nói, trên đời này. rất khó tìm ra người nào mang sắc đẹp tổng hợp của "hồn thiêng sông núi" như ông Ra ! 

Đôi mắt ti hí, cùng với đôi môi sưng phồng như "Lồn trâu đến tháng đẻ" của đồng chí Thủ Tướng Phạm văn Đồng, đươc gắn trên khuôn mặt dài như mặt... "ngựa cái tới ngày động đực" của đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn một cách rất 'hài hòa'!

Thế mà ông Ra vẫn lấy làm tiếc vì bộ răng vẩu đã làm cho phát biểu của ông trong những buổi học tập về lời dạy của Lê Duẩn: "Chúng ta đánh Mỹ ở đây là đánh giúp cho ông Liên Xô và ông Trung quốc!", trở nên thều thào, mất hẳn đi tính chất "oai hùng" của đồng chí Tổng bí thư!.

Thật đến khổ cho tôi ! vì chỗ nằm của tôi ngay bên cạnh ông Ra! Nên mỗi buổi tối trước khi ngủ, ông ta bắt mấy con vịt cho nằm chung trong mùng vì sợ chúng đi lạc hoặc bị đánh cắp. 

Tôi mất ngủ vì mùi hôi của vịt và tiếng lục xục của lũ vịt cứ "cạp-cạp" cả đêm ! 

Mùi hôi thì chịu mãi cũng quen, nhưng tối ngủ mà hai tay tôi cứ phải bịt chặt phần...dưới, vì những cơn 'ác mộng' xảy đến hàng đêm, lũ vịt đói với cặp mỏ cứng như thép, tốc mùng chui vào, cứ nhằm đúng cái gì trông giống như con giun mà mổ, rồi 'nuốt chửng' cái dụng cụ để 'nối dõi tông đường' của mình, trong lúc tuổi còn xuân, chưa từng biết yêu ai! 

Nên mỗi buổi sáng thức dậy kiểm soát thấy vẫn còn 'nguyên vẹn hình hài' mới thật sự ... yên tâm!

Hơn thế nữa, ở cạnh một tên 'ăng-ten', tôi tự nhiên biến thành một người tu 'tịnh khẩu' để khỏi mang họa vào thân, mặc cho ông Ra 'độc thoại'. 

Câu chuyện đắc ý nhất mà ông ta kể cho tôi nghe cả trăm lần:

"Sở dĩ tôi mang tên RA là vì ở quê bác, đàn bà ăn nhiều mắm quá nên đều... đẻ khó, tới  lúc mạ tui sanh tui, tía tui đứng ngoài vừa giậm chân vừa chửi "Đụ mạ mi, RA... mau đi, thế là tui... "phọt" ra!

 

Dù xấu người xấu nết nhưng vẫn phải công nhận ông Ra là người có tầm nhìn xa, không thua gì... Bác Hồ ! Mỗi tối trước khi ngủ ông đều lục trong ba-lô tấm hình của cô con gái, say sưa ngắm nghía, rồi chìa ra cho tôi xem, nức nở khen ngợi sắc đẹp con gái mình vì trông cô ta... "giống y như bố"!!!

Tuy nhiên, nhờ tầm nhìn xa, ông Ra chỉ đem khoe hình cô con gái với những anh còn trẻ và độc thân -trong  số đó có tôi- và đối xử khá nương tay, tránh cho những công việc nặng nhọc và không báo  cáo với bọn cán bộ mỗi khi mình vi phạm nội quy.

 

Tôi đang sống yên ổn nhờ cái "mác" độc thân thì bỗng một hôm bị ông Ra coi như kẻ thù "không đội trời chung!".

Buổi sáng bôm đó, khuôn măt luôn cau có, khó đăm đăm của ông ta tự nhiên trở nên vui tươi, nhẹ nhõm và ông ta ra lệnh cho anh em được miễn lao động nặng nhọc một ngày.

Thái độ bỗng nhiên quay ngoắt 180 độ của ông ta, được một anh bạn trẻ, vui tính giải thích:

"Đêm qua, nghe tiếng vịt rên la thảm thiết, thức dậy đi đái, qua chỗ ông Ra nằm, nhìn vào mùng thì thấy ông ta đang ... ''ấy" với con vit, nên sáng nay mặt mũi mới tươi tỉnh như thế !!!". 

Một anh bạn khác, chẳng hiểu vì tò mò hay vì muốn trêu chọc ông Ra, còn bắt con vịt đang đi lạng quạng cuối đàn, rồi vạch đít ra xem, sau khi bị ông Ra... "ấy", nó có mắc bệnh trĩ, giống ông Ra, chủ của nó không? 

Sau lời đồn này, ông Ra tự nhiên có thêm một biệt danh mới là "Mông sừ Đu-Vi", mà vì không biết tiêng Pháp nên tôi cũng không rõ ý nghĩa và điển tích ra sao.

Chẳng biết lời đồn bắt đầu từ ai, nhưng ông Ra cứ cả quyết tôi là "thủ phạm", vì chỗ nằm của tôi ngay cạnh ông ta! 

Kể từ hôm đó, bao nhiêu "đau khổ của trần gian" đều giáng lên đầu tôi ! Những công việc lao động nặng nhọc nhất ông ta đều bắt tôi làm một mình và báo cáo cho bọn cán bộ là tôi "học tập không tiến bộ," "trây lười lao động", kể cả chuyện ... ban đêm tôi ngủ mà tay cứ bịt chặt phần dưới, làm mất cả "khí thế cách mạng !!!"

Kể ra, với những người suốt đời đói khổ, nếu có xấu tính một chút cũng là điều có thể hiểu được, nhưng không may cho tôi, lúc đó mỗi lần được thăm nuôi, anh em tôi ở Mỹ đều gửi quà cho, mà tôi lại cố tình lờ ông ta đi vì khinh ghét những con người chỉ vì một chút quyền lợi nhỏ mà sẵn sàng chà đạp lên thân xác người khác !!

 

Trở lại với câu chuyện NỢ

 

Sau khi nhận 'Lệnh Tha và chờ ngày phóng thích, thường thì những người may mắn được về trước sẽ để lại số tiền nhỏ nhoi còn sót lại và tất cả mùng-mền-chăn-chiếu rách nát cho các bạn tù kém may mắn còn ở lại. Và theo thông lệ cùng nhau đóng góp chút tiền để tổ chức một bữa tiệc chia tay.

Bữa tiệc chia tay tôi hôm đó do "giặc lái" Mai văn Kỳ, biệt danh "Kỳ Rỗ", phi công C130, đảm nhận. Mai văn Kỳ, người bạn thân nhất của tôi trong tù, là một chàng phi công cực kỳ nóng tính nhưng hiểu đời, rất thông minh và tốt bụng.

"Giăc lái" Mai văn Kỳ, liên lạc với một thằng bộ đội nhóc con (sau mấy năm 'giải phóng' đã bắt đầu biết ăn hối lộ), nhờ mua một bi-đông rượu đế và một con vịt để nấu cháo và đánh tiết canh. Dĩ nhiên giá con vịt này ít nhất cũng gấp 3 lần bên ngoài, nhưng sống trong tù, quanh năm đói khổ nên thức ăn quan trọng hơn tiền nhiều.

Chuyện mua bán 'lậu' này được trao đổi bí mật qua hàng rào kẽm gai của trại giam, với lời dặn của thằng bộ đội:

"Nếu lỡ bị bắt gập, các anh nhớ không được khai em ra, để mấy người khác sau này còn mua bán được, và các anh sẽ bị kỷ luật, nguy hiểm hơn em nhiều"

 

Tôi không hề biết chuyện mua bán này, nếu biết chắc chắn tôi đã cản vì nhớ lại cảnh vịt ăn giòi và những cơn 'ác mộng' ban đêm đang ngủ, bị lũ vịt đói tấn công vào tận 'mật khu', để biến tôi thành một anh chàng pê-đê... miễn phí, mà vẫn còn ... ớn lạnh !

Không may cho chúng tôi, đúng ngày hôm ấy, đàn vịt của ông Ra bị mất 2 con, nên ông ta cả quyết con vịt bị mất là do chúng tôi ăn cắp !

"Tình ngay mà lý gian!" vì cả bọn chẳng có ai nuôi vịt mà lại có vịt để ăn, nhưng không thể giải thích về gốc tích của con vịt !

Suốt cuộc đòi tôi chưa bao giờ được thấy cảnh một người đàn ông "Khóc cho con vịt ... vừa nằm xuống" vừa bi thương vừa hung dữ đến thế !

Ông Ra xông lại chỗ chúng tôi vừa khóc vừa chửi thề rất tục tĩu:

"Đụ mạ bọn trí thức Ngụy như chúng bay chỉ toàn là một lũ ...ăn cắp! Tao sẽ báo cáo cho cán bộ biết để bỏ tù chúng bay... rục xương!"

Nghe thế, Kỳ rỗ nổi điên, vác ngay con dao vừa cắt cổ vịt để đánh tiết canh, xông tới định ... cắt cổ Ra-Vịt. Cũng may mà chúng tôi dành lại được, nên mới tránh được cảnh … "Máu nhuộm Bến Thượng Hải" trong Trại Cải Tạo.

Tình thế thật khó cho tôi, vì nếu ông Ra làm lớn chuyện, báo cáo cho bọn cán bộ, thì không chừng tôi sẽ phải ở tù thêm, không có ngày về.

 

Sau cùng một vị Tu Sĩ Phật giáo -suốt đời ăn chay- đã đứng ra gỡ rối cho tôi,  bằng cách tự "nhận tội" trộm vịt vì quá thèm tiết canh và cháo vịt !!!

Chúng tôi gom góp tiền để đền cho "Mông Sừ Đu-Vi" và dâng luôn đĩa tiết canh cho ông ta vì chẳng còn hứng thú gì.

Nhìn cảnh ông Ra khóc thương con vịt mà miệng đỏ lòm vì ngồm ngoàm... tiết canh, tôi bỗng nhiên vừa buồn vừa thương hại nên an ủi anh ta:

"Anh Ra ạ, gia đình tôi bên ngoài dư ăn nên mai mốt anh được  tha về, cứ ghé nhà tôi, tôi sẽ cho anh đủ tiền để ăn thịt vịt một tháng'

Điều lạ nhất là ông Ra không tin tôi, nên bắt tôi ký giấy nợ anh ta một tháng ...tiết canh vịt !!!

 

Hai năm sau, một hôm ông Ra đạp xích lô (nghề mới của anh ta sau khi ra tù) đến nhà tôi, chìa ra tờ giấy nợ.

Cả tháng sau đó, mỗi buổi chiều, tôi và Kỳ Rỗ chễm chệ ngồi trên xích-lô do Ra-Vịt đạp tới quán cháo vịt nổi tiếng gần Chợ Bến Thành để nhậu rượu đế với tiết canh vịt.

 

Tôi rất vui khi làm việc trả nợ này vì đọc ở đâu đó lời khuyên:

"NỢ là phải TRẢ, nếu kiếp này không trả được thì sẽ vướng mắc tới kiếp sau!".

 

Trong câu chuyện này, tôi không hề NỢ ông Ra bất cứ một thứ gì! TIỀN cũng không mà ÂN TÌNH lại càng KHÔNG !

Nhưng tôi vẫn cứ "tạm ứng" ra mà trả cho ông ta, vì "Duyên Khởi Trùng Trùng"

Nếu kiếp sau mà tôi có gập lại ông Ra thì cũng chẳng sao, dù nhớ hay quên vẫn có thể dắt nhau ra quán nhậu rượu đế với tiết canh, chẳng hận thù gì.

Nhưng nếu lỡ chẳng may mà gập phải con gái ông ta thì ...’Bỏ Mẹ.’

 

NHH

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags NỢ ẤM Ớ, Nghiêm Hữu Hùng
Comment

Người Em Sầu Mộng

September 2, 2026 Ninh Tran

Bà là Phùng Thị Cúc, sinh năm 1920; một người con gái xứ Huế. Trong tập Hồi ký có tựa Nửa đêm sực tỉnh (Nxb Thuận Hóa, 1989), nhà thơ Lưu Trọng Lư kể: Khi đó Phùng Thị Cúc là một cô nữ sinh từ Huế ra Hà Nội học.Trên chuyến tàu tốc hành Huế – Hà Nội, cô được người chị là bạn của Lưu Trọng Lư gửi gắm nhà thơ trông nom giùm em gái, với lời dặn thân tình “dọc đường giúp em một chút”.

Cúc là cô gái Huế sang trọng, đài các, hoa khôi của Trường Đồng Khánh Huế đã hút hồn nhà thơ đa tình ngay từ phút đầu gặp gỡ. Suốt chặng đường dài, hai người cũng chẳng có chuyện gì nhiều để nói với nhau. Cúc im lặng ngắm cảnh dọc đường. Và nhà thơ thì lẳng lặng nhìn ngắm giai nhân. Khi tàu về đến ga Hà Nội, thay vì chia tay nhau, nhưng nhà thơ đã hỏi địa chỉ và tình nguyện đưa cô đến tận nơi.

Tìm đến đúng địa chỉ, ông đưa Cúc lên tận căn gác nhỏ, nơi có căn phòng của những người bạn, người chị của cô đang ở. Chào hỏi, dặn dò rồi chia tay. Khi vừa xuống gác, ra đến đường thì tình cờ nhà thơ gặp thi sĩ Phạm Hầu. Phạm Hầu mời Lư vào nhà chơi. Khi lên gác, bước vào một căn phòng, mở cửa sổ ra, nhà thơ giật mình khi nhìn thấy người bạn đường xinh đẹp mà mình vừa chia tay ít phút trước đây đang ở ngay bên khung cửa sổ căn phòng đối diện!

Vậy là không một chút đắn đo, Lư quay sang nói ngay với bạn: “Mình ở luôn đây với cậu được không?”. Phạm Hầu nhiệt tình vui vẻ đồng ý. Suốt mùa đông năm đó, giữa cái giá lạnh của tiết trời Hà Nội, nhà thơ đã được sống trong sự ấm áp dịu nhẹ của một mối tình sáng trong, thơ mộng. Và cũng từ đấy bài thơ Một mùa đông của Lưu Trọng Lư đã ra đời với những câu thơ bất hủ như:

Đôi mắt em lặng buồn
Nhìn thôi mà chẳng nói,
Tình đôi ta vời vợi
Có nói cũng không cùng…

Ở căn phòng bên này cô gái cũng không thể vô tình. Bởi ngay lần đầu tiên, khi nhà thơ nhìn qua cửa sổ đã bắt gặp đôi mắt Cúc mở to, sững sờ nhìn người anh “dẫn đường” rồi sau đó bối rối mỉm cười rời khỏi khung cửa. Sau này, thật lạ lùng mỗi khi nhà thơ bất thần mở cửa sổ lại nhìn thấy Cúc: khi thì đang ngồi đọc sách ôn bài, khi thì đang cắm một lọ hoa. Cũng có khi Cúc chẳng làm gì, ngồi suy tư mơ mộng. Cũng có khi nghe một tiếng ho nhẹ, nhà thơ mở hé cửa nhìn sang lại bắt gặp nụ cười bối rối, e thẹn của người đẹp. Cũng có lần khi mở cửa sổ, nàng không hề ngước lên nhìn, cho đến lúc cánh cửa như tự nó khép lại. Lại có lần không biết vì chuyện gì, Cúc ném sang bên này một cái nhìn hờn giận, trách móc khiến nhà thơ ngơ ngẩn suốt một buổi chiều.

Mọi việc dường như chẳng có gì khác lạ: Cửa sổ mở rồi lại đóng, đóng rồi lại mở. Thế nhưng sự trông đợi nhớ nhung đã thấm vào gan ruột từng ngày từng ngày một. Làm sao có thể nhớ hết được biết bao lần Cúc đã vào trong giấc mơ của thi sĩ đa tình, đã trở thành nguồn cảm hứng cho bài thơ Một mùa đông ra đời. Bài thơ gồm những đoạn kể lại một chuyện tình trong mộng ảo mà thấm đẫm những nỗi đau có thật.

Yêu hết một mùa đông
Không một lần đã nói,
Nhìn nhau buồn vời vợi
Có nói cũng không cùng.
Trời hết một mùa đông

Gió bên thềm thổi mãi,
Qua rồi mùa ân ái:
Đàn sếu đã sang sông
Em ngồi trong song cửa
Anh đứng dựa tường hoa,
Nhìn nhau mà lệ ứa,
Một ngày một cách xa.
Đây là dải Ngân Hà,
Anh là chim Ô thước
Sẽ bắc cầu nguyện ước
Một đêm một lần qua…

Nhà thơ đã lý giải thật tài tình tâm trạng và nỗi lòng của mình. Có lẽ đây là đoạn thơ có những câu thơ ấn tượng hơn cả:

Em chỉ là người em gái thôi,
Người em sầu mộng của muôn đời,
Tình em như tuyết giăng đầu núi,
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời.


Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau khổ?
Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
Cho vướng víu nợ thi nhân?

Thật thú vị khi được biết rằng trong bài thơ lãng mạn này lại chứa đựng những câu chuyện hoàn toàn có thực. Nhà thơ kể rằng, sau một thời gian sống cạnh nhau, tình cảm của hai người cũng có “bước phát triển” mới. Theo sự sắp đặt của những người bạn, có lần hai người đã đi chơi Chùa Thầy cùng với một nhóm bạn. Sau một hồi leo núi, nhìn chung quanh chẳng thấy ai, chàng và nàng ngượng ngập đi bên nhau. Đến trưa cả nhóm mới trở lại sân chùa cùng ăn trưa. Bữa trưa có gà quay và rượu vang Pháp. Bắt chước mọi người, Cúc cũng uống vài ly rượu nho. Đôi má ửng hồng và cặp môi nhuốm màu nho chín, rơi trên trán vài lọn tóc đen nhánh… Tất cả đã tạo thành một hình tượng nghệ thuật có sức ám ảnh lớn:

Ngày hôm tiễn biệt buồn say đắm
Em vẫn đùa nô uống rượu say.
Em có biết đâu đời vắng lạnh,
Lạnh buồn như ngọn gió heo may.

…

Tuy môi em uống, lòng anh say,
Lời em càng nói càng chua cay
Anh muốn van em đừng uống nữa,
Lệ buồn sẽ nhỏ trong đêm nay…

Nhà thơ Lưu Trọng Lư

Nhưng câu chuyện tình thơ mộng của họ cũng chỉ đi đến đó. Họ mãi mãi chỉ là đôi tình nhân giữa một nghìn trùng xa cách vì rất nhiều lý do. Mãi đến năm 1975 họ mới có dịp gặp lại nhau. Lúc đó Phùng Thị Cúc từ Paris về Hà Nội. Người em gái bé bỏng ngây thơ hôm nào bây giờ là bà Điềm Phùng Thị – một Điêu khắc gia nổi tiếng thế giới.

Tìm hiểu thêm sự nghiệp của bà Điềm Phùng Thị thì được biết: năm 1946, bà tốt nghiệp Bác sĩ Nha khoa tại Hà Nội, nhưng không lâu sau đó, vì mắc phải một cơn bạo bệnh, bà được đưa sang Pháp điều trị. Tại Pháp, sau khi khỏi bệnh, bà tiếp tục theo đuổi con đường học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án Tiến sĩ Nha khoa. Trong khoảng thời gian này, bà đã cùng một người bạn mở một phòng khám nha tại Paris. Tại đây bà đã gặp, yêu và kết hôn cùng ông Bửu Điềm, vốn là một bác sĩ đang sống ở Pháp. Cái tên Điềm Phùng Thị của bà cũng ra đời từ đó khi họ của bà được ghép cùng tên của chồng.

Sau khi lấy được tấm bằng tiến sĩ, thay vì cống hiến cho sự nghiệp khoa học, bà lại bước vào thế giới nghệ thuật với rất nhiều điều lạ lùng. Đến với điêu khắc từ 1959 khi vừa 40 tuổi, bà vừa làm phòng mạch, vừa tự học điêu khắc. Ít lâu sau, để hoàn thiện bà ghi danh theo học điêu khắc tại xưởng của điêu khắc gia Volti ở Paris.

Năm 1966, bà có triển lãm riêng đầu tiên tại Galerie des Jeunes, Paris. Tượng Mẹ và con của bà đã hoàn toàn chinh phục được công chúng thưởng lãm. Chính phủ Pháp đã quyết định mua bức tượng để đặt trong một công viên trẻ em.

Thành công từ bức tượng đầu tiên ra mắt công chúng yêu nghệ thuật, bà bắt tay vào làm nhiều tượng mới để một năm sau đó bà lại có cuộc triển lãm tại Gallery Kasler ở Copenhagen, Đan Mạch, và sau đó là các cuộc triển lãm riêng và chung ở nhiều nơi khắp châu Âu.

Bà cũng là người có nhiều sáng tác thơ văn. Bài thơ “Marie, em vẫn đẹp!”” do bà sáng tác lúc về an dưỡng tại quê nhà:

“Và nếu có ai đó ngắm nhìn
dừng chân và cảm mến
con người trong tôi
tức là tôi đã thành công
Nếu tôi thất bại và chẳng ai chìa tay cho tôi
tôi sẽ đút tay vào túi, thật sâu
mặc kệ không sao đâu,
Marie, em vẫn đẹp như thường!”

Tháng 2/1994, Nhà Điềm Thị Phùng ở số 1 Phan Bội Châu, Huế chính thức khánh thành. Đây là nơi ở cuối đời và cũng là nơi trưng bày hơn 200 tác phẩm của bà. Trước khi qua đời vào năm 2002, bà quyết định chuyển toàn bộ tác phẩm còn lại ở Sài Gòn (trên 130 tác phẩm) và ở Pháp (trên 50 tác phẩm) về Huế. Đây thật sự là món quà vô giá mà bà gửi tặng quê hương trước khi đi vào cõi vĩnh hằng…

Tôn Thất Thọ

-Nhạc phẩm Người Em Sầu Mộng- Ca sĩ Sĩ Phú trình bày:


https://youtu.be/ASU7Lv2fv7I?si=t9JER_wmUzog6uUN

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Người Em Sầu Mộng, Tôn Thất Thọ
Comment

Lake America

September 2, 2026 Ninh Tran
In Góp Nhặt Đó Đây, Thời Sự, Quán Chiếu Tags Lake America, Chết mẹ TRUM rồi!
Comment

LBJ would prank guests at his ranch by driving his car into the lake.

September 2, 2026 Ninh Tran

LBJ would prank guests at his ranch by driving his car into the lake.

Not many people were lucky enough to own an Amphicar, the only mass-produced civilian amphibious vehicle, but at least one of them put theirs to good use. Lyndon B. Johnson, the 36th president of the United States, used his Lagoon Blue model to prankunsuspecting guests at his ranch in Stonewall, Texas, by driving it into the lake without warning. On land, the Amphicar looked like any other car; once in the water, propellers turned it into a boat.

One victim of the prank, Joseph A. Califano Jr., served as LBJ’s special assistant for domestic affairs at the time. As the car began rolling down an incline at the lake’s edge with Califano in it, he recalled the president shouting, “The brakes don’t work! The brakes won’t hold! We’re going in! We’re going under!” It took him a few moments to realize he was safe, but LBJ teased him for his reaction later: “Did you see what Joe did? He didn’t give a damn about his president. He just wanted to save his own skin and get out of the car.” Good thing Califano wasn’t in the Secret Service.

DID YOU KNOW?

LBJ won his Senate primary by just 87 votes.

The future president had represented Texas’ 10th congressional district for 12 years by the time he decided to take a second go at the upper chamber, having lost a 1941 election to fellow Democrat Pappy O’Daniel by 0.23%. His next Senate race was even closer. His opponent for the Democratic nomination in 1948 was Coke Stevenson, who had just finished six years as governor of the Lone Star State.  The initial tally was 477,077 votes (39.68%) for Stevenson and 405,617 (33.73%) for Johnson. Because neither candidate reached 50%, it went to a runoff. This was the real nail-biter, as Johnson emerged victorious with 494,191 votes (50.004%) to Stevenson’s 494,104 (49.996%) — a difference of just 87 ballots. The controversial bout was rife with claims of voter fraud from both camps, with LBJ earning a tongue-in-cheek nickname in the process: Landslide Lyndon. He lived up to it in the Senate general election though, winning 66% of the vote and holding the office until becoming vice president in 1961

In Góp Nhặt Đó Đây, Văn Hóa Tags LBJ would prank guests at his ranch by driving his car into the lake.
Comment

Thống kê số trọng tội các nhà lãnh đạo chính trị thế giới vi phạm

August 30, 2026 Ninh Tran
In Góp Nhặt Đó Đây, Thời Sự, Hình ảnh Video Audio Tags Thống kê số trọng tội các nhà lãnh đạo chính trị thế giới vi phạm
Comment

Nghe thơ nhạc Kháng Chiến - Tưởng niệm Đông Tiến 28 tháng 8 (Tuệ Vân)

August 28, 2026 Tuevan Nguyen

KCQ thuộc MTQGTNGPVN trên đường di chuyển vào quốc nội.

Nhân dịp tháng tưởng niệm các KCQ VN đã hy sinh vì tổ quốc vào ngày 28 tháng 8 năm 1987 tại vùng rừng núi Nam Lào trên con đường xâm nhập quốc nội thực hiện lý tưởng giải phóng dân tộc, BTVC kính mời quý vị thính giả cùng thưởng thức một số nhạc phẩm do các KCQ thực hiện trong rừng núi chiến khu.

Read more
In Hình ảnh Video Audio, Văn Hóa Tags Nghe thơ nhạc Kháng Chiến, Tưởng niệm Đông Tiến 28 tháng 8, Tuệ Vân, Thơ nhạc Kháng Chiến, Tưởng niệm Đông Tiến, MTQGTNGPVN
1 Comment

NHỮNG MÙA TRUNG THU (DTDB)

August 21, 2026 Ninh Tran

NHỮNG MÙA TRUNG THU

DTDB

Em ra đời mùa thu năm 1970, vào ngày rằm tháng tám Âm lịch. Ðem
so với ngày dương lịch đúng y chang trong tờ giấy khai sanh của em. Mẹ
thường kể cho cả nhà nghe, vào những lúc vui nào đó hay là ngày mừng sinh
nhựt của em:
- Nằm trong nhà bảo sanh mẹ nghe tiếng hò, tiếng hát, tiếng reo vui
rộn rã của thiếu nhi cùng tiếng phèng la, tiếng chiên trống múa lân của đoàn
dâng cộ đèn mừng Tết Trung Thu, hay Tết Nhi Ðồng của nước ta thuở đó,
vào thời Việt Nam Cộng Hòa. Theo lẽ mẹ đặt cho con cái tên là Thu, là
Nguyệt, là Hằng, là Nga, là Thu Nga, là Thu Hằng, là Nguyệt Thu hay Thu
Nguyệt… Mới đúng nghĩa với ngày sanh tháng đẻ của con gái mẹ. Nhưng
lần về thăm đâu hai tháng trước khi con chào đời, lúc ra đi, ba đưa cho mẹ
phong thư, bảo chừng nào làm khai sanh thì dở ra mà xem... Trong thư, ba
đã đặt tên cho con cái tên rồi!
Mẹ em chép miệng trầm ngâm một hồi, tiếp:
- Quê hương mình chinh chiến triền miên. Ba con theo đơn vị đóng
quân mãi ở miệt rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… tận Cà Mau lận. Tội
nghiệp ba, biết khoảng giữa tháng đó đứa con đầu lòng chào đời, mà ông
hằng mong đợi nhưng vẫn không ở nhà được, để nghe “Con khóc oa, oa…
khi lọt lòng mẹ. Còn ông bà, họ hàng thì cười tươi vui mừng đón con…”
Em lớn khôn dần trong vòng tay mẹ, và tình thương yêu vô bờ của hai
đấng sanh thành. Ba em làm lính chiến luôn xa nhà, cả trong những mùa
Trung Thu là ngày ra đời con gái cưng của mình, mà ông cũng ít khi có dịp
về nhà vui với vợ con...
Rồi mùa Trung Thu năm em vào học lớp Năm (lớp một) của trường
nữ Tiểu học Trưng Vương. Ðó là ngôi trường nữ, hai tầng có vách tường,
mái ngói màu gạch tôm, khang trang nằm trên đường ông bà Nguyễn Trung
Long (Mỹ Tho). Ðường nầy đi ra bến bắc Rạch Miễu qua sông có nhiều cồn
nhỏ, cồn lớn… cồn Ông Ðạo Dừa, rồi đi về tỉnh Bến Tre.
Ðịa phận tỉnh Ðịnh Tường có Thành phố Mỹ Tho, nổi tiếng hiền hòa
nằm mơ màng trên nhánh của giòng sông Cửu Long… Mà những câu hò, câu
hát bình dân khen ngợi ở nhiều khía cạnh nào đó về thành phố yên bình và
êm ả nầy:
“Mỹ Tho đẹp lắm, đi tắm Cầu Dầu/ Anh hỏi em đang ở nơi đâu? Ðể cha mẹ
anh đến cau trầu cưới em…” Hoặc: “Mỹ Tho có kẹo hột điều/ Có cô thôn nữ
mỹ miều dễ thương/ Ai về Chợ Cũ, Trung Lương/ Hồng đào chín mộng, có
đường mạch nha/ Ðêm thu đẹp ánh trăng ngà/ Mái chèo dưa đẩy qua nhà

thăm em…” Và miệng truyền miệng trong dân gian: “Ðèn Sài Gòn ngọn
xanh ngọn đỏ/ Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu/ Anh về học lấy chữ nhu/ Chín
trăng em đợi, mười thu em chờ…”
Ở xứ mình, thường tiệm buôn bán trong các chợ, chủ nhà ở phía sau,
hoặc trên lầu, còn phía trước, mặt tiền thì bày hàng để buôn bán.
Mỗi năm, cứ vào cuối tháng sáu, đầu tháng bảy Âm lịch là thành phố
Mỹ Tho trong các cửa tiệm thấy rõ rệt màu sắc tươi vui rộn ràng. Bởi các
dãy phố tiệm ở chợ gần như đều trưng bày bán các loại bánh Trung Thu. Họ
còn treo bán đầy đủ các loại lồng đèn giấy màu sặc sỡ, có vẽ thêm hoa,
bướm hoặc những nét đặc biệt lên hình dáng mỗi thứ lồng đèn như: Ðèn kéo
quân, đèn cá chép, đèn con rồng, đèn ngôi sao, đèn máy bay, đèn xe tăng,
thiết giáp, đèn tàu, đèn chuồn chuồn, đèn trái bí, đèn xếp…
Bánh trung thu thập cẩm có bốn trứng, ba trứng, hai trứng, một trứng
hột vịt muối để trong nhưn có lạp xưởng, thịt khô, vi cá… đó là những bánh
mặn. Còn bánh trung thu thập cẩm chay không có thịt và hột vịt, bánh nhưn
đậu đỏ, nhưn mứt… cùng bánh dẻo nhưn hột sen, nhưn đậu xanh…
Riêng em thích nhứt vẫn là bánh ông Ðịa. Chắc là bánh có hình dáng
như ông Ðịa trên bàn thờ nên gọị là bánh ông Ðịa? Trên đầu bánh có sợi chỉ
đỏ dài để xách trên tay, để đeo vào cổ. Bánh ông địa ăn ngọt, giòn thơm mùi
trái vị, ngũ vị hương, mùi quế… rất đặc biệt.
Trong dãy phố công chức đó, có nhà của gia đình em ở. Vào tối mười
ba, mười bốn, rằm tháng tám là trẻ con đốt lồng đèn cầm tay chạy chơi
quanh xóm. Nhà nhà treo lồng đèn trong nhà ngoài ngõ, hương khói nhang,
mùi bánh trung thu thơm tho cúng ở bàn thờ Ông Thiên, cùng mùi trà Tàu,
hoa, quả… thơm lừng phảng phất trong gió thoảng bay.
Em vui vẻ tung tăng chạy nhảy, theo đuôi các bạn quanh quẩn trước
sân của năm bảy căn nhà quen biết gần bên, ở trong xóm chớ không dám đi
xa hơn. Vì mẹ đã căn dặn em từ mấy ngày trước:
- Tối con được đốt lồng đèn chơi trong vài nhà gần, để khi mẹ gọi thì
nghe mà lên tiếng… Không được đi xa, mẹ gọi không có tiếng trả lời của
con mẹ sẽ lo... thì sẽ có đòn nghe chưa!
Em vâng dạ nghe lời, vì không phải mẹ em không có lý do… Bởi gần
đây giặc giã càng sôi động… Ðêm đêm Việt cộng thường pháo kích ầm ầm
vào thành phố… Ðạn pháo vô tình tàn phá nhà cửa, thây phơi, máu đổ…
khiến sanh linh đồ thán, trời sầu, đất thảm. Và từ đó tuổi thơ em... sớm
nhuốm màu chinh chiến đau thương!
Ðã hai mùa Trung Thu rồi, bận rộn ba em không về! Vì đoàn quân ba
em trấn giữ, chặn thù… khi ở Vị Thanh, Cờ Ðỏ (một địa danh ở mền Tây),
khi Tịnh Biên, Ðồng Tháp Mười nơi nổi tiếng “đỉa lội như bánh canh”. Còn
thường trực ở chỗ có “muỗi kêu như sáo thổi” và nhiều con vắt… Ðó là

rừng U Minh Thượng, U Minh Hạ… Bởi ba em là lính chiến thuộc Sư Ðoàn
21/BB, còn có biệt danh nghe hay và oai hùng lắm là Sét Miền Tây đó mà.
Hôm nay, vào ngày rằm tháng Tám “Mùa Trung Thu, Tết nhi đồng”
của chúng em. Khi trời nhá nhem chạng vạng thì phố xá đã lên đèn… Tiếng
hát vang vang rền vọng, tiếng chiên trống lân giục giã trên các nẻo đường
của thành phố, làm lòng dạ em nôn nao, náo nức, rồi em nhãy lưng tưng, hát
líu lo bài ca về Trung Thu như mấy đứa nhỏ nhà kế bên…
Mấy đứa cùng xóm đến trước hàng rào nhà, rủ rê em nhập bọn đi dâng
cộ đèn, hoặc cầm đèn qua nhà chúng chơi. Nhưng nghe lời má dặn, và nhớ
ba khiến em muốn khóc quá! Em lắc đầu xua tay nguầy nguậy có ý bảo với
chúng là em không đi đâu.
Ba em đang dãi dầu ngoài trận tuyến! Với những người lính chiến như
ba thì làm sao có ngày lễ. Cho dù là lễ Tết hay phép thường niên cũng vậy, ít
khi được như ý… Ba em chợt đi, chợt đến bất ngờ ghé thăm nhà chớ không
hẹn trước khi nào sẽ trở về.
Ðêm nay các nhà trong xóm đều đốt lồng đèn trước cửa. Hương trầm,
bánh, trái, hòa với mùi thơm của nước trà Quan Âm Kỳ Chưởng… Nhà nhà
ấm cúng mừng đón Trung Thu. Riêng nhà em lạnh lẽo vắng vẻ buồn tênh,
má không đốt đèn ở sân trước dù là đèn điện.
Chiều đi học về sau khi ăn cơm, má còn căn dặn em:
- Con ra sân đốt lồng đèn chơi một mình, đừng đi đâu nghe… Nhà
mình ba không về, nên đêm nay không có mừng Trung Thu. Ít bữa ba về
mình sẽ ăn Trung Thu muộn, nghe con…
Em cầm lồng đèn đi tới đi lui trong sân nhà với chú mèo tam thể,
“meo, meo…” tiếng kêu, quấn quít bên chân em. Gió hiu hiu mát rượi, đưa
đẩy cây lệ liễu hông nhà, làm những cành lá tha thướt lay động lồng bóng
trăng tròn in trên sân. Trăng thu đêm nay rực rỡ tỏa ánh sáng thanh thoát
xuống muôn loài trên trần thế, nhẹ nhàng êm ả...
Em nghe trẻ hàng xóm hát những bài Trung Thu: “…Ðêm Trung Thu
em đốt đèn đi chơi… Em đốt đèn đi khắp phố phường… Ðèn Ông Sao với
đèn cá chép, đèn thiên nga với đèn trái bí…”
Và em còn nghe anh chị con nhỏ Bạch Nhạn nhà bên cạnh hát ca...
khiến em ganh tị thấy mắc ghét lắm! Em cũng biết hát vậy chớ bộ! Em liền
rống họng, cất tiếng hát lanh lảnh, vang vang... cố tình cho tụi nó ngán chơi:
“Hôm nay đêm rằm, rằm là rằm tháng Tám,  Ông Trăng kia đã lên
cao rồi ông nhìn chúng em ông tủm tỉm cười! Ông Trăng ơi, nầy ông Trăng
ơi, xuống đây với chúng em cùng vui chơi! Ông Trăng ơi nầy ông Trăng ơi,
Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… Có chi nữa không? Có trống
ếch cà lùng tùng xèng… Có chi nữa không? Có bánh ngọt thơm phưng
phức… Có chi nữa không? Có những đèn Trung Thu ở miền Nam tự do, ấm
no hạnh phúc… ông Trăng ơi! Ông Trăng ơi, xuống đây với chúng em cùng

vui chơi… Xuống đây chúng ta cùng ca hát vang trời… ông Trăng ơi… nầy
ông Trăng ơi, ơi…”
Tiếng vỗ tay lớn và nhanh, làm em ngạc nhiên quá đỗi! Mèn ơi, ai mà
vỗ tay khen tặng em dữ vậy cà? Chắc chị anh mấy con nhỏ hàng xóm chớ
gì? Chớ tụi nó thì còn khuya à, chúng nó ganh tị chẳng thèm nghe em hát,
thiếu điều muốn bịt hai cái lỗ tai lại nữa kìa, chớ ở đó mà chúng vỗ tay khen
em hát bao giờ…
Nhưng chao ôi, sừng sững lồng dưới ánh trăng rằm lộng lẫy! Người
lính chiến hiên ngang, oai phong đứng đó! Ông mặc bộ trây-di màu cỏ úa,
đầu đội nón sắt, và trên thắt lưng cây súng nhỏ… Giầy sô cao ống bám bụi
đường xa, mùi nắng cháy khen khét quen thuộc… ông trìu mến nhìn em
mỉm miệng cười! Rồi ông hơi khum lưng xuống, đưa hai tay đón chờ…
Thảy cái lồng đèn dưới sân, em phóng tới ôm chầm thật chặt lấy ba.
Hôn tứ tung lên mặt, lên mũi, lên ngực, lên áo ba…
Giọng em rộn ràng, vui mừng và ơi ới gọi lớn:
- Mẹ ơi, mẹ ơi ba về! Ba về, ba về mẹ ơi…
Trong nhà nhanh chân bước ra tới hàng ba. Mẹ nhìn hai cha con em
nở nụ cười mà mắt hoen dòng lệ hạnh phúc. Thế là đèn điện nhà em được
thắp sáng! Lồng đèn treo hai bên cửa trước, sân sau được ba châm lửa đốt
đèn cầy. Ánh lửa dạ giấy màu, hồng, vàng, tím, xanh… tươi trẻ, vui mắt.
Trong nhà mẹ lúi húi nấu nước châm trà, cắt bánh trung thu… Em vui mừng
chạy qua mẹ, rồi chạy sang ba… Em ôm cổ ba, nói cười líu lo như con chim
chích chòe vào buổi bình minh nắng ấm… Nhà em, những nhà trên trần thế
được thắp sáng ánh trăng vàng thanh thoát của đêm Trung thu.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 miền Nam bị giặc cưỡng chiếm! Năm đó
trẻ con chúng em không có lễ Trung Thu! Ba em bị bắt tù cải tạo… nhà cửa
em trống trơn vì phải bán lần, bán hồi các đồ vật trong nhà… Rồi má em đi
bán chợ trời… Ðó là kế sinh nhai duy nhứt của mẹ con em, và chắt chiu
dành dụm để dành đi thăm nuôi ba.
Những năm về sau, vào đêm rằm tháng tám không ai còn nghe tiếng
hát hò, trống múa lân của đoàn dâng cộ đèn nữa. Chợ búa không có bánh
trung thu bày bán tự do khắp nơi như xưa. Có chăng họ chỉ làm chui, bán
lén… vì đó là mặt hàng xa xí phẩm! Thành phố em ở nhà nhà xác xao, cửa
đóng then gai dưới trăng. Mặc dù ánh trăng thu vẫn sáng tỏ nhưng lòng em
sao cảm thấy dìu dịu hắt hiu buồn! Những đứa nhỏ hàng xóm sống gần nhà
em thưa dần, vì chúng theo gia đình về quê ngoại, quê nội, hoặc đi kinh tế
mới… Và em không có đèn lồng trái bí dễ xếp cất, dễ đốt mẹ mua cho như
những năm qua!

Sau bao nhiêu năm giặc chiếm miền Nam. Là bấy nhiêu năm ba em bị
giặc nhốt trong tù cải tạo! Hôm nay không định trước, mẹ dắt em đi thăm ba,
lại lọt đúng vào ngày rằm của mùa Trung Thu.
Mẹ con em vượt qua biết bao nhiêu chặng đường lồi lõm có khi đi
bằng xe hơi. Có lúc lội bộ, có lúc bằng xe tàu mo, đò chèo… Khi thì mẹ
gánh em ngồi trong thúng bên đầu gióng nầy, đầu gióng kia chất chồng đồ
ăn, áo quần cũ, thuốc men.
Mẹ và em đi từ một hai giờ khuya đến chiều tối ngày sau mới đến nơi!
Khi đến trại tù thì đã quá giờ thăm nuôi, mẹ con em và một vài bà khác cùng
cảnh ngộ cũng đi thăm nuôi chồng con. Những kẻ lỡ bước chúng em được
chủ vườn ở gần trại tù (cách mấy cây số) tốt bụng cho ngủ trong trại ruộng
của nhà họ.
Tối đó, mọi người lỡ đường vùi mình vào đống cỏ khô dưới nền đất
sét nứt nẻ, thiếp đi vì mệt mỏi… May mà cả đêm qua trời không mưa, nhưng
gió núi tê tái lạnh lùng rung cây ào ào.
Hai mẹ con em nằm chèo queo một góc trong tại ruộng không vách,
không phên. Em nhìn trăng qua nhiều lỗ trống không trên mái chòi. Trăng
rằm lên cao, càng lên cao ánh trăng càng sáng vằng vặc. Sương khuya xuống
mịt mù đỉnh núi và chập chờn trên dải đồi mờ ảo xa xa. Tiếng côn trùng về
đêm, hòa cùng tiếng dế tỉ tê… Những con chim ăn đêm bay qua ẩn hiện mịt
mờ, kêu oang oác trên trời cao, cùng tiếng gió hú qua đồi làm xào xạc nhành
cây lá chung quanh, khiến em sợ hãi rúc vào lòng mẹ.
Ðể rồi sáng dậy ra mặt, tay, chân… người nào cũng đầy vết muỗi cắn.
Bầy muỗi đêm qua được ăn bữa giỗ no nê! Chúng thiệt là ác độc, nỡ đành
hút máu của những kẻ lỡ đường ngủ trong trại ruộng!
Mẹ em lồm cồm ngồi dậy khi nghe vẳng tiếng gà gáy trong xóm xa…
Bà sửa soạn lại túi nải chờ rạng đông đi vào trại tù thăm chồng. Bỗng bà
thấy hai bóng đen lù lù xuất hiện khi mờ khi tỏ trong màn sương sớm. Càng
lúc họ đến càng gần… mẹ em sợ quá gọi mấy người kia thức dậy, để cùng
đối phó nếu rủi gặp kẻ xấu, hoặc chuyện không may!
Họ càng đến gần trời cũng sáng thấy rõ hơn… Thì ra là hai người
thanh niên đi giỡ bẫy chim, chuột, gà rừng… Nói chuyện một hồi thì mấy bà
cùng mẹ con em vào nhà cha mẹ họ là chủ trại ruộng nầy để xin nước
uống…
Mẹ nhớ lại đã bao nhiêu năm rồi đây là lần đầu đi thăm nuôi chồng.
Ba đói khổ lắm mẹ liền cởi chiếc nhẫn cưới bằng vàng 18K đang đeo trên
ngón tay áp út ra. Ðó là di vật sau cùng của ba tặng bà trong ngày đính hôn!
Mẹ đem đổi lấy con gà giò (gà mới lớn nhổ lông xong, còn hơn nắm tay) và
lít gạo trắng của chủ nhà… Rồi mượn nồi niu của họ làm gà rô ti và nấu nồi
cơm còn nóng hổi đem cho ba em!

Bao nhiêu năm tù tội… Ðến bây giờ vợ, chồng, con mới gặp lại nhau!
Má em khóc sướt mướt chẳng nói nên lời! Ba ôm em vào lòng nghẹn ngào
thổn thức… Ba trông thật tiều tụy, ông ốm gầy, tay chân lỏng thỏng, mặt
mày hốc hác, mắt hõm sâu, da đen chì, mét chẹt, nắng cháy nám đen… Chân
tay ghẻ chốc, thẹo vít chỗ lành, chỗ lở… Ba già quá nhiều! Nếu bất ngờ gặp
ngoài đường không ai nói, chắc em sẽ không nhận ra, và sẽ không tin tù
nhân đó chính là cha của mình! Em xót xa thương ba vô cùng, ôm chặt ba
nức nở khóc òa…
Gần hết giờ thăm nuôi, mẹ đưa cho ba tất cả đồ đem theo, trong đó có
con gà được chặt ra làm bốn và nồi cơm đầy… Ba em múc hết nồi cơm, cạo
lấy luôn cơm cháy, đưa nồi không còn dính một hột để chút nữa đây trên
đường về má em ghé trả lại người cho mượn. Ba lấy hai cục thịt gà (nửa
con) đưa cho má và em. Mắt u buồn và rưng rưng dòng lệ mỏng, ông nhẹ
giọng bảo:
- Em và con đem theo ăn trên đường về. Chắc con và em đói khổ
lắm? Thôi mẹ con về đi, anh sẽ giữ gìn sức khỏe. Ðường quá xa xôi, khó
khăn đừng… đừng có lên thăm nữa!
Mẹ em nước mắt dâng tròng, lật đật lấy gà để trở vào gói cho ba, mếu
máo nói:
- Ở nhà không gì vất vả cả, chỉ lo cho anh thôi. Anh đem gà vào ăn
đi. Mẹ con em tới bến xe sẽ mua ăn, thiếu gì đồ ăn họ bán…
Dáng ba thất thểu đi vào trại tù… Và cửa tù từ từ kéo đóng lại! Mẹ em
nát dạ tan lòng đứng nhìn theo, rồi lủi thủi dắt con ra về. Vừa đi bà vừa lau
dòng lệ đau thương lã chã chảy dài xuống má, còn em nước mắt cũng trào
tuôn… Ðường về nhà em còn xa xôi lắm, lại gặp cơn nắng cháy, mưa sa!
Hai mẹ con không ai nói với ai lời nào, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của
mình… Trong đầu óc thơ ngây bé nhỏ của em lúc bấy giờ!
Ba em ngày xưa là sinh viên, bởi “Ðất nước lâm nguy/ Thất phu hữu
trách” nên học nửa chừng thì vào quân ngũ. Ba em có giành dân lấn đất hay
cướp giựt của ai đâu! Vậy thì ba em có tội tình gì, phải chăng tội ông làm
bổn phận người trai trong thời loạn vì an nguy của gia đình và bảo toàn lãnh
thổ? Giờ đây họ bắt nhốt trong tù nơi xa xôi hiểm trở? Ðể ba em và đồng đội
đau không thuốc uống, đói không có ăn, lạnh không đủ ấm! Lại bị nhốt trong
vùng hoang dã đìu hiu đi cả ngày không thấy bóng người như thế nầy...
Ði gần đến tối mà mẹ con vẫn chưa đến nhà. Giờ đây em vừa khát và
mỏi mệt cả tứ chi, và đói bụng, mẹ chép miệng bảo:
- Ráng nhịn về nhà sẽ có đồ ăn, vì mẹ chỉ còn đủ tiền để đi xe thôi.
Lúc nãy mẹ định bới cơm cho ba, còn miếng cơm cháy mẹ con ăn cho đỡ dạ
trên đường về. Nhưng thấy ba vét sạch nồi cơm nên mẹ làm thinh! Tội
nghiệp ba ở trong tù đói khát nhọc nhằn lắm con ơi…

Nói đến đó, mẹ em nghẹn lời sụt sùi dòng lệ khổ! Về đến nhà, em
không sao ngủ được. Hoàn cảnh trại tù, ba em và đồng đội của ông bị hành
hạ đọa đày cứ lởn vởn trong đầu óc thơ dại của em. Từ đó nỗi hờn oán nhen
nhúm ngày càng lớn trong tâm hồn: “Em sẽ không bao giờ! Phải, không bao
giờ em quên, và không bao giờ tha thứ cho những kẻ đã đày đọa ba,cùng
những đồng đội của ba em…”
Vào rằm tháng Tám năm sau, em thẫn thờ ngồi bên cửa sổ vò võ nhìn
bầu trời cao rộng, trong sáng ánh trăng thu! Và con mèo tam thể dễ thương
đó, vẫn cào, kéo lai quần em. Nó chạy nhảy tung tăng, kêu “meo, meo…”
giỡn trăng như để làm vui lòng cô chủ nhỏ. Thấy em buồn, má cũng chẳng
vui gì hơn! Một lúc sau, bà tìm ra cái lồng đèn trái bí mấy năm trước đã cũ
mèm, giấy dán đổi màu và bị chuột cắn tưa mấy lỗ. Nhớ lại lâu lắm rồi, em
đã cẩn thận nhét cái lồng đèn đó dưới chót, ở trong thùng tập vở, sách
truyện, và báo cũ của ba em.
Ðã mấy mùa Trung Thu qua đi, ba em vẫn chưa được thả về. Em lơ là
nhìn cái lồng đèn nghe chừng xa lạ, mà cảm thấy lòng xao xác héo hắt buồn
loang! Làm sao em vui được khi ba em còn bị đày nơi rừng sâu Việt Bắc,
nơi nổi tiếng rừng thiêng, và nước độc! Nước độc đến nỗi, từ bờ suối bên
nầy, lội qua bờ suối bên kia thì lông chân bị rụng hết! Ở đó họ chỉ uống
được nước mưa... và có khi đi cả mấy tháng trời, cũng không thấy bóng sơn
nhân, hay lâm nhân…
Em lại càng xót xa đau buồn nhức nhối hơn! Mỗi khi nửa đêm trở
giấc, em nghe mẹ khóc lén, khóc thầm! Thế nhân dù có buồn vui! Nhưng
đêm nay trăng thu vẫn ngạo nghễ lên cao. Càng lên cao, trăng càng trải ánh
sáng ngà ngọc xuống muôn loài. Gió thu vẫn nhè nhẹ man mác và mây thu
vẫn bàng bạc bay bay về phương trời vô định... Những cánh chim đêm thu in
chập chờn trên không gian và hối hả bay đi… Chúng như ngầm hiểu nỗi
thống khổ đoạn trường của con người theo vận nước nổi trôi! Và cảm thông
trời miền Nam tự do ấm no đã không còn nữa… Ôi đến cả loài chim muông
mà còn biết buông tiếng kêu áo não, oán, hờn, trách, hận... đau thương!
Sau khi ba em được thả về, gia đình đùm túm theo thuyền chài vượt
biển Ðông! Mười mấy ngày lênh đênh trên biển cả, gió dồn, sóng dập, đói
khát thảm thê. Tưởng chừng cả gia đình dìm dưới mồ huyệt lạnh của đại
dương rồi… Hành trình vượt biên trùng trùng hiểm nguy thừa chết thiếu
sống! Nhờ Ơn Trên, rồi gia đình em cũng trôi giạt vào Nam Dương
(Indonesia) quần đảo với những thuyền nhân chung chuyến tàu.
Sống lang thang từ đảo nầy qua đảo khác: Pacikata, Terrempa, Ku Ku,
rồi Galang (Trung tâm tị nạn Cộng sản vùng Ðông Nam Á) Tại trại tị nạn
Galang, nếp sống của người tị nạn Cộng sản có quy củ và khá hơn về nhiều

mặt. Nhứt là vấn đề y tế! Nơi đây có trường học dạy Anh văn, có nhà
thương, có nhà thờ, có chùa… Có văn phòng Cao ủy tị nạn làm việc, để
nhận người vào đệ tam Quốc Gia… Và nhiều tiệm buôn bán gia dụng nấu ăn
của dân bản xứ… dần dà có quán phở, quán hủ tíu, quán nhạc, quán cà-phê,
quán sinh tố…
Galang là một trong những hòn đảo đẹp của Nam Dương. Chùa được
cất trên đồi cao gần các dãy trại, để dân tị nạn dễ dàng chiêm ngưỡng và
cúng bái. Ngôi chùa khang trang có nhiều tượng phật cao lớn hơn người…
được tàu và trực thăng chở đến… Phí tổn của ngôi chùa nầy, nghe đâu do
các thương gia ở Nam Dương và Singapore góp gom để xây cất.
Sáng sớm và chiều tối nào em cũng theo ba má lên chùa. Vì trên chùa
gió mát, và đôi khi em được các sư cho trái cây hoặc bánh, kẹo… của bá
tánh đã cúng Phật. Ở đảo đói khát thấy mồ, em thèm đủ mọi thứ, hôm nào
được các sư cho đồ ăn dư của Phật thì em mừng húm! Em nghĩ bụng đồ ăn
thừa của Phật sẽ được phước đức (và má em cũng nói như vậy).
Phía sau chùa chừng hơn trăm thước cao, phóng tầm mắt nhìn, chúng
ta có thể thấy rõ bốn hướng của biển cả mênh mông vô bờ, vô tận… Và em
cảm thấy tâm hồn mình dạt dào hạnh phúc mỗi lần có dịp đứng bên ba má
em nhìn hoàng hôn xuống. Mặt trời chiều ráng màu đỏ nghệ có hình bầu dục
như quả trứng gà, treo lơ lửng trên nền trời nhiều mây có vân ngũ sắc ở
hướng tây. Nắng vàng trải trên mặt thủy triều của đại dương bao la xanh
ngát một màu, và ánh nắng lung linh chấp chóa lúc mây tạnh gió yên.
Vào những buổi sáng mờ sương, biển thanh thoát và hiền dịu vô
cùng… mặt nước lăn tăn gợn sóng theo từng đợt gió đùa… Nền trời trong
như ngọc, lác đác từng làn mây trắng mỏng như nằm bất động có pha những
sắc màu rực rỡ do những tia nắng bắn ra từ mặt trời cao ngạo vừa nhú lên ở
phương đông. Rồi sương mờ dần tan, chỉ trong chốc lác thôi… biển tịnh
yên, mặt biển xanh lơ, và vầng hồng rạng rỡ cho nắng ấm... gió the the man
mác lay nhẹ chòm lau, khóm đước hòa cùng lá thông reo dọc bờ biển tạo ra
âm thanh êm ấm dễ chịu vô cùng…
Hải âu xoãi cánh bàng bạc loang loáng trong ánh bình minh… “Chim
én không làm thành mùa xuân/ Nhưng có chim én mùa xuân thêm phần ý
nghĩa” Ở chốn hải đảo nầy, em xin nói lên thiển ý của mình rằng: “Nếu biển
không có cánh hải âu thì biển cả mất đi phần thi vị”.
Có hôm dưới mái hiên chùa, em phóng tầm mắt nhìn trời biển động!
Gió thổi vùn vụt, cây cối ngả nghiêng. Sấm ầm ầm, sét nổ giòn, những tia
chớp sáng lòe lên rồi phụt tắt! Mưa nặng hột tầm tã ào ào. Biển nộ cuồng
từng cột sóng dâng cao như muốn đảo lộn càn khôn! Thật dễ sợ cho sự nổi
trận lôi đình của Thủy Long Vương trong lòng biển cả(?) Em ngồi co ro,
chợt nhớ câu: “Ðời không đau khổ đời vô vị/ Biển chẳng phong ba, biển
chẳng hùng”.

Thuở đó gần cuối năm 1979, đảo Galang có mấy chục ngàn người dân
tị nạn Cộng sản, đại đa số là từ miền Nam Việt Nam. Họ bôn đào khi miền
Nam bị Cộng sản và Việt cộng cưỡng chiếm! Nơi trại tị nạn, ba khéo tay làm
cho em cái lồng đèn trái bí bằng lon nhôm coca-cola, trong mùa Trung Thu
ở trên hải đảo Galang. Lon nhôm sau khi rửa sạch, lau khô, ba em kiên nhẫn
dùng nhiều cục đá có cạnh nhọn, bén… Ông đục từng đường dài, nhắm sao
cho ngay và đều… Ba ngồi cả ngày trời tẳn mẳn đục, chà cạnh cho hết
bén… Rồi nhẹ tay bóp cho những cọng lon nhôm cong (không gãy) mà ông
đã bỏ không biết bao nhiêu cái lon nhôm. Bị xuể tay, rướm máu mới làm
được một cái lồng đèn trái bí, tạm vừa ý cho con gái mình!
Chiều đến cầm lồng đèn trái bí ba làm cho, lòng em tươi vui phơi phới
như hoa nở mùa xuân. Lon ton theo bọn trẻ con (tị nạn) trên đảo đi dâng cộ
đèn vòng vòng trong các trại do những anh chị hướng dẫn... Ôi hải đảo phủ
ánh trăng thanh thoát giữa vùng mây nước, có tiếng sóng biển bủa rạt rào,
tiếng gió vi vu hòa cùng tiếng hát mừng Trung Thu vang dội, rền vọng ngút
trời xanh… của những đứa trẻ đã cùng gia đình trốn chạy khỏi vùng Cộng
sản để đi tìm phương trời tự do…
Ðêm Trung Thu đó, chúng em được ăn nhiều bánh kẹo, uống nước
trái cây thơm ngọt, từ các nhà hảo tâm của xứ người chở đến cả tàu, cả xe
đến tặng. Họ còn đem cho cả lồng đèn làm đủ kiểu hình thù các con vật…
được sơn phết, dán giấy, vẽ, tô đẹp đẽ, màu sắc rực rỡ, chói lộng hấp dẫn và
quyến rũ vô cùng… Nhưng em không nhận đâu, bởi ba đã làm cho em lồng
đèn trái bí bằng lon nhôm rồi. Em quý cái lồng đèn nầy hơn tất cả mọi lồng
đèn trên thế giới, trong mùa Trung Thu. Bởi cái lồng đèn trái bí bằng lon
coca làm thành đó, ngoài tốn nhiều công sức, còn là tâm ý và gói ghém cả
tình cha thương con của ba em…
Mùa Trung Thu ở trại tị nạn Cộng sản Galang, khắc ghi đậm nét trong
đời, và cho em niềm nhớ không nguôi… Nó sẽ làm hành trang em mang
theo trong ký ức trên khắp quãng đường lưu lạc.
Thời gian qua mau quá, mới đó mà đã mấy mươi năm ở xứ người. Ba
má vất vả nuôi dưỡng chăm lo cho con học hành đỗ đạt nên người. Ngày nay
em đã thành nhân, ông bà có cháu ngoại để bồng bế thương yêu, nuông
chiều. Dòng thời gian thắm thoát cứ trôi mãi trôi, nay ba má em đã ngoài
tám mươi! Ông bà ở tuổi “Bát thập cổ lai hy” Cái tuổi dễ bịnh hoạn, và gần
đất xa trời khiến em buồn đau thắm thía trong lòng, mỗi khi nghĩ đến!
Nhưng phải làm sao đây? Vì đó là định luật của tạo hóa, mà trót sanh ra làm
kiếp con người thì kẻ trước, người sau không một ai tránh khỏi!
Rồi ngày đó cũng đã đến, một mất mát lớn cho gia đình! Má em đã
qua đời! Giờ đây, đêm đêm em luôn nguyện cầu, xin Ơn Trên cho ba em ăn

ngon, ngủ khỏe. Và em cố gắng làm mọi thứ để ba được an ổn tâm hồn, vui
vẻ hạnh phúc trong thời gian ngắn ngủi của đời người còn lại bên cháu con!
Dẫu biết rằng, trong cuộc đời có đầy dẫy hỉ, nộ, ái, ố… thăng trầm, dâu bể,
phế hưng, nhứt là trên quê hương khốn khổ Việt Nam của em sau ngày Cộng
sản và Việt cộng chiếm đóng!
Giặc đã mang nền giáo dục (ở mọi khía cạnh, mọi phương diện) của
làn sóng đỏ từ ngoài Bắc tràn vào miền Nam. Hoàn cảnh xã hội miền Bắc
mấy mươi năm theo chế độ Cộng sản đã gây và ảnh hưởng tác hại mọi mặt
về tâm lý, văn hóa, xã hội nhập vào đời sống. Ðã thấm nhuần, và ăn sâu
trong tâm hồn, trong máu huyết của con người từ trong gia đình, ra ngoài xã
hội người miền Bắc. Với những điều nghịch lý, giả nhân, giả nghĩa, lừa bịp,
dối gian, tính toán, tinh ma, ác hiểm… đã xẩy ra hàng ngày với cha con, anh
em, bạn bè, thì nói chi đến tình nghĩa xóm chòm, hay nặng nợ với ngọn rau
tấc đất, nước non…
Vì thế, những đổ vỡ của gia đình hiếu thảo con cái, tình nghĩa vợ
chồng nhan nhản xẩy ra hàng ngày trước mắt, và khắp nơi, không sao đếm
cho xuể! Khuôn ngọc thước vàng từ nghìn xưa ông cha ta để lại “Tề gia, trị
quốc, bình thiên hạ” dưới chế độ Cộng sản vô thần, giờ đây đã bị thui chột,
vô nghĩa hết rồi! Thì thử hỏi xã hội Việt Nam ngày nay làm sao không rối
bời, và quê hương đất nước Việt Nam làm sao không nát tan, không bị chia
năm xẻ bảy… Ðó cũng chỉ vì lợi riêng của những kẻ cầm quyền hiến dâng,
bán đất, biển... cho ngoại bang!
Hôm nay là ngày rằm tháng Tám, đã vào chánh mùa Trung Thu. Em
đẩy ba ngồi trên xe lăn chầm chậm rẽ vào chợ (vì cả hai chân ba đều yếu).
Vùng gia đình em tạm cư, có rất nhiều chợ Á Ðông. Cả tháng nay, tiệm nào
cũng bán đầy dẫy bánh trung thu. Bánh trung thu đủ loại ở địa phương, nội
địa sản xuất… và bánh từ các nước khác nhập vào. Bánh trung thu nằm phơi
phới trong các hộp vẽ hoa bướm màu sắc tươi trẻ rực rỡ. Các hộp đều có nắp
đậy bằng kiếng, nhìn thấy rõ bánh bên trong, gợi thèm cho khách vào ra chợ.
Em nghĩ, năm nay các bánh được làm từ nước Tàu Cộng, Việt Cộng
chắc hẳn ít ai dám rớ tới? Vì lợi ích riêng, họ không nghĩ đến sức khỏe của
người tiêu thụ, đã dùng quá nhiều hóa chất … Ăn vào dễ, lấy ra khó, sẽ hại
cho thân thể, và có khi còn chết người!
Ba em nhìn từng hộp bánh trong tủ kiếng. Ông lựa rồi chỉ tay, muốn
mua một hộp bánh Trung Thu có trứng, và lấy thêm hộp bánh dẻo nữa. Nhà
em ngoài ba, chỉ có hai vợ chồng em và hai đứa nhỏ (nhưng chúng không
thích bánh trung thu) Ai cũng sợ ngọt, nên chắc chắn sẽ ăn không hết… Chỉ
cần mua một hộp, hai bánh nầy, hai bánh kia đủ rồi. Nhưng em lấy cả hai
hộp bánh người bán đặt vào bao xách, máng trên xe cho ba vui lòng. Ba em
chỉ hai chiếc lồng đèn treo trên vách. Em nghĩ chắc ba mua cho hai cháu
ngoại… Trả tiền xong em định đẩy ba đi ra, nhưng ông chỉ thêm cái lồng
đèn trái bí, làm em ngạc nhiên nhìn ba?
Ông nhìn em mỉm cười, trìu mến:
- Ba mua lồng đèn trái bí cho con! Nhớ thuở con còn bé nhỏ thích
chơi đèn Trung Thu với đám trẻ con trong xóm. Năm đó đi lính xa, bất ngờ
được về thăm nhà trong đêm Trung Thu. Ba đứng sau lưng cả buổi mà con
không hay! Khi thấy ba, con phóng tới ôm chầm thật chặt như sợ ba vuột
mất... rồi con mừng rỡ, líu lo gọi mẹ báo tin ba về.
Mắt già nua trắng dã, ba em cảm động nghẹn lời! Ông tiếp:
- Ba mua bánh về cúng má, lúc sanh thời bả ưa bánh Trung Thu và
bánh dẻo lắm. Cho dù con gái ba bây giờ tuổi đời có lớn hay già đi nữa,
nhưng trong mắt ba lúc nào con cũng còn nhỏ bé! Còn tình thương con
trong lòng ba càng ngày càng lớn vô bờ, vô tận con ơi...
Em dang đôi tay ôm chầm lấy ba! Hôn lên trán ba em, mà mắt rưng
rưng dòng lệ kính yêu và hạnh phúc ngập cõi lòng!
Em may mắn được sanh ra trong miền Nam! Em diễm phúc được thừa
hưởng rất nhiều, rất nhiều thứ mà chỉ ở miền Nam tư do dưới Chánh thể
Cộng Hòa mới có… Em đã nghe được câu nói của ai đó, để riêng mình thẩm
thấu và nghiệm thấy rằng: “Trên cõi đời nhiều hệ lụy khổ ải nầy, có hai
người đàn ông để cho em kính nể và yêu thương nhứt. Ðó là ba em và
chồng em!”
Ðường phố đã lên đèn, nhưng ánh trăng thu rực rỡ cao ngạo, thanh
thoát áp chế ánh đèn đường vàng võ. Cha con em dừng lại bên lề nhìn đoàn
múa lân dẫn đầu, các thiếu nhi dâng cộ đèn náo nhiệt đi qua. Trên đất nước
tự do, các em vô tư, thảnh thơi, mặt mày hớn hở nhịp nhàng cất tiếng hát
vang vang: “Ðêm Trung Thu em đốt đèn đi chơi/ Em đốt đèn đi khắp phố
phường/ Ðèn ông sao với đèn trái bí/ Ðèn xe tăng với đèn cá chép…Em đốt
đèn đi khắp phố phường…”

California, Tệ xá Diễm Diễm Khánh An
DƯ THỊ DIỄM BUỒN
Tuyển tập truyện ngắn “Xứ Lạ Tình Quê”

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags NHỮNG MÙA TRUNG THU, DƯ THỊ DIỄM BUỒN
Comment

Mùa Thu Không Trở Lại (Sao Khuê)

August 21, 2026 Ninh Tran

Mùa thu này, anh vẫn chưa trở lại

Một mình em bên cội hoa vàng

Một mình em trong cánh đồng hoa dại

Một mình em sầu nặng đợi mùa sang

 

Mùa thu rồi, anh vẫn không trở lại

Mưa nhớ anh, lệ nhỏ hạt âm u

Em nhớ anh, nhớ tình yêu nhỏ dại

Em tìm anh, chỉ thấy bóng sương mù

 

Anh có biết, tình không bao giờ chết

Dẫu trần gian hay địa ngục thiên đàng

Dẫu cát bụi có xóa nhòa thân xác

Em vì anh giữ mãi làn môi ngoan

 

Rất nhiều đêm em cơn mê rất lạ

Cố tìm anh trong bóng tối lạc loài

Thân bước đi từng bước chân mộng mị

Lòng nhớ anh bão nổi chẳng hề phai

 

Anh ra đi chẳng bao giờ trở lại

Theo dòng sông réo gọi thuở hoang sơ

Mặc cho em những đêm trời chuyển gió

Réo gọi tên anh trong cả giấc mơ

 

Xa nhau rồi, xóa mờ luôn dấu tích

Cánh chim bằng theo gió chẳng bay về

Mười ngón tay em đan niềm nhung nhớ

Sợi tóc dài vương vấn mãi đam mê

Anh! Nếu có ngày nào anh quay lại

Tiếng sáo diều trầm bổng quyện âm thanh

Ta yêu nhau tình không bao giờ hết

Như tơ trời như lưới nhện mong manh

 

Dẫu biết anh không bao giờ trở lại

Nhưng thu về em vẫn cứ ngóng trông

Lá vàng rơi gợi nhớ đến âm thầm

Anh không đến dẫu thu hằng trở lại

Để mình em với mối tình thơ dại

Đi suốt đời không thấy được người yêu

In Thơ Tags Mùa Thu Không Trở Lại, Sao Khuê
Comment

THU ĐẾN  ANH VỀ THĂM EM (Lâm Hoài Vũ)

August 21, 2026 Ninh Tran

THU ĐẾN  ANH VỀ THĂM EM 

 

Anh trở về đây thăm lại em.

Giọt sầu thương nhớ thấm môi mềm.

Nhưng sao nhà vắng đìu hiu quá !

Không biết em còn nhớ hay quên.

 

Anh bước một mình trên phố cũ.
Nghe từng hoa lá kể chuyện xưa.
Con đường năm ấy còn nguyên dấu.

Kỷ niệm tràn dâng mỗi tiết Thu.

 

Nhớ đến dáng em bao góc phố,
Đèn khuya soi bóng bước chung đôi.
Quán vắng chơ vơ anh bước vội.
Người tình năm cũ đã xa rồi.

 

Dẫu biết duyên mình không thể đến,
Tình đời ngăn cách mối tình say.
Anh trở về đây ôn kỷ niệm.
Thu đến anh về thăm em đây.

 

Anh trở về đây ôn kỷ niệm.
Thu đến anh về em có hay ?

 

Lâm Hoài Vũ

27/10/2023

In Thơ Tags THU ĐẾN  ANH VỀ THĂM EM, Lâm Hoài Vũ
Comment

Tin thế hả ngày 17 tháng 8/2026. (nguồn báo Washington Post)

August 18, 2026 Ninh Tran

Xe hơi không chạy máy tự nhiên bùng cháy (nguồn Washington Post)

Theo báo Washington Post hơn 320,000 người có xe Jeep Wranglers and Grand Cherokees đã được thông báo rằng phải “đậu các xe này ở ngoài”, xa những cấu trúc và không xạc điện cho tới khi có thông báo mới. Lý do là các xe này đã bốc cháy tự nhiên ngay cả khi không sử dụng. Hãng xe đã cho lệnh thâu hồi các xe này lại. Người ta giải thích rằng những xe loại tối tân này có nhiều cơ phận điện tử đến mức nhiệt độ máy dù không xử dụng cũng vẫn cao. Và do đó bị bốc cháy từ máy ở dưới nắp xe ra.

In Góp Nhặt Đó Đây Tags Xe hơi không chạy máy tự nhiên bùng cháy (nguồn Washington Post)
Comment

Phở Gánh ngày xưa (Đinh Hoa Lư)

August 16, 2026 Ninh Tran

CHUYỆN PHỞ GÁNH NGÀY XỬA NGÀY XƯA... - Đinh Hoa Lư

 

hình xưa: phở gánh Hà Nội và lính Pháp

Trước khi có xe phở đẩy trên thì người thành phố Quảng Trị có hàng phở gánh bán dạo từ lâu. Nghề phở gánh chỉ dành cho mấy bác. Mấy o mấy mệ thường gánh những triêng hàng bún xáo, cháo lòng hay đậu hũ chẳng thấy mấy bác đàn ông nào gánh bún xáo, bánh bèo đi bán dạo cả. Nói về phở gánh "ngày trước của ngày xưa", người viết còn nhớ người mình hồi đó chẳng ai phân biệt phở Bắc hay phở Nam gì cả. Phở là phở, khác với bún bò, cơm cháo... vậy thôi. Nhưng về tiếng để kêu thì ít ai nói "đọi phở" mà là "tô phở" do người mình biết nó là món ăn từ bắc vào. 

<!>

Ngược lại bà con mình lại kêu bình dân hơn là "đọi bún bò" hay "đọi bún xáo". Tiếng kêu "tô bún bò" khi chúng ta vào tiệm hay quán đó thôi.

 

Tôi lại không muốn nhắc hay tả lại tô phở trong tiệm, nó lủ khủ đủ thứ; nào rau, ớt, chanh, hành, hay ngò gai, húng quế. Người viết chỉ muốn kể lại với bạn đọc trước tiên là HÀNG PHỞ GÁNH của một bác bán phở năm xửa năm xưa lúc tác giả mới vài tuổi. Trong trí nhớ mù mờ đó, người kể chuyện mường tượng một bác dáng người lam lủ và gánh phở ám khói ngày đó. Gánh phở đó cũng ngang qua xóm chúng tôi, cũng bờ hồ thanh vắng và con đường thân yêu tưởng chừng là muôn thuở. Có thể khách ăn đêm như thế phải hòa mình trong không khí vắng vẻ cùng một cảm giác se se lạnh ở góc đường hay cuối kiệt nào đó.

 

hình ảnh phở gánh miền bắc thời còn Pháp

 

Từ xửa, từ xưa... người viết kể như thế cũng không đúng chuyện phở đâu là chuyện cổ tích ngàn năm? nhưng thuật ngữ này chẳng qua để nói lên một nỗi lòng thương về những gì thực sự "đã mất" đã bị hoàn cảnh nào đó dập vùi không còn trở lại được nữa...Không biết ai tạo ra gánh phở cho bác bán dạo về đêm quanh thành phố Quảng Trị. Ngày xưa ngoại ô thành phố QT có thể bác bán phở gánh còn gọi là phở triêng nữa. Tiếng "triêng" có thể người Quảng Trị hay Huế thường nói, nơi khác chẳng hề nghe?

 

Khi bầu trời thực sự tối hẳn, bác bắt đầu cuộc hành trình quanh thành cổ thân quen. Hình ảnh người viết còn nhớ, bác luôn mặc quần đùi. Có thể đời bác chẳng biết quần dài là chi nữa. Chiếc áo ka-ki bạc màu, vàng ố. Hai vai áo vá nhiều lớp do gánh phở hằn nặng lên đôi vai bác không biết bao năm? Người kể cũng muốn nhắc lại như trên khi tả về triêng hay gánh phở xưa thì chỉ có đàn ông đi bán thôi. Còn triêng hàng gánh dành cho đàn bà thì có ban ngày triêng bún xáo, triêng cháo lòng...của các o các mệ đi bán ban ngày. Người viết phải phân biệt cho rạch ròi như vậy hầu bạn đọc có thể tưởng tượng ra cho đúng hình ảnh đó thôi.

 

phở gánh Nam Kỳ Chợ Lớn thời Pháp Thuộc

 

Tả về gánh phở- nó được tạo từ hai thùng gỗ vuông, hình khối chữ nhật đứng, có 4 chân nhỏ. Trên mỗi thùng, bện hai sợi thừng chắc chắn để móc đòn gánh. Thùng sau được thiết kế làm sao để bác đặt gọn được nồi nước súp. Bên dưới nồi súp, có một bếp củi thật gọn, lửa cháy leo lét để giữ nồi súp luôn nóng. Thùng gỗ phía trước bác chia ra nhiều tầng, đủ thứ như tô, đũa, rau ,hành và thịt. Phía trên là một mặt bằng nhỏ , bác dành chỗ để làm phở cho khách. Thấy thì đủ thứ, nhưng bác sắp đặt thật khéo léo nên chẳng thiếu món gì. Đã thế, phía ngoài bác không quên móc theo cái đèn bão có 4 mặt kính chắn gió. Chiếc nón lá sờn rách theo năm tháng, bác không quên móc theo ở thùng gỗ sau, phòng mưa.

 

"Giang sơn" của bác chỉ có thế. Cái đòn gánh cong cong quằn nặng theo hai đầu gánh phở. Bác thường tìm một ngả ba hay trước mấy con hẻm lớn, cũng như mấy con đường kiệt.

 

-PH.. Ơ… Ở….

Bác cất tiếng rao, tiếng ngân vang sâu vào trong mấy xóm vắng ngoại ô.

 

Người viết có dịp so sánh khi vào nam.Trong nam, tiếng rao phở ban đêm được thế bằng tiếng gõ lóc cóc của hai thanh gỗ. Như vậy tôi có dịp so sánh với tiếng rao của gánh phở QTrị xưa nghe sao lanh lảnh, âm sau cùng khi nào cũng cao vút lên:

 

-ph…ơ…Ở……

SỬA SOẠN BÁN TÔ PHỞ GÁNH RA SAO

 

Ánh điện đường như biết 'cảm thông' giúp bác bán phở, đêm đêm tỏa xuống dù chỉ là thứ ánh sáng vàng vọt mờ mờ. Có khách mua phở, bác ngưng rao. Bác xem chừng thận trọng đặt cái tô nho nhỏ lên mặt trên chiếc thùng gỗ. Sau khi nhúng lại nắm phở tươi mềm mại, bác cắt nhanh thật mỏng từng lát thịt bò, không quên gia thêm một chút vị tinh (bột ngọt) hiệu Thái sơn từ cái hộp sắt Tây luôn đặt gần bên. Xong, bác quay lưng dở nắp nồi xúp đàng sau. Dưới ánh đèn đêm tôi thấy rõ nồi xúp đang bốc hơi, lan tỏa lên một làn khói trắng mờ.

 

 

về đêm ăn một tô phở bên đường bao giờ cũng ngon

 

Chẳng đòi hỏi chi, khách cứ tự nhiên tìm nơi nào thuận tiện bên vệ đường rồi ngồi xuống xì- xụp thưởng thức tô phở bình dân đó. Trời càng khuya con đường ngoại ô càng trở nên vắng vẻ. Hình như nhờ thế, khách ăn đêm cảm thấy tô phở ngon hơn và ấm áp lạ thường. Do chỉ là phở gánh, vì vậy phần đông khách mua hay đem tô (đọi) mang về nhà.

 

Sau khi đẩy lại mấy que củi, rảnh tay, bác lại cất tiếng rao mà giọng nghe không thay đổi

 

-PH...Ở!!!….

 

Có thêm khách rồi đây, ai đó trong xóm đang tất tả cầm tô chạy ra vừa lúc bác đang sửa soạn gánh đi nơi khác.

 

Thời gian tiếp tục trôi qua lặng lẽ . Chiếc đòn gánh cong cong, đen trùi trũi mãi kẻo kẹt trên vai bác. Tuy vậy, với cuộc đời cần cù chịu khó bác vẫn kiên trì đếm bước theo gánh phở thân yêu và là nguồn sống bao lâu nay của gia đình bác.

 

 

 

PHỞ XE

 

 

Trời khá khuya, tiếng chơi đùa của lũ con nít ngoài ngả ba xóm Cửa Hậu trước thành vắng dần. Vài anh học sinh lứa tuổi thanh niên đang ngồi trên bờ cống nước chảy vào hồ thành. Ánh sáng ngọn đèn đường đang giúp mấy anh đang ôn bài học luyện thi. Nghe thật xa, đâu đó thỉnh thoảng có vài tiếng đại bác vọng về thành phố.

 

Hơn mười giờ đêm rồi, con đường Lê văn Duyệt nép theo bờ hồ càng lúc càng vắng người. Rất lâu mới có tiếng honda chạy vội qua. Thỉnh thoảng có tiếng chim cuốc dưới hồ vọng lên nghe khá rõ. Tiếng quốc kêu đêm, tôi nghe đã quen tai, nhất là những đêm có trăng, tiếng cuốc kêu rộn rã hơn.

 

Bỗng có tiếng rao phá tan trời đêm tĩnh lặng...

 

-PHỞ!!!

 

Khoảng giờ này là xe phở của bác đi ngang qua ngả ba trước Cửa Hậu. Có ai đó đang cầm tô tất tả chạy ra. Đêm nào cũng vậy, dù có khách hay không chiếc xe phở đi ngang ngả ba xóm chúng tôi thì dừng lại. Bác bán phở vừa đợi khách vừa nghỉ mệt một lát.

 

Đời người ai cũng có lúc thay đổi, triêng hàng phở cũng thế. Những năm sau này phở gánh dần dần biến mất không còn thấy nữa.

 

hình minh họa xe phở

 

Có thể cũng là bác bán phở gánh năm trước nhưng nay bác đã có được chiếc xe phở đàng hoàng. Chiếc Xe hình khối, phía dưới có những bánh xe tự chế . Ngọn đèn giờ đã được thay bằng ngọn đèn đốt bằng khí đá hẳn hoi. Hai bên thành xe bác còn cẩn thận móc thêm hai cái ghế đòn bằng gỗ có chân cao cho khách ngồi. Giờ đây nồi xúp được làm lớn hơn, chồng tô trên thành xe trở nên cao hơn. Khách ăn đêm ngồi ăn phở vừa nghe tiếng lì- xì phát ra từ ngọn đèn carbur đó. Dù sau này xe phở có trang bị bằng đèn măng sông, tôi vẫn thích ngọn đèn các- buya hơn tiếng đèn các-buya nghe thật vui tai. Dạo này tiếng rao nghe to lắm. Người bán phở, hai tay chắp đằng sau hướng mặt vào trong mấy đường kiệt:

 

-Ph..ở…ơ..

Có ngọn gió nào trong đêm làm trời khuya lạnh thêm Trong sự yên tĩnh của góc ngoại ô quanh thành cổ, tôi vẫn còn nghe tiếng con chim quốc hằng đêm từ bờ hồ bên kia kêu bầy vọng qua. Hương phở dịu dàng tỏa ra bốn phía. Mùi thơm lan xa, quyến rũ khứu giác khiến ai cũng thèm ăn. Một ông khách đi đâu trên phố về khuya, ngang xe phở ông chợt dừng lại. Dựng chiếc xe đạp qua một bên đường, ông sà vào cái "quán khuya" lưu động đó ăn một tô cho "ấm bụng" trước khi về nhà.

 

Tiếp tục trên đường về nhà, chiếc xe được đẩy đến đầu con hẻm hay ngã ba đường cho đến khi nồi phở của bác không còn gì nữa. Nói thế, nhưng mớ xương xúp sau cùng, bác cũng bán được cho một vài người khách nào đó đang cần "men rượu" hay nhậu trong đêm. Mớ xương hầm cuối cùng cũng giúp cho bác bán phở kiếm thêm được chút tiền cùng chấm dứt một ngày miệt mài mệt nhọc.

 

Không ai để ý người bán phở đẩy chiếc xe lăn bánh trở về do trời đã thật khuya, ngoại trừ tiếng những con chim quốc dưới hồ Thành Cổ vẫn kêu mãi trong đêm trường tĩnh mịch. Tiếng bốn chiếc bánh nhỏ lăn còng cọc nghe nhỏ dần. Hình ảnh ngọn đèn cháy bằng khí car-bur đang cạn hơi cháy leo lét treo bên chiếc xe phở cũng xa dần, khuất hẳn tận ngã ba Góc Bầu. Từ ngã ba đó, chiếc xe phở sẽ theo con đường Duy Tân về Cửa Tả, đó là con đường về nhà của bác. Phở Ông Vọi, bác sống bên con đường hướng về Quy Thiện...tuổi cao sức yếu, chiếc xe phở đặt trước hiên nhà làm cái quán cố định do bác không còn sức đẩy xe đi hàng đêm như vậy nữa?!

 

PHỞ HÔM NAY RA SAO?

 

 

tiếng Phở đã được đăng vào tu từ hàng năm trong cuốn Tự Điển Oxford

Trước đây và hiện nay phở cũng hân hạnh sánh vai với các món ăn thịnh hành cùng phổ thông tại Hoa kỳ hay các nước Âu tây khác.

 

tác giả ĐHL từng đi làm nghề bưng phở từ 1995 tới 1997 tại Milpitas California (hình trên)

 

 

sau năm 1975 khi người Việt tỵ nạn hay không tỵ nạn ra nước ngoài đông dần, người ta thấy các tiệm phở đều có mặt tại các thành phố đông người Việt nhất là tại

Hoa kỳ, Úc, Âu châu .. người ngoại quốc họ bắt đầu ghiền ăn PHỞ.

 

Có khách Mỹ hay Âu châu đa số đều cho biết họ có cảm giác ăn xong tô phở là thấy khỏe và khoan khoái trong người!

phở 54 nổi tiếng tại nam California

 

Nếu nói Ẩm Thưc cũng là loại hình văn hóa nằm trong "Văn hóa ẩm thực" thì dân tộc nào khi ra nước ngoài cũng mang theo hình ảnh quê hương trong tiềm thức. Thứ nhìn thấy cụ thể đó là món ăn. Hiện nay nếu khách du lịch về Little Saigon tại nam California thì càng tha hồ lựa chọn món ăn đặc biệt nhất là món PHỞ. Tại bắc California nhất là thành phố San Jose, khách tha hồ lựa chọn tiệm phở. Các thành phố lân cận như Fremont, Mountain View, Santa Clara đều có tiệm phở VN thi nhau mọc lên để đáp ứng nhu cầu ăn phở cho giới thực khách nhất là vùng Silicon Valley cái "nôi điện tử" khách ăn là giới có tiền lương cao nhất nhì nước Mỹ!

 

 

MC Việt Thảo đang giới thiệu cho tiệm Phở 90 tại khu Saigon Town TP San Jose

 

Xét cho cùng, nhiều hương vị ngon lành, cám dỗ từ những thứ thức ăn đặc sản đó là những loại hình văn hóa ẩm thực đậm nét nhất, là sắc thái cụ thể cho chúng ta dễ dàng phân biệt sự khác nhau trong món ăn của từng dân tộc.

 

Lên đến San Francisco theo AI thì có tới 200 tiệm phở tại thành phố to lớn đó. Nhưng có thể hương vị Phở tại SFO có thể du di pha trộn cho hợp khẩu vị người Mỹ và người Trung hoa ...nhiều hơn. Khác với các nơi đông người VN như San Jose hay Garden Grove, Westminster hay Huston mùi vị phở không khác gì Sài Gòn, Hà nội. Tại các thành phố đông người nhưng ít người Việt, tìm tiệm phở đã khó nhưng hương vị và phụ phẩm ăn phở có thể khác đi./.

 

Tiệm phở 2000 tại San Francisco

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHUYỆN PHỞ GÁNH NGÀY XỬA NGÀY XƯA., Đinh Hoa Lư
Comment

Hóa thân (Lê Diễm Chi Huệ)

August 16, 2026 Ninh Tran

Đi ra áo lượt quần là

Về thì yên tĩnh ấy là hóa thân

Lang thang giữa cõi phù vân

Sắc không nhuốm đẫm mấy tầng hư không.

08.12.2026

Lê Diễm Chi Huệ

In Thơ Tags Hóa thân (Lê Diễm Chi Huệ)
Comment

Đời Thế Mà Vui (Trần Khải Thanh Thủy)

August 11, 2026 Ninh Tran

Đời Thế Mà Vui- Trần Khải Thanh Thủy

· .Chuông đồng hồ điểm 12 tiếng, hai mắt Châu vẫn mở thao láo. Căn nguyên của sự mất ngủ này dĩ nhiên đến từ cốc cà phê ban chiều, nể lời bạn mà uống. Không ngờ sự đời nhiều khi thật tréo ngoe :Cà phê ngon bao nhiêu thì giấc ngủ trằn trọc , phiền muộn bấy nhiêu.

 

Nghiêng người vào tường, anh cố dụ dỗ cái ngủ trở về nhưng càng dỗ càng bất lực, câu chuyện với mẹ cứ hiện lên rõ mồn một trong óc.

 

…Mẹ anh, một cán bộ thương nghiệp về hưu từ hơn chục năm nay với số lương còm cõi 4,4 triệu vnd một tháng, bố anh cũng vậỵ, cả đời vất vả , chắt chiu từng đồng lo cưới vợ, gả chồng cho ba đứa con, nay hai đứa em anh đã ra ở riêng , tưởng có lương hưu đàng hoàng thì ông bà có thể săn sóc nhau trong vô tư, thanh thản được. Ai ngờ cuộc sống vẫn còn nhiều vất vả ràng buộc quá, mỗi lần ốm đau là mỗi lần số tiền dành giụm đội nón ra đi, lại phải lệ thuộc vào con cái, mà con cái tuy rằng có nghề nghiệp chỗ đứng đàng hoàng nhưng nào có dư dả gì, chả thế mỗi lần đưa vợ vào bệnh viện, là mỗi lần ông than: “Cuộc sống thực dụng, khó khăn quá.. Kẻ sĩ lăn lộn tìm kiếm cái cao siêu thì được nhận một đời sống nghèo nàn, đạm bạc. Tiền bạc chứ có phải vỏ hến đâu mà cứ phải liên tục ném tiền qua cửa sổ… bệnh viện như thế này? Cứ chớm bước chân vào cửa bệnh viện là tiền triệu như bỡn, rồi tiêm, rồi chích, rồi thử máu…trăm thứ bà rằn, mỗi lần thử là một lần hối lộ lót tay để mua sức khỏe, mạng sống qua tay bọn “ lương y “kiêm hà bá, thầy thuốc kiêm mẹ mìn” thời nay…Cho dù phận hưu trí nghèo, cố nhẫn nại chịu đựng và chủ trương cắn răng nhẫn nhục vẫn không thể bỏ qua cái thủ tục đầu tiên, tiền đâu được. Vì thế mỗi lần ra khỏi cửa bệnh viện là hết một góc lương hưu của cả ông bà rồi , phải ngửa tay nhận tiền tài trợ của con mãi cũng ngượng… Cũng may lần này từ bệnh viện về, mẹ anh có vẻ lấy lại sức vóc, tuy vẫn hay bần thần nghĩ ngợi nhưng mặt đã bớt đi vẻ u oải, da không còn xanh rớt như tàu lá và những đường gân chằng chịt như những đám cây dại không còn nổi lên nữa. Trên 65 tuổi đầu , má đã trũng, mép bắt đầu xuất hiện nếp nhăn nhưng vẫn cố sức chống gậy ra công viên tập thể dục hoặc loạng choạng tập lại xe đạp hòng lấy lại sức khỏe như đám bạn già khác. Rất có thể nhờ những vị thuốc bắc sực nức trong nhà, dù vừa uống vừa than nồng, than đắng, nhiều hôm nước mắt nước mũi trào trạt cả ra ngoài, vẫn cố …

 

Tối nay vừa buông bát thuốc, cảm thấy tỉnh táo trong người, bà lại ngồi sẵn bên bàn nán đợi anh về để bàn chuyện tương lai của cháu nội, tức cái Thư , con gái anh.

 

-Châu này. Chuyện của con Thư với thằng Tú, con thấy thế nào?

 

-Kìa mẹ, anh bật ngửa, tưởng mẹ anh vẫn còn vướng vất sau sơn mê sảng vì bệnh tật, phải nằm nhiều…Sau ánh mắt thăm dò sắc mặt, tâm trạng, điệu bộ của mẹ, Anh rành rẽ đáp:

 

-Ngày xưa, mẹ cấm con không được chơi với cái Hoa nhà bác Lành hàng xóm cơ mà, sao bây giờ mẹ lại quan tâm tới thằng Tú, cháu ngoại bác ấy.

 

-Cha bố anh, mẹ anh gắt khẽ, chứng tỏ câu chuyện không hề đơn giản- Là tôi thấy hai đứa chúng nó quấn quýt với nhau nên muốn vun vào chứ sao

 

Ôi chao, anh tưởng mình nghe nhầm:

 

-Gia đình bác ấy là ngụy quân ngụy quyền cơ mà. Chồng thì đi cải tạo, con trai thì vượt biển, cái Hoa thì vì mẹ con mình mà bị ghi lý lịch, cấm thi đại học, cho dù bây giờ thằng Tú , con cái Hoa có du học ở Mỹ và rất quý cái Thư nhà mình đi chăng nữa, nhưng quan hệ giữa hai nhà đã như bát nước đổ đi rồi, làm sao vớt lại được?

 

Ôm bộ ngực gầy gò, mẹ anh gắt:

 

– Mày ngốc lắm. Ngày xưa khác , bây giờ khác, hồi ấy tao với bố mày là cán bộ phường, là đảng viên đảng cộng sản, phải giữ lý lịch trong sạch nên không muốn mày dây dưa với đám con cái thuộc chế độ cũ con ạ.

 

Vẫn chưa hiểu câu chuyện của mẹ sẽ đi đến đâu, anh im lặng ngồi nghe mẹ bộc bạch nỗi niềm tâm trạng, rồi cau mặt chất vấn:

 

– Con nhớ hồi mới chuyển từ ngoài Bắc vào, cả lớp có 49 đứa, khi cô chủ nhiệm hỏi “trong lớp ta trò nào là con cái gia đình cách mạng thì giơ tay”. Cả lớp có mỗi ba đứa bọn con rụt rè đưa tay lên làm con thấy ngại quá , về kể lại với mẹ thì mẹ bảo: “ Việc gì phải ngại, bố mẹ từ ngoài Bắc vào tiếp quản Sài Gòn của ngụy quân ngụy quyền để lại, phải tự hào chứ ? Vì thế ngoài ba đứa cùng thành phần cách mạng con có chơi với 46 đứa còn lại đâu . Giờ đứa nào cũng có vợ có chồng, con cái lớn tướng rồi mẹ lại xui đám cháu nội ngoại của mẹ lấy con cái của tụi bạn ngụy quân ngụy quyền một thời của con, ngượng chết đi được.

 

Coi anh như đứa trẻ chưa trưởng thành, lý lẽ chưa hiểu, phải trái chưa phân. Mẹ ngọt ngào dỗ dành:

 

– Thời thế khác rồi con ạ, bố mẹ về hưu từ lâu rồi, nhà cửa có gì đâu, còn họ nhờ có con liều chết đi vượt biển qua Mỹ gửi tiền về đều đặn , nên ăn sung mặc sướng, nhà cửa rộng rãi khang trang, con cháu du học nước ngoài …

 

Buộc phải nhớ về quá vãng, Anh nhăn nhó phản đối:

 

– Nhưng ngày trước mỗi lần bác Lành khoe anh Hải gửi tiền ở Mỹ về mẹ lại rủa “chẳng qua là tiền đế quốc” rồi khi anh ấy từ Hải Ngoại về, gia đình tổ chức ăn uống linh đình, mời cả họ hàng phố xá đến, mẹ lại rủa:

 

-“ Đồ liếm gót giày của Đế Quốc Mỹ, hưởng bơ thừa sữa cặn mà tưởng là oai lắm”.

 

Rồi :

 – “Chờ xem bọn tư bản chúng nó giẫy chết như thế nào, lúc ấy còn vênh cái mặt mo lên được không? “

 Mẹ nở nụ cười gượng gạo, đắng đót:

 – Thì tao bị ảnh hưởng của bố chúng mày chứ sao. Ông ấy là cán bộ phường, lúc nào cũng oai khăn, oai áo chứ đâu có như bây giờ, về hưu là bị hắt ra lề cuộc sống, nhà chỉ còn cái xác nhà không, mỗi lần đưa vợ vào bệnh viện lại kêu “oai oái như củ khoái xin tương”, rồi than không có tiền cho đám cháu nội cháu ngoại đóng học phí , không có cả tiền để mua vé đi câu cá thư giãn nữa…Ông ấy còn lôi cả câu thành ngữ của thời đại ra nữa. Nào:

 Tiền là tiên là phật

 là sức bật của lò xo

 là thước đo của lòng người

 là tiếng cười của tuổi trẻ

 là sức khỏe của tuổi già

 là cái đà danh vọng

 là cái lọng che thân

 là cán cân công lý .

 Rồi:

 Tiền thật là hết ý …

 

Vẫn biết mẹ anh bị cuộc đời dồn ép, sau mỗi lần đau ốm, va chạm với xã hội, bệnh viện là một lần cọ sát cuộc đời hơn, hiểu ra nhiều chân lý ở đời – mà trước đó chỉ là sự vô lý, nhưng cái định kiến bất hoà giữa hai gia đình vốn đã rất sâu nặng, rồi, làm sao có thể cứu lại được?.

 Nếu chỉ bình thường như những đám bạn cùng trường khác, theo thời gian và thời cuộc anh có thể xuề xòa cho qua, nhưng kỷ niệm như cái đinh nhọn xoáy sâu vào tim óc làm sao rút ra được? Ngày xưa anh nhớ, có lần cãi nhau với Hoa, bị cả đám bạn của Hoa gọi là “ Con của một lũ cán ngố”, “Một lũ Khỉ rừng vượt Trường Sơn”, anh chửi ngoa lắm: Nào :” Đồ ngụy quân ngụy quyền, ngụy diên ngụy diện*. Nào” bám đít đế quốc, không biết sợ, không biết nhục mà còn rống lên như thể oan ức lắm”… Vốn đanh đá, Hoa tức khí lấy luôn đôi guốc cao gót đánh thẳng vào mặt anh, giờ vẫn còn vài vết sẹo nhỏ li ti. Lần ấy, má Hoa phải đến nhà anh quỳ lạy như tế sao, coi như “con dại cái mang”, vậy mà mẹ anh vẫn lôi bác ấy lên phường để công an xử lý, ngoài việc bắt Hoa phải chuyển trường còn yêu cầu cô chủ nhiệm ghi vào lý lịch đoàn để sau này Hoa không được bén chân vào bất cứ cửa trường Đại học nào, dù chỉ là đại học Nông Lâm…Đến bác Đàng- ba Hoa đang đi học tập cải tạo cũng bị dọa sẽ ở tù mút mùa vì có con trai vượt biên, con gái có hành động “côn đồ”, dùng hung khí “nguy hiểm” đánh trọng thương con lãnh đạo phường … Bao nhiêu lần họp lớp nhân kỷ niệm 10 năm, 20 năm v.v. gặp Hoa, anh chủ động làm lành, chỉ nhìn thấy trong mắt Hoa một sự ghẻ lạnh, trống vắng… Lần thì phảng phất như từ một hồi ức cũ hiện rạ. Lần thì rõ nét như chứng tích của cuộc va chạm nảy lửa ngày xưa hiện về. Anh biết là Hoa vẫn chứa chất giận hờn, vì vậy anh luôn dự cảm được tình cảnh bi đát trong mối quan hệ giữa hai nhà. Bây giờ không biết ma đưa lối, quỷ dẫn đường thế nào, thằng Tú, con trai Hoa lại là bạn thân của con gái anh, dẫu không học cùng trường cùng lớp như anh với Hoa, nhưng qua các dịp sinh nhật, lễ hội, hai đứa lại có dịp làm quen để rồi có thiện cảm với nhau.

 Là con đầu cháu sớm, nên Thư- con gái anh được ông bà nâng niu, dạy dỗ từ ngày mới lọt lòng.Tuy bé, nhưng vốn là đứa trẻ nhạy cảm tinh tế, nó đã cảm nhận được tình âu yếm từ lời ru, tiếng nói của từng người trong nhà, đặc biệt là bà nội. Vốn dạt dào tình thương con cháu và đức hy sinh như kinh nghiệm tổ tiên truyền lại: “Nhất con nhì cháu, thứ sáu người dung”. Hoặc; “Một bà, một cháu ngã sáu người dưng”, bà sớm nhận ra Thư , ngoài tư chất thông minh còn sở hữu nhan sắc hơn người, và bà luôn tự hào đó là của gia bảo, là vốn di truyền mà không phải đứa trẻ nào cũng may mắn có được, vì thế khi thấy Tú – con trai Hoa tỏ ra quý mến Thư thì bà thay đổi hoàn toàn tâm trạng, thái độ, nhất nhất vun vào cho hai đứa, dù cả hai còn trẻ và tình cảm vẫn còn mơ hồ, trong trắng chứ chưa thành một đường viền rõ nét, da diết, luyến nhớ như những cặp tình nhân khác.

 Chuông đồng hồ lại điểm thêm một tiếng, nằm mãi mỏi người, khát nước, anh lặng lẽ ngồi dạy ra bàn rót nước, và câu chuyện lại lượn lờ trong óc:

 Hồi ấy , cũng vì nghe lời mẹ mà suốt cả quãng thời gian đi học và đi làm anh đều né tránh chúng- những đứa bạn không cùng thành phần, giai cấp, lại thêm sự kỳ thị giữa kẻ Bắc, người Nam …đặc biệt là Hoa- kẻ đã có hành động “côn đồ”, dùng vũ khí “nguy hiểm” là hai chiếc guốc liên tiếp ném vào mặt anh gây chảy máu… Bây giờ mà làm thông gia với nhau nghe kỳ quá.

 Bên tai anh vẫn văng vẳng những lời trần tình, năn nỉ, ỉ ôi của mẹ:

 – Thì ai mà biết được thời thế lại quay ngược 180 độ như thế này? Cái Hoa con bà Lành ấy, một thời phải bỏ học, lê la buôn bán đầu đường xó chợ, thế mà chỉ một thời gian sau, nhờ có anh là Việt Kiều gửi tiền về, sang tên cả một sạp vải trong chợ, rồi cứ thế phất lên thành cửa hiệu thời trang, vừa bán hàng vừa mở thêm dịch vụ trang điểm cô dâu và cho thuê áo cưới. Bây giờ nhà to nhất phố, có xe tiền tỷ để đi, con trai lại sang ở nhà bác đi học, một năm về nước 2 lần…con gái mày mà lấy được con trai của nó thì phúc 70 đời đấy con ạ.

 

“Đã đành là thế , anh đâu dám phủ nhận những gì mẹ nói, mà con gái anh cũng quý mến thằng Tú con của Hoa thật. Lần nào thằng Tú từ Mỹ về nghỉ hè, nghỉ tết , cũng có quà cho Thư, hai đứa lại rủ nhau đi chơi cùng cả hội bạn bè, nhưng nghĩ đến cảnh phải làm thông gia với Hoa, anh thấy ngại chết đi được.

 

…Bát thuốc bắc đặc sánh nóng hổi lại được thằng út nhà anh bê ra mời bà uống, biết rõ những suy nghĩ giằng xé quyết liệt trong đầu anh, mẹ gàn quải:

 -Thôi thôi con ạ. Ngần này tuổi đầu mẹ biết thế nào là chủ nghĩa xã hội rồi, chỉ giỏi tuyên truyền ,cướp cạn thôi chứ thành phần ngụy quân Ngụy quyền có thân nhân ở nước ngoài chiếm 40% cả thành phố Sài Gòn này mới là cốt cán, căn bản đấy con ạ. Hơn nữa mẹ thấy thằng Tú cũng tốt, mấy lần đến nhà mình vẫn cứ cư xử đàng hoàng lễ phép, lần nào cũng khoanh tay “Con chào bà, Con chảo Nội” không những quý con Thư mà quý cả nhà mình nữa, Không như mấy thằng công tử bột trong xã hội cộng sản bây giờ. Giàu thì hợm, mà nghèo thì hèn … chỉ cần vào được nhà ấy thôi , dẫu thằng Tú học xong ở lại Mỹ với bác cả hay ông bà ngoại, hoặc về lại Việt Nam sinh sống cùng mẹ, cũng sướng cả đời con ạ.

 Một ý nghĩa vụt hiện trong óc, anh ngần ngại giãi bày:

 

– Mẹ làm con khó xử quá, thật tình con định nhận lời với cậu Luận cùng cơ quan, cho thằng Hiếu con nó yêu cái Thư nhà mình đấy, nhất cự ly, nhì cường độ mẹ à.

 – Giời ạ! Lấy con thằng tốt hỉn, trên răng, dưới dép đấy thì bốc đất mà ăn à?

 – Mẹ! Anh yếu ớt phản đối: – Mọi việc bây giờ chỉ phụ thuộc vào cái Thư thôi, thằng kia cũng tốt nghiệp đại học mà, Hơn 5,7 tuổi nên cũng chững chạc hơn.

 – Nhưng thất nghiệp có đúng không? Mẹ anh vằn mắt hỏi: -Thời đại này học để làm gì chứ? Cứ kéo nhau ra nước ngoài kiếm thẻ xanh, thẻ vàng mà sống chứ thẻ đỏ ở nước mặt trời lặn này thì cả đời không ngẩng mặt lên được đâu con ạ.

 – Kìa mẹ, Tiền bạc đâu có mua được hạnh phúc. Anh bào chữa.

 – Nhưng nếu không có tiền cũng không thể làm nên hạnh phúc…Mẹ anh khẳng định chắc như đinh đóng cột: – Mẹ là dân Thương nghiệp, mẹ biết rõ điều đó, bởi nó chính là hai mặt của một vấn đề”…Với lại…Ngừng lại giây lát như ngăn cơn xúc động trong lồng ngực trào dâng, mẹ tiếp tục bằng chất giọng hùng hồn, thuyết phục hơn… Anh thử nghĩ đi, lương kỹ sư ba đồng, ba cọc của anh với thằng Luận có để nổi chục tỷ mua nhà cho con Thư với thằng Hiếu không ,hay suốt đời chui rúc trong “vương quốc nhà trọ” ở thành phố này? Mỗi tháng trả tiền điện, tiền nước lại lên cơn co giật như người bị động kinh, lúc ấy hỏi có còn cơm lành, canh ngọt được không?

 Nhìn bát thuốc đã cạn, trời cũng đã khuya, anh bần thần thoái thác:

 – Thôi được, để con bảo vợ con khuyên nó

 – Khuyên khuyên cái gì? Cứ đan lồng cho thằng Tú bay vào rồi đóng sập cửa lồng lại là xong , tha hồ huởng thụ.

 – Mẹ, Không tin vào tai mình, anh oằn người hét lên: – ý mẹ là…để cái Thư làm mồi nhử ?

 – Chứ còn gì nữa? Thử hỏi cả dãy phố này có nhà nào còn được hưởng “của gia bảo”, xinh đẹp như nó?

 Sự chịu đựng nào cũng có giới hạn.. Với một người có học vấn và giầu lòng tự trọng như anh, luôn coi việc phải giữ gìn các mối quan hệ cho đúng phép tắc là điều quan trọng hàng đầụ vì thế cuộc nói chuyện sớm rơi vào bế tắc. Trước khi bỏ vào phòng , anh hằn gắt:

 -Thôi thôi con chịu thôi, chẳng có phép lạ nào có thể thay đổi được sự đổ vỡ trong mối quan hệ giữa hai gia đình … Nó giống như một bát nước đã đổ xuống đất rồị …mẹ đừng mong đầy lại nữa

 Sau lưng anh lời nói gay gắt của mẹ vẫn như mũi tên lao thẳng vào lục phủ ngũ tạng:

 – Mày muốn làm gì thì làm , nhưng đừng bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng này đấy, tao với bố mày cũng già rồi, chỉ muốn đu càng đuổi Mỹ quá đà một phen để hưởng bơ thừa sữa cặn, lấy oai với thiên hạ một lần thôi .“

 – Ôi, đúng là mẹ chẳng còn tí lập trường cách mạng nào cả. Trước khi đóng sập hai cánh cửa, anh vớt vát.

 Trong ánh sáng lờ mờ, với đôi mắt mở to thao láo, mẹ anh gắt:

 – Lập trường cái con khỉ. Thoát khỏi loài khỉ rừng Trường Sơn , vào tận hòn ngọc Viễn Đông này, tưởng thoát ,ai ngờ sắp chết rũ trong ngôi nhà chủ nghĩa xã hội trong vòng tay Đảng , Bác rồi, còn chưa sáng mắt sao ?

 Lê bước vào giường, thở hắt ra một hơi, anh âm thầm xác nhận: “Đúng là ở đời không ai biết được chữ ngờ, cũng chẳng ai giàu ba họ , chẳng ai khó ba đời thật. Bố mẹ anh trưởng thành nhờ cách mạng nhưng đám cháu nội cháu ngoại của ông bà thì đang lụi tàn dần vì cách mạng. Ra trường không có “chỉ tiêu” phải ra đường lái xe grap, hoặc ở nhà ăn bám bố mẹ , còn đám ngụy quân Ngụy Quyền sau 1975 phải khổ sở vì cách mạng, vì lý lịch gia đình, bây giờ nhờ “bơ thừa, sữa cặn” ,”liếm gót giày đế quốc” mà mở mày mở mặt với đời… Ôi, cuộc sống của cái cộng đồng nhỏ nhoi chỉ có mấy chục ngôi nhà trong dãy phố này sao mà phức tạp? Làm thế nào để gỡ rối đây? Cho dù là “một sự nhịn, chín sự lành”, hay một sự “xứng đôi vừa lứa” của đôi trẻ cũng không thể xô đổ bức tường vô hình bằng đá tảng ( dày hơn vạn lý trường thành) giữa hai nhà, nhất là với một trái tim đa cảm , giàu tự ái và đầy lòng kiêu hãnh như Hoa? Suy cho cùng , đời thế mà vui , muốn làm một ông “bố vợ phải đấm” với đám con cháu “ngụy quân ngụy quyền” thời này đâu có dễ ?

 

Sacramento, Nhâm Dần Khai bút đầu xuân

 

Trần Khải Thanh Thủy

In Giáo Dục, Quán Chiếu Tags Đời Thế Mà Vui, Trần Khải Thanh Thủy
Comment

CHUYỆN Y TẾ   VNCS/ HANOI Ngày Nay ! ( Một Dân Hà Nội...  kể sự thật !)

August 11, 2026 Ninh Tran

  CHUYỆN Y TẾ   VNCS/ HANOI ngày nay !  do 1 dân Hà Nội...  kể sự thật !

             ĐỌC ĐỂ BIẾT KHI VỀ VNCS du lịch, hay ở lâu ...

                             

                           Chẳng hiểu tại sao 

 

Nhiều bệnh nhân sáng đi khám kêu viêm nặng lắm cần phải điều trị, lấy một bịch thuốc. Bệnh nhân nói để kiểm tra một lần nữa coi sao, mình khám xong chẳng thấy bị cái gì cả.

 

Rất nhiều người kiểu vậy, đôi lúc nghi ngờ chính bản thân mình, hay là mình tệ quá nên không phát hiện ra bệnh? 

 **** 

 

ĐI KHÁM BỆNH LÀ PHẢI KHÁM ĐỐI CHIẾU KẺO CÓ NGÀY CHẾT OAN.

 

Bài: Trần Tuấn Phương

 

Đây là câu chuyện hoàn toàn có thật của tôi và những người thân xung quanh. Tôi sinh ra và lớn lên tại thủ đô Hà Nội trong một gia đình công chức bình thường. Về học vấn, tôi học chật vật vất vả, thậm chí học đến 3 giờ sáng, cuối cùng cũng thoát được nạn mù chữ, có được tấm bằng đại học xây dựng. Thế mà ở Việt Nam ta có nhiều người giỏi quá, có hàng vạn giáo sư tiến sĩ. Nhất là các bác quan chức của ta, các bác bận trăm công nghìn việc, cứ phải đi họp liên miên, cứ phải đi nước ngoài liên tục. Các bác vừa lãnh đạo công tác Đảng vừa lãnh đạo công tác chính quyền, vừa tham gia công tác quốc hội thế mà các bác vẫn bảo vệ thành công luận án TIẾN SỸ. Chả trách mà đất nước ta ngày càng đổi mới, ngày càng phát triển. Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ văn minh. Chẳng mấy mà đất nước ta sánh vai với Hàn Quốc, Nhật Bản. Chẳng mấy mà đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu. Điều tôi muốn nói với mọi người là: tôi là người bình thường và muốn chia sẻ với các bạn về một số vấn đề y tế.

 

CÂU CHUYỆN THỨ NHẤT

 

Tôi thấy sức khoẻ không ổn, theo y tế cơ quan khuyên đi khám tổng thể, tôi chọn bệnh viện VIỆT PHÁP là bệnh viện của (Tây) thì chắc phải tốt, giá cả hơi đắt nhưng cũng chấp nhận. Khám cho tôi là một bác sĩ chuyên khoa lâu năm, sau khi đo huyết áp cho tôi, kết quả: 140/90.mmHg

 

Bác sĩ bảo huyết áp như vậy là cao và nguy hiểm và bác sĩ cho tôi đeo máy đo huyết áp 24/24. Kết quả HA thấp nhất: 120/75 , HA cao nhất : 145/90. Bác sĩ điều trị cho tôi nói rằng huyết áp này là cao và rất nghiêm trọng, cần phải điều trị. BS giảng giải cho tôi biết tác hại của huyết áp cao và nói bệnh tình của tôi rất nghiêm trọng và cho đơn một loạt thuốc uống. Tôi chẳng biết gì về bệnh huyết áp cao và về nhà tuân thủ theo thuốc bác sĩ đã kê đơn và luôn lo lắng đứng ngồi không yên về bệnh lý của mình. Tôi vẫn thường chơi tennis, mỗi lần đánh xong mệt quá thì tự nhiên tôi lại lo sợ rằng huyết áp có thể ảnh hưởng tới sức khoẻ của mình. Tôi có phàn nàn với BS về tình trạng lo lắng sợ sệt thì BS kê đơn cho tôi 1 lọ thuốc Lexomil (thuốc điều trị rối loạn cảm xúc). 1 lọ có 30 viên , mỗi ngày uống 1/2 viên, uống trong 60 ngày. Tôi uống thuốc thì thấy tinh thần rất tốt, sau khi uống hết một lọ, tôi định đi mua tiếp và lúc ấy tôi mới đọc đến tính năng tác dụng phụ của thuốc là thuốc gây nghiện làm cho bệnh nhân có xu hướng muốn đi tự tử. Tôi sợ quá nên không mua nữa. Đây là thuốc gây nghiện rất mạnh, sau khi không uống thuốc, nó hành hạ tôi suốt ngày trong tình trạng hoảng hốt, lo sợ, lúc nào cũng tưởng như mình sắp chết. Trời ơi sao người ta lại làm ra loại thuốc khủng khiếp thế mà một bác sĩ tim mạch lại kê đơn thuốc tâm thần cho tôi. Suốt mấy năm trời tôi sống trong tình trạng hoảng hốt sợ chết, nhất là 2 năm đầu tiên. Có lần tưởng mình sắp chết, tôi bảo vợ tôi lấy sổ ghi chép xem ai nợ tiền mình, xem mình nợ tiền ai, công việc sau khi tôi có mệnh hệ nào thì bàn giao cho ai. Một lọ thuốc nhỏ bé mà không hiểu sao nó lại tác dụng mạnh và lâu dài đến thế. Nó biến tôi từ một người cao 1,75m nặng 65kg và có khuôn mặt cũng chấp nhận được trở thành một người già nua xấu xí béo phì nặng 90kg. Có người bạn bảo tôi ông vô lý quá, khi ông ko dùng thuốc lexomil thì 1 tuần sau thuốc trong người sẽ tan biến hết thì làm sao tác hại đến cơ thể ông được. 

 

Nhưng chỉ người trong cuộc mới hiểu được, trường hợp của tôi giống như người nghiện ma tuý. Khi đưa ma tuý vào cơ thể. Cơ thể sẽ có 2 phản ứng cơ chế, thứ nhất: cơ thể sẽ không tạo ra moocphin nữa nó phụ thuộc vào việc đưa moocphin từ bên ngoài vào (đó là ma tuý). Nếu không có ma tuý người nghiện sẽ đau đớn vật vã. Cơ chế thứ 2 là ma tuý vào cơ thể đã biến đổi hệ thần kinh va tâm thần của người nghiện biến họ thành người khác. Dù cho cai được ma tuý thì ảnh hưởng của nó vẫn còn rất lâu dài. Trường hợp của tôi cũng vậy. Thuốc Lexomil tác động lâu dài lên hệ thần kinh và tâm thần của tôi. 

 

CÂU CHUYỆN THỨ HAI: 

 

Sau khi bị huyết áp cao, cứ 6 tháng tôi lại đi khám định kì 1 lần, tôi vẫn khám bác sĩ chuyên khoa cũ vì tôi nghĩ rằng bác sĩ đó đã nắm được bệnh của tôi, nếu thay bác sĩ mới thì người ta lại phải tìm hiểu bệnh tình của tôi lại từ đầu. Bác sĩ cho tôi chạy gắng sức trên máy tập và tôi rất mệt. Sau đó bác sĩ cho tôi đi chụp động mạch vành, kết quả là trong một nhánh nhỏ của tim, tôi bị hẹp 30% . Bác sĩ cho rằng bệnh tình của tôi rất nghiêm trọng và chuyển hồ sơ của tôi đến tham khảo bác sĩ Hùng chuyên khoa tim mạch bệnh viện tim - Bạch Mai. Tôi được biết bác sĩ Hùng là chuyên gia giỏi nhất Việt Nam về đặt stent cho động mạch vành. Hình như vào thời điểm đó, ở Việt Nam chỉ có 4 bác sĩ làm được việc này. Tôi mang hồ sơ đến cho bác sĩ Hùng, BS xem xong rồi bảo tôi chỉ định phải đặt stent. Tôi rất lo lắng và buồn phiền nhưng được biết BS Hùng là người nổi tiếng cho nên tôi cũng chấp thuận đặt stent, và tôi hỏi BS Hùng là tôi đã mua vé đi du lịch Thái Lan, để cho tôi đi du lịch 1 tuần rồi về đặt stent có được không. BS Hùng trả lời: “ANH HỎI THẾ TÔI CŨNG CHẲNG BIẾT TRẢ LỜI NHƯ THẾ NÀO“. Thế rồi về nhà tôi đánh liều, cứ đi du lịch Thái Lan. Bạn tôi khuyên mang hồ sơ bệnh án đi sang đấy để nếu có cấp cứu thì bệnh viện người ta còn biết bệnh án của mình. Sau đó, về Hà Nội, tôi có nói chuyện với gia đình về trường hợp động mạch vành của mình. Gia đình tôi giãy nảy lên “trường hợp của Phương quá nhẹ, chưa cần phải đặt stent“. Tôi phân vân và đi hỏi một số các bác sĩ khác, họ cũng khuyên là chưa cần phải đặt.

 Sau đó khoảng 3 năm, tôi lại đi chụp động mạch vành, kết quả là động mạch vành của tôi chẳng sao cả. Cái chỗ hẹp 30% lần trước nay không còn nữa. Thật may mắn cho tôi. Nhưng điều tôi không thể hiểu là một bác sĩ giỏi nhất Việt Nam trong lĩnh vực đặt stent lại quyết định chỉ định tôi phải đặt. Nếu tôi đặt stent thì dễ nhưng rút ra thì không thể , và tôi phải đeo dị vật trong tim suốt đời à?

 

CÂU CHUYỆN THỨ BA

 

Một lần tôi đi xe máy bị ngã đập vai xuống đường, người dân dìu tôi vào vỉa hè. Tôi nghỉ một lát rồi đi xe máy một tay về đến bệnh viện gần nhất, đó là bệnh viện 354 quân đội. Người ta cho tôi chụp XQ cái vai, tôi xem phim thấy vai của tôi có một vết rạn rất nhỏ, chỉ bằng sợi tóc . Sau đó họ chuyển hồ sơ đến bác sĩ chuyên khoa, ông ấy chỉ định: PHẢI MỔ. Tôi vừa sợ vừa ngạc nhiên, không biết mổ để làm gì, vai con người chứa rất nhiều dây thần kinh, gân, cơ. Nếu mổ thì biết bao giờ mới hồi phục đây? 

Rút kinh nghiệm của những lần trước, tôi chạy đến khám BS chuyên khoa người Pháp. Ông ấy xem phim rồi bảo trường hợp này quá nhẹ, không cần phải điều trị bất cứ điều gì, chỉ cần buộc một cái băng vào cánh tay treo lên cổ, 2 tuần sau sẽ khỏi. Mấy tháng sau, tôi vẫn đánh được tennis và golf bình thường. Tôi nghĩ mãi và không thể lý giải được quyết định chỉ định mổ của bác sĩ bệnh viện 354.

 

 Sao con người ta ĐỘC ÁC VÀ VÔ TRÁCH NGHIỆM đến thế .  

CÂU CHUYỆN THỨ TƯ

 

Có một lần đau lưng quá, tôi nghĩ mình cần phải đi kiểm tra cột sống. Lần này, tôi quyết định lựa chọn bệnh viện Vinmec, đó là bệnh viện tư nhân, giá cả hơi đắt nhưng có thể người ta nhiệt tình. Đến đấy, bác sĩ chuyên khoa chỉ định cho tôi chụp CT cắt lớp. Kết quả: cột sống của tôi rất xấu: rách đĩa đệm, hẹp ống sống... Bác sĩ bảo tôi là rất nghiêm trọng, cần phải mổ cột sống. 

Lần này, tôi đã có kinh nghiệm, không vội tin vào chỉ định của bác sĩ. Tôi mang hồ sơ đến một bệnh viện khác để kiểm chứng. Lần này tôi chọn BV 108 QĐ. Tôi đưa phim chụp cắt lớp cho ông BS xem. Ông BS xem rồi bảo cái phim này chẳng có tác dụng gì, chụp chỉ để cho vui, chụp chỉ để đi khoe. Rồi bác sĩ chỉ định tôi phải đi chụp một cái phim XQ bình thường. 

 

Sau khi có kết quả chụp phim, ông BS xem rồi bảo: “ANH CHẲNG CÓ BỆNH GÌ. Đây là trường hợp thoái hoá cột sống theo tuổi tác, không thể điều trị được, phải chấp nhận chung sống hoà bình. Để cải thiện cột sống, anh phải luyện tập thể thao. Nếu đau quá thì tôi sẽ kê đơn thuốc giảm đau cho anh”. Sau đó tôi chơi golf và thấy bệnh tình được cải thiện rất tốt. Một điều mà tôi không thể lý giải được là tại sao 2 bác sĩ chuyên khoa ở 2 bệnh viện lớn lại có chẩn đoán ngược nhau hoàn toàn.

 

CÂU CHUYỆN THỨ NĂM

 

Cùng phòng làm việc với tôi có một cậu tên là Trung - kĩ sư xây dựng. Một hôm, cậu ta bảo: “ông Phương ơi, ông xem cái cổ tôi mọc 4, 5 cái hạch, mai ông cho tôi nghỉ đi khám bệnh“. Tôi đồng ý. 

 

Sau đó cậu Trung đi khám bệnh theo tuyến, người ta thấy có vấn để chuyển lên các bệnh viện tuyến trên. Bệnh viện cuối cùng là bệnh viện truyền máu huyết học trung ương. Ở đấy, người ta làm một lô xét nghiệm và kết luận cậu Trung bị ung thư máu giai đoạn 4. Rồi đưa sang điều trị. Trong phác đồ điều trị có chạy xạ và truyền hoá chất, ở bệnh viện có bệnh nhân chạy xạ và truyền hoá chất được 5, 6 lần thì chết vì kiệt sức. Cậu Trung chạy xạ truyền hoá chất 2 lần thì tóc rụng hết, người rất yếu. 

 

Thế rồi cậu ta xin về nhà không điều trị nữa chờ chết. Mấy tháng sau, do không điều trị nên sức khoẻ có tốt hơn. Cậu ta gọi điện cho tôi: “ông Phương ơi, tôi về nhà chờ chết mà mãi không chết. Bây giờ tôi thấy người cũng khoẻ nhưng ở nhà cả ngày buồn quá, ông cho tôi đi làm. Tôi bảo ông cứ đi làm đi cho vui, tôi cho ông chế độ đặc biệt thích đi lúc nào thì đi, thích về lúc nào thì về”. Sau mấy tháng đi làm, tôi thấy cậu Trung vẫn khoẻ mạnh bình thường, tôi bảo: “trường hợp của ông lạ quá, người ta bảo ung thư máu chết rất nhanh mà tại sao ông vẫn khoẻ mạnh? Theo tôi ông nên đi khám lại“. Cậu Trung đến bệnh viện truyền máu huyết học trung ương, sau khi lại làm một lô xét nghiệm, người ta kết luận cậu ấy chẳng làm sao cả . Cậu ấy có hỏi tại sao trước đây lại chẩn đoán tôi bị ung thư? Bác sĩ trả lời: “đây là trường hợp hy hữu, xin chúc mừng anh“. 

 

Trời ơi, bệnh viện cứ chẩn đoán nhầm thế này thì chết con người ta.

 

CÂU CHUYỆN THỨ SÁU 

 

Ở cơ quan tôi có một cậu còn trẻ, con mới được 2 tuổi thế mà suốt một năm qua, cháu bị ho rất nhiều. Gia đình đưa đi khám nhiều bệnh viện huyện, tỉnh. Mỗi lần đi khám, bác sĩ kê đơn cho một bọc thuốc kháng sinh. Suốt một năm trời, cháu uống hết thuốc này đến thuốc khác. Người xanh xao vàng vọt, còi cọc không lớn được. 

 

Tôi bảo cậu ấy tôi có nghe bạn tôi giới thiệu có ông bác sĩ PHẠM THẮNG chuyên khoa tai mũi họng ở bệnh viện Bạch Mai có khám ngoài giờ ở ngõ Đoàn Nghĩ Hài phố Trần Quốc Toản, cậu mang con đến thử khám xem sao. Bác sĩ Phạm Thắng sau khi khám cho cháu bé xong chỉ cho phác đồ điều trị đơn giản như hút mũi, xông mũi, xông họng... Tất cả các loại thuốc kháng sinh cháu dùng trong năm qua đều bỏ hết. 

 

Sau khi điều trị một tháng, kỳ lạ thay cháu hết ho và sức khoẻ cải thiện rõ rệt. Với tôi, điều kỳ lạ là trong khi có nhiều bác sĩ ngu dốt và vô trách nghiệm thì vẫn còn có những bác sĩ tài năng . Vấn đề là người dân làm sao để tìm được bác sĩ có tài năng để khám chữa bệnh cho mình đây? 

 

CÂU CHUYỆN THỨ 7

 

A ruột tôi vừa mới rồi nửa đêm đi cấp cứu bị tai biến liệt nửa người. Vào khoa A9 bệnh viện Bạch Mai. Nửa đêm bác sỹ bảo nộp ngay 120 triệu để xét nghiệm và chiếu chụp . Nếu ko có tiền thì cứ nằm đấy chờ. Nửa đêm thì lấy đâu ra tiền đây. Trời ơi, bà Kim Tiến ơi. Bà phải xem lại quy trình cấp cứu như thế nào chứ. 

 

LỜI KẾT 

 

Rút kinh nghiệm của tôi, nếu các bạn đi khám bệnh mà bác sĩ kết luận có bệnh nặng thì đừng tin ngay, cần phải đi kiểm chứng nhiều bác sĩ và bệnh viện khác. 

 

Tôi không hiểu đội ngũ bác sĩ của Việt Nam như thế nào. Có người hỏi tôi tình hình các bệnh viện như thế nào.

 

tôi bảo bệnh viện bây giờ họ tốt lắm, họ chu đáo lắm. Nếu bạn vào viện họ sẽ cho bạn xét nghiệm, chiếu chụp khắp người. Ví dụ như bạn đau chân BS có thể cho bạn chụp não (để đề phòng mọi biến cố). Nếu bạn chết sẽ được nằm trong NHÀ XÁC. Yên tâm. Không ai bị đuổi ra ngoài đường, ai cũng có chỗ nằm. 

 

Khoảng 15 năm qua, các em các cháu thi vào trường đại học Y điểm rất cao chứng tỏ học lực các em rất giỏi. Tôi hy vọng các lứa bạn thanh niên này tương lai sẽ là những bác sĩ giỏi của Việt Nam.

Ps: Khuyến mãi thêm phần bổ sung của Fbker Hà Anh 

Mình tin câu chuyện bạn fb này chia sẻ là thật vì mình cũng đã từng rơi vào 2 lần như vậy 

 

Lần 1: mình đau bụng kinh khủng tưởng chết luôn được, chồng mình đưa ngay sang phòng khám đa khoa 125 Thái thịnh gần nhà toàn gs bác sĩ đầu ngành khám cấp cứu. 

 

Bác sĩ khám xong bảo phải mổ cấp cứu ngay lập tức cắt toàn bộ  kg vỡ tử cung nguy hiểm tính mạng chồng mình sợ quá đồng ý ngay nhưng mình nhất quyết không chịu vì nghĩ còn trẻ thế này cắt hết thì còn gì là phụ nữ nữa. Mình khăng khăng bắt chồng đưa lên bv phụ sản. Lên đến bv phụ sản vào siêu âm, bs bảo chả làm sao cả mang giấy siêu âm này về đập vào mặt pk Thái thịnh cho anh (may là hôm đấy mình đc bs siêu âm giỏi nhất bvps khám ) em về đi soi đại tràng cho a, chắc chắn e bị đau co thắt đại tràng, sau mình đi soi thì đúng là mình bị đại tràng táo bón co thắt. Hú hồn tí thì thành đực rựa, làm sao còn õng ẹo nữ tính như bây giờ. 

Lần 2: mình ngủ dậy tự dưng đau phần hông kinh khủng kg đi nổi cũng sang pk Trường sơn ở Thái thịnh ( vì phố Thái thịnh gần nhà mà) cũng biển toàn gs tiến sĩ đầu ngành khám, sau khi chiếu chụp bs kết luận mình bị viêm khớp háng hàng ngày phải sang pk tiêm ks liều cao trực tiếp vào háng  mình vừa sợ tiêm vừa rút kinh nghiệm lần trước đi vào Việt đức khám lại cho chắc sau khi chiếu chụp các kiểu, bs kết luận chả có viêm khớp háng gì hết chỉ là đau do thoái hóa cột sống dẫn đến chèn dây tk  và mình uống thuốc + châm cứu hết đau đi lại bình thường.

 

Kl: có rất nhiều bs giỏi và có tâm nhưng may mắn thì bạn gặp còn không thì bạn rất có thể lợn lành thành lợn què

 

CẢNH BÁO  

 

CÓ THỂ BẠN KHÔNG CHẾT VÌ BỆNH, MÀ CHẾT VÌ SỰ DỐT NÁT, VÔ TRÁCH NHIỆM, VÔ LƯƠNG TÂM, ÁC ĐỘC VÀ THAM LAM VÔ ĐỘ CỦA NHIỀU BÁC SỸ "DANH TIẾNG". 

 

Lưu ý: Ngành Y Việt Nam, có nhiều và rất nhiều thầy thuốc hết lòng vì người bệnh. Bài sưu tầm từ trang fb Bách Hoàng chỉ để nhắc nhở bản thân và gia đình, luôn tỉnh táo trước khi quyết định cho mình phương pháp điều trị thích hợp nhất mà thôi!

 

Chia sẻ từ fb Vanhoa Nguyen

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHUYỆN Y TẾ   VNCS/ HANOI Ngày Nay, Một Dân Hà Nội...  kể sự thật
Comment

ĐI GIẢI PHÓNG NGƯỜI TA... MÀ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ĂN MÌ TÔM, NGON QUÁ DỨT BA GÓI LUÔN! ( Bài Trên Net)

August 10, 2026 Ninh Tran

ĐI GIẢI PHÓNG NGƯỜI TA... MÀ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ĂN MÌ TÔM, NGON QUÁ DỨT BA GÓI LUÔN!

Lần đầu tiên trong cuộc đời được ăn Mì Tôm. Nếu không nhờ miền Nam, thì giờ đây đã giống Bắc Hàn, đời con, đời cháu vẫn không biết Mì Tôm Là gì. Cám ơn Miền Nam đã giải phóng nhân dân miền Bắc khỏi đói nghèo và lạc hậu.
Lịch sử chiến tranh thế giới chắc chưa bao giờ ghi nhận một nghịch lý nực cười hơn cuộc chiến tại Việt Nam: Một đội quân đến từ nơi không có đủ cơm ăn, áo mặc lại hăm hở xông vào "giải phóng" cho một nơi mà dân chúng đang sống trong sự dư dả về vật chất và tự do về tinh thần. Và thước đo cho sự "ưu việt" của chế độ sau ngày 30/4/1975, hóa ra không nằm ở các lý thuyết kinh tế vĩ mô, mà nằm vỏn vẹn trong một gói Mì Tôm.
"Đỉnh cao trí tuệ" và cơn choáng váng trước... vắt mì khô
Hình ảnh những người bộ đội cụ Hồ, vốn được nhồi nhét rằng miền Nam đang rên xiết dưới ách thống trị của "Mỹ - Ngụy" nghèo đói, bỗng chốc sững sờ khi bước chân vào Sài Gòn. Nhưng đỉnh điểm của sự mỉa mai là khi họ được nếm thử gói mì tôm – thứ mà người dân miền Nam bấy giờ chỉ coi là món ăn nhanh, ăn chơi cho vui miệng.
Lời thú nhận cay đắng: Ăn một lúc 3 gói vì quá ngon! Cái vị đậm đà của bột súp dường như đã đánh sập toàn bộ hệ thống tuyên truyền về một miền Bắc "thiên đường".
Sự thật phũ phàng: Hóa ra, "kẻ đi giải phóng" lại là người lần đầu tiên được biết đến những tiện nghi tối thiểu của cuộc sống văn minh. Trong khi miền Bắc phải xếp hàng chờ tem phiếu để nhận vài lạng thịt ôi, thì miền Nam "bị kìm kẹp" lại thừa mứa những món hàng mà miền Bắc gọi là "xa xỉ phẩm".
Cuộc xâm lược nhân danh lý tưởng "Đói đều"
Người ta đặt ra câu hỏi: Một chính thể không lo nổi bát cơm cho dân mình, lấy tiền đâu để đổ vào vũ khí, đạn dược và nướng hàng triệu thanh niên vào chiến trường miền Nam? Câu trả lời rất đơn giản: Họ không tích lũy để xây dựng, họ chỉ tích lũy để hủy diệt.
Việc "cưỡng chiếm" miền Nam thực chất không phải để đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho đồng bào, mà là để san bằng tất cả xuống một mức nghèo khổ chung. Đảng gọi đó là "xây dựng công bằng xã hội", nhưng thực tế là họ đã biến một hòn ngọc Viễn Đông đang rực rỡ thành một nơi mà sau đó vài năm, người dân phải độn khoai, độn sắn và coi mì tôm là món quà xa xỉ mang từ "phương Nam" về làm quà cho cả họ ở miền Bắc.
Nghệ thuật "cải lùi" vĩ đại

 Thật châm biếm khi nhìn lại:
Miền Nam: Trước 1975, mì tôm là món ăn của sinh viên nghèo hoặc lúc lười nấu cơm.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags ĐI GIẢI PHÓNG NGƯỜI TA... MÀ LẦN ĐẦU TIÊN ĐƯỢC ĂN MÌ TÔM, NGON QUÁ DỨT BA GÓI LUÔN!
Comment

HƯƠNG QUÊ (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

August 7, 2026 Ninh Tran

HƯƠNG QUÊ

 

Chờ em gánh nước giếng trong,

Vườn nhà hái nhánh rau đồng, lá giang,

Bếp hồng nhuốm ngọn lửa than,

Nấu cơm gạo đỏ, chiên vàng cà xanh,

Muối dưa nêm nếm trả canh,

Mặn mà hương vị nồi canh rau vườn.

Bới anh chén gạo Nàng Hương,

Mời anh thưởng thức xứ vườn món ngon,

Cá rô chiên nướng thơm giòn,

Cá trê kho tộ, dừa non thêm mùi.

Tráng miệng ngon miếng khoai lùi,

Nhâm nhi nước béo ngọt bùi chè thưng,

Nửa chìm nửa nổi lưng chừng,

Bánh trôi nhân đậu mùi gừng thơm tho.

Mời anh nếm khoanh bánh bò,

Chuối chiên, xôi vị, xôi vò, bánh gai.

 

Chờ em trong sớm trời mai,

Hái sen chớm nở trong ngày rạng đông,

Đun nước trên bếp than hồng,

Pha trà thoang thoảng sen nồng sương mai,

Gói anh xôi nếp hương lài,

Trời trưa ngơi nghỉ đường cày cuốc sâu,

Gạt mồ hôi tắm bùn nâu,

Xôi ngon ăn với canh bầu cá trê.

Chiều về nắng tắt ven đê,

Có ly nước mát, sum suê mận đào,

Mời anh nước mía giải lao,

Múi thanh cam quýt, khoanh đào giòn tươi.

Tà dương nắng nhạt chiều rơi,

Bếp vui anh kể chuyện đời nông gia,

Mâm cơm quyện ấm khói trà,

Cá cơm đạm bạc, hương nhà quê hương,

Đơn sơ đời sống, nguồn thương,

Đậm đà như sóng đại dương rạt rào,

Mặn mà rau muống xào chao,

Như tình chồng vợ thương nhau trọn đời.

Dù bao dâu bể đổi dời,

Còn tình gia quyến, còn đời phước duyên.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Thơ Tags HƯƠNG QUÊ, Huỳnh Anh Trần-Schroeder
Comment
Older Posts →
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories
Summary Block
This block is invalid. Please check the block settings and try again.
Featured
Aenean eu leo Quam
Aenean eu leo Quam

Quisque iaculis facilisis lacinia. Mauris euismod pellentesque tellus sit amet mollis.

Read more →