Anh Ở Đây (Thục Vũ, Vũ Đức Nghiêm)
Giả Hợp Mù Khơi (Lê Diễm Chi Huệ)
Hương mây quyện giữa dòng hư huyễn
Ai bồi hồi đưa mắt dõi xa xăm
Chạnh dâu bể dăm khi hồn nức nở
Bến mù khơi con nước cũng ngậm ngùi
Một lần định trong muôn trùng giả hợp
Bến đục trong hoa lá mãi tiêu diêu
Con trăng ngủ đang mơ màng chợt tỉnh
Mắt lưng tròng từ tạ giấc chiêm bao
Ai vẫn hớt hả, ai đã buông tay
Ai túy lúy say với cuộc thăng trầm
Ai lăn lóc ngược xuôi dòng suy thịnh
Ai đốt đuốc loanh quanh tìm tri kiến
Soi mặt soi mày chưa thấy thực hư
Giun dế chen đua khóc cười ra rả
Sương gió dập dờn lạnh buốt trong đêm
Con chữ lăn tăn gửi bờ Không muộn
Áo hoa sầu phơ phất bụi hồng bay
Trăng nước lung linh khua bờ hư ảo
Non cao xưa mãi vẩy gọi ta về.
06.10.2026
Lê Diễm Chi Huệ
Cáo Phó Giáo Sư Nguyễn Văn Canh
Phân Ưu
Vô cùng thương tiếc sự ra đi về cõi vĩnh hằng của Giáo Sư Nguyễn Văn Canh, nhà hoạt động đấu tranh bền bỉ kiên trì. Kể là độc nhất vô nhị trong mọi hoàn cảnh.
Ban biên tập Buctranhvancau.com xin thành thực chia buồn cùng tang quyến và cầu chúc hương hồn ông sớm phiêu diêu nơi miền cực lạc.
Thay mặt toàn thể ban biên tập Buctranhvancau.com
Bác Sĩ Trần Xuân NInh
Thăm Con Dâu Mới Sinh (Nguyễn Thị Thanh Dương )
Máy bay đáp xuống, bà Phụng chỉ có 1 vali carry on nên ra ngoài mau lẹ, bà ngó tìm hình bóng Kent, thì kia chẳng những Kent mà có cả Jade nữa. Bà Phụng kinh ngạc kêu lên:
– Ồ Kent, mẹ tưởng một mình con ra đón mẹ thôi chứ.
– Chào mommy.
Bà Phụng ngỡ ngàng nhìn con dâu, nàng ăn mặc thoải mái quần soọc áo thun hở cổ hở nách, bên cạnh Kent tay xách giỏ trong có baby đang nằm ngủ ngon lành. Jade nhào đến bên bà, tươi cười:
Read moreNHỮNG MẢNH TÌNH TRONG THỜI TAO LOẠN (Vĩnh Chánh)
…..Thêm một lần nữa Anh là người thua cuộc, trắng tay. Anh là kẻ bại trận, Anh đã thua trong cuộc chiến lẫn trong cuộc tình. Bên ngoài, trời nắng chang chang, nhưng Anh bổng nổi cơn lạnh run tới tận xương tủy và xâm xoàng. Như một con thú bị trúng thương, Anh lảo đảo vừa đi vừa hấp tấp chạy xa căn nhà cũ trong nhạt nhòa uất ức của mồ hôi lẫn nước mắt, khiến Anh vấp té vào một xe 2 bánh và gảy cổ chân phải. Anh bỏ đi trong hờn tủi, mang theo vết thương nghiệt ngã……
Read moreTẢN MẠN TRÍ THÔNG MINH NHÂN TẠO (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)
TẢN MẠN TRÍ THÔNG MINH NHÂN TẠO
A.I. (ê ai) )thơ nhạc đầy đường
Có mang bóng dáng người thương quay về,
Bóng hình dĩ vãng tràn trề,
Có hương đời thật bên lề tâm linh,
Hay chỉ gom góp linh tinh,
Nấu xào, sắp xếp, linh đình cỗ mâm,
Sao cho thuận luật, thanh âm,
Êm xuôi vần luật, thâm trầm lời ca,
Ảo hình, ảo giác gần xa,
Thay hình, đổi dạng mượt mà giác quan?
Tôi người nhân thế bàng hoàng,
Tưởng đời hòa hợp hai đàng âm dương,
Có lành, có dữ, cùng đường,
Dung hòa tạo lập bình thường chúng sinh,
Nào hay thế giới văn minh,
Hóa dạng người máy thông minh hơn người,
Tạo hình trần thế đời người,
Chẳng cần trí tuệ, óc lười, tâm an,
A.I. (ê ai) bảo quản hoàn toàn,
Tạo đời an lạc thiên đàng thế gian.
Bàng hoàng tâm tưởng hoang mang,
Thôi ta cứ mộng an toàn thế nhân,
Thế gian rồi sẽ thành chân,
Người người hòa hợp ân cần tương giao,
Bởi đời thôi chuyến ao dào,
Tranh giành cơm áo, thanh tao ân tình.
Chỉ mong người máy chân tình,
Không đòi thôn tính nhân sinh địa cầu.
Ngẫm suy lịch sử địa cầu,
Cũng xin nhắn gởi cạn sâu vài lời.
Thời bình, thời chiến, mọi thời,
Thời bình phồn thịnh, hay thời nhiễu nhương,
Dũng lòng, thích ứng, cang cường,
Sắt kiềm ý chí, cương thường tâm linh,
Người dùng trí óc bẩm sinh,
Truy rèn lý trí, dưỡng sinh tâm thần.
Đổi thay là luật thế trần,
Trời ban năng khiếu cho lần tiếp giao,
Não người muôn vạn tế bào,
Phi thường thực hiện, mạnh giàu tiềm năng,
Thức thời, thích ứng có chăng,
Mới qua giông bão, an bằng tương lai!
Ngày nay đời có A.I. (ê ai)
Ân người sáng chế lâu dài ta mang,
Cho đời sống mới dễ dàng,
Cho người mọi nẻo thế gian an bình,
Chỉ xin cân nhắc phân minh,
Và dùng người máy cảnh tình thích nghi.
Xin đừng nông cạn ỷ i,
Kẻo ngày thức tỉnh còn gì thế nhân.
Ân cần, tinh tế, thiên ân,
Cho ta ân hưởng tâm thần giác quan,
Họp hòa mạc lạc an khang,
Dung hòa trí tuệ, ngũ quan tuyệt vời,
Thì xin gìn giữ ân trời,
Khả năng thiên phú não người nhân sinh,
Trí tuệ cùng với tâm linh,
Họp hòa đời sống ân tình mông mênh.
Dòng đời thay đổi lênh đênh,
Quảng gì thử thách cuối ghềnh đầu non.
Trí minh mẫn, óc não còn,
Người còn lý trí, sống còn tùy ta.
Huỳnh Anh Trần-Schroeder
THANH TỊNH (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)
1- THANH TỊNH
Le lói từng mây nắng vừa lên,
Dòng sông êm ả, sen bồng bềnh,
Nổi trôi như phận người thục nữ,
Trên dòng trong đục đời lênh đênh.
Hòa nhã thủy phong thiên nhiên họa,
Hàm tiếu cụm hoa ngọc sương sa,
Nâng niu bào trọng cành hoa dại,
Thiếu nữ trầm ngâm ngắm liên hoa.
Ngày lên thanh tịnh miền hoang dã,
Suối reo khoan nhặt nhịp giang hà,
Lững lờ bèo trôi về xuôi ngược,
Thanh thản phù vân ta với ta.
Dứt chuyến thuyền trần, bả phù hoa,
Trả đời biến chuyền dòng phong ba,
Tóc mây hay tóc mùa sương tuyết,
Rồi cũng phôi pha sóng ta bà.
Một vùng mây nước vời thanh tịnh,
Trôi ngày sóng gió chốn phù vinh,
Về với thiên nhiên, thôi lận đận,
Vườn thanh suối mát tịnh lòng trần.
2- BÀI VỊNH LIÊN HOA
Trên sông bảy nổi ba chìm,
Rừng sen ngủ giấc im lìm trong sương,
Tia hồng vạt nắng xuyên sương,
Mơn man giọt nắng khơi hương liên đài,
Dịu dàng sen tỏa nhánh dài,
Vén màn sương ngọc, mảnh mai vươn mình.
Tím hồng phơn phớt màu xinh,
Hứng dòng sương sớm bình minh đầu ngày.
Trời cao cánh én ngừng bay,
Ngẩn ngơ cá lặn, sóng dài ngừng trôi.
Liễu dương rủ nhánh bồi hồi,
Thương sen thanh nhã nồi trôi ân tình,
Đất bùn vây phủ quanh mình,
Lòng sen trong trắng phân minh chẳng màng,
Giữ hoa phong nhụy dịu dàng,
Chẳng vần bùn đất, chẳng tàn hương hoa,
Giữ tình thi sĩ an hòa,
Vầng thơ lãng mạn vịnh nhà tịnh an,
Vịnh sen phong nhụy huy hoàng,
Mặc đời gió lộng, hoang đàng sóng dâng.
Ven sông thơ thần gót hài,
Rừng mây dạo bước, vịnh ngày vừa lên,
Ngắm trời mây nước bồng bềnh,
Ngắm hoa trôi nổi lênh đênh sông dài,
Bùn đen vây phủ trong ngoài,
Lòng hoa vẫn sáng nét ngày anh minh,
Nửa hồn buồn đất cạn tình,
Nứa mừng sen tỏa ảnh hình đoan trang,
Chẳng màng lơi lả gió ngàn,
Rung hoa rụng cánh sau ngàn vuốt ve.
Tình người thi sĩ chở che,
Dệt vầng thơ mọn chẳng e thói đời
Chê cười hoa rụng hoa rơi,
Viết bài ca ngợi, dài lời thương hoa.
Huỳnh Anh Trần-Schroeder
Nhân cách của người lính Nhảy Dù VNCH ! ( Vĩnh Chánh )
Trong những ngày cuối của cuộc chiến, khi mọi thứ dần dần sụp đổ thành phố lần lược bị bỏ ngỏ, vị chỉ huy của một đơn vị Nhảy Dù vẫn đứng ở vị trí của mình, giữa trách nhiệm, giữa đơn vị, giữa lời thề của một sĩ quan. Ông biết mình không thể rời bỏ binh sĩ, nhưng cũng biết vợ và ba đứa con nhỏ không thể ở lại. Vậy là ông thu xếp cho họ đi trước, bằng tất cả ông có thể làm trong hỗn loạn. Một quyết định rất đúng, nhưng vừa đau lại vừa mang theo nỗi bất an mà ông không bao giờ nói ra, vì vợ ông chưa bao giờ biết làm gì ngoài chuyện lo cho gia đình và các con còn nhỏ.
Rồi ông đi tù. Hơn mười năm. Những năm tháng ấy không chỉ hao mòn sức lực, mà còn bào mòn luôn cả những gì ông từng biết trong quá khứ và niềm tin vào tương lai. Khi được HO đưa sang Mỹ, ông mang theo một hy vọng nhỏ nhoi: được gặp lại gia đình, được nhìn thấy vợ con bình yên sau bao năm xa cách.
Nhưng khi đứng trước căn nhà nơi họ đang sống, ông nhìn thấy một sự thật mà không ai nói ra: vợ ông đã có chồng mới. Không lời trách móc, không một câu hỏi, không một giọt nước mắt. Ông chỉ đứng đó rất lâu, rồi lặng lẽ quay đi.
Không trở lại. Không tìm gặp. Không liên lạc với thuộc quyền, không tìm bạn bè Võ Bị, không nhận mình là ai trong quá khứ. Ông chọn một tiểu bang xa lắc, nơi không ai biết ông từng là một cấp chỉ huy lừng lẫy, từng có những người lính sẵn sàng sống chết theo lệnh ông. Ông sống một đời giản dị, lặng lẽ, như thể muốn xóa đi dấu vết của chính mình. Nhưng không oán hận. Không kể lể.
Chỉ sống, một cách khiêm nhường, cô độc, và đầy tự trọng.
Trong vô số mảnh tình bị thời cuộc xé nát, có những mảnh không tan vì phản bội, mà tan vì chiến tranh đã lấy đi quá nhiều thời gian, quá nhiều năm tháng mà không ai có thể bù đắp. Và có những người đàn ông, như ông, chọn cách mang nỗi đau ấy đi thật xa, để không làm phiền ai, để giữ lại chút phẩm giá cuối cùng cho chính mình.
Chờ Người (Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh)
Là con gái nhưng Kim ảnh hưởng nhiều tánh cách của ba. Ông Đình thường dẫn Kim đến quán ăn bình dân, ông dặn dò:
- Mình may mắn có của ăn của để, tuy nhiên không vì vậy mà hoang phí. Cái gì không đáng xài phải biết hạn chế…
Ngược với tánh của ba, má Kim lại là một phụ nữ kiêu căng, bà không hòa đồng với những người làm việc cho gia đình bà, đặc biệt là với chú Thanh. Bà không thích chú vì cho rằng chú biết cách lấy lòng nên được ông Đình quí mến. Một người có tánh đa nghi thì họ khó nghĩ tốt cho người khác, mỗi khi bực dọc việc gì, má Kim lại trút giận lên người giúp việc, ông Đình bất bình thái độ của vợ lắm nhưng lắm khi phải nhượng bộ, nhưng có một lần ông nói:
Read moreCách người Trung Quốc dặt tên cho các TT Mỹ (Dinh Hiep )
Cách người Trung Quốc dặt tên cho các TT Mỹ (Dinh Hiep )
Nhân khi chú Trump qua Trung Quốc làm việc, ta bàn vui tí về cách người TQ đặt tên và biệt danh cho các vị ngoại quốc.
Chúng ta đã biết khá nhiều vị trong lịch sử: Nã Pháo Luân (Napoleon), Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ), Karl Marx (Ca Nhĩ Mã Khắc Tư), Lenin (Liệt Ninh).
Ngoài phiên âm thường, họ đặt tên chữ Hán có ý đồ của họ, ví dụ cùng là Monroe nhưng Tổng thống thứ 5 của Mỹ James Monre được họ gọi là Môn La, tức là thần giữ cửa, nhằm đề cập đến Học thuyết Monroe của ông ta, đóng cửa châu Mỹ, chống lại sự can thiệp của châu Âu vào các nước Mỹ Latin. Còn cô đào Marilyn Monroe thì họ gọi là Mộng Lỗ, ám chỉ đến mông đít.
Những người mới thời nay: Elon Musk là Y Long Mã Tư Khắc, Ronaldo là La Nạp Nhĩ Đa, Messi là Mai Tây...
Tổng thống Biden có tên là Bái Đăng, Bái là lạy, Đăng là leo lên, lạy lục để leo lên ghế cao chăng? Ông ta có biệt danh là Bái Chấn Hoa. Bái tức là lạy, Chấn là giúp đỡ, chấn hưng, Hoa là người TQ, “cúi lạy để giúp TrungHoa chấn hưng”, ý nói Biden là người cầu cạnh và làm lợi cho TQ. Đúng quá còn gì, Tập chỉ hy vọng mấy người lú lẫn, hèn nhát như Biden mãi mãi làm TT Mỹ, để TQ rảnh tay thực hiện “Trung Hoa mộng”. Vậy đồng chí Bái Đăng là chuyên gia giúp Trung Hoa phát triển.
Obama có tên là Áo Ba Mã, dân mạng đặt cho ông ta biệt danh Áo Quan Hải. Áo giữ nguyên để gợi nhớ đến Obama, Quan là nhìn, Hải là biển, ý nói ông ta “chỉ đứng nhìn tình hình thế giới như nhìn biển, chứ không hành động mạnh mẽ”. Quan sát nhiều mà không hành động.
Thêm một nghĩa nữa: Áo tức là bên trong, phía trong, sâu xa, góc khuất, còn Hải là ám chỉ Trung Nam Hải, Áo Quan Hải tức là “Người đứng từ góc nhìn của Trung Nam Hải để nhìn thế giới”, nhìn thế giới từ lập trường Trung Nam Hải, thấy gì có lợi cho TQ thì cắm đầu làm.
Cho nên các bạn cũng biết rồi đấy, hai tên Bái Chấn Hoa và Áo Quan Hải, thân là TT Mỹ, nhưng lại là tay sai của TQ.
Chú Trump tôi thì có tên Đặc Lãng Phổ. Tên đầy đủ của ông, nếu bạn muốn biết: Donald (Đường Nạp Đức) John (Ước Hàn) Trump (Đặc Lãng Phổ).
Ông được đặt khá nhiều biệt danh. Đầu tiên là Đặc Bất Kháo Phổ gần giống với tên ông, có nghĩa là “không đáng tin cậy”. OK lah, đợi đấy. Thứ nữa làVạn Thuế Gia Gia ám chỉ chính sách đánh thuế nặng lên hàng nước ngoài. Rồi Sàng Phá (phiên âm chuáng pò), nghĩa là phá giường, do phiên âm chữ “chuáng” gần giống “Trump”, còn “pò” gần giống Phổ trong tên ông.
Tiếp theo là Xuyên Kiến Quốc, Xuyên phát âm là “chuan” khá giống “trump”, còn Kiến Quốc là “xây dựng đất nước”, một cái tên phổ biến sau năm 1949. Đi họp, người ta sẽ nói: “Đồng chí Xuyên Kiến Quốc vất vả rồi!” Gọi ông Trump là Xuyên Kiến Quốc, ngụ ý của người TQ là “Trump đang giúp xây dựng TQ” bằng cách rút khỏi các hiệp định quốc tê, gây rạn nứt với các đồng minh. Thế nhưng họ đã nhầm to, TQ đang xính vính khi bị Trump dồn vào góc võ đài đấm cho túi bụi.
Họ còn lấy chữ “Xuyên” và chữ “Phổ” (trong tên Đặc Lãng Phổ) ghép lại để gọi ông Trump. Mỗi khi Trump cho TQ ăn đòn là dân TQ bất đồng chính kiến viết lên mạng: “Xuyên Phổ lão sư lại cho Bắc Kinh một bài học nữa rồi”, “Xuyên Phổ giáo quan đang bắt Bắc Kinh tập chống đẩy”, “Xuyên Phổ đang bóp cổ Bắc Kinh”. Có thể nói cái tên Xuyên Phổ được dùng nhiều nhất, các trang báo như Yahoo tiếng Hoa cũng dùng Xuyên Phổ để chỉ ông Trump. Xuyên (川) kiểu như dòng nước đã chảy thì không thể ngừng nghỉ và xuyên phá qua mọi chỗ, còn Phổ (普) là phổ biến, rộng khắp, lan rộng, nội hai chữ này ghép với nhau thì ông Trump là bá chủ đúng cmnr.
Biệt danh khác của ông là Đổng Vương, tức là “vua biết tuốt”, bởi ông hay phát biểu trước giới truyền thông những câu như “Không ai biết về X hơn tôi”, “Tôi biết về X hơn bất kỳ ai”.
Khi Trump nói điều gì đó, dân mạng sẽ viết kiểu tút kiểu: “Đổng vương lại lên tiếng rồi” hoặc “Chuyện này Đổng vương hiểu nhất”. Danh sách “tôi biết nhất” của Trump dài như Vạn Lý Trường Thành: kinh tế, thuế quan, quân sự, công nghệ, Đài Loan, Tân Cương, Hằng Lực… đúng, ông biết hết, vì ông là tổng thống Mỹ, thông tin ông nắm trong tay hẳn nhiều nhất thế giới rồi. Dân TQ định cà khịa Trump nhưng họ đang ôm mồm, các con đợi đấy, còn nữa.
Nhờ mái tóc huyền thoại, ông còn được đặt biệt danh là Kim Mao. Móa, nghe “Kim Mao Tầm Hồi Khuyển”, tức là giống chó Golden Retriever. Thôi cũng được, ông Trump tuổi Tuất, Golden Retriever là giống chó đẹp, hay đùa, thông minh, trung thành, có thể dùng làm chó đặc vụ dò tìm mai thúy.
Ba Mươi Tháng Tư – Nỗi Bất Hạnh Của Dân Tộc Việt (Phạm Mạnh Tuấn)
Ngày 30-4-1975 khi người CS chiếm được miền Nam, đây là cơ hội bằng vàng để người dân cả nước kề vai sát cánh, xây dựng quê hương ấm no hạnh phúc, tạo cho VN một chỗ đứng được nể trọng trên trường quốc tế. Nhưng rất tiếc, người CS đã đặt mục tiêu truyền bá chủ nghĩa cộng sản lên trên tiền đồ dân tộc. Họ máy móc thực thi những giáo điều cộng sản chớ không đoái hoài gì đến hạnh phúc của người người dân. Người CS đã phí phạm biết bao nhân lực tài lực của cả nước chỉ để áp dụng mô hình XHCN ngu muội của Nga - Tầu. Nếu biết tận dụng khả năng cần mẫn, giỏi chịu đựng của người miền Bắc công với óc sáng tạo, tính cởi mở của người miền Nam, VN sợ gì không vượt xa Đài Loan, Nam Hàn, chớ nói chi Thái Lan, Phi Luật Tân vốn thua miền Nam VN.
Read moreMười hai tháng đều là tháng Tư đen (Bùi Phạm Thành)
Mười hai tháng đều là tháng Tư đen (Bùi Phạm Thành)
Như hầu hết chúng ta đều biết, những vết thương trên thịt da đều có thể lành qua thời gian. Thế nhưng, vết thương trong tâm hồn sẽ không bao giờ lành. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 chỉ là một ngày như mọi ngày trên quyển lịch. Thế nhưng trong lòng người Việt ly hương, phải bỏ lại tất cả những gì quý giá nhất của đời người để tìm nơi sống an lành cho thế hệ mai sau, thì đó lại là một ngày đen tối nhất trong lòng người viễn xứ, một vết thương không bao giờ lành.
Mời quý vị đọc “Mười Hai Tháng Đều Là Tháng Tư Đen” của Bùi Phạm Thành để cùng nhớ lại những ngày đen tối của hơn nửa thế kỷ trước, nhưng chẳng phai mờ trong lòng người tha hương.
Nghe bạn nhắc đến một ngày buồn thảm,
Ngày cuối cùng của một tháng Tư đen,
Bạn khuyên tôi đừng về chơi đất Việt,
Vì trong lòng hận mất nước chưa quên.
Hơn nửa đời tôi làm người viễn xứ,
Chưa trở về vùng đất đã thay tên,
Bởi quê tôi vẫn tràn đầy quỷ đỏ,
Mười hai tháng đều là tháng tư đen.
Cớ sao bạn chỉ nhớ chi một tháng?
Mười một tháng kia sao lại nỡ quên!
Sao lại cứ cúi đầu và muối mặt,
Đem tiền về mà cúng lũ kên kên.
Mười một tháng về ăn chơi mục rữa,
Đến tháng Tư mới đánh trống thổi kèn,
Này bạn hỡi một lần xin hãy nói:
"Còn cộng nô, chốn ấy chẳng ai thèm."
Đợi một ngày suy tàn loài cộng đỏ,
Bạn cùng tôi trở lại chốn thân quen,
Khi cờ vàng tung bay trên đất Việt,
Thì chẳng tháng nào là tháng Tư đen.
Rồi cùng nhau như ngày xưa thân ái,
Cùng hát vang Hạnh Phúc cả ba miền.
Bùi Phạm Thành
MỘT NÉN HƯƠNG THƠM VÀ MỘT LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG (Nguyễn Doãn Đôn- một nguời VNCS/BK))
Tôi nghe thấy họ Đả đảo CS mà buồn thiu, vì tôi là Đảng viên, lại từng đã vào Nam xâm lược Đất nước của họ. Một Đất nước có chủ quyền, có cờ, có Quốc ca và có một Thể chế dân chủ văn minh.
Vâng tôi phải đau lòng nhận lấy câu đả đảo của họ. Vì họ đả đảo đúng. Không đời thủa nào một Đất nước tối tăm lạc hậu, đói rách triền miên, phi dân chủ, trọng bạo lực lại đi giải phóng một Dân tộc văn minh hơn mình, giàu có hơn mình để "giúp" cho họ trở thành khổ và ngu ngốc như mình.
Read moreẢo Tưởng Giải Phóng Miền Nam (Nguyễn Tường Tâm)
Bài tặng các người miền Bắc trước 1975 và các người trưởng thành trong môi trường giáo dục XHCN
Read moreTÂM NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)
1-TÂM NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM (Bài Tiếng Việt)
Tâm người phụ nữ Việt Nam,
Công bằng, hòa nhã, bảo toàn tộc gia.
Nhu cương cùng ở một nhà,
Cương thường như thể giang hà nước ta.
Dịu như lụa rải trăng ngà,
Cương như sóng nổi biển nhà quê hương.
Giữa giòng chinh chiến đau thương,
Sắt kiềm ý chí, thương đường non sông.
Chúng tôi chiến sĩ phong sương,
Cùng lòng chiến đấu sa trường gian lao,
Giữa dòng súng đạn chẳng nao,
Hiểm nguy chia xẻ, bờ hào, lũy, ranh,
Cùng bạn đồng đội quân hành,
Sông sâu, núi thẳm, rừng xanh, đồng bằng,
Súng đồng, thang thuốc, cuộn băng,
Áo hoa cây cỏ, áo rằn rừng xanh,
Áo chữ thập hồng an thanh,
Chúng tôi sát cánh cha, anh, người tình.
Ngày quê còn nặng lửa binh,
Chúng tôi còn gánh ân tình nước non.
Hậu tuyến nội trợ tề gia,
Tảo tần gầy dựng cõi nhà an khang,
Trên đồng hạt lúa trổ vàng,
Nhờ tay thanh nữ chằng màng gió sương,
Sao cho no ấm quê hương,
Miếng cơm cho kẻ chiến trường gian lao.
Cánh hoa thời nước loạn ly
Sắt kiềm tâm não, cang trì điêu linh.
Chúng tôi ước vọng hòa bình,
Cành không gãy nhánh trong nghìn bão giông.
Thanh như gió thoảng cánh đồng,
Vững phù sa sóng từ lòng Biển Đông,
Chúng tôi bảo vệ giống giòng,
Giữ nhà, giữ nước, non sông, cõi tình.
Năm xưa, sử lược phi thường,
Cưỡi voi, múa kiếm, nữ vương cang cường,
Ra quân chống giữ biên cương,
Chặn dòng xâm lược giữ đường xứ quê.
Bao thời đất nước ủ ê,
Còn giòng Trưng Triệu giữ quê, giữ làng.
Ngày nay, lịch sử hoang tàn,
Nồi da xáo thịt gây ngàn thương vong,
Chúng tôi góp sức, góp công,
Máu xương đã trải, sống còn lưu vong.
Hậu sinh phụ nữ Lạc Hồng,
Sẽ còn nhiệt huyết thương lòng núi sông.
Nghìn sau, ngọn đuốc thanh trong,
Hương trầm còn tỏa trên dòng sử thiêng.
2- WOMEN OF VIETNAM (English Version)
Women of Vietnam, we are fair and kind,
Of nurturing heart, of spirited mind,
Part warriors, part genteel,
In times of need, made all of steel.
We are combatants, shoulder to shoulder, side to side,
With our compatriots, in the lines of fire,
In military gears, in medical attires,
We serve our homeland, in times of peace, times of war and blight.
On the fields, in the jungle, swamps, on mountain peaks, hill slopes,
We are light of resistance, we are stealth of hope,
In the back country, we are both indians and chiefs, household's heads,
We plow the fields, we grow crops,
We sustain families, folks, we provide for the frontlines ahead.
We are called flowers and butterflies of war circumstances,
Dainty of appearance, steel of substance,
Like velvet covering resolute resilience,
We fulfill our call to the greatness of the homeland.
We yearn for peace, we don’t wilt in sorrows,
Humble like the winds on the vast meadows,
Steady like alluvia of the Eastern Sea,
We protect and nurture our families, folks, our country.
Millenia ago, in the history of our land for survival,
Have fought women and girls in their teens, in freedom goals,
On back of elephants, brandishing gleaming swords,
Our ancestors have braved the barbaric hordes of the North.
In contemporary times, we have done our part, stood our ground,
Fighting for freedom and survival, inward, outbound.
In future generations, still flow the noble genes of bravery and sacrifice, untamed,
Long after our time on this earth, our torch still shines bright, of noble flame.
3- FEMMES DU VIETNAM (Version Francaise)
Femmes du VietNam, nous sommes bienveillantes et équitables,
Coeur nourrissant de mère, âme vaillante de chevalier et de preux,
À volonté de fer sous apparences amiables,
En temps de défis, temps de dures épreuves.
Nous sommes combattantes, guerrières,
Sur champs de bataille, loins et proches, dans lignes de tir, bas et hauts,
Dans fatigues de combat, dans blouses et masques médicaux,
Nous sommes de service à la patrie, en temps de paix, temps de guerre.
Sur les champs, dans la jungle, les marécages, sur pentes de collines, sommets des monts,
Nous sommes feux de résistance, flammes d’espoir qui persistent et brillent,
À l'arrière du pays, nous sommes chefs de famille,
Rizières nous cultivons, grains nous plantons,
Pour nourrir familles et gens, pour approvisionner les lignes de front.
Nous sommes nommées fleurs et papillons des temps éprouvants,
De core d’acier trempé, d'apparences délicates, affables,
Comme velours couvrant résolution inébranlable,
Nous répondons à l’appel noble du pays en temps exigeant.
Nous désirons liberté et paix, nous ne flétrissons point dans tempêtes,
Humbles comme les douces brises sur vastes prairies,
Stables comme les alluvia nourrissants de l'Océan de l’Est,
Nous protégeons familles, gens et patrie.
Millénaires auparavant, dans l’histoire de la lutte du pays pour sa survivance,
Pour vivre libre, s'étaient sacrifiées femmes et filles de l'âge d'adolescence,
Sur dos d'éléphants, brandissant épées étincelantes, redressant injustices et torts,
Nos ancêtres avaient bravé les barbaresques hordes du Nord.
En temps contemporains, nous avons tenu notre bout, accompli notre devoir,
Dans notre lutte pour liberté et survie, au dehors, dans le dedans.
Dans les générations du futur, encore existent les nobles gènes de bravoure et renoncement,
Longtemps après notre existence sur terre, notre torche encore brille ses preux feux de victoire.
Huỳnh Anh Trần-Schroeder
Có Những Lời Thật Không Nói Ra, ChChết Cũng Không Nhắm Mắt: Lời Thật Của Một Thầy Phong Thủy Sau 40 Năm Hành Nghề. (Vô Danh)
Tôi năm nay năm mươi lăm tuổi. Mười lăm tuổi theo sư phụ mù nhập nghề, học xem la bàn, quan sát thế núi dòng nước, tìm long mạch điểm huyệt. Suốt bốn mươi năm lăn lộn trong nghề, quan lớn tôi từng gặp, người buôn gánh bán bưng tôi cũng từng quen; biệt thự sang trọng tôi từng bố cục, núi hoang mộ lạnh tôi cũng từng đặt chân.
Trong giới, người ta gọi tôi là “Trần bán tiên”, nói tôi đoán việc như đinh đóng cột, có thể đổi vận cải mệnh.
Nhưng hôm nay, tôi muốn đâm thủng lớp giấy cửa sổ đã lừa người đời, cũng trói buộc chính mình suốt cả đời.
Bốn mươi năm qua, tôi đã thấy quá nhiều chuyện hoang đường. Nếu hôm nay không nói ra những lời thật này, e rằng đến ngày chết, mắt tôi cũng không thể nhắm lại.
1. Phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi lòng người
Người tìm đến thầy phong thủy, đa phần chỉ cầu thăng quan phát tài, gia đình bình an. Họ nghĩ rằng đặt một con tỳ hưu trong nhà, đặt bể cá ở vị trí tài lộc, hoặc dời mộ tổ tiên đến nơi “tựa núi nhìn sông” là có thể đổi vận đổi đời.
Thật là chuyện nực cười.
Nếu chỉ cần đặt vài món đồ là có thể phát tài, thì những người làm phong thủy như chúng tôi đã là người giàu nhất thế giới rồi, đâu cần dầm mưa dãi nắng kiếm tiền của các vị?
Hai mươi năm trước, tôi nhận một vụ lớn. Người mời tôi là một ông trùm bất động sản họ Lâm. Việc làm ăn của ông rất lớn, nhưng lúc đó dòng tiền gặp trục trặc. Ông tin rằng phong thủy mộ tổ bị hỏng nên cầu tôi tìm “chân long kết huyệt” để cải vận.
Sau nửa tháng trèo đèo lội suối, tôi tìm được một thế đất tuyệt đẹp: lưng tựa núi xanh, trước có dòng nước uốn quanh, minh đường rộng mở theo phong thủy là đất sinh đại phú.
Ông Lâm vui mừng khôn xiết, bỏ tiền lớn mua đất, tổ chức lễ cải táng cực kỳ long trọng.
Sau nghi lễ, tôi đến nhà ông làm khách. Biệt thự xa hoa bậc nhất thành phố, mọi thứ lộng lẫy đến chói mắt. Nhưng khi đi nhầm vào một căn phòng nhỏ ở góc tầng một, tôi chết lặng.
Căn phòng ẩm thấp, không cửa sổ, đầy mùi mốc và mùi thuốc. Trên chiếc giường cũ nằm một bà lão gầy yếu, tóc bạc trắng, đó chính là mẹ ruột của ông Lâm.
Vì bà bị liệt, vệ sinh khó khăn nên vợ ông chê bẩn, chuyển bà từ phòng lớn đầy nắng xuống căn phòng chứa đồ này. Và ông Lâm, người sở hữu hàng trăm triệu tài sản đã mặc nhiên chấp nhận.
Khoảnh khắc đó, tôi thấy lạnh từ trong xương.
Tôi không nhận nửa khoản tiền còn lại, chỉ nói một câu:
“Phong thủy tốt nhất không ở trên núi, mà ở ngay trong nhà ông. Ông bỏ ‘vị Bồ Tát sống’ vào góc tối không ánh sáng, thì người chết ngoài núi dù nằm trên long mạch cũng không giữ nổi tài khí cho ông.”
Ba năm sau, công ty ông phá sản, tài sản bị phong tỏa, vợ mang tiền bỏ trốn. Cuối cùng, trong một đêm mùa đông gió lạnh, ông nhảy lầu tự tử.
Người ta nói tôi chọn nhầm huyệt xấu. Tôi không giải thích. Bởi tôi hiểu: phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi nhân tâm xấu.
Người bất hiếu, lòng như nước chết, la bàn nào cũng không định nổi hướng đời họ. Cha mẹ là gốc, con cháu là cành lá. Gốc đã chặt, sao mong cây kết trái vàng?
Đây là lời thật thứ nhất: Người không hiếu thuận, cầu thần bái Phật hay xem phong thủy đều vô ích.
2. Người thật sự đổi mệnh không cần đổi phong thủy
Mười lăm năm trước, tôi gặp một người phụ nữ tên Vương Quế Hoa ở một ngôi làng nghèo.
Nhà bà nằm đúng thế “Bạch Hổ thò đầu” lại thêm “kéo cắt”, phong thủy cực xấu, chủ suy bại, cô độc, tai họa. Bà góa chồng, nuôi con trai tàn tật, sống cực khổ. Nhưng trên mặt bà không có oán hận, chỉ có nụ cười hiền.
Tôi đề nghị giúp bà cải phong thủy, dựng đá trấn trạch.
Bà chỉ cười nhẹ: “Dựng đá chắc tốn tiền lắm. Tôi để dành tiền đưa con đi chữa bệnh. Chỉ cần mẹ con tôi sống ngay thẳng, trời chắc không dồn chúng tôi vào đường cùng.”
Câu nói ấy như cái tát làm tôi tỉnh ngộ.
Mười năm sau quay lại, nơi giao lộ “hung hiểm” ấy đã được mở rộng thành khu chợ. Nhà bà thành cửa hàng tạp hóa, con trai trở thành nghệ nhân điêu khắc nổi tiếng, có gia đình hạnh phúc.
Bà không đổi phong thủy, bà đổi chính mình.
Đây là lời thật thứ hai:
Phong thủy tốt nhất không phải hướng nhà hay mộ tổ, mà là nhân phẩm và tu dưỡng của bạn.
Tâm rộng, đi đâu cũng là đường sáng. Tâm hẹp, sống trong cung điện cũng thấy ngõ cụt.
3. Phong thủy lớn nhất của một gia đình
Bốn mươi năm hành nghề, tôi thấy vô số cặp vợ chồng cãi nhau chỉ vì vị trí sofa hay cửa bếp.
Họ hỏi tôi: “Nhà tôi có phạm xung không?”
Tôi chỉ muốn nói: Nhà có xung hay không tôi không chắc, nhưng tính khí hai người thì chắc chắn đang xung rồi.
Trong một gia đình: Sát khí lớn nhất không phải dầm đè hay xuyên đường, mà là cãi vã, lạnh nhạt và tính toán lẫn nhau.
Người phụ nữ là con mắt phong thủy của gia đình. Tầm nhìn của người đàn ông là bức tường chịu lực của ngôi nhà. Gia đình hòa thuận, dù ở nhà thuê nhỏ vẫn là đất lành. Gia đình bất hòa, biệt thự cũng thành hung trạch.
4. Phong thủy rốt cuộc là gì?
Trong Kinh Dịch có câu: “Nhà tích thiện ắt có dư phúc, nhà tích ác ắt có dư họa.”
Tổ tiên đã nói rõ chân lý phong thủy từ lâu. Chỉ là con người quá tham, luôn muốn đi đường tắt, nghĩ rằng trả tiền cho thầy phong thủy là có thể trốn nhân quả, đổi số nghịch trời.
Tôi hiểu ra một điều: TÔI CÓ THỂ TÌM ĐẤT TỐT, NHƯNG KHÔNG TÌM ĐƯỢC LƯƠNG TÂM CHO NGƯỜI KHÁC. TÔI CÓ THỂ HOÁ GIẢI SÁT KHÍ TRONG NHÀ, NHƯNG KHÔNG HOÁ GIẢI ĐƯỢC OÁN KHÍ TRONG LÒNG NGƯỜI.
Tôi đã rửa tay gác nghề. Sắp rời thành phố, về quê trồng vài mẫu ruộng, nuôi gà vịt. Tiền tích góp ngoài phần dưỡng già, tôi sẽ quyên góp cho trường học vùng núi.
Nếu giờ đây bạn đang lo bố trí căn nhà mới, hay đang vì làm ăn thất bại mà cầu khấn khắp nơi, hoặc đang ở đáy cuộc đời và cảm thấy vận xui bủa vây, hãy nghe tôi một câu:
Đừng vội đi xem bói hay xem phong thủy nữa. HÃY NHÌN CHA MẸ, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA NẤU CHO HỌ MỘT BỬA CƠM? NHÌN NGƯỜI BẠN ĐỜI, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA ÔM HỌ THẬT ẤM? NHÌN CHÍNH MÌNH, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA GIÚP AI ĐÓ VÔ ĐIỀU KIỆN?
Nuôi dưỡng tính khí cho tốt. Chăm sóc thân tâm cho lành. Giữ gìn các mối quan hệ cho tử tế. Bớt tính toán, thêm chân thành. Bớt oán trách, thêm biết ơn.Khi tâm bạn đổi, từ trường quanh bạn cũng đổi. Vận mệnh cũng theo đó mà đổi.
Bởi vì, chính bạn mới là thầy phong thủy mạnh mẽ nhất của cuộc đời mình.
Bốn mươi năm phong ba, tôi đã nhìn thấu sự hư ảo của nghề này, cũng nhìn rõ chân tình nơi nhân gian. Hôm nay viết ra những lời từ đáy lòng, chỉ mong có thể đánh thức vài người hữu duyên.
Bữa Cơm Gia Đình Ngày Nay ...! ( Vô Danh)
Hồi nhỏ, tôi đã từng nghĩ mâm cơm gia đình là một điều hiển nhiên, một nghi lễ bất biến. Chiều nào cũng vậy, cứ tầm năm sáu giờ, cả nhà chúng tôi lại quây quần bên chiếc bàn gỗ cũ. Mùi cá kho tộ của mẹ thơm lừng gian bếp. Ba tôi, sau một ngày làm việc, sẽ kể vài câu chuyện vui. Chị Hai thì líu lo về những chuyện ở trường.
----
Bữa cơm không chỉ để no bụng, nó là một cái hẹn, một điểm dừng sau một ngày dài, nơi mọi người trút bỏ những lo toan và kết nối với nhau. Ngọn lửa trong bếp của mẹ không chỉ làm chín thức ăn, nó còn giữ ấm cho cả gia đình.
Tôi không rõ sự rạn nứt bắt đầu từ khi nào. Có lẽ, nó bắt đầu từ chiếc điện thoại.
Đầu tiên, chị Hai mang điện thoại lên bàn ăn. Chị vừa ăn vừa cắm mặt vào màn hình, cười một mình với những tin nhắn. Những câu chuyện của chị về trường lớp thưa dần, thay vào đó là sự im lặng và những câu trả lời nhát gừng.
Rồi đến ba tôi, ông cũng bắt đầu xem tin tức, trả lời email công việc ngay trong bữa ăn. Không khí trên bàn ăn loãng dần. Những cuộc trò chuyện bị cắt vụn.
Rồi những chiếc ghế bắt đầu trống
"Tối nay con không ăn cơm nhà, con đi học thêm."
"Ba có hẹn tiếp khách, cả nhà cứ ăn trước đi."
Những lý do nghe có vẻ rất chính đáng. Cuộc sống hiện đại mà, ai cũng bận rộn. Nhưng tần suất lời từ chối ngày một dày hơn. Mâm cơm cứ vơi dần, không phải vì nhà thiếu thốn, mà vì thiếu người ăn.
Mẹ tôi vẫn nấu, nhưng bà bắt đầu nấu ít lại. Những món cầu kỳ ngày xưa được thay bằng các món đơn giản hơn. Bà nói cho đỡ mất công, nhưng tôi biết, trong lòng bà có một nỗi buồn không nói thành lời. Ngọn lửa trong bếp dường như cũng bớt nồng nhiệt hơn trước.
Mâm cơm từ một nơi sum vầy, dần trở thành một nghĩa vụ. Khi có đủ người, không khí cũng không còn như xưa. Ba tôi, mệt mỏi vì công việc, dễ cáu gắt vì những chuyện nhỏ nhặt.
Chị Hai thì chê món này mặn, món kia nhạt, chị nói trên mạng thấy người ta nấu ngon mà sao mẹ mình nấu không ra gì.
Sự im lặng bao trùm, nặng nề đến mức có thể nghe rõ tiếng nhai, tiếng bát đũa va vào nhau. Mọi người ăn thật nhanh, như để trốn thoát khỏi chính bữa cơm của gia đình mình.
-----
Đỉnh điểm là vào ngày sinh nhật của Mẹ
Tối tôi thấy mẹ nằm trằn trọc suy nghĩ gì đó. Tôi không hiểu chuyện gì.
Hôm sau, tôi thấy mẹ đi chợ từ rất sớm, nấu một bàn đầy những món mà cả nhà đều thích, hy vọng sẽ có một bữa tối ấm cúng như xưa.
Mẹ không báo trước để cho cả nhà bất ngờ, tôi thì thấy nghi nghi. Ngồi nhớ lại thì biết hôm nay sinh nhật mẹ. Mà nghĩ lại, ba với chị tệ thật, sinh nhật mẹ cũng không nhớ.
Buổi chiều hôm đó, chị Hai gọi điện báo có hẹn đi sinh nhật bạn thân đột xuất. Gần tối, ba cũng báo bận một cuộc họp quan trọng không về kịp.
Chỉ còn lại tôi và mẹ, ngồi trước một bàn đồ ăn thịnh soạn đang nguội dần. Mẹ không nói gì, chỉ lẳng lặng xới cho tôi một chén cơm. Nhưng khi mẹ quay đi, tôi thấy bờ vai gầy của mẹ rung lên. Bà đang khóc.
Bà gạt vội nước mắt, nhìn tôi cười gượng: "Mẹ không sợ cực, mẹ chỉ sợ nấu ra không có ai ăn... Cái nhà này, đến nỗi ăn với nhau một bữa cũng khó vậy sao?"
Câu hỏi của mẹ như một nhát dao cứa vào lòng tôi. Tôi chợt nhận ra, chúng tôi đã để mọi thứ đi quá xa. Chúng tôi đã xem sự hiện diện của nhau, sự chăm sóc của mẹ là điều hiển nhiên, để rồi mải miết chạy theo mối bận tâm của riêng mình.
-----
Sự tan vỡ của một gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu từ những xung đột lớn lao, từ những lời chì chiết, mắng nhiếc.
Đôi khi, nó lại bắt đầu từ chính mâm cơm, khi người ta không còn muốn ăn cùng nhau nữa. Người ta xem đó là một thói quen cứng nhắc, một nghĩa vụ, chứ họ không nghĩ rằng đó là sự tự nguyện, sự trân quý, sự yêu thương mà mỗi người cần có để kết nối với người thân trong nhà mình.
Bởi vì khi họ từ chối một bữa ăn, thực ra là họ đang từ chối dành thời gian, sự quan tâm và lắng nghe cho những người thân nhất.
Tối hôm đó, tôi không nói gì nhiều. Tôi chỉ ngồi xuống, ăn hết phần cơm của mình, và khen đồ ăn mẹ nấu rất ngon. Tôi nói chuyện với mẹ nhiều hơn, về những điều nhỏ nhặt nhất, điều mà đã lâu rồi tôi không làm.
Tôi thấy mẹ cười nhiều hơn, tôi cũng vui hơn.
Hóa ra, để hàn gắn một gia đình, đôi khi chẳng cần điều gì lớn lao. Nó bắt đầu đơn giản bằng việc, chúng ta đặt điện thoại xuống, nhìn vào mắt nhau, và cùng nhau ăn bữa cơm. Thường xuyên. Hỏi han. Quan tâm. Thế là đủ!
(Xa cách bắt đầu từ những bữa cơm, mà người ta không muốn ăn cùng nhau)
CHUYỆN TRÚ MƯA - Tuổi Trẻ VNCS Ngày Nay !) (Loc Duong)
CHUYỆN TRÚ MƯA(Tuoi Tre VNCS Ngày Nay !)
Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.
Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :
-Có phải cháu đây không?
Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :
-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.
-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?
-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?
-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?
-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.
-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?
-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.
-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?
Cô bé vui vẻ hẳn lên :
-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.
-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?
-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?
Hắn cứng họng. Không phải vì đuối lý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.
Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :
“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết làm sao em biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”
Loc Duong
Bạn Già (Đông Vân Nguyễn Văn Dõng)
Thấy vợ con người ta mà ham!
- Ê, nói năng cẩn thận tí nghe bố, không phải ỷ già rồi muốn nói sao thì nói, lạng quạng bọn trẻ nó nghe được nó bảo mình già dịch.
- Ừ, thì mình cũng có “dịch” thật, dù dịch ít hơn xưa. Nhưng nói thật mầy nghe, dạo sau nầy bà nhà tao đổi tánh ghê quá, đôi khi tao phải bỏ nhà đi vòng vòng ngoài vườn, ngoài phố cho nó thoáng cái đầu.
- Mầy làm như có một mình bả đổi, còn mầy thì lúc nào cũng trơ trơ cùng tuế nguyệt!
- Không phải vậy, bả tự nhiên trở nên kỳ cục, hồi nào tới giờ có khi nào bả ghen tương gì đâu, dù bóng gió, mấy mươi năm rồi lúc nào cũng hoà hợp hòa giải hết sức vui vẻ, mầy cũng biết tính tao. Tao muốn đi đâu, lúc nào thì cứ đi, bây giờ gần đất xa trời tự dưng bả lại kiếm chuyện. Mỗi lần tao ra Connexion xem máy móc là bả cằn nhằn cử nhử “Đi đâu đi hoài, ở nhà một chút có được không...” Bực cả cái mình.
- Bực mình rồi mầy có cự bả không?
- Lúc đầu thì không, nhưng thét rồi phải cự.
- Tội nghiệp bà già.
- Tội cái quái gì, mầy chưa lâm cảnh chưa biết...
- Tại mầy không hay, không biết chớ bà nhà tao cũng như bà nhà mầy, và bà nhà mầy thì cũng như thiên hạ thôi. Chả có gì mới lạ dưới ánh mặt trời, chỉ có tao là không như mầy, chẳng bao giờ tao cự nự cả. Không phải tao không “nhạy cảm”, mà cũng bực mình lắm chớ, đôi khi “muốn kêu một tiếng cho dài kẻo câm”, nhưng tao hiểu rằng là mấy bà thuộc giai cấp “cổ lai hy” đều mắc phải cái bịnh lo, bịnh sợ. Họ sợ những bất trắc đang rình rập họ, nào tai nạn, nào bịnh tật, nào chết chóc... Họ sợ có chuyện gì không ai giúp đỡ, tóm lại họ sợ cô đơn. Mầy cũng còn may là bả chưa nuôi chó, nuôi mèo để thế mầy hủ hỉ cho đỡ buồn.
- Thì đồng ý, nhưng đi một chút cũng không xong thì chẳng lẽ tao phải ngồi ở đầu giường canh bả hay sao? Tao vẫn phục cái tài tỉnh bơ của mầy, tao thì rất dễ xì-nẹt.
- Thì ai lại chẳng xì-nẹt, nhưng phải biết “làm chủ” mấy sợi dây thần kinh của mình, thế thôi. Thú thật với mầy tao không bao giờ lên giọng với bà xã, cũng chẳng khi nào cằn nhằn cử nhử gì hết. Khi có chuyện không bằng lòng làm tao xì-nẹt thì tao đi chỗ khác chơi, cắn chặt hai hàm răng lại, không cho cái “lưỡi rắn” nó thò lò ra lải nhải gì hết. Khi nào trời yên biển lặng tao sẽ đi đường lưỡi sau. Vậy là vui vẻ cả nhà và vui vẻ dài dài, có gì khó đâu. La hét ngay tại chỗ chỉ mất hòa khí, chẳng ích lợi gì. Những cái sứt mẻ tí ti đó lâu ngày tụ lại thành bể nát.
- Biết vậy nhưng không nhịn được...
- Mầy nói chuyện ngộ thiệt, biết vậy mà không chịu nhịn là sao?
- Không phải ai cũng làm như mầy được. Tụi tao đều biết mầy không giống ai. Mấy thằng chưa biết mầy, nghe nói vợ chồng mầy không bao giờ cãi nhau, tụi nó đếch tin và cho là mầy “pas normal”.
- Tụi nó nói có khi đúng, ở đời cái gì mà có nhiều người nghe, nhiều người làm thì cái đó đúng “tiêu chuẩn” của một sự việc “bình thường”. Còn cái thật sự phải là chuyện bình thường nhưng vì chẳng có mấy người “chấp nhận được” thì nó trở thành chuyện không bình thường. Đó cũng chính là cái cốt lõi của thể chế dân chủ: đa số có lý, đa số thắng. Nhờ vậy nên cái đám “ái nam ái nữ” mới được công nhận “cưới hỏi” ăn ở với nhau như những kẻ bình thường. Văn minh thời đại có những chuyện nghịch thiên không ngửi được. Đúng là cái lưỡi không xương, đến cả tình ái, cái dài cái vuông mà nó cũng vo tròn bớp méo được.
- Sẵn đây tao hỏi mầy luôn, mầy làm sao mà nhịn hay vậy?
- Chẳng có gì khó hết, tao đặt mọi việc trên căn bản tình yêu, nếu mầy thật tâm thương yêu bà xã thì phải luôn nhớ điều đó để không bao giờ nói lời xúc phạm đến tình yêu kia. Trong tình yêu còn có sự kính trọng nhau, nếu mầy ý thức đúng mức điều nầy thì mầy sẽ chẳng bao giờ xài xể người mầy đã từng quì gối ôm chân bắt giò, thở dài thườn thượt, xuống sáu câu ai oán ỉ ôi nào là “đài gương soi đến dấu bèo cho chăng”..., theo đuổi trong hồi hộp, lo âu, sầu khổ, ăn không ngon, ngủ không nhắm mắt... Có thằng bạn bảo tao là nó thương vợ lắm, xem bả như, hoặc hơn cả bản thân... Có lẽ chính vì xem bả như thế, nó quên rằng bả là một người bạn đường xa, nên nó rầy rà, nạt nộ vợ nó như kẻ ăn người ở trong nhà! Thương vợ kiểu vô ý thức bất bình đẳng đó thì tao xin can mầy nhé.
- Nghe mầy nói sao dễ quá...
- Thật ra thì chẳng dễ cũng chẳng khó, chỉ có chịu khó suy nghĩ và luyện tập. Chí công mài sắt có ngày nên kim. Tao đã suy nghĩ từ thuở vừa lớn khôn, và tao cũng đã sớm hiểu câu văn ôn võ luyện. Không có gì mà ngày trước ngày sau là đạt được. Đặc biệt cái hạnh phúc gia đình, hay cái hạnh phúc tout court, nó đòi hỏi biết mình, hiểu đời, phải biết cách thương vợ, thương con. Ừ, đến việc yêu thương ngoài những “kiểu”, còn phải biết “cách” nữa, chớ không phải muốn yêu thế nào thì yêu. Mà muốn biết được cái “kiểu cách” đó mầy phải hiểu “đối tượng”, tức phải “biết người biết ta”. Cũng như bất cứ chuyện gì, muốn biết thì phải chịu khó bỏ công quan sát, suy nghĩ. Chỉ có vậy thôi, có gì rắc rối đâu. Cái rắc rối chính là chuyện “đối tượng” không chịu biết, không chịu hiểu như mình. Mà ở đời khi bánh ít đi mà bánh qui không lại thì chuyện cơm không lành canh không ngọt gần như là hậu quả đương nhiên, khó lòng tránh khỏi, bởi vì sức người có hạn, nhường nhịn nhau cũng chỉ tới chừng mực nào đó thôi. Nghĩ cho cùng thì “vạn sự khởi đầu nan”, thưở ban đầu chỉ biết có cái đẹp... sau đó đa số đều gặp phải lắm vấn đề đôi khi nan giải phải đi tới tan vỡ. Họ không nghĩ rằng thường tình những người trời cho đẹp lại hay nông cạn chỉ vì phải lo chăm sóc cái đẹp bên ngoài nhiều hơn cái tâm của họ.
- Mầy triết lý kinh bỏ mẹ! Làm thế quái nào mà biết được ai châm lo cái tâm? Châm lo cái sắc thì lộ liễu dễ biết và dễ lôi cuốn hơn. Một người không đẹp mầy lấy gì bảo đảm tâm họ đẹp, và ngược lại?
- Ai bảo đảm được chuyện đó cho mầy? Chỉ có mầy ráng mở to mắt ra mà quan sát, suy nghĩ. Mầy quên câu “xấu đẹp tùy người đối diện” rồi à? Mầy nên nhớ rằng cái tâm không dễ gì bị tàn phá, chớ cái đẹp nó như sương như khói vậy. Chẳng lẽ mầy không hiểu chuyện đó? Mầy cũng phải biết rằng muốn hiểu được cái tâm của đối tượng thì phải dày công theo dõi. Cái trò quen nhau trong thời gian ngắn, mê tít thò lò rồi lo cưới hỏi ngay kẻo trể thường rất dễ chết. Vả lại ông bà đã dặn “dạy vợ từ thưở ban sơ mới về”. Chờ đến lúc cổ lai hi thì chẳng còn gì để nói nữa.
- Vậy bây giờ mầy bảo tao phải chịu trận cho tới chết à?
- Bộ mầy tính bỏ bả vô viện dưỡng lão cho rảnh nợ hay sao?
- Đôi khi bực quá tao cũng có ý nghĩ đó. Không thì chính tao vô...
- Nầy, tao nói cho mầy biết, làm như vậy là bất nhân, bất nghĩa đó nghe.
- Tại sao vậy?
- Không những bất nhân bất nghĩa mà còn bất xứng nữa. Mầy đã cưới bả chớ bả có cưới mầy đâu! Nhờ bả mầy mới có một quãng thời gian sướng đời, hạnh phúc. Những lúc mầy xa nhà vì chiến cuộc, rồi vì học tập cải tạo, ai lo cho đàn con? Ai lo thăm nuôi mầy đói khổ trong lao tù? Ai sầu ai khổ trong cô đơn? Bây giờ mầy định phủi tay quên hết tình nghĩa ấy ư? Tao nói cho mầy nghe, đây chính là lúc mầy đền ơn đáp nghĩa người mầy từng yêu thương và cũng từng, cũng vẫn yêu thương mầy dù nay có chút khó tánh vì tuổi tác. Tao thấy cũng cần nhắc mầy một chuyện, ngoài tình yêu lứa đôi, mầy nên “đính kèm” tình thương thân phận làm người, rồi mầy sẽ hiểu ra mọi việc dễ dàng hơn. Tao có cảm tưởng đã đòi hỏi mầy quá nhiều. Giờ chỉ cần khuyên mầy ăn ở sao cho đáng mặt “anh hùng”, thế thôi.
Ngồi nghe hai ông bạn già “già mồm” với nhau cũng học được vài điều hay hay.
Có những bạn già nghĩ cũng đáng thương. Già rồi nên sinh ra lẩm cẩm, lại dễ xì nẹt. Có bạn già bực bội vì thế sự đã làm lỡ mất công danh sự nghiệp, đã đến cuối cuộc đời mà vẫn trắng tay, rồi sinh ra cáu kỉnh với vợ con, làm gia đình mất vui vì chuyện không đâu, chỉ vì họ thiếu suy nghĩ chín chắn. Bá nhân bá tánh, biết sao.
Thật ra thì có mấy ai chịu hiểu rằng hạnh phúc gia đình trên hết mọi công danh. Trên tiên cảnh, thiên đàng chỉ có hạnh phúc chớ đâu có công danh. Danh lợi như củ cà-rốt ông phu xe treo trước đầu lừa. Tội nghiệp con lừa bị lừa ra sức kéo xe chạy suốt khoảng đường dài, đôi mắt dán chặt vào mục tiêu, há hốc mồm nước dãi chảy ròng ròng, quên cả thiên nhiên đẹp quanh mình, đưa lão phu xe tới đích rồi mà mục tiêu vẫn còn trong gang tấc.
Những kẻ phàm phu tục tử chỉ thấy hạnh phúc khi họ được công danh. Trong gia đình chẳng ai trọng ai, họ chẳng cần. Con cái có lêu lổng cũng mặc, khôn nhờ, dại chịu, họ chỉ biết lo cho bản thân họ, họ chẳng biết trách nhiệm là cái chi, sẵn sàng hạ mình, dù có phải “đội quần”, để được công danh.
Ba mươi năm sống giữa khu bình dân gồm trên ba mươi sắc dân tứ xứ, quan sát họ quanh năm, đâm ra ngán ngẩm. Tuyệt đại đa số là dân tha phương cầu thực. Nay có chút tiền, nên cũng lên xe (cũ) bóng loáng, cũng ăn diện (áo quần Babou) lòe loẹt như ai, nhưng cung cách thật là khiếp đảm, ngôn ngữ thì nghe điếc ráy luôn. Để quên đi cái quá khứ nghèo hèn, họ chọn lấy một cung cách trái ngược: tự cao, phách lối. Trong môi trường đó làm sao tìm được hai chữ hạnh phúc? Họa chăng chỉ có những thoả mãn nhứt thời, thế thôi. Đúng là đời sống của sinh vật. Nghĩ cho cùng thấy họ thật đáng thương, không được dạy dỗ, học hành họ làm sao hiểu được gì hơn ngoài manh áo miếng cơm.
Nói vậy chứ ngay cả trong số khoa bảng có lắm kẻ cũng chẳng khá hơn bao nhiêu, họ sẵn sàng khom lưng, cúi mặt trước cường địch ngày nào chỉ để được ăn ngon mặc đẹp. Muốn cho con cái họ sau nầy thoát ra khỏi cảnh sống sinh vật đó chỉ có cách giúp chúng nó học hành để chúng nó biết suy nghĩ, nhận ra con đường nào phải theo. Không làm được chuyện đó thì mầm mống loạn lạc vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng khổ nỗi, khi nhìn bộ giáo dục xứ Phú Lang Sa nầy, cũng như nhiều xứ văn minh khác, chỉ chú trọng việc đào tạo chuyên viên, hoàn toàn bỏ ngoài chuyện dạy luân thường, đạo lý.
Vừa mới đây nhân vụ ông lớn của FMI, có nhà báo hỏi một nhân vật trong chính phủ rằng có nên “đạo đức hóa” chính trị hay không, thì ông ta nhanh nhẩu trả lời: “La morale limite notre liberté”. Luân thường đạo lý giới hạn quyền tự do của chúng ta! Còn gì để nói nữa không? Những chuyện nhiễu nhương, trộm cướp, đốt phá... khắp các khu “nhà lá” từ Paris xuống Marseille là hậu quả tất yếu của một nền giáo dục phi luân lý nhưng nhuộm màu sắc chính trị mị dân.
Ai cũng nhìn thấy và ca ngợi tư cách của người dân Nhựt trong lần động đất vừa qua, nhưng không một ai đủ can đảm nghĩ đến chuyện theo gương. Ông kia nói đâu có sai: “luân thường đạo lý cấm đoán chúng ta không được tự do làm điều xằng bậy... Không làm được điều xằng bậy đời sẽ mất vui! Chuyện ông lớn FMI làm bậy ở Nữu Ước, và ở nhiều nơi trên đất Pháp, chỉ là một trong nhiều chuyện hấp dẫn mà chưa ai biết hết đó thôi. Vừa mới đây, cựu Tổng Thống J. Chirac ra tòa lãnh án 2 năm tù treo về tội “lường gạt, biển thủ công quỹ, lạm dụng quyền thế” !... Toàn là những chuyện vô tiền khoáng hậu. Những bậc “cha mẹ dân” của một quốc gia văn minh như Pháp mà còn ăn ở như vậy thì trách ai khác bây giờ?
Đời chỉ vui khi ta được quyền làm bậy!
Hình như đó là một phần định nghĩa của hai chữ tự do ở Châu Âu. Có nhiều chuyện nghĩ tức cười, cởi truồng trên baãi biển cho mọi người ngắm, dù rằng đôi khi cặp vú muớp dài tới rún, da nhăn nheo, nhưng đó là tự do, là văn minh, ở truồng trong rừng rậm là... rừng rú, man ri mọi rợ!
Có một ông bạn già làm thơ nhớ thời son trẻ, nay đã về chiều hối hả ôn lại ngày qua, tìm đường vào cõi tịnh, chuẩn bị cho một ngày “hồn phi phách tán” vào cõi thần tiên...
Nghe chim hót tang bồng rũ áo
Chút bụi trần gạt nốt, chân như...
Rừng phong lặng gió như chờ đón
Lạc bước thinh không hết bụi trần.
(Một Cõi Hư Vô)
Thâm tâm, hảo ý là vậy mà hình thức lại không phải vậy, vì khi nhìn kỹ những gì bạn già làm thì phần muốn “siêu thoát” bị phần muốn “ghi danh hậu thế” lấn át mất. Khi nhìn tấm ảnh của bạn già lại càng thấy bạn không có vẻ gì muốn lánh mặt cuộc đời nầy cả, trái lại bạn vẫn còn tràn đầy nhựa sống, rất phong độ, rất hợp thời trang từ xiêm y đến đầu tóc. Niềm yêu đời vẫn còn rành rành trên khóe mắt, nụ cười, dù chỉ một bước nữa là đạt thành bát thập tướng quân. Mục tiêu của người tìm vào cõi tịnh có khác chi mấy với mục đích của kẻ tu hành: thoát tục? Muốn thoát tục phải diệt dục, nếu vẫn cứ dính dấp với dục, loanh quanh trong những cái tục thì mần răng mà thoát trần được. Thiên hạ đã chẳng gọi là “trần tục” hay sao? Khi tâm chưa tịnh thì chưa thể vào thiền. Ví như con ruồi mắc lưới nhện, càng cựa quậy càng bị siết chặt và cuối cùng bị “nhền nhện làm thịt”. Được vậy cũng sướng đời - như lão Trư Bác Gíái xưa kia cả ngày cứ trốn Thầy đi tìm “ổ nhện”. Nhưng thôi, chuyện muốn thật hay muốn giả vờ của những nghệ sĩ khó ai biết được, bởi vì mấy ông thi sĩ, nghệ sĩ nổi hứng bất tử để rồi ngay sau đó chẳng còn nhớ tới những cuộc tình tục lãng mạn của họ nữa; dù sao thì mấy ổng cũng để lại cho đời những dòng thơ, tiếng nhạc hay. Không thành công thoát tục thì cũng thành danh, chẳng mất mát gì cả. Nói nhỏ mà nghe: thành danh vẫn hơn thoát tục. Thường tình thì ai cũng muốn vừa thoát tục vừa để lại chút danh gì với núi sông.
Tuy nhiên, khi đặt mấy vần thơ ướt át vào bối cảnh của một người vong quốc đã từng có trọng trách trong xã hội, khi tình dân tộc, nợ nước non vẫn còn mê mê ra đó chờ đợi mọi người, thì mấy vần thơ của bạn già nghe ra có cái gì lạc vận, hư vị đăng đắng đúng như cụ Nguyễn Du đã than:
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.
Có khi còn bị hiểu là “thi sĩ bất tri vong quốc hận”. Bạn già đã nhịn nhục trở về thăm lại chốn xưa, những chốn xưa, nhưng chỉ để “nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa”, mơ màng những hình ảnh thân thương của thời son trẻ yêu đương mùi mẫn, chỉ để tìm lại những cảm xúc của một thời hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay, tất cả chỉ nhằm tìm cảm hứng cho nguồn thơ để đời...
Chốn xưa tìm lại tàn hương cũ
Gói ghém thương vào một tứ thơ...
(Hà Nội Thành Đô)
Bạn già đáng được một lời khen: làm sao lại có thể không thấy được - dù có nhắm mắt - những cảnh đau lòng mà cả dân tộc đang chịu đựng để đủ hứng viết thơ tình? Phải chi bên cạnh những dòng thơ chứa chan tình cảm đó, bạn già cũng có (hay sẽ có, mong thay!) mấy vần cảm xúc trước cảnh khốn cùng của muôn dân để đời sau biết đến thì thật vẹn toàn, hay biết mấy. Hay là bạn già nghĩ rằng như thế sẽ làm “ô nhiễm” tập thơ tình, làm rối rấm tâm tư đang cần yên tĩnh tìm vào cõi tịnh?
Kể cũng lạ ông bạn già của tôi muốn tìm vào thiền, vào tịnh mà cứ tiếp tục quanh quẩn trong cõi tình thì mần răng mà thấy đường vào cõi tịnh. Đức Phật đã dạy rồi, tình là bể khổ, con người chỉ có trầm luân trong đó thôi, chẳng khác nào thuyền nhân bị chìm xuồng giữa Thái Bình dương biết đâu là bến bờ để bơi vào; vả lại một khi đã trầm mình vào đó rồi thì còn hơi sức đâu nữa mà bơi với lội. Tôi cũng rất thích thơ với thẩn, nhưng khi nghĩ đến người xưa, lại nhớ tới quê nhà, thế là hình ảnh của Bác lấn át hết cả, nàng thơ hoảng sợ nắm tay người xưa chạy mất, làm cụt hứng ngay, chẳng còn thơ văn đâu nữa, chỉ còn cái cốt nhà binh của một “cọp biển”: chỉ muốn xé xác lũ tam vô buôn dân bán nước. Bạn bè trách tôi thù dai.
Đúng, tôi thù VC rất dai, đầu thai luôn mấy kiếp vẫn cứ thù, không bỏ được. Chúa Phật có vì thế mà phạt tôi vào địa ngục cũng chả sao, đã từng “kinh” qua trường cải tạo rồi, cũng vậy thôi, không ngán. Không làm sao tôi có thể “hòa hợp” được với lũ yêu ma đó; thật ra trong hoàn cảnh hôm nay, nói tới hoà hợp hòa giải với việt cộng thì chỉ có hai hạng người: hạng ngu như bò và hạng ngu hơn bò. Gia đình anh em con cháu đều kẹt lại quê nhà, nhưng tôi nhứt định không về thăm. Bà chị tôi lúc hấp hối thì thào trong điện thoại lời vĩnh biệt và có ý muốn tôi về thăm, tôi cố giữ bình tĩnh trả lời chị rằng tôi rất đau lòng nhưng tôi không làm sao có thể “hạ mình”, nhịn “nhục” xin chúng nó cho phép tôi trở về nhà của tôi thăm chị một lần cuối. Xin chị hiểu cho và miễn chấp.
Những chuyện tình cảm không thiếu đề tài phù hợp với tình cảnh của chúng ta, như chuyện “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, đọc rơi nước mắt và đời sau sẽ thấu hiểu tình cảnh mà cả dân tộc đã hứng chịu dưới sự tàn bạo dã man của cộng phỉ Bắc Việt. Ba thập niên hay ba thế kỷ nào phải là thời gian đủ để chúng ta cho mọi tội lỗi của cộng phỉ, của những kẻ phản bội... đi vào quá khứ để yên tâm an hưởng, phủi tay rảnh nợ nước non và để yên cho những tên phản bội bán nước mỉm cười nơi chín suối? Nghĩa tử nghĩa tận chỉ áp dụng vào trường hợp người dân thường. Đối với những kẻ đã “ghi danh sử sách” thì không có nghĩa tận được, ngàn đời sau thế gian vẫn nhắc nhở, phán xét họ. Bảo rằng nên tôn trọng một xác chết không còn biện bạch được là... dốt, là ngụy biện. Ngày nào lũ buôn dân bán nước còn đó, dân tộc còn thống khổ, ngày đó người “trí thức” vẫn còn món nợ nặng nề trên hai vai không thể chối bỏ, lo thân. Tôi chẳng trách bạn già viết thơ tình cảm riêng tư, mà trách bạn già sao chỉ viết có thế.
Ngòi bút cũng là một vũ khí lợi hại để đánh đổ chế độ phi nhân. Đâu phải ai cầm bút là cũng viết lách được; những ai có biệt tài mà không có tí trách nhiệm thì thật là phí biết bao. Trên trận tuyến hải ngoại chống cộng sản Bắc Việt, những trí thức, những nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo... là những chiến sĩ hàng đầu duy nhứt có khả năng đánh những đòn chí tử vào yếu huyệt của cường địch dù nghìn trùng xa cách, nở nào lại chỉ có làm thơ ca ngợi hay luyến tiếc những cuộc tình riêng tư không thôi sao?
Ngoài trọng trách chứng tỏ cho hậu thế thấy rằng văn học lưu vong vẫn hơn xa văn chương của lũ cộng phỉ dốt nát, dối trá trong nước, trí thức, nghệ sĩ hải ngoại còn phải ghi lại những mẩu chuyện nghịch lý, những mảnh đời tan vỡ đau thương vì bọn cộng nô Bắc Việt như là những chứng tích để hậu thế biết rõ tội ác của chúng và hiểu thế nào là cộng sản để không bao giờ tái phạm lỗi lầm hôm nay. Ghi lại những chiến tích oai hùng của quân dân miền Nam đã từng đánh đuổi lũ “chó cắn trộm” cộng nô tả tơi manh giáp trong ngày Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ lửa để hậu thế không bị tuyên truyền đầu độc của bọn phản chiến rằng chỉ có “Mỹ đánh giặc” ở Việt Nam...
Nói vậy chứ cũng còn có những kẻ đã từng ở trong hàng ngũ chúng ta, từng bị thân bại danh liệt, tàn gia bại sản, nay thoát được ra ngoài tưởng đã hồi sinh sáng mắt; thế nhưng sau mấy thập niên ăn no ngủ kỹ một số bỗng dưng nổi hứng lớn tiếng ồn ào rằng họ biết ơn cộng phỉ có công thống nhứt đất nước (Trời đất!? Phải kêu trời mới được), hay rêu rao hòa hợp với lũ cướp của giết người! Lại còn lớn tiếng chê bai thiên hạ chống cộng “thấp” chỉ vì những người nầy đã lấy lá cờ máu của cộng phỉ bịt khu, che mông!
Vậy là khi muốn chống cộng “ cao” phải đội lá cờ máu trên đầu sau đó muốn chống gì mặc tình? Tôi chẳng biết có cách chống cộng nào gọi là “cao”? Có thể như thế nầy: các nhà trí thức đó họ chỉ chống cộng bằng ngòi bút, bằng mồm nhưng trong cung cách “cao”, nghĩa là chỉ nói xa nói gần, né tránh trực tiếp kể tội ác đích danh lũ buôn dân bán nước. Họ chỉ trích nhẹ nhàng đến độ người bị chỉ trích cũng không biết mình bị xài xể; và thiên hạ cũng chẳng biết là họ chống cộng, phải chờ họ giải thích rằng khi họ viết thế nầy, nói thế kia là họ có “ẩn ý” chống cộng. Hay là họ cung kính dâng kiến nghị lên giặc cộng yêu cầu chúng tự sát để cho dân sống? Vậy là vui vẻ cả đôi bên, khi cần về nước du hí người chống cộng “cao” không sợ bị các đồng chí làm khó dễ. Họ chỉ có bổn phận không theo giặc cộng, chứ có ai buộc họ phải chống cộng đâu. Họ cứ yên tâm viết văn, làm thơ, nghiên cứu bất cứ gì họ thich.
Chuyện gì phải mặc cảm. Nếu có mặc cảm chăng là vì trước 75 họ cũng đã từng chống cộng “cao” như thế: họ tìm đủ mọi cách để phục vụ ở hậu phương, nếu “trốn lính” được càng hay. Thế mới biết cái ngu si, hèn hạ của con người nó vô biên như vũ trụ. Thật ra thì dân trí của phe ta, dù ở cấp nào đi chăng nữa, cũng chưa cao. Dù biết thượng cấp, anh em phe ta làm bậy, nhưng cũng cứ đứng sau lưng ủng hộ! Phe ta xem tự ái to hơn Thái sơn nhiều. Trái lại hai tiếng phục thiện nhỏ tí xíu. Vả lại vào thời đại nguyên tử, lằn ranh thiện-ác đã mờ mịt: gian ác như Hồ tặc vẫn có lắm kẻ tôn thờ, Thiên Chúa vẫn bị người xỉ vả...
Từ kế kỷ 19, 20 những Marx, Engels, Lénine, Martov, Troski, Plekhanov... đều bị lưu đày hay di tản ra hải ngoại, nhưng họ đã không ngớt dùng ngòi bút và tâm trí để khơi động cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Marx chẳng biết làm thơ như Sosso (tục danh của Staline, một bút hiệu thường dùng trong nhiều bút hiệu của Djougachvili), chỉ biết triết lý và cách mạng; trong lúc Engels vừa là triết gia vừa là một nhà tư bản chủ nhân một xưởng dệt đồ sộ trên đất Anh. Nhờ giàu có nên Engels gần như cấp dưởng Marx và vợ con suốt đời để cuối cùng cả hai gầy dựng nên thuyết mát-xít làm phương châm chỉ đường cho giới công nhân thế giới làm loạn.
Đầu năm 1848, thợ thuyền nổi dậy ở Paris; vua Louis Philippe phải từ bỏ ngai vàng. Phe làm loạn buộc chính phủ phải bỏ hai màu xanh trắng của quốc kỳ, chỉ giữ lại một màu đỏ, nhưng ngoại trưởng Lamartine dứt khoát không chấp nhận lá cờ màu máu, ông bảo đó là cờ của đảng phái, không thể là quốc kỳ. Nhà thi sĩ lại cũng đã phán một câu rằng “vô sản là tiếng nguyền rủa vô luân, hạ cấp, gớm ghiếc cần được xóa bỏ khỏi ngôn ngữ, và trong xã hội cũng phải dần dần làm cho không còn có một người vô sản nào nữa”. Engels tức mình gọi Lamartine là “tên phản tặc văn hay”. Engels là cha đẻ của chủ trương “đấu tranh giai cấp”, tuy là đại tư bản nhưng mang trong người dòng máu cách mạng... vô sản! Cái mới lạ. Phần Staline, y có một giọng hát như ca sĩ, có biệt tài làm thơ như thi sĩ, chỉ với hai tài đó y phải là một nghệ nhân; nhưng trong y, cái bản chất tàn ác lạ thường hoàn toàn lấn át bản chất của người nghệ sĩ và Staline đã trở thành một tên đồ tể khét tiếng: mới 18 tuổi đã rời bỏ chủng viện, nơi mẹ ông gởi gắm để học hành thành cố đạo, và tổ chức đánh cướp ngân hàng, sát hại binh sĩ, lấy tiền để làm... cách mạng.
Đã sinh ra tên đồ tể Staline, trời lại sinh thêm Lénine với bản chất thô bạo cũng khác thường, và cặp bài trùng đó đã gây nên bao nhiêu tan tóc cho dân Nga và nhân loại. Lénine, Staline và các đồng chí ở Nga nổi lên lật đổ Nga hoàng trong một cuộc cách mạng đầy máu lửa lan tràn trên khắp thế gian. Cũng chỉ vì Nicolas II mù tịt về tình trạng của xã hội, của dân Nga nên đã phạm một lỗi lầm tài trời vào ngày Chủ Nhật 9/1/1905 khi đông đảo dân Nga kéo nhau đến trình “thỉnh nguyện thư” yêu cầu Nga hoàng cải tổ chính trị trong tinh thần “hòa hợp hoà giải” không một mải may nào có ý làm loạn. Thế nhưng Nga hoàng, vì mặc cảm do nhiều cuộc đình công rối ren trước đó, lại ra lịnh cho binh lính “giải tán biểu tình” bằng súng đạn, gây nên một cuộc thảm sát có đến hàng chục thương vong! Chỉ vài tháng sau,5/1905, giới thợ thuyền thành lập tổ chức mang tên Sô Viết đầu tiên.
Trong Sô Viết của thành phố Pétersbourg, Troski và Nosar cho phát hành tờ tuần san Izvestia sovieta. (Tờ báo nầy vẫn còn sống sau khi Liên bang sô-viết sụp đổ). Thế mới biết trí thức bao giờ cũng dùng ngòi bút để mở đường đấu tranh. Khi Troski bị bắt, thì một nhóm khác với Gorki, Bogdanov, Minski cho ra một tờ báo mà chủ bút là bà vợ thứ hai của Gorki, kịch sĩ Maria Andreeva. Đến cuối năm đó Lénine mới trở về Pétersbourg và lập tức lăn xả vào viết báo liên tục với những tờ Luồng Sóng (Volna), Tiếng vang (Ekho), Vô sản (Proletarii)... Chính Lénine đã đặt mục tiêu sau cùng là chuyên chính vô sản, không có một đồng chí nào đủ sức lèo lái y ra khỏi 4 tiếng đó, mục tiêu đó.
Chỉ với mấy chữ vàng đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của vài ba “tư tưởng gia” từ hai thế kỷ trước mà đến nay dân Việt vẫn còn hứng chịu hậu quả khóc liệt chưa biết đến bao giờ mới hết. Trí thức không thể thiếu vắng trong bất cứ một cuộc đấu tranh nào, dù gây họa hay tạo phúc cho muôn dân. Nhưng không phải trí thức nào cũng có khả năng làm được việc đó; dân ta còn quá chậm tiến, nhút nhát, cầu an, nhứt là sợ sệt... Người dân Bắc Phi đã không sợ, chấp nhận hy sinh, cùng nhau hàng trăm ngàn ngày ngày, tháng tháng xuống đường cho đến khi nào bạo quyền phải lui bước mới thôi. Dân ta có lẽ không bao giờ dám xuống đường như vậy, nên chuyện đấu tranh giai cấp của Engels và chế độ vô sản nhập cản của Lénine sẽ có triển vọng tồn tại lâu dài trên quê hương...
Nhưng thôi, chuyện nước non cũng như chuyện văn thơ, không phải ai cũng biết nghĩ, biết làm. Mỗi người có đóng góp một chút gì đó là quí lắm rồi. Từng tuổi bát thập mà còn viết lách như ông bạn già của tôi đã là đáng khen. Thường tình khi vào lứa “cổ lai hi”, nếu không ra sức già cố quơ quào hưởng thụ một “cú đẹt”, thì đa số chỉ còn biết chăm sóc lấy thân già, của mình và của người bạn đường từ nửa thế kỷ trước. Luẩn quẩn có bấy nhiêu đó việc mà có khi còn làm chưa ổn, mong gì chuyện lớn. Mỗi sáng tỉnh giấc, chống tay ngồi dậy, bước xuống giường đi tới nhà tiêu được và “ể” được là mừng cho ngày đó máy còn tốt. Chưa bị Alzheimer hay “đột quị” nằm liệt giường, xụi lơ cán cuốc là vui lắm rồi.
Đông Vân Nguyễn Văn Dõng
