• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

Ngựa (BÁT SÁCH)

March 2, 2026 Ninh Tran

Ngựa


Một kỷ có 12 con giáp. Mỗi độ xuân về, các báo thi nhau viết về con giáp của năm sắp tới, và Tập San Y Sĩ cũng không tránh khỏi thông lệ đó.


Bát Sách đã viết hai bài về con dê và con trâu; Năm Mùi Bát Sách cà kê dê ngỗng đủ thứ để chọc cười thiên hạ. Năm Sửu, Bát Sách tản mạn về mấy câu ca dao tục ngữ có liên quan tới con trâu. Sang năm Ngọ, Bát Sách vừa đủ một giáp, lên lão, nên lại viết một chút về con giáp mà mình cầm tinh. Bát Sách không nhắc tới ca dao tục ngữ, không nói đến các giống ngựa hay như ngựa Đại Uyển, ngựa Mông Cổ, mà viết về những con ngựa nổi tiếng trong lịch sử và tiểu thuyết.


Trong thần thoại Hy Lạp, người ta kể chuyện con ngựa thành TROIE. Hồi đó, đế quốc Hy Lạp vây thành TROIE đã 10 năm mà không hạ nổi. Sau, Ulysse dùng mưu, làm một con ngựa thật lớn, rỗng bụng, để các dũng sĩ núp ở bên trong, rồi giả thua, cho Hector chiếm ngựa đem vào thành. Đêm đến, Ulysse cùng các chiến hữu chui ra, giết quân canh, mở cổng thành để quân Hy Lạp tràn vào. Thành TROIE bị chiếm, và người đẹp Hélène qua tay người khác.


Ở Việt Nam, ai cũng biết con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên Vương, người anh hùng đã đánh đuổi giặc Ân, cứu nước. Phù Đổng Thiên Vương được quân lực Việt Nam Cộng Hòa tôn vinh làm Thánh tổ của ngành thiết giáp, binh chủng xung kích mũ đen rất hào hùng mà Bát Sách đã hãnh diện phục vụ trong 2 năm đầu của đời quân ngũ.


Đời Trần, sau khi oanh liệt đánh bại quân Mông Cổ lần thứ hai, Thánh Tông và Nhân Tông trở về đế đô hoang tàn, thấy những con ngựa đá ở hoàng thành cũng tang thương, vương đầy bùn đất, tưởng tượng rằng ngựa đá cũng vì dân vì nước mà tham chiến chống ngoại xâm; Thượng hoàng Thánh Tông đã cảm tác 2 câu thơ:


Xã tắc lưỡng bồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.


Xã tắc hai phen bon ngựa đá

Non song muôn thủa vững âu vàng.


Trung Hoa, xứ của những huyền thoại, có rất nhiều con ngựa nổi tiếng. Trong Anh hùng xạ điêu, Quách Tĩnh cưỡi Hãn huyết bảo câu - Bát Sách nghĩ phải gọi là Huyết hãn bảo câu mới đúng, vì con ngựa nầy có mồ hội đỏ như máu. Hình như đó là một loại ngựa Mông Cổ đặc biệt, vóc nhỏ nhưng khỏe và chạy rất nhanh, nên tuy chở cả 2 vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung mà các ngựa khác không theo kịp. Cặp vợ chồng này sát cánh nhau, len lỏi trong chốn giang hồ, nhờ Huyết hãn bảo câu mà nhiều phen thoát hiểm.


Thuyết Đường là một bộ tiểu thuyết, nửa lịch sử, nửa hoang đường, trong đó có nói tới 2 con ngựa rất đặc biệt:


Hô lôi báo là ngựa của Thượng Sư Đồ, tướng nhà Tùy. Con ngựa này đuôi sư tử, lông loang lổ như lông báo, cái bướu trên đầu có chùm lông trắng. Khi giao tranh, nếu bất lợi, Thượng Sư Đồ nhổ một sợi lông trên bướu, Hô lôi báo sẽ gầm lên như sấm, phun khói đen mù mịt, làm ngựa của đối phương ngã lăn ra. Tần Thúc Bảo, tướng nhà Đường, nhiều lần dùng mưu mới cướp được Hô lôi báo- Trình Giảo Kim, bạn Tần Thúc Bảo, vì thù Hô lôi báo làm mình ngã ngựa, đã lén nhổ hết chùm lông trắng nên nó hầu như bị câm, cả đời chỉ gầm thêm được có 3 lần.


Mộc vĩ câu là ngựa của Tả Hùng, đại tướng Cao Ly. Ngựa nầy không có đuôi- khi chủ vỗ mông thì nó thét lên một tiếng, và lòi cái đuôi cứng như gỗ, dài hơn một trượng, bất thần quật vào đối phương. Trong trận tranh võ trạng ở Dương Châu, Ngữ Vân Thiệu là anh hùng thứ 5 đời Tùy Đường, bị đuôi của Mộc vĩ câu đập chết. Khi đó, Tần Thúc Bảo cưỡi Hô lôi báo ra đấu với Tả Hùng. Anh này cũng dùng miếng cũ định giết đối phương, nhưng Thúc Bảo, vì đã đề phòng nên tránh thoát. Đuôi của Mộc vĩ câu đánh trúng đầu Hô lôi báo. Hô lôi báo đau quá, gầm lên một tiếng, Mộc vĩ câu ngã lăn ra, quăng Tả Hùng xuống đất : chủ và ngựa đều bị Thúc Bảo đảm chết.


Thời Hán Sở tranh hùng, nổi tiếng nhất là ngựa Ô Truy của Hạng Vũ. Con ngựa này liên quan đến một thiên tình sử tuyệt đẹp, vừa hào hùng, vừa bi thảm. Ngày đó Hạng Vũ còn trẻ tuổi, chưa có tiếng tăm gì, nhân đi qua thôn Nam-Phụ, đã giúp dân trừ một con quái vật thường đến giết người và phá hoại mùa màng. Thật ra, quái vật đó chỉ là một con thần mã rất cao lớn, hùng dũng, lông đen tuyền mà Hạng Vũ đặt tên là Ô Truy. Vì tướng mạo oai phong, vì tài nghệ siêu quần, vì có công với dân làng mà Hạng Vũ lọt vào mắt xanh của người đẹp Ngu Cơ, và hai người nên duyên cầm sắt. Trong suốt thời gian chinh chiến, tranh hùng với Lưu Bang, Hạng Vũ với Ngu Cơ lúc nào cũng sát cánh như hình với bóng.


Tại Cai Hạ, Hạng Vũ bị quân Hán vây khổn, nhưng binh lực chưa đến nỗi kiệt quệ. Với tài vũ dũng của mình, Hạng Vũ vẫn có thể phá vòng vây, trốn thoát để chờ ngày phục hận. Đêm đó, trời thu buồn man mác, sương lạnh mịt mờ, chợt có tiếng tiêu của Trương Lương (tướng Hán) văng vẳng từ xa vọng lại, tiếng còn, tiếng mất rất bi ai não nùng, toàn những điệu ca buồn của nước Sở. Quân của Hạng Vũ, vốn người Sở, nghe tiếng tiêu động tình hoài hương từ từ bỏ trốn hết... Lúc gần sáng, Hạng Vũ chỉ còn hai tướng Chu Lan, Hoàn Sở và 800 đệ tử ở bên mình.


Hạng Vũ sai bầy tiệc, cùng Ngu Cơ đối ẩm. Lúc đó, Hạng Vũ dường như nản chí, tuyệt vọng, than thở cùng Ngu Cơ:


Lực bạt sơn hề ! khí cái thế.

Thời bất lợi hề ! Truy bất thệ,

Truy bất thệ hề ! khả nại bà ? Ngu hề !

Ngu hề ! nại nhược hà ?


Cụ Tản Đà dịch như sau:

Sức nhổ núi chừ! Hùng khí đời ai bì

Thời không lợi chữ! Con ngựa Truy không đi.

Ngựa Truy không đi chừ! Biết làm sao ?

Ngu Cơ chứ! Ngu Cơ. Tính làm sao?


Ngu Cơ họa lại trong tiếng nấc nghẹn ngào:

Hán binh dĩ lược địa,

Tứ diện Sở ca thanh.

Đại vương chí khí tận.

Tiện thiếp bà tiêu sinh ?


Bài này, Bát Sách mạn phép dịch thoát theo thể lục bát:

Hán binh làm chủ chiến trường

Điệu ca nước Sở bốn phương não nùng

Đại vương chí khí đã cùng

Thiếp xin liều thác tạ lòng tri âm.


Sau đó Ngu Cơ tự sát bằng chính thanh gươm của Hạng Vũ. Hạng Vũ đau đớn phẫn hận, nhảy lên Ô Truy, phá 8 vòng vây quân Hán mà không ai địch nổi. Hai tướng thân cận bị vây khổn, đã liều mình, các đệ tử cũng lần lượt gục ngã. Chiều tối, khi chạy đến một ngôi chùa hoang, Hạng Vũ chỉ còn 9, 10 đệ tử. Để Ô Truy nghỉ ngơi, Hạng Vũ cặm cụi mài gươm, chuẩn bị cho cuộc chiến mất còn sắp tới. Sáng ra, quân Hán trùng trùng điệp điệp reo hò đuổi theo. Hạng Vũ vừa chiến đấu vừa chạy đến Ô Giang. Có người đình trưởng đậu thuyền đợi Hạng Vũ, khuyên Hạng qua sông. Thấy tình hình đã tuyệt vọng, nhưng với tinh thần bất khuất, Hạng quyết định ở lại tử chiến, đem ngựa Ô Truy tặng đình trưởng. Ô Truy nhìn chủ, mắt buồn vời vợi... Khi thuyền đến giữa sông, nó nhẩy xuống nước trầm mình, Hạng Vũ sau đó cũng tuẫn tiết. Bên bờ Ô giang, còn ma kiếm thạch là nơi Hạng Vũ mài gươm. Nơi phần mộ của Ngu Cơ, mọc lên một loại cỏ xanh tuyệt đẹp, gọi là Ngu mỹ nhân thảo. Người sau gọi mộ Ngu Cơ là Thanh trủng, vì ở đó cỏ màu xanh, trong khi ở chung quanh toàn là cỏ màu vàng.


Đời Tam Quốc, có Đích Lư và Xích Thố


ĐÍCH LƯ là con ngựa cao lớn, vạm vỡ, cực kỳ hùng dũng của Trương Vũ. Trương bại trận, Triệu Vân cướp được ngựa, dâng cho Lưu Bị là chủ tướng của mình. Lưu Bị lúc đó còn hàn vi, nương nhờ Lưu Biểu nên lại đem ngựa dâng Biểu. Biểu thích lắm đi đâu cũng cưỡi. Có người xem tướng ngựa giỏi là Khoái Việt tâu với Biểu:


Con ngựa này, dưới mắt có vũng chứa lệ, trán có điểm trắng, chính là giống Đích lư hại chủ, chúa công không nên cưỡi.

Biểu nghe vậy, sợ lắm, đem Đích lư trả lại Lưu Bị. Có người đem lời Khoái Việt mách với Lưu Bị, Bị khẳng khái trả lời:

Tiên sinh yêu mà dạy cho, Bị xin thâm cảm tấm lòng; nhưng nghĩ người ta sống chết có số mạng, há một con ngựa có thể hại nổi.


Bị tuy được Biểu tín cẩn, nhưng vợ Biểu và các tướng chỉ muốn giết Bị để trừ hậu hoạn, vì họ biết Bị là tay anh hùng, có chí lớn. Một lần, các tướng của Biểu đuổi gấp, Bị một mình một ngựa chạy tới Đàn Khê thì đường cùng. Bị giục ngựa xuống khe, tính lội qua thì ngựa sa lầy, Bị đã than:


Mày thật là giống hại chủ. Đích lư, Đích lư hôm nay hại ta rồi !

Ngựa bỗng vọt lên, nhảy qua khỏi Đàn Khê. Bị thoát nạn và gặp Tư Mã Huy, người đã giới thiệu cho Bị sau này tìm được Phục Long Gia Cát Lượng và Phượng Sồ Bàng Thống là hai quân sư đại tài. Tiếc rằng truyện không nói Đích lư về sau ra sao. Khi vào chiếm Tây Thục, Bị đã đổi ngựa cho Bàng Thống lúc xuất quân, Thống và ngựa đều bị loạn tên mà thác ở Lạc Phượng Ba. Chả hiểu con ngựa chết đó có phải Đích lư hay không?


XÍCH THỐ: Là con ngựa toàn thân đỏ như lửa, không một sợi lông tạp màu, dài một trượng, cao 8 thước, oai dũng như rồng như hổ, ngày đi ngàn dăm. Xích Thố vốn của Đổng Trác, chức Thái sư nhà Hán. Lúc đó, Đổng Trác đang kình địch với Đinh Nguyên, cha nuôi của Lã Bố. Bố là người rất khỏe, nhưng hữu dũng vô mưu, lại bất nhân bất nghĩa nên Lý Túc, bộ hạ của Trác, khuyên Trác đem Xích Thố tặng Bố để dụ hàng. Quả nhiên, Bố giết Đinh Nguyên, theo Trác, và lại nhận Trác làm cha nuôi. Sau Tư Đồ Vương Doãn dùng mỹ nhân kế, cho Điêu Thuyền quyến rũ cả Trác lẫn Bố để hai tên này ghen mà giết nhau. Kẻ bất nghĩa Lã Bố, một lần nữa, lại giết cha nuôi là Đổng Trác. Sau đó loạn lạc lung tung. Khi Lã Bố bị Tào Tháo, lúc đó là Thừa tướng nhà Hán, giết chết, Xích Thố về tay Tháo.


Quan Công, em kết nghĩa của Lưu Bị, khi bị Tháo vây khốn ở Thổ Sơn, thế cùng lực kiệt phải đầu hàng. (Quan Công tên Vũ, trước khi kết nghĩa với Lưu Bị làm nghề bán đậu hũ, được dân Tàu kính trọng, kiêng tên nên gọi như vậy). Tháo vốn yêu tài Quan Công nên rất hậu đãi, 3 ngày một tiệc nhỏ, 5 ngày một tiệc lớn và đem tặng con ngựa Xích Thố. Lúc đó, Lưu Bị thất lạc, Quan Công phải bảo vệ gia đình nghĩa huynh, phò nhị tẩu, vợ của Bị là Cam và My phu nhân. Tháo vốn là tay thâm hiểm, để Quan Công ở chung nhà với chị dâu, tạo dịp cho xẩy ra việc loạn luân. Theo truyền thuyết, đêm đêm, Quan Công chẻ cây nến làm hai, một nửa để phòng nhị tẩu, một nửa để phòng mình, đọc sách. Khi Quan Công dò được tin Lưu Bị, ông treo ấn “Hán Thọ Đình Hầu” ở giữa nhà, quá ngũ quan, trảm lục tướng, vạn dặm tìm nghĩa huynh.


Khi thế chân vạc đã thành 3 nước là Ngụy (Tào Tháo), Ngô (Tôn Quyền), Thục (Lưu Bị) chia 3 nước Tàu, sử gọi là thời Tam quốc. Quan Công trấn thủ Kinh Châu 20 năm, sau bị tướng Ngô là Lã Mông, Lục Tốn dùng mưu, cướp Kinh Châu, Quan Công thua, chạy về Mạch Thành. Trên đường vào Thục, Quan Công bị phục kích. Quân Ngô dùng thừng và mác móc chân Xích Thố, Quan Công ngã ngựa bị Mã Trung bắt được. Xích Thố lúc đó về tay Mã Trung, nhưng ngựa thương chủ bỏ ăn mà chết.


Quan Công với xích thố, và Quan Bình, Chu Xương có rất nhiều huyền thoại. Dân Trung Hoa thờ ông khắp nơi. Đôi câu đối nói về ông rất được truyền tụng:

XÍCH diện bỉnh XÍCH tâm, kỵ XÍCH thố truy phong, trì khu thời vô vong XÍCH đế.

THANH đăng quan THANH sử, trượng THANH long yểm nguyệt, ẩn vi xứ bất quý THANH thiên.

(mặt đỏ như lòng son, cưỡi ngựa xích thố truy phong, rong ruổi nơi đâu cũng không quên xích đế (vua Hán). Bên đèn xanh, đọc sử xanh, cầm đao rồng xanh vành nguyệt, dù ở nơi vắng vẻ nào cũng không thẹn với trời xanh).


Viết đến đây, Bát Sách nghe lòng bùi ngùi. Đọc lại sách vở, người ta có khi buồn man mác, có khi phẫn hận, có khi thương cảm, có khi băn khoăn tự hỏi tại sao định mệnh trớ trêu để dòng lịch sử có trăm điều ngang trái.


Hạng Vũ với Lưu Bang chẳng hạn. Các sử gia thường cho rằng, Hạng Vũ vì bất nhân, tàn bạo nên thất bại, Lưu Bang vì nhân nghĩa mà thành công. Sự thật chưa hẳn đã đúng như vậy. Người ta trách Hạng Vũ đã chém Tống Nghĩa và giết Nghĩa đế. Tống Nghĩa là đại tướng, có nhiệm vụ cứu nước Triệu, nhưng chần chờ không chịu tiến quân, Hạng Vũ chém Tống đem quân cứu được nước Triệu. Chém một người mà cứu được cả nghìn người khỏi bị chết oan vì chiến bại, đó chính là quyết định hợp thời của một đại tướng có tài. Nghĩa đế là một đứa trẻ, dòng dõi vua Sở, được Hạng Lương, chú của Hạng Vũ, tôn lên làm vua. Trong khi Hạng Vũ xông pha trận mạc, trăm chết một sống, để cướp đất chiếm thành thì Nghĩa đế ngồi hưởng phú quý, lại còn lên mặt tác oai tác phúc thì nếu ở địa vị Hạng Vũ, mọi người bình thường có lẽ cũng sẽ làm như vậy. Vũ giết Nghĩa đế cũng như vua Lê Thái Tổ của ta giết Trần Cao mà thôi. Sự thể nó phải như vậy, có chỉ mà gọi là ác.


Nếu Hạng Vũ bất nhân thì đã giết chết Lưu Thái Công và Lã hậu, là cha và vợ của Lưu Bang, khi hai người này lọt vào tay Hạng, và chính Lưu Bang cũng không toàn mạng khi hội yến ở Hồng Môn. Lưu Bang nhân ở chỗ nào ? Khóc Nghĩa đế, khóc Hạng Vũ, chỉ là nước mắt cá sấu. Nếu Bang có nhân có nghĩa, thì đã không giết Hàn Tín là người có công lớn trong việc tranh bá đồ vương của mình. Lưu Bang cũng như cộng sản ngày nay, toàn lên giọng giả nhân giả nghĩa, vì nước vì dân để lừa thiên hạ. Hạng Vũ thua chỉ vì không có mưu thần phò tá. Lưu Bang thắng nhờ công sức của Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà.


Giờ đến truyện Quan Công. Ông là bố nuôi của Bát Sách. Số là ngày xưa, song thân của Bát Sách sinh được 2 gái rồi bằng đi 5 năm, không sinh nở gì nữa. Các cụ thường nói “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” nghĩa là bất hiếu có 3 không con nối dõi là tội lớn nhất. Song thân Bát Sách lúc đó rất lo buồn. Nhờ một bác sĩ Pháp là Paterson điều trị, thân mẫu Bát Sách khỏi bệnh nên mới có người viết bài ngày nay ! Song thân của Bát Sách đâu biết rằng, sau Bát Sách còn mấy thằng em trai nữa, nên khi Bát Sách ra đời, hai cụ bèn đem Bát Sách lên đền Quan Thánh, tức là đền thờ Quan Công, bán Bát Sách cho ông để ông bảo vệ. Tuy là con nuôi Quan Công, nhưng đọc Tam Quốc Chí thấy họ khen Quan Công quá mức, những chỗ khen nhiều khi gượng gạo làm Bát Sách cũng thấy khó chịu. Họ khen ông trung nghĩa, nhưng khi thất trận ở Thổ Sơn, ông đã hàng Tào Tháo. Một trong những điều kiện ông đưa ra là “Hàng Hán chẳng hàng Tào”. Lúc đó, ông đang phò Lưu Bị, còn Tào Tháo là Thừa tướng nhà Hán. Dù Tào Tháo lộng hành, ép chế vua Hán, điều kiện của ông vẫn có vẻ ấu trĩ và hoạt kê. Họ khen ông là quang minh chính đại, phò nhị tẩu mà không làm điều ám muội. Thời gian ông thất lạc với Lưu Bị, cùng nhị tẩu ở Hứa Xương là 12 năm ! Thời gian này quá dài, liệu ông có giữ được cho mình trong trắng?


Bát Sách hỏi như vậy là có lý do. Theo “Tam Quốc ngoại truyện” La Quán Trung, tác giả Tam Quốc, khi viết đến đoạn Quan Công phò nhị tẩu, đã viết không giống với truyện ta đọc ngày nay. Một đêm, họ La mơ thấy Quan Công hiện về khẩn khoản “xin tiên sinh nhẹ tay nên họ La mới xé hết đoạn đã viết và viết lại. Có thể Quan Công là một tướng tài (trấn thủ Kinh Châu 20 năm), rất can đảm (để Hoa Đà mổ tay, nạo xương mà không cần thuốc tê) nhưng ông tự cao tự đại một cách quá đáng. Chẳng hạn, khi Tôn Quyền cho người sang cầu thân, xin cưới con gái Quan Công cho con trai mình, Quan Quân đã mắng sứ giả:


Con gái ta là giống hùm, ai gả cho giống chó.

Mà lúc đó, Tôn Quyền làm vua nước Ngô, còn Quan Công tuy trấn thủ Kinh Châu, nhưng xuất thân chỉ là người bán đậu hũ. Lại nữa, lúc thua trận, chạy thất điên bát đảo tới Mạch Thành, tìm đường về Thục, các tướng khuyên đi đường nhỏ để tránh phục binh, Quan Công còn nói: dẫu có phục binh, ta há sợ gì ?


Sơ sơ thế thôi, Bát Sách không dám viết nhiều, sợ mang tội bất hiếu với nghĩa phụ.


Đang nói về ngựa mà lại xoay qua tản mạn về người và việc thì quả nhiên Bát Sách vẫn còn...bát sách.


Trở lại chuyện ngựa. Hết ngựa hay thì đến phiên 3 con ngựa hèn là Bát Văn, Bát Vạn và Bát Sách. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã nên 3 con ngựa này mới gắn bó với nhau. Hồi ở Việt Nam cả 3 tung vó từ Bắc vào Nam, chạy cùng trời đất. Sau ngày quốc hận, lại vượt biển tới Mỹ châu. Đang là ngựa hoang, tự do phơi phới, giang hồ quen thói vẫy vùng, nhất đán bị đeo hàm thiếc, tròng dây cương, bịt mắt. Ngựa hoang bèn thành ngựa kéo xe ! Ngựa Bát Văn còn đỡ, được chủ khéo nuôi, có da có thịt. Ngựa Bát Vạn và Bát Sách thì than ôi, gầy trơ xương, ngày ngày khập khễnh kéo xe thổ mộ. Mỗi khi nhìn bức tranh “Thiên mã hành không” con ngựa què về già không khỏi ngậm ngùi nhớ về dĩ vãng.


Nhưng thôi, năm ngựa tới rồi, xin chúc quý vị khỏi phải làm thân trâu ngựa, và chúc cho các ngựa khác đỡ phải kéo xe: mà ví dầu có phải kéo xe đi nữa thì đừng có ai nhè bánh xe mà thọc gậy.


BÁT SÁCH

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Ngựa, Bát Sách
Comment

Nỗi Lòng Chinh Phụ (Bát Sách)

October 26, 2025 Ninh Tran

Nỗi lòng chinh phụ- Bát Sách

Hồi ở Việt Nam, Bát Sách có 7 năm lính. Ngày đó Bát Sách còn độc thân, sống rất tự do, thoải mái, chỗ nào cũng là nhà, ở đâu cũng vui. Tuy phóng túng, ham vui và hời hợt, Bát Sách lại rất yếu lòng, nên có những phút nghẹn ngào xúc động mà suốt đời không quên được: đó là lúc thấy những người vợ tay xách, nách mang, lếch thếch từ quê lên thăm chồng mà không gặp, vì chồng đi hành quân; đó là lúc thấy những người vợ nuôi chồng bị thương, ban đêm nằm co quắp dưới chân giường, thao thức; đó là lúc thấy những người vợ trẻ, mặt mày hốc hác, đầu quấn khăn tang, lên nhận xác chồng, nghẹn ngào khóc không ra tiếng ... Nỗi khổ của người lính VNCH sách vở đã nói nhiều, ai cũng biết. Nhân ngày quân lực năm nay, Bát Sách muốn nói đến nỗi khổ của vợ lính, nỗi lòng chinh phụ. Bát Sách vốn mê thơ Đường, nên trích hầu quí vị mấy bài, mong rằng không đến nỗi làm quí vị thất vọng.

Mở đầu là bài của Vương Xương Linh, có lẽ ai cũng biết :

閨怨                    Khuê oán

閨中少婦不知愁   Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu

春日凝妝上翠樓。        Xuân nhật ngưng trang thướng thủy lâu,

忽見陌頭楊柳色,        Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc,

悔教夫婿覓封侯   Hối giao phu tế mịch phong hầu.

王昌齡                 Vương Xương Linh

(Thiếu phụ trong phòng khuê không biết sầu; ngày xuân trang điểm bước lên lầu thúy, chợt thấy màu dương liễu xanh tươi ở đầu đường, hối hận rằng đã khuyên chồng đi tìm ấn phong hầu)

Bát Sách dịch

Phòng khuê nàng chẳng biết sầu,

Ngày xuân trang điểm lên lầu lang thang,

Liễu tươi chợt thấy đầu đàng,

Hối sao lỡ dại khuyên chàng cầu danh.

Bài này âm điệu nhẹ nhàng, lời thơ trang nhã, quí phái, nỗi buồn của thiếu phụ chỉ thoang thoảng như làn gió xuân lùa qua mái tóc. Bát Sách có cảm tưởng rằng nàng chỉ thấy cô đơn chứ chưa nhớ chồng tha thiết. Trong Chinh Phụ Ngâm, Đặng Trần Côn có mượn 2 câu cuối của bài này mà bà Đoàn thị Điểm dịch như sau:

Chợt ngoảnh lại ngắm màu dương liễu,

Thà khuyên chàng đừng chịu tước phong.

Ngày xưa, phương tiện giao thông còn thô sơ, đi bộ, ngựa, hoặc thuyền, làm gì có xe bus, xe lửa, phi cơ như bây giờ. Chồng đi lính thú ở xa, việc đi thăm là thiên nan vạn nan; lại không có điện thoại viễn liên để lâu lâu tỉ tê tâm sự, do đó các nàng chinh phụ chỉ còn cách gặp chàng trong giấc mộng.

Bát Sách dẫn 2 bài thơ Đường nói về giấc mộng của những người vợ trẻ:

伊州歌-春怨            Y Châu ca - Xuân oán

打起黃鶯兒,            Đả khởi hoàng oanh nhi,

莫教枝上啼               Mạc giao chi thượng đề,

啼時驚妾夢,            Đề thời kinh thiếp mộng,

不得到遼西               Bất đắc đáo Liêu Tê (Tây)

金昌緒             Kim Xương Tự

(Hãy đuổi con chim oanh vàng, đừng để nó hót trên cành cây. Khi hót nó làm kinh động giấc mơ của thiếp, làm thiếp không đến được Liêu Tây để gặp chàng)

Trong ấn bản ở Việt Nam, Thầy Trần trọng San mở đầu bài dịch bằng câu: “Đuổi giùm hộ thiếp con oanh”, Bát Sách rất thích. Trong ấn bản mới ở Canada, Thầy đổi lại như sau:

Đuổi giùm đi cái oanh vàng,

Đừng cho nó hót rộn ràng trên cây,

Làm tan vỡ giấc mơ này,

Thiếp không đến được Liêu Tây với chàng.

Bài này lời đẹp, tình ý nhớ nhung thật nhẹ nhàng, ngây thơ, Bát Sách đoán thiếu phụ còn rất trẻ, và con nhà giàu vì ngôn ngữ cử chỉ của nàng vừa nũng nịu, vừa quí phái. Giấc mơ của nàng cũng nhẹ nhàng như lời thơ, không có tha thiết, đam mê như nàng chinh phụ của Trương Trọng Tố trong bài Xuân khuê tứ:

春閨思                          Xuân Khuê Tứ

裊裊城邊柳,               Niểu niểu thành biên liễu,

青青陌上桑。               Thanh thanh mạch thượng tang,

提籠忘採葉。               Đề lung vong thái diệp,

昨夜夢漁陽。               Tạc dạ mộng Ngư dương.

張仲素                 Trương trọng Tố

(Người chồng đồn trú tại Ngư Dương. Người vợ là một thôn nữ, ngày ngày ra đồng hái dâu nuôi tằm. Hôm nay một mình giữa thiên nhiên bao la, trước phong cảnh hữu tình, nàng lơ đãng quên cả công việc (hái lá dâu) lòng còn ngơ ngẩn vì giấc mộng đêm qua, được tới Ngư Dương gặp chàng ...)

Nỗi nhớ nhung của nàng đậm đà hơn, ray rứt hơn, có ngụ ý đến lòng chung thủy và cả tình chăn gối. Bát Sách mê bài này lắm và dịch như sau đây, mượn lời của Kiều và Chinh Phụ Ngâm:

Bên thành tơ liễu thướt tha,

Ngàn dâu xanh ngắt là đà trên nương,

Quên hái lá, dạ vấn vương,

Đêm qua mộng tới Ngư Dương gặp chàng.

Nàng chinh phụ của Trần Ngọc Lan thực tế hơn, không có mộng mị, nhớ thương vớ vẩn, mà thương chồng bằng hành động. Thấy gió tây lạnh lùng thổi, nàng may áo gởi ra biên cương cho chồng. Nàng viết thư mà lệ rơi tầm tã, chỉ sợ áo đến không kịp.

寄夫                             Ký phu

夫戍邊關妾在吳,        Phu thú biên quan thiếp tại Ngô

西風吹妾妾憂夫            Tây phong xuy thiếp, thiếp ưu phu,

一行書信千行淚,        Nhất hàng thư tín, thiên hàng lệ,

寒到君邊衣到無?          Hàn đáo quân biên, y đáo vô.

陳玉蘭                          Trần Ngọc Lan

(Chồng làm lính thú tại quan ải biên thùy, thiếp ở đất Ngô. Gió tây thổi vào thiếp, thiếp lo lắng cho chồng. Một hàng thư, ngàn hàng lệ. Lạnh đã đến biên cương rồi, áo có đến không?)

Bài này ý tình chan chứa, thật cảm động, nhưng lời thơ thì không được mỹ lệ, bay bướm như mấy bài trước, do đó Bát Sách dịch thoát ý theo thể lục bát cho có vẻ Việt Nam :

Võ vàng em ở đất Ngô,

Anh đi gìn giữ cõi bờ xa xôi,

Gió tây thổi đến tơi bời,

Làm em lo lắng cho người quan san,

Viết thư mà dạ ngổn ngang,

Một hàng thư cả hàng ngàn lệ rơi,

Biên cương giờ đã lạnh rồi,

Áo kia biết kịp đến nơi cho chàng?

Người con gái chỉ có một thời xuân sắc, tựa như đóa hoa phù dung, sớm nở tối tàn ... sự chờ đợi làm da thêm nhăn, mắt thêm quầng, mái tóc bớt mịn màng, óng ả. Mối ưu tư chính của chinh phụ là sự lo sợ cho dung nhan tàn tạ ... Bát Sách xin dẫn 2 bài:

自君之出矣其二            Tự quân chi xuất hỹ kỳ 2

自君之出矣          Tự quân chi xuất hỹ

不復理殘機          Bất phục lý tàn ky (cơ)

思君如滿月,      Tư quân như nguyệt mãn,

夜夜減清輝          Dạ dạ giảm quan huy

張九齡                          Trương cữu Linh

(Từ khi chàng ra đi, thiếp không còn sửa sang khung cửi cũ, nhớ chàng như bóng trăng đầy, đêm đêm bớt dần ánh sáng.)

Lúc đầu đọc bài này, Bát Sách thấy ngang dạ vì cách ví von của tác giả: nàng nhớ chàng mà càng ngày càng giảm thì nguy quá, chẳng lẽ xa mặt cách lòng? Nỗi thắc mắc của Bát Sách được gia phụ giải thích như sau: Nàng chinh phụ lúc này đang độ xuân thì, xinh đẹp mỹ miều như trăng tròn. Nếu nàng phải sống cô đơn, mỏi mòn chờ đợi chinh phu thì nhan sắc của nàng sẽ dần tàn phai như mảnh trăng kia, mỗi ngày một khuyết... Nghe ra có vẻ hợp tình, hợp lý. Tại ông thi sĩ họ Trương làm thơ khó, hay tại Bát Sách lờ quờ? Có lẽ tại cả hai. Đây là bản dịch của Bát Sách:

Từ anh cất bước lên đàng

Từ anh cất bước lên đàng

Chiếc khung cửi cũ chẳng màng nhúng tay

Giờ em như mảnh trăng đầy,

Đêm đêm thương nhớ hao gầy dung nhan.

Trong bài Khuê Tình của Lý Bạch, chinh phụ nói rõ ý hơn: Chàng đi xa em cô đơn, sầu muộn, đến nỗi dệt gấm mà lòng ngổn ngang, khêu đèn mà nước mắt chan hòa. Em tiều tụy đến nỗi soi gương không nhận ra mình, huống hồ khi chàng trở về, liệu có nhận ra em? Có còn yêu em như thuở trước? Đây là 4 câu cuối của bài thơ:

---

織錦心草草,               Chức cẩm tâm thảo thảo,

挑燈淚斑斑。               Khiêu đăng lệ ban ban,

窺鏡不自識,               Suy kính bất tự thức,

況乃狂夫還。               Huống nãi cuồng phu hoàn.

閨情李白             Khuê Tình, Lý Bạch

Bát Sách dịch:

Ngồi dệt gấm, dạ ngổn ngang,

Khêu đèn mà lệ dâng tràn lung linh

Soi gương chẳng nhận ra mình

Ngày chàng trở lại, biết tình còn chăng?

Thành thật mà nói, những bài thơ Đường tuy rất hay, nhẹ nhàng, bay bướm và thơ mộng, nhưng không nói được những nỗi vất vả, sự hy sinh, cái tài đảm đang của người chinh phụ, đã thay chồng, một mình quán xuyến việc nhà ...Trong Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn, bản dịch của Đoàn thị Điểm, chỉ mấy câu mà nói lên được hết những nỗi nhọc nhằn của chinh phụ:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,

Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân,

Nay một thân nuôi già dạy trẻ

Vả lại cái khổ của vợ lính đâu phải chỉ có sự cô đơn, vất vả, đâu phải chỉ có nhớ thương, đâu phải chỉ có lo nhan sắc tàn phai ... chiến tranh mãnh liệt và tàn khốc quá, tính mạng người lính như chỉ mành treo chuông. Cái khổ nhất của chinh phụ là nỗi thấp thỏm, hoang mang, không biết chồng mình nằm xuống lúc nào !! Khổ nhưng vẫn can đảm chịu đựng, và can đảm chấp nhận sự thật khi bất hạnh xảy đến cho chồng. Bát Sách xin ngã mũ trước những nàng chinh phụ Việt Nam.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Bát Sách, Nỗi Lòng Chinh Phụ
Comment
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories