Hôm nay, tôi vẫn còn mang trong lòng sự tức giận này nhưng tôi không còn cảm thấy bất lực nữa. Trong khi tôi từ một người tỵ nạn buồn tủi năm xưa trở thành một công dân Huê Kỳ với đầy tự tin hôm nay thì tôi cũng đã học hỏi và nhận ra được nhiều điều. Tôi nhận ra rằng chính chúng ta phải tự giúp mình, chính chúng ta phải lên tiếng phản bác lại bọn truyền thông thiên tả, phải tự giải oan và không trông chờ vào ai khác. ……….
Read moreKhi Cờ Vàng Của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Xuất Hiện trên Bìa Báo Newsweek, Ba Lan (Trần Phong Vũ & Bài viết của cô Tôn Vân Anh)
Riêng về lập trường chính trị cô Tôn Vân Anh đã công khai nhìn nhận trong bài viết của cô mới đây: "Tôi đã từng rất đỏ, phải mất rất nhiều năm miệt mài tìm hiểu để nhận ra hệ giá trị của Dân Tộc mình là gì"…
"Tôi đã ngạc nhiên thật sự, tại sao một người yêu lá cờ vàng lại phải cầm lá cờ đỏ để chụp ảnh? Tôi đã từng rất đỏ, phải mất rất nhiều năm miệt mài tìm hiểu để nhận ra hệ giá trị của Dân Tộc mình là gì cơ mà!……
ĐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI BẠN CVA, MỘT CHIẾN HỮU & MỘT NGƯỜI HÙNG
ĐỂ TƯỞNG NHỚ MỘT NGƯỜI BẠN CVA,
MỘT CHIẾN HỮU & MỘT NGƯỜI HÙNG
Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn (1943-1975). Cựu học sinh Chu văn An, chức vụ sau cùng là Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 43 Ngăn Chận tại Tuyên Nhơn.
Ngày 30/4/75, sau khi nghe tin Dương Văn Minh đầu hàng, Thiếu Tá Lê Anh Tuấn đã chở đồng bào tị nạn Cộng Sản tới nơi an toàn rồi trong đêm hôm đó, anh đã dùng súng Colt bắn vào đầu tự sát
Năm 1997, gia đình và bè bạn đã về Việt Nam tìm thi hài Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, được dân chúng chôn cất và săn sóc tử tế, đào lên thì thấy hài cốt nguyên vẹn cùng với thẻ căn cước quân nhân, thẻ bài, chứng chỉ tại ngũ và thẻ sinh viên năm thứ 4 Luật Khoa, tất cả được bọc cẩn thận trong bao plastic. Hiện tro cốt được mang về Mỹ, đặt tại chuà Giác Minh, San Jose, California
Bà cụ thân mẫu Thiếu Tá Tuấn năm nay vừa đúng 99 tuổi vẫn hàng đêm cầu nguyện cho người con trai ra đi khi chưa có gia đình.
***
Phần 1: Tình Bạn, Tình Chiến Hữu
Các Bạn,
Hôm nay ngồi trên máy bay lâu quá, nên tôi chợt nhớ ra một món nợ đối với các bạn là phải viết về Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, cựu học sinh Chu Văn An, một người đàn anh khả kính và khả ái, cũng là người bạn quân ngũ, đã từng cứu mạng tôi mấy lần.
Trước khi vào truyện, để các bạn có một ý niệm khái quát về Lê Anh Tuấn, xin đọc những vần thơ dưới đây cuả một nhà thơ Quân Đội:
"Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
Đi Hành Quân mà ... rượu đế cũng đeo theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo,
Xem chiến cuộc là Tai Trời, ách nước
Ta bắn trúng ngươi, chỉ vì ngươi bạc phước
Là số phần cuả ngươi đó, ngươi ơi "
Theo ý tôi, đây có thể là những vần thơ mô tả rõ nét nhất con người Lê Anh Tuấn.
Trong chiến tranh Việt Nam, có ba tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, vì lý do địa dư, nằm ngay trên đường tiếp tế cuả Việt cộng, từ mật khu Mỏ Vẹt xuống, qua những kinh rạch chằng chịt đổ ra 2 con sông Vàm cỏ, do đó "Tam Kiến" (Kiến Hoà, Kiến Phong và Kiến Tường) là những địa danh chiến sự luôn luôn bùng nổ dữ dội nhất.
Kiến Hoà nằm trong phạm vi hoạt động cuả Sư Đoàn 7, tôi thuộc Sư Đoàn 9, nên xuôi ngược hai tỉnh Kiến Phong và Kiến Tường không biết bao nhiêu lần. Những địa danh như "Bót 23”, Mỹ An, Mộc Hóa, Hậu Mỹ, Tuyên Bình và Tuyên Nhơn vẫn mãi mãi nằm trong ký ức của tôi.
Thời gian đã hơn 30 năm trôi qua là quá ... dài đối với mạng sống và trí nhớ cuả một quân nhân, nhưng chưa đủ dài đối với các nhân vật trong truyện, cho nên, dù những đoạn viết này phản ảnh hoàn toàn sự thật, nhưng sự thật nhiều khi rất .... "sống sượng", nên đã được "Tiểu Thuyết hóa" đi một chút.
Tôi sẽ không phổ biến rộng rãi truyện này. Những ai tình cờ đọc được, nếu có "động lòng" thì xin vui lòng xem đây là "Tiểu Thuyết".
Tôi chỉ viết ra để vinh danh một người bạn, một người anh hùng, dám hy sinh mạng sống cuả mình để bảo tồn danh dự.. Vì thế tôi sẽ không trả lời bất cứ thắc mắc nào, nếu có, cuả qúy vị đâu.
Những dòng chữ dưới đây ghi lại những kỷ niệm cuả một thời quá khứ, nên chắc cũng chẳng hay ho gì. Các bạn cứ việc phê bình, góp ý sửa đổi hoặc vứt đi cũng được, chẳng có gì phiền hà.
***
Tôi gập Thiếu Tá Tuấn lần đầu tiên là vào mùa mưa năm 1973 tại Tuyên Nhơn. Sở dĩ tôi nhớ rất rõ là vì ở vùng này, sau những cơn mưa đầu muà, người lính trận rất khó di chuyển, mỗi bước đi mang theo cả tảng đất phèn, to gấp ba đôi giầy ... đó là chưa kể nước phèn luôn luôn...’hành hạ’ đôi bàn chân.
Vưà nhảy xuống khỏi trực thăng, tôi thấy một Sĩ Quan trong bộ áo bà ba mầu đen, loại "thường phục" mà các Sĩ Quan hay mặc mỗi khi không đi hành quân, đứng đón sẵn ở dưới chân máy bay, với một cây gậy tre dùng để chống mỗi khi di chuyển trên đất bùn, với khuôn mặt sáng suả và nụ cười cuả trẻ thơ.
Trưóc mắt tôi là một thanh niên có nước da ngăm ngăm, vẻ mặt mỏi mệt nhưng ánh mắt sáng rực trong đôi kính cận thị, trông rất trí thức. Tôi mở lời chào xã giao:
"Thiếu Tá trông đẹp trai và Thư sinh quá!"
Câu trả lời cuả anh Tuấn kèm theo một nụ cười hiền hậu nhưng rất tươi:
"Ông Bác sĩ là dân Chu Văn An phải không?"
"Sao Thiếu Tá biết?"
"Ối ... giời ơi, cứ nghe cái giọng Bắc Kỳ và kiểu cách cuả ông là biết ngay chứ thế nào nữa"
"Thế Thiếu Tá đứng đây đón tôi đấy à ?"
"Tôi có đón ông đâu, tôi đứng đón... gói bún gửi mua từ Cao Lãnh ! Lát nữa sang tôi nhé. Ông may lắm, ông Trung sĩ Nghĩa cuả tôi đánh tiết canh và nấu bún sáo vịt... ‘hết xảy’.
Anh trao cho tôi cây gậy tre và nói:
"Ông dùng cái này, mùa này đường rất trơn, coi chừng té, tôi quen rồi"
Mấy năm lặn lội trên đường hành quân cho tôi một bài học kinh nghiệm là nếu đã nhận ra nhau là... dân Chu Văn An thì chẳng còn khoảng cách nào về Binh chủng, cấp bậc hay đơn vị gì nữa, nên từ đoạn này trở xuống, tôi chỉ xin viết là Anh Tuấn cho thân mật, vì kể từ sau buổi gập gỡ đó, chúng tôi chỉ xưng hô với nhau bằng Anh-Tôi, Ông-Tôi có khi là Cụ với Tôi hoặc Toa-Moa , tùy theo từng hoàn cảnh.
Tháng 6/1973, Mặt Trận Tuyên Nhơn khá nặng. Cứ nhìn hàng rào kẽm gai phòng thủ dầy đặc và ban đêm, pháo binh thường chiã thẳng nòng súng sang bên kia sông để có thể bắn trực xạ, sẳn sàng đối phó với chiến thuật biển người cuả Việt Cộng là biết ngay.
Anh Tuấn nói với Ông Trung Đoàn Trưởng cuả tôi:
"Thưa Đại Tá, Ông Bác Sĩ này là một bạn học cũ cuả tôi, xin phép Đại Tá cho ông ấy sang ở chỗ chúng tôi để nói chuyện chơi, cả chục năm rồi không gặp"
Rồi anh ghé tai tôi:
"Ông chẳng biết gì về quân sự, sang tôi cho... chắc ăn, lỡ chúng nó có "tapis" còn biết đường mà chạy!"
Lần gặp gỡ đầu tiên cuả hai cựu hoc sinh Chu Văn An giản dị và... dễ dàng như thế!
Giản dị như... con người Lê Anh Tuấn và dễ dàng... còn hơn đi tìm những thứ lỉnh kỉnh như: bún, măng khô, húng quế và đậu phộng... để nấu một món ăn thuần tuý Bắc Kỳ.
Là một người lính, tôi cũng không khỏi có chút "dị đoan"
"Anh Tuấn ơi, tôi nghe nói ở ngoài mặt trận, rất... kỵ ăn thịt vịt, anh không tin à?"
Thiếu Tá Tuấn trả lời rất tự nhiên:
"Ồ, may thì đạn nó tránh mình chứ mình có tránh được đạn đâu mà phải lo ! Cụ nói thế không sợ mấy ông chủ lò bún họ kiện cho à?"
Cái tính ... vui vẻ, tàng tàng rất Chu Văn An cuả Anh Tuấn khiến chúng tôi trở thành bạn thân rất nhanh, làm tôi quên hẳn chuyện ăn thịt vịt... hên hay sui.
Sở dĩ tôi phải viết lan man vài chuyện "bên lề" xẩy ra trước đó để các bạn thấy được phần nào cá tính cuả Lê Anh Tuấn.
Bạch Hạc và Phụng Nghi
Chuyện này xảy ra trước khi tôi gập Lê Anh Tuấn khoảng sáu tháng.
Hôm đó là ngày 30 Tết Âm Lịch, 1973. Ngày đầu tiên thi hành Hiệp Định Paris. Trung đoàn tôi vừa đổ quân xuống Mỹ An, Đồng Tháp Mười đêm hôm trước thì sáng mồng Một Tết, nhận được lệnh:
"Gửi Bác sĩ ra Bộ Chỉ Huy Tiền Phương gấp"
Ông Trung Đoàn Trưỏng cuả tôi lúc đó đang chờ Sự Vụ Lệnh bổ nhiệm đi làm Tỉnh Trưởng nên đối xử khá "tế nhị" với cấp trên, mặc dù mặt trận đang bùng nổ lớn, tôi được trực thăng Hồng Thập Tự bốc ngay ra Bộ Chỉ Huy Tiền Phương lúc đó đang đóng ở Cao Lãnh, một nơi rất an toàn cuả Biệt khu.
Cả hai ông Tư Lệnh Biệt khu và Tư Lệnh Phó Sư Đoàn đều đang ở đó.
Hai ông này đều rất... oai, vì nghe đâu có họ hàng với Tổng Thống.
Đón tôi là ông Tư Lệnh Phó, rất vui vẻ và cởi mở, ghé vào tai tôi:
"Ê, Toa giúp Moa "Lên...Gà" một chút được không?"
Bộ Tư Lệnh Tiền Phương ở sát bên Bệnh Viện Tiểu Khu, nên thiếu gì Bác Sĩ lớn tuổi, nhiều kinh nghiệm và giỏi hơn tôi, nhưng lý do hai vị này cho gọi tôi có lẽ là vì không muốn người khác biết, nhưng quan trọng hơn là vì tôi có hai bài thuốc ‘gia truyền’ rất công hiệu:
Một là "Thuận Khí" và Hai là "Cường Dương Đại Bổ" của Vua...Minh Mạng!
"Night Seven, Day Three, In, Out ... No Count!"
Lúc đó vì chưa có Viagra nên nhờ sở hữu hai Bài thuốc này mà tôi rất có ... "uy tín". Dĩ nhiên là một quân nhân, tôi luôn luôn phải theo yêu cầu của cấp trên.
Sau đó, tôi được dẫn vào... "Hậu Viên" để gập hai cô... trông còn rất trẻ và rất quen mặt, dường như tôi đã gập nhiều lần mà không nhớ ở đâu. Cả hai nàng đều trang điểm son phấn rất kỹ nhưng trông vẫn không được… đẹp lắm vì cả hai đều đang... "nhăn nhó".
Tôi đang cố suy nghĩ xem là ai, thì một cô nói:
"Bác sĩ không biết em là ai à? Em là Bạch Hạc, còn kia là con nhỏ Phụng Nghi"
Đến lúc đó, tôi mới nhận ra là mình hân hạnh được gập hai "Cải Lương Chi Bảo" cùng một lúc!
"Thế hai cô cần tôi có việc gì ?"
"Em đang bị…’kẹt,’ còn con Phụng Nghi thì đang... tiêu chảy"
Chữa bệnh như cứu hoả! Tôi tức tốc sử dụng xe Jeep cuả Bộ Tư Lệnh phóng ngay ra tiệm Thuốc Bắc để cắt toa thuốc... Vua Minh Mạng, rồi sang Bệnh Viện Tiểu Khu lấy thuốc và nước biển cho Phụng Nghi..
Còn cái vụ... "kẹt" cuả Bạch Hạc thì thú thật, tôi cũng chẳng biết chữa ra sao ! mà cũng chẳng muốn khám nữa.
Điều đặc biệt là vào thời điểm đó, ngoại trừ ở ngoài mặt trận thì không kể, chứ nếu ở Hậu cứ, mỗi khi muốn dùng một chai nước biển, phải ký cả chục thứ giấy tờ, thế mà khi tôi sang đến Bệnh Viện Tiểu Khu thì kho Y dược đã được mở sẵn, muốn lấy gì thì lấy.
Ai dám bảo là đàn bà... bị các ông lấn quyền ?
Suốt cả đêm đó, tôi ngồi chơi Mạt Chược với hai ông Tư Lệnh ! Bạch Hạc thì đánh Tứ sắc với các bà... "tai to mặt lớn" trong Tỉnh, 50 đồng một "lệnh". Bạn nào biết đánh Tứ sắc thì chắc phải biết... ăn thua lớn cở nào.
Riêng tôi thì cứ phải chạy ra, chạy vào để coi chừng chai nước biển cuả Phụng Nghi, và xem cô nàng... "cầm" chưa
Mạt chược là thứ mà tôi bắt đầu chơi từ lúc 10 tuổi nên rất ít khi thua. Nhưng hôm đó lại thua và... thua đậm ! Chẳng hiểu lỗi tại Bạch Hạc hay Phụng Nghi?
Sau hai hôm thì bệnh tình cuả hai "Cải Lương Chi Bảo" đã hết hẳn và toa thuốc... Vua Minh Mạng chắc đã có hiệu lực, nên tôi bèn chào từ giã hai cô để trở về đơn vị tác chiến bằng Trực thăng riêng !
Trước khi ra cửa, Bạch Hạc còn khen tôi:
"Ông Bác sĩ còn trẻ và... đẹp trai quá ... "chời!"
Rồi cô dúi vào tay tôi 30 ngàn và 2 tấm vé xem Cải Lương đặc biệt, có con dấu mầu đỏ, cuả 2 đoàn Cải Lương nổi tiếng nhất Saigon thời đó, muốn vào coi lúc nào cũng được.
Cô ta còn dặn thêm:
"Sau này, Bác sĩ gập bất cứ chuyện gì... kẹt, thì cứ kêu em"
Tôi đang ngần ngại chưa chịu nhận thì cô nói thêm:
"Bác sĩ đừng lo, con Phụng Nghi này nó kiếm mỗi tuần nửa triệu. Ông mà chịu đi coi Cải Lương, nó sẽ... làm mai cho ông cả đám... ĐÀO trẻ đẹp"
"Why not?" Tôi bèn cầm gói quà về, nhưng vì tự ái của tuổi trẻ, còn cố chống chế thêm:
"Tôi nhận món qùa này chỉ vì cô là người... đầu tiên khen tôi... đẹp "chai"
Ba chục ngàn lúc đó là gần bằng một tháng lương cuả tôi, nhưng cũng chẳng có gì là lớn, chỉ một hai lần đãi bạn bè đi nhậu là hết... rồi về đơn vị ăn cơm "nhà bàn" tiếp.
Nhưng 2 cái vé Cải Lương thì lại là một..."thiên tình sử"
Số là lúc đó, tôi có quen một cô nữ sinh Gia Long, gia đình thuộc loại:
"Thâm nghiêm kín cổng, cao tường
Cạn giòng lá thắm, dứt đường chim xanh"
"Cuộc tình lên cao vút"! Nhưng chỉ khổ một nỗi là bà mẹ Nam Kỳ cuả cô ta lại có máu... kỳ thị !!!,"Những ánh mắt Hỏa Châu" cuả bà luôn luôn nhìn dân Bắc Kỳ, nhất là Bắc Kỳ Chu Văn An, là những người thuộc thành phần "Tiết Hạnh Khả...Nghi !"
Nhưng may quá, bà lại có máu... mê Cải Lương, nay thấy tôi đưa hai tay kính cẩn dâng 2 tấm vé Cải Lương... "free" cuả hai Đại Đoàn Dạ Lý Hương và Hương Mùa Thu, thì rất là hài lòng với thằng con trai Bắc Kỳ... biết điều, và ánh mắt có dịu đi một chút !
Tuy nhiên, vì tính cẩn thận cuả một bà... Hiền Mẫu, mỗi lần đi coi Cải Lương bà lại bắt cả cô con gái cưng và tôi... đi theo !
Chưa bao giờ trong đời tôi lại... túng tiền đến thế, vì mỗi lần tháp tùng lại phải mua 2 vé hạng nhất, để bà hiền mẫu này kiểm soát... song phương !
Bà còn cẩn thận ngồi chính giữa, để hai... đứa nhỏ ngồi hai bên, thành ra khoảng cách của một cái ghế chưa tới một mét thấy còn xa hơn cả... Vạn Lý Trường Thành !
Trong bóng tối cuả rạp Cải Lương, "Ngưu Lang - Chức nữ " chỉ được "lặng lẽ nhìn nhau...không nói một câu"
Sau mấy tháng nhịn ăn để coi hát như thế, "credit" cuả tôi được nâng cao đôi chút... biểu lộ bằng cách cho cô nàng... ngồi giữa, tôi một bên, bà mẹ một bên.
Nhưng đến lúc đó mới thật là....khốn khổ, vì đến lượt cô nàng mê Cảỉ Lương !
Cứ mỗi lần tôi đưa tay định nắm thì chỉ thấy cô ta cầm khăn tay.... ướt đẫm, lau nước mắt !
May mắn nhất trong đời tôi nhờ là học sinh Chu Văn An, chứ không đã ghi tên theo học Vọng Cổ... để trở thành mầm non, chuẩn bị thay thế Hùng Cường và Thành Được ! Nhưng cũng có thể vì thế mà nền Cải Lương Việt Nam lại mất đi một nhân tài !
Mối tình tuyệt đẹp kết thúc:
"Thôi là hết...em đi đường em" chỉ vì 2 vé hát Cải Lương.
Cá tính của một người CVA
Đóng chung căn cứ Tuyên Nhơn với Anh Tuấn, tôi thường ăn chung và kéo thêm một giường ngủ ở chung phòng. Khi tôi kể câu chuyện.... bi hài này cho anh nghe, chỉ thấy anh nhăn mặt:
"Các "cha nội" mà cứ làm như thế thì... hỏng rồi ! Quân Đội đâu được quyền lạm dụng như thế. Lần sau mà có chuyện tương tự như vậy xảy ra, ông cứ cho tôi biết"
Lời nói vẫn rất nhẹ nhàng, nhưng đó là cách biểu lộ sự bất bình lớn nhất cuả anh Tuấn.
Lúc đó và mãi đến về sau này, tôi cũng không hề biết anh có một ông anh ruột là... Trung Tướng, vì chẳng bao giờ thấy anh đề cập tới, nhưng kể từ khi chúng tôi trở thành bạn thân thiết thì tôi có cảm giác là các cấp chỉ huy có vẻ ...nể vì tôi hơn một chút.
Tôi bắt đầu "khoái" anh Tuấn và Hải Quân từ ngày đó. Binh chủng này thật lạ. Đến giờ ăn cơm là các ông phục vụ dọn bàn, khăn ăn, muỗng, đũa rất ngay hàng thẳng lối. Các Sĩ Quan phải chờ vị Sĩ Quan cao cấp nhất theo thứ tự ngồi xuống rồi mới trịnh trọng bưng mâm cơm lên, gồm vài... quả cà với một hũ mắm tôm !!! dăm bẩy con cá khô nướng và vài lát thịt hộp, trông cứ lịch sự như...Tây
Quanh năm suốt tháng ăn uống "thịnh soạn" cỡ này, tôi biết chắc chắn là không hề có tham nhũng ở Giang Đoàn 43 cuả Thiếu Tá Tuấn.
Một lần sau bữa cơm tối, anh Tuấn cho đem ra một chai Johnny Walker mà anh nói là quà tặng từ thời Cố vấn Mỹ, mời tôi uống.
Uống rượu với ông này chán lắm! vì ông ấy cứ tợp vài hớp là lại chạy ra, chạy vào kiểm soát thứ nọ, thứ kia và rượu Whisky mà lại đi pha với nước ... xá xị con Cọp thì chẳng còn mùi vị gì cả.
Nhưng đây chính là sự khác biệt giữa anh Tuấn và tôi. Tôi uống rượu để ngủ, còn ông ấy uống rượu để... thức ! Nước xá xị mầu nâu đậm nên có rót rượu ít đi một chút thì cũng không ai biết, nhưng lại làm cho "đối thủ" rất dễ say. Chẳng phải anh Tuấn muốn ăn gian, nhưng vui bạn bè mà vẫn phải lo nhiệm vụ. Tuy nhiên anh ấy vẫn được tặng biệt danh 'Ông Cọp', mặc dù hiền khô.
Trong lúc ngà ngà say, anh có tâm sự với tôi là sau khi tốt nghiệp Trung học, anh cũng có ý định học Y khoa, nhưng vì thời cuộc, thấy trách nhiệm cuả thanh niên thời chiến quan trọng hơn nên đã quyết định gia nhập Hải Quân, vì thế anh rất thích nghe tôi kể những chuyện liên quan tới ngành Y khoa. Khi nghe tôi kể chuyện về Bạch Hạc và Phụng Nghi, anh nói với tôi, nửa đùa, nửa thật:
"Lần sau mà có vị nào đòi hỏi như thế nữa, ông nhớ "bàn giao" cho tôi. Tôi sẽ thay ông chữa bệnh cho hai... Bà Nội này, bảo đảm không ai dám kêu ông nữa đâu"
"Còn về mối tình ... Cải Lương cuả ông, thoát được cô ta thì nên lắm. Đời lính sống nay chết mai, vướng bận làm gì, nếu sống sót, vài chục năm nữa, có gập lại cô ta, ông sẽ thấy ông may mắn lắm đấy"
Vả lại "Thương Nữ bất tri Vong Quốc hận", các cụ nói chớ có sai đâu !
Anh Tuấn còn nói thêm
"Gia đình tôi cũng thế, bà mẹ tôi mà biết con trai theo nghề...Cải Lương thì dù có mang... vài chục đứa cháu nội về "Từ Thứ...quy Tào" chắc cũng chẳng ăn thua gì"
Tình cờ năm ngoái tôi gập lại "người tình.... Gia Long" cuả năm xưa, bây giờ đã "em tay bế, tay bồng" mà vẫn hát Cải Lương, trông chán lắm!
Đây là lần thứ nhất anh Tuấn "cứu mạng" tôi, vì nếu không có lời khuyên này chắc các con tôi bây giờ cũng... ca Vọng Cổ rất mùi.
"Chỉ có mỗi một điều đáng tiếc là nếu ông trở thành kép Cải Lương, biết đâu sau này khi cuộc chiến tàn, tôi sẽ giúp ông "kéo.. màn"! Nhưng nói đùa thế thôi chứ anh em mình là lính tráng, hơi đâu mà nghĩ quá xa: "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" phải không cụ? Tôi ước vọng khi hoà bình trở lại sẽ đi dạy học, chứ làm kép "kéo màn" thì còn gì là... gia phong Chu Văn An !
Đây là lần đầu tiên tôi thấy tuy là nói đùa mà trong ánh mắt anh thoáng một chút suy tư.
Nhưng cũng chẳng biết tai sao mà sau bữa tiệc rượu đó mà tôi lại mang biệt danh được "mã hóa" mỗi khi liên lạc qua máy truyền tin PC 25 là..."Ông Xếp Bông Gòn Bạch Tuyết", hoặc có khi thân mật hơn, mỗi khi anh Tuấn nhờ lính mời tôi sang chơi:
"Mày sang Ông Trùm...Băng Vệ Sinh", mời ông ấy sang đây uống bia"
Tôi thích "biệt danh" này vô cùng ! Ông CVA Lê Anh Tuấn đã tặng cho tôi một biệt danh vừa "trinh bạch", vừa ... "hợp vệ sinh" lại có chỗ đứng "khiêm tốn" nhất trong lòng quần....chúng phụ nữ.
Câu chuyện vui đùa giữa hai người bạn cứ kéo dài như thế cho đến khi tôi say hẳn, trước khi đi vào giấc ngủ, tôi còn nhớ mang máng anh Tuấn có kêu Trung sĩ Nghĩa, một ông Trung sĩ già Bắc Kỳ Công Giáo "ri...cư", một con người chất phác, hết sức trung thành và có tinh thần chống Cộng quyết liệt !
"Ông Nghiã ơi, sáng mai ông sang Chợ Quận mua cho tôi một gói Băng Vệ Sinh Bạch Tuyết và 2 cái nút chai nhé !.. để tôi tặng ông Bác sĩ, chỉ cho ông ấy cách chữa bệnh"
Chợ Quận có một depot pharmacie, cô chủ là người "Sè...ghềnh", còn rất trẻ và dĩ nhiên nhan sắc vượt trội so với người dân...nông thôn. Cô có tình cảm "thắm thiết" với Thiếu Tá Tuấn, đến nỗi không chịu về Sài gòn nữa..
Tuy nhiên "Love story" này thuộc về đoạn sau.
Sáng hôm sau, nhân có chuyến bay, tôi được phép về thăm gia đình vài ngày và vì vội vã, cũng không để ý là có "gói quà" đặc biêt này cuả anh Tuấn mà ông Trung sĩ Nghiã, một con người thật thà... "như đếm", theo lệnh cấp chỉ huy đã tống vào trong ba-lô.
Về đến nhà, vừa trút quần áo là tôi chạy ngay vào buồng tắm, tẩy bớt đất bùn cuả vùng hành quân ! Khi tắm xong, định thay quần áo mới đi bát phố thì thấy bà mẹ và bà chị tôi đang xầm xì thảo luận với vẻ rất nghiêm trọng:
"Mẹ mừng nhé ! Thế là bà sắp có cháu nội rồi đấy. Em ơi, khi nào em định đem cô "Hoa khôi Miệt Vườn" về ra mắt mẹ và chị đây ?"
Bà mẹ tôi thì tỏ ra rất... phân vân:
"Cô nói sao ấy, chứ "nó" còn đeo...Bông gòn Bạch Tuyết thì làm sao tôi đã có cháu nội được? Nhưng tôi không biết nó dùng hai...cái nút chai để lam gì nhỉ ?
Hóa ra bà mẹ tôi hay có thói quen "kiểm soát" ba-lô cuả con mỗi khi về phép, và đã khám phá ra trong đó có... một hộp Băng Vệ sinh và... hai cái nút chai ! do ông Trung sĩ Nghiã để vào, nhất định cho là qùa tặng cuả Thiếu Tá Tuấn.
"Oan ơi Ông Đia" hồi đó chính tôi cũng không biết là bên Mỹ họ dùng "tampon", chắc ông Tuấn này đã từng đi du học Mỹ, nên... chơi trác tôi, vì giải thích thế nào bà mẹ tôi cũng không tin, nhất định chuẩn bi mọi thứ cần thiết để nghênh đón đứa cháu nội...Nam Kỳ.
Hóa ra, nếu không biết đùa nghịch thì không phải là học sinh CVA !
Lê Anh Tuấn, một vị chỉ huy rất tư cách
Từ đoạn này trở đi thì tôi không còn là một thanh niên dưới 30 tuổi nữa, mà sẽ viết theo cái nhìn khách quan ở thời điểm của 34 năm sau khi cuộc chiến chấm dứt.
Ngày 30 tháng 4 vừa qua, do một sự gặp gỡ tình cờ với một nhóm bạn Hải Quân hiện đang sinh sống ở San Jose, nhắc đến những câu chuyện trong thời chiến, tất cả các anh em Hải Quân đều ngậm ngùi khi nói đến Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn, một cựu học sinh CVA và còn là một huyền thọai của QLVNCH ! Các bạn đều lấy làm tiếc là:
"Lịch Sử sẽ không công bằng khi bỏ quên Lê Anh Tuấn"
Tuy nhiên nhiều bạn không biết là chính tôi lại là người có cơ hội gập gỡ anh Tuấn và ít nhất là cơ duyên này đã cứu mạng tôi đến ba lần
Những giòng chữ đầu tiên, tôi chỉ có thể nói là:
Trong cuộc sống, có những người bạn mà chỉ cần gập một lần, mình vẫn có thể nhớ mãi. Lê Anh Tuấn là một người như thế :
Chân thành, giản dị, có óc khôi hài sâu sắc, hết mình với nhiệm vụ, bạn bè, đồng đội.
Nhưng trên tất cả đây là một quân nhân có tiết tháo, chẳng thà hy sinh tính mạng chứ không thể hy sinh danh dự. Những con người như thế không nhiều lắm trong Lịch sử Việt nam.
Khi nghe tin anh đã tự sát chứ nhất định không đầu hàng Việt Cộng, tôi rất buồn, nhưng lại cảm thấy rất hãnh diện vì đã được quen biết anh.
Trước hết, xin nói qua về lối sống của anh. Lê Anh Tuấn là một con người sống hết mình, luôn luôn đặt trách nhiệm lên trên tất cả, suốt ngày lo lắng công việc, kiểm soát chỗ này chỗ kia, để bảo đảm an toàn cho lính và dân chúng sống ở vùng trách nhiệm của Giang Đoàn 43, nhưng ban đêm, tôi lại thường thấy anh thức rất khuya để đọc sách.
Phòng ngủ cuả anh tuy ngăn nắp nhưng rất chật hẹp vì chứa đầy sách. Tôi để ý nhiều nhất là sách về Thế Chiến Thứ Hai.. Tôi vẫn còn nhớ anh cho tôi mượn 3 cuốn: "Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh"(All Quiet On The Western Front) của Enrique Maria Remarque, cuốn "One day in the Life of Ivan Denisovich" của Solzenitsyn và cuốn "Biệt Đoàn Thần Phong".
Đến bây giờ, suy nghĩ lại, tôi vẫn không hiểu những sách vở nói trên có ảnh hưởng gì đến quyết định của anh không ? và hình như anh còn học Luật vì tôi thấy có nhiều sách của Trường Đại Học Luật Khoa để trên đầu giường.
Câu chuyện còn khá dài, nhưng máy bay đã sắp đáp xuống, nếu các bạn còn muốn nghe thêm thì xin cho tôi... nghỉ ngơi một chút, vì tôi sẽ phải tra cứu lại sách địa dư cho thêm phần chính xác.
Còn nếu thấy chán hoặc dở quá thì cũng xin cho biết.
Phần 2: Thiếu Tá Lê Anh Tuấn và tôi
Mỗi Đại Đội Quân Y yểm trợ cho Trung Đoàn có 2 quân y sĩ, chúng tôi thay phiên nhau mỗi nửa tháng, khi một người đi hành quân thì người kia trông coi bệnh xá ở hậu cứ.
Từ quận Tuyên Nhơn ra ngoài quốc lộ 4 có 3 phương tiện:
- Đường thuỷ, thường chỉ dùng cho phụ nữ hoặc dân điạ phương, vì rất dể bị Việt Cộng chận bắt, nếu còn trẻ và lạ mặt.
- Đường bộ thì chỉ có một chiếc xe khách, vài ngày mới có một chuyến và cũng rất nguy hiểm vì mìn cuả VC.
- Trực thăng là phương tiện chúng tôi hay dùng nhất mổi khi thay phiên, thường là đi cùng máy bay chở vị Tư lệnh thị sát mặt trận hoặc trực thăng tải thương, dĩ nhiên chỉ có quân nhân và một vài vị khách được "gửi gấm" đặc biệt mới được dùng trực thăng, một trong những vị khách đó là Kim Hoa, cô chủ depôt pharmacie ở chợ quận.
Căn cứ Sư Đoàn 4 Không Quân đóng ở Cần Thơ, nên cũng do "yêu cầu" của Anh Tuấn, vì...."thương cho thân gái dặm trường", anh hay nhờ tôi đi chung xe đò đưa Kim Hoa về Sàigòn, vì thế tôi có nhiều cơ hội hiểu thêm về mối giao tình giữa cô Kim Hoa và Thiếu Tá Tuấn.
Thoát chết lần thứ nhất nhờ anh Tuấn
Nói đến Tuyên Nhơn là phải nói đến "bắn xẻ" và chiến thuật "tiền pháo, hậu xung" của Việt Cộng.
Mỗi khi Trung Đoàn đổ quân xuống Tuyên Nhơn, công việc đầu tiên là phải xây "bunker" cho Bộ Chỉ Huy Hành Quân và Bệnh Xá. Chỗ ở dành riêng cho tôi thường là một bunker rất nhỏ khoảng 2 mét x 3 mét cạnh bệnh xá, vừa đủ kê một chiếc giường sắt và thùng dược phẩm.
Các bunker này được xây rất kiên cố, trụ làm bằng các thùng phuy chứa đất, vách toàn là bao cát và trần làm bằng nhiều lớp bao cát chất trên các lớp sắt PSP, loại sắt dùng làm phi trường dã chiến.
Với cấu trúc như thế, các loại đạn tương đối chính xác như cối 82 hoặc đại bác 122 ly thì chẳng ăn thua gì ! Chỉ có hỏa tiễn 220 ly "delayed" là có thể xuyên thủng trần, tuy nhiên loại hỏa tiễn này chẳng đáng để ý, vì dàn phóng thô sơ nên rất ít khi chính xác, thường chỉ rơi vào... nhà dân!
Ngày thứ ba sau khi chúng tôi đến Tuyên Nhơn là trận tập kích đầu tiên cuả Việt Cộng. Các sỉ quan và binh sĩ mỗi khi nghe tiếng pháo "cấp tập" để chuẩn bị xung kích, thì việc đầu tiên là phải sang bộ chỉ huy hoặc ra hố chiến đấu cá nhân để chuẩn bị tác chiến. Riêng đối với Quân Y thì cứ việc ngồi chờ để "tiếp đón" thương binh nếu có.
"Cò iả miệng ve " -chữ anh Tuấn thường dùng- ngay trong đợt pháo kích đầu tiên đêm hôm đó, bunker dành riêng cho tôi trúng ngay một hỏa tiễn 220 ly "delayed" nổ tung và xập hoàn toàn !
Tin tức tôi đã "tử thương" loan đi rất nhanh và chừng nửa giờ sau thì đến tai anh Tuấn, lúc đó đang chỉ huy phản pháo tại Bộ Chỉ Huy Giang Đoàn. Anh chạy như bay, không kịp cả đội nón sắt về hầm cá nhân chỗ của anh và tôi đang ở, hét to từ ngoài cửa hầm;
"Ông còn đó không?"
Anh ôm chặt vai tôi mừng rỡ, khi thấy tôi đang ngồi nghe nhạc !
"Ông làm tôi hết hồn ! Cứ tưởng ông được vinh thăng "Cố" Đại Úy rồi !"
Hóa ra anh Tuấn là người đầu tiên báo cho tôi biết là’.. tôi còn sống! Cũng nhờ món tiết canh và bún xáo vịt mà anh khoản đãi.
Thực ra, rời bỏ đơn vị để đi "ngủ hoang" là một vi phạm quân kỷ rất nặng. Nhưng trong trường hợp "kỳ diệu" này thì chẳng ai muốn đề cập tới làm gì, nên mấy ngày sau Thiếu Tá Tuấn đã ký cho tôi một bằng "Tưởng Lục" vì đã phối hợp trợ giúp đồng đội!
Đến bây giờ, tôi cũng không biết anh Tuấn theo Đạo gì, nhưng mấy hôm sau vụ "chết hụt" cuả tôi, tôi đã thấy anh thắp nhang cúng Ông Địa cho tôi một cách rất "thành khẩn".
Cầu 'Ông Tuấn'
Đây là cây cầu sắt đầu tiên ở Tuyên Nhơn, do Công Binh Chiến Đấu xây dựng, nối liền Chợ Quận với Chi Khu.
Ngày cắt băng khánh thành có ông Quận Trưởng, Thiếu Tá Tuấn, Đại Úy Chỉ huy lực lượng Công Binh xây cầu và một vài vị cao niên trong Quận, trong đó có Bà ngoại cuả cô Kim Hoa.
Nhưng kể từ sau ngày khánh thành, cũng chẳng ai hiểu vì sao cây cầu này được gọi là "Cầu Ông Tuấn"
Lúc còn nhỏ, từ khi vào miền Nam, tôi rất ít khi tìm hiểu về cách đặt tên cuả những cây cầu, thảng hoặc có nghĩ đến thì cũng ngầm chê bai về những cái tên có vẻ hơi "bình dân" như "Cầu Kiệu", "Cầu Bông" !
Nhưng sau khi đi qua những cây cầu ở miền Nam, tôi mới biết đây là một vinh dự vô cùng lớn khi được đặt tên cho một cây cầu, vì người miền Nam quan niệm cây cầu là một cái gì vĩnh viễn, nối liền con người với con người.
Điều này có thể kiểm chứng được: sau khi Việt Cộng chiếm miền Nam, Sàigòn và các con đường đều đã bị đổi tên, nhưng "Cầu Kiệu", "Cầu Bôn"g thì vẫn còn giữ nguyên tên.
Năm 1986, tôi có dịp về thăm lại Tuyên Nhơn thì cây cầu vẫn còn đó và vẫn được dân chúng gọi là "Cầu Ông Tuấn" !
Kể từ ngày thi hành Hiệp định Paris, công tác lớn nhất cuả Quân Lực VNCH là chiến dịch "chiếm đất, giành dân". Được đem tên đặt cho một cây cầu, có thể là thành quả lớn nhất cuả Thiếu Tá Tuấn trong chiến dịch này. Tuy nhiên, theo ý cuả riêng tôi thành quả lớn hơn nữa là giành được... cô Kim Hoa !
Love story
Kim Hoa là một người con gái đẹp, với đôi mắt to linh động, dáng người cao, nước da rất trắng, cực hiếm ở vùng nước... phèn, xà bông có dùng cách mấy cũng không thể xủi bọt! Tuy nhiên sức quyến rũ nhất ở cô là vẻ hiền hậu và giọng nói chất phác đặc biệt cuả người miền Nam. giọng nói mà sau này tôi thường đem ra để "chọc" anh Tuấn:
"Ông Tuấn ơi, nếu tác giả "Tiêu Sơn Tráng Sĩ" mà cho Quỳnh Như là dân Nam Kỳ thì đời Phạm Thái còn... thê thảm hơn nhiều"!
Anh Tuấn nghe thế thì tháo kính ra lau, một cử chỉ chàng ta hay làm nhửng khi... bối rối:
"Ông nói đúng đấy"!
Kim Hoa mồ côi cha mẹ từ lúc còn rất nhỏ, cô được bà dì ruột nuôi dạy xem như con gái, học trung học ở Mỹ Tho và Đại Học Dược Khoa Saigon.
Ông Dượng của Kim Hoa là một Dược Sĩ tốt nghiệp bên Pháp, mở một nhà Thuốc Tây trên đường Phan Đình Phùng, khoảng trước cửa Chợ Vườn Chuối, và còn có một cửa hàng bán thực phẩm nhập cảng từ Pháp trên đường Lê Thánh Tôn. Vì thương bà ngoại của Kim Hoa nên mở depôt pharmacie ở Tuyên Nhơn như một phương tiện giúp đỡ bà mẹ vợ.
Cô Kim Hoa về thăm bà ngoại trong dịp nghỉ hè, khoảng một tuần lễ sau khi tôi đến Tuyên Nhơn.
Sự hiện diện cuả cô ở Chợ Quận lập tức trở thành một "hiện tượng". Bà ngoại của cô tự nhiên trở thành "bà ngoại" cuả... tất cả các Sĩ Quan còn độc thân trong Quận.
Và tôi bỗng dưng... thất nghiêp ! vì mấy ông "cháu ngoại hờ" này chỉ tìm đến tôi khi cần chữa những bệnh "thầm kín", còn ngoài ra, bệnh hay... không bệnh, các "bố" chỉ lảng vảng sang tìm cô Kim Hoa để khai bệnh và... mua thuốc !
Có khi mua xong lại quẳng đi, để ngày hôm sau... có cớ mua tiếp!
Tôi đoán là ban đầu anh Tuấn cũng không để ý lắm tới cô, dù là "ngoại" rất qúy mến anh, vì trước đó anh đã giúp đỡ bà sửa sang hầm cá nhân chống pháo kích. Sau đó, vì sự hiện diện cuả cô cháu gái, lại giúp nới rộng hầm cho ... "an toàn" !
Và Hải Quân cũng là lực lượng duy nhất có khả năng chở nước ngọt từ vùng "Đầu Bờ" (tôi cũng chỉ nghe nói chứ chưa được đến vùng này bao giờ) ... giúp cho nước da cô không bị rám nắng vì nước... phèn!
Ngày Kim Hoa chào từ giã bà ngoại để trở lại trường Dược là một ngày "định mệnh" cuả cô chuẩn... Dược Sĩ ! Vì chậm trễ nên cô lỡ chuyến xe khách ra ngoài quốc lộ, ngay đúng lúc chiếc xe Jeep chở Thiếu Tá Tuấn đi công tác vừa tới, và cô được phép... quá giang, nhưng chưa đi được nửa đường thì chiếc xe khách đi phía trước trúng mìn cuả Việt Cộng nằm quay lơ và tất cả hành khách trên xe chết hết ! Bà ngoại cuả cô Kim Hoa đưa ra kết luận ... xanh rờn:
"Kể từ nay, cháu là người cuả... ông ấy!"
Vì chữ "hiếu", tên Kim Hoa tự nhiên... biến mất thay bằng tên mới: "Cô Tuấn"! Và cũng từ đó pharmacie vắng hẳn khách, dù cô chủ quyết định bỏ học ở lại luôn Tuyên Nhơn để... chăm sóc cho "ông ấy".
Người con gái miền Nam luôn luôn được giáo dục đặc biệt:
"Con đường đi vào tim người đàn ông bao giờ cũng.... xuyên qua bao tử!". Tôi chưa bao giờ gập cô gái Bắc Kỳ nào nấu những món "nhậu" nhanh hơn và ngon hơn "Cô Tuấn".
Thức ăn cuả người miền Nam cũng có tính cách khá đặc biệt, thí dụ như trái sầu riêng, nếu không ăn được thì thôi, nhưng nếu đã ăn được thì sẽ trở thành ... ghiền.
"Cô Tuấn" là người nắm được những bí quyết ấy! Một lần cô gửi cho tôi quà Sàigòn đem lên cho anh Tuấn gồm có một chai rượu Martel và vài bánh fromage Camembert và Roquefort, cô còn dặn với:
"Anh nhớ nói "ảnh" ăn mấy thứ này với...cọng hành sống"
Bản chất tôi là một người "nhà quê" nên thú thật cũng không biết thưởng thức mấy món ăn... Tây này, nhưng ông Tuấn thì "Nam Kỳ....hoá" rất nhanh, chỉ uống rượu Martel với phô-mai Camembert và... cọng hành sống thì mới thấy ngon!
Tôi vẫn nghe đồn là đàn ông mà mê phô-mai Camembert đều là những người đàn ông rất... chung tình! Tiếc thay bây giờ lại mất đi một người để kiểm chứng!
Đầu năm 1980, tôi được thả từ "trại cải tạo" về, và người đầu tiên tôi đến thăm là cô Kim Hoa, ở pharmacie trên đường Phan Đình Phùng nay đã bị đóng cửa, chỉ còn quầy hàng trống trơn ! Tôi cố quan sát để tìm xem có sự thay đổi nào trong cô không? Là một người con gái thông minh cô như đoán được ý nghĩ của tôi:
"Đời em chỉ lấy chồng có một lần!"
Và cô đã kể cho tôi nghe về cái chết của anh Tuấn.
Cho đến hôm nay, tôi vẫn không thể quên được ánh mắt buồn cuả cô khi nhìn bức ánh nhỏ của anh Tuấn để ở một góc khuất cuối quầy hàng.
Tháng 2 năm 1980, Kim Hoa theo gia đình sang Pháp, tôi bị đuổi khỏi Saigon sau mấy lần vượt biên thất bại và mất liên lạc từ đó.
Đây là một chuyện tình buồn, tiêu biểu cuả thời chiến:
"Anh yêu em một lần rồi xa nhau trọn kiếp! "
Vì sự tôn trọng đối với người đã khuất, tôi xin ngưng đoạn này ở đây và cũng không muốn tìm hiểu thêm nữa!
"Bác Sĩ" Lê Anh Tuấn và thằng con trai bây giờ không biết đang ở đâu.
Có hai công tác đáng nhớ nhất mà tôi được thực hiện chung với anh Tuấn:
Một là đốt kho lúa của Việt Cộng: hàng trăm tấn lúa được chất trong những chòi lá để chuẩn bị chở vào mật khu! Công tác này chẳng có gì là nguy hiểm, chỉ việc đốt cháy càng nhiều càng tốt, phần còn sót lại thì phải vùi trái khói để lúa sẽ có mùi không thể ăn được nữa. Nhưng quan trọng hơn cả là phải thi hành "nghiêm lệnh":
"Tuyệt đối không được mang ra, dù chỉ một ký trên hàng trăm tấn thóc!"
Lý do: các vị Tư Lệnh không muốn Việt Cộng xúi dục dân chúng đi thưa kiện là Quân Đội chiếm lúa của dân".
Công tác tuy thấy đơn giản nhưng để được chỉ định thực hiện lại là cả một vinh dự lớn: phải còn trẻ, độc thân, có quá khứ trong sạch, và có kỷ luật…
Nói thì dễ, nhưng thực hiện việc đốt kho luá không dễ chút nào.. Hoàn toàn không phải vì lòng tham mà vì chung quanh chúng tôi, hàng ngày vẫn có những cô nhi, quả phụ không có gạo để ăn. Đối với một người quân nhân, cái chết tuy đáng buồn nhưng vẫn còn ít buồn hơn khi phải đốt bỏ thóc gạo trong khi rất nhiều người... đang đói.
Đó là một nghịch lý trong chiến tranh Việt Nam, khi chúng ta phải đối đầu với một địch thủ quá dơ bẩn.
"Nhảm nhí" - Đó là kết luận cuả anh Tuấn khi thực hiện xong công tác và cũng là lần đầu tiên tôi thấy anh rưng rưng nước mắt !
Công tác thứ hai thì còn "độc đáo" hơn:
Hôm đó, vào khoảng 1, 2 giờ đêm, có một chiếc thuyền tam bản do một người đàn bà vừa chèo vừa la to:
"Chúng tôi tìm cô mụ, có người... sanh khó"
Rất không may, hôm đó cô mụ duy nhất ở trong Quận lại ra Tỉnh để sanh! mà vùng của sản phụ lại toàn là ... Việt Cộng, không hề thấy bóng đàn ông mà các bà lại... có bầu liên tục.
Bộ Chỉ Huy họp gấp, quyết định là gửi 2 trung đội đi mở đường để bảo vệ an ninh đường bộ, tôi và Thiếu Tá Tuấn cùng với lực lượng giang thuyền hành quân đường thủy. Tôi chỉ kịp gom vội đống dao kéo cho "mission impossible" này.
Thực chưa bao giờ có cuộc hành quân nào "bi, hùng" hơn thế ! Hành Quân đi vào hang ổ cuả Việt Cộng để... đỡ đẻ !
Đến nơi, sau khi bố trí canh gác, chỉ có "Bác Sĩ" Tuấn và tôi được vào ... "phòng sanh". Dưới ánh sáng mập mờ cuả ngọn đèn dầu là một "ca"... sanh ngược rất khó, cần phải cắt vá, “Bác Sĩ” Tuấn tình nguyện chiếu đèn "pin" cho tôi giải phẫu!
Thật chán mớ đời, Thiếu Tá Tuấn nổi tiếng là người chấm tọa độ phản pháo trên bản đồ... hết xảy, thế mà cái "tọa độ" to tướng của bà sản phụ, thì ông ấy cứ chiếu đèn "pin" đi mãi đâu, tôi nhìn lên mới biết ông "Bác sĩ" Tuấn vừa ... đỡ đẻ, vừa ... quay mặt đi nơi khác, báo hại tôi trở thành Hiệp Sĩ...mù !
Mãi cho đến lúc có tiếng trẻ con khóc oe oe, thì ông Tuấn la lên:
"Ơ, bà sanh được một thằng con trai, thế bà đặt tên cho nó chưa" ?
Bà sản phụ trả lời:
"Cám ơn Thiếu Tá, xin cho phép em đặt tên nó là... Tuấn, giống người sanh ra nó!
"Bà đặt tên nó theo tên tôi cũng được, nhưng nhớ bảo nó sau này không được theo...Việt Cộng mà bắn lại tôi đấy nhé!
Sáng hôm sau, chúng tôi sang Quận để giúp làm giấy khai sanh cho thằng nhỏ và sau đó ghé cô Kim Hoa mua một ít thuốc cho sản phụ. Tôi nói đùa để trêu cô Kim Hoa:
"Tôi mua thuốc này cho thằng... con Ông Tuấn đấy" !
Chỉ thấy cô vùng vằng bỏ đi, nước mắt như muốn trào ra và nhất định không chịu bán! khiến tôi phải giải thích hết lời cô mới nguôi cơn giận
"Em "hổng" có tin đâu, "ảnh" nhát.... thấy mồ" !
Nhìn sang thì thấy ông Tuấn, lau kính liên tục, mà càng lau ...thì kính càng mờ, vì mồ hôi tay ướt đẫm.
Anh hùng cách mấy cũng phải chịu thua nước mắt giai nhân !
Cứu mạng tôi lần thứ hai
Khoảng giữa tháng 12 năm 1974, chúng tôi đang ở Tuyên Nhơn thì nhận khẩn lệnh sang giải cứu Mộc Hóa, 2 Đại Đội Cơ Động được điều động theo chiếc Trực Thăng Chinook tiến vào trước, để lập "cầu nối" cho phần còn lại của Trung Đoàn, vì Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng của Tiểu Đoàn 114 đang bị thương mà không thể tải thương ra được nên tôi cũng được lệnh theo chiếc Chinook này vào trong chuyến đầu tiên. Vừa theo sau thùng thuốc để bước lên máy bay, thì ông Trung sĩ Nghĩa, cận vệ của Thiếu Tá Tuấn chạy lại nắm tay tôi nói :
"Thiếu Tá bảo ông quay về gấp vì còn ... bỏ quên nhiều đồ"
Tưởng thật, tôi chạy ngược lại Bộ Chỉ Huy để lấy đồ bỏ quên, thì kịp cùng với anh Tuấn nhìn lên chiếc Trực thăng Chinook, đang cháy như một cây đuốc do trúng hoả tiễn "tầm nhiệt" SA7 cuả Việt Cộng.
Một người bạn Chu Văn An của tôi, là Nhiếp Ảnh Gia Quân Đội cũng chết trong chuyến bay này!
Tôi vừa sợ, vừa bàng hoàng nói lời cám ơn thì anh Tuấn an ủi:
"Mạng ông lớn lắm, nếu ông đi lính tác chiến thì dám lên... Tướng như chơi" !
Mấy hôm sau hoàn hồn, tôi mới hỏi lý do tại sao anh gọi tôi trở lại, thì anh nói nửa đùa, nửa thật:
"Tôi thấy ông đi theo hai người lính khiêng thùng thuốc giống như khiêng quan tài, trông... kinh quá ! Vả lại ở vùng này lâu rồi nên tôi biết Chinook rất nặng nề, khó tránh được SA7"
Tôi và cô Kim Hoa rời Tuyên Nhơn ngày 20 tháng 4 năm 1975, đó cũng là lần gặp gỡ cuối cùng, anh Tuấn có dặn tôi:
"Tình hình bây giờ khá bi đát, nhưng chưa tuyệt vọng, nếu có gì xảy ra tôi sẽ đợi ông ở Long Xuyên" rồi anh cho tôi tần số và ký hiệu liên lạc, nhưng những ngày sau đó mọi việc biến chuyển quá nhanh và sau cùng, tôi chui đầu vào ... Trại Cải Tạo
Đoạn Kết
Về cái chết oai hùng của Thiếu Tá Tuấn, nếu các bạn muốn biết thì có thể xem ở bất cứ đặc san Hải Quân nào, số Kỷ Niệm 30 tháng Tư.
Năm 1986, tôi quyết định bỏ ra một năm để đi khắp Việt Nam, thăm lại những chốn xưa. Trên Quốc Lộ 4, khi ngang qua "bót 23", một động lực vô hình đã thôi thúc tôi trở về thăm Tuyên Nhơn dù là lòng không muốn, vì nỗi ám ảnh bởi những kỷ niệm không vui về Thiếu Tá Lê Anh Tuấn. Thuê một chiếc "xe đạp thồ", khi vào đến Tuyên Nhơn thì trời đã xế chiều.
Cảnh cũ còn nguyên nhưng người xưa đã không còn nữa!
Trong buổi chiều sương mờ, đứng trên Cầu Ông Tuấn nhìn sang Bộ Chỉ Huy Chi Khu cũ, nay đã biến thành "Doanh trại Quân Đội Nhân Dân". Tôi có cảm giác như muốn khóc và bên tai tôi bỗng nhiên văng vẳng lời đồng dao:
"Quân đội nhân dân là...con Rận nhân đôi !
Con Rận nhân đôi là...Con Rận nhân Hai
Con Rận nhân Hai là...Con Hại Nhân Dân !"
Việt Cộng bao giờ cũng... HÊN !
Chỉ vì sự gượng ép trong cách gieo vần mà Quân đội nhân dân được ví... với con RẬN NHÂN ĐÔI.
So sánh như thế thì thực là OAN cho CON RẬN ! Đúng ra phải so sánh Việt Cộng với con gì khác ‘tồi bại’ hơn nhiều !
Con rận và Việt Cộng chỉ giống nhau ở điểm cả hai đều là loại ký sinh trùng ... hút máu người.
Nhưng con rận "CÓ TƯ CÁCH" hơn Việt cộng nhiều! vì RẬN đâu có cầm súng bắn vào đàn bà, trẻ con.
Tuy nhiên, với sự công bằng tối thiểu của một học sinh Chu Văn An, tôi cũng phải khen bọn Việt Cộng một điều:
Nếu không có những thằng Việt Công dơ dáy, bẩn thỉu thì làm sao nổi bật lên tư cách của người anh hùng.
Ngủ ngon nhé, Anh Tuấn!
Chúng tôi vẫn còn nhớ đến anh
Nghiêm Hữu Hùng
Tưởng niệm HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn
Đệ Nhị Kim Ngưu
LỄ AN VỊ HÀI CỐT
HQ TH/TÁ LÊ ANH TUẤN
Hải Quân Thiếu Tá Lê Anh Tuấn xuất thân Khoá XIV HQ Nha Trang, nguyên Chỉ Huy Trưởng Giang Ðoàn 43 Ngăn Chặn đã tuẫn tiết đêm 30 Tháng 4 Năm 1975 tại Kinh Thủ Thừa, Long An, cương quyết không đầu hàng giặc cộng.
Sóng Tiền Giang vang lời sông núi
Kinh Thủ Thừa muôn thuở lưu danh
Ðệ Nhị Kim Ngưu
Sau hơn 20 năm trời, hài cốt của ông đã được gia đình và các bạn đồng khóa gia công tìm kiếm được. Sau khi hoả táng tại Việt Nam đã đưa về tới San Jose, California, Hoa Kỳ lúc 13 giờ ngày 3 Tháng 2 Năm 1996.
Tại tư gia, thân mẫu Tuấn cùng thân bằng quyến thuộc và các bạn đồng khoá đã tề tựu đông đủ để nghênh đón hài cốt cùng anh linh vị anh hùng Vị Quốc Vong Thân.
Bên cạnh bàn thờ của gia đình thiết kế là bảng Tưởng Niệm và Vinh Danh cố HQ Th/Tá Lê Anh Tuấn do các chiến hữu đồng khoá thực hiện. Bên trái là Quân Kỳ HQ, bên phải dựa trên quốc kỳ là vòng hoa Tổ Quốc Ghi Ơn.
Toán Quốc Quân Kỳ của Hội Bạch Ðằng trong lễ Truy Ðiệu
và An Vị cố HQ Thiếu Tá Lê Anh Tuấn
Hôm nay Tuấn đã thực sự về với mẹ già và gia đình. Sự hiện hữu của nắm tro tàn tuy không khỏa lấp được nỗi đau đớn trước cảnh sinh ly tử biệt nhưng đã đem lại sư bằng an trong tâm hồn thân quyến cùng bằng hữu. Trong một không khí đơn giản, thân mật mà trang nghiêm, kỷ niệm lúc sinh thời với Tuấn như sống động trong tâm khảm mọi người.
Sáng hôm sau, ngày 4 Tháng 2 Năm 1996, hài cốt cố HQ Th/Tá Lê Anh Tuấn được an vị tại chùa Giác Minh Palo Alto với đầy đủ Lễ Nghi Quân Cách. Hiện diện trong buổi lễ ngoài thân bằng quyến thuộc còn có Ðô Ðốc Trần Văn Chơn, cựu Tư Lệnh HQ/VNCH, các chiến hữu trong hội Bạch Ðằng, các bạn Khoá 14 HQ và một số thân hào nhân sĩ trong vùng.
Việc tìm kiếm được hài cốt của cố HQ Th/Tá Lê Anh Tuấn đã gặp rất nhiều may mắn, ngẫu nhiên, trùng hợp cùng những run rủi kỳ lạ khiến người đi tìm phải tin là do Uy Linh của người khuất mặt đưa đường dẫn lối.. Thời gian tìm kiếm khởi sự từ tháng 9/95 hoàn tất vào tháng 2/96. Với khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy mà kết qủa thật là chính xác, tốt đẹp ?
Chứng tích xác định hài cốt
của Th/Tá Lê Anh Tuấn.
-Huy hiệu GÐ43NC còn rất mờ, chỉ còn hình dạng của huy hiệu hằn trên túi bọc.
-Thẻ căn cước bọc nhựa số 06819799 cấp ngày 13/12/1970 tại Quận I Saigon với đầy đủ con dấu, tên tuổi, chữ ký của Trưởng Ty Cảnh Sát Quận I là Nguyễn Lễ Tính.
-Dây lưng HQ đã phai mầu, không thể là yếu tố khẳng định lý lịch.
-Giấy báo danh trường Luật với đầy đủ tên tuổi hằn trên lớp bao bằng nhựa.
-Thẻ bài do dân làng lén cất giữ từ ngày 30/4/1975 có ý chờ thân nhân nghe được tin đến nhận xác thì trao trả. Dân làng đã cất giữ suốt 20 năm qua, thường dùng để cạo gió chữa bệnh và được dân làng truyền tụng là rất linh nghiệm. Dân làng đã kính cẩn gửi hoàn gia đình với nhiều nuối tiếc sau gần 21 năm cất giữ như một bảo vật.
Mộ phần của cố HQ Th/Tá Lê Anh Tuấn cũng được dân làng sùng bái và thường lén lút tu bổ, cúng kiếng trong suốt 20 năm trời.
Hình ảnh các di tích:
(1)Huy hiệu GÐ43nc; (2) Thẻ căn cước bọc nhựa
(3) Dây lưng Hải Quân; (4) Giấy báo danh trường Luật; (5) Hũ đựng hài cốt
Qủa thật với những dấu vết tàn phá trên di tích thì chỉ khoảng 1 năm sau là thẻ căn cước bọc nhựa cũng bị mục nát và khi đó thì rất khó cho việc xác định hài cốt. Kết qủa mỹ mãn trong việc tìm kiếm như đã do một quyền lực huyền bí đưa đẩy ?
Con Nai Và Bụi Cây Leo (Bùi Phạm Thành)
Con Nai Và Bụi Cây Leo
Thành ngữ Mỹ có câu “Bite the hand that feeds you, and you will eventually pay the price. - Cắn bàn tay nuôi dưỡng mình, rồi thì cũng sẽ phải trả giá đắt cho hành động đó.” Ông bà ta đã khuyên “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” cũng đều có ý nghĩa tương tự.
Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc “Truyện Ngụ Ngôn: 185 - Con Nai Và Bụi Cây Leo”, được Bùi Phạm Thành kể lại bằng thơ, một câu chuyện ngụ ngôn từ thời cổ đại cho thấy “vô ơn thì sẽ nhận hậu quả xấu.”
Con Nai Và Bụi Cây Leo
Con Nai chạy trốn thợ săn
Thấy bụi chằng chịt, vào trong trốn liền.
Hồi sau tưởng đã bình yên
Con Nai bèn gặm ăn liền dây leo.
Xào xạc nghe tiếng lá kêu
Thợ săn quay lại xem điều gì đây
Nhìn ra Nai trong bụi cây
Lền bắn một mũi tên ngay Nai này.
Hấp hối nằm dưới bụi cây
Nai than thở nói: “Việc này tại ta
Bụi cây cứu ta thế mà
Chưa chi ta đã quay ra ăn liền.”
Giúp ta, đúng là người hiền
Chớ đối xử tệ, nên đền đáp ơn.
Nếu mà bạc nghĩa vong ơn
Lưới Trời lồng lộng không đường thoát thân.
Bùi Phạm Thành
Ngày 15 tháng 11 năm 2025
Thú Đam Mê Đọc Sách Của Người Dân Hà Nội (NHH)
……..Đoàn người mua sách có vẻ háo hức lắm, họ kháo nhau "năm nay trúng lớn," vì tin tức lộ ra từ "bên trong" cho hay năm nay sách bán ra gồm 3 bộ:
"Tư Bản Luận cuả Các-Mác", "Lê-Nin toàn tập" và "Hồ Chí Minh Toàn Tập".
Toàn những bộ sách dày, hiếm quý, mỗi bộ nhiều không thua gì Encyclopedia, in ấn công phu trên giấy trắng bóng lưỡng, bìa cứng mầu đỏ có chữ kim nhũ tuyệt đẹp.
Thấy toàn là những sách khó đọc mà không khí mua sách lại phấn khởi như thế nên tôi cũng tò mò hỏi thăm:
"Thế trong đó họ có bán Tiểu Thuyết Tự Lực Văn Đoàn không ?"
Thì một bà đứng hàng trước chõ miệng vào:
"Rõ chán cái ông này cứ hỏi ngây ngô, rách cả việc. Người ta xếp hàng mua giấy gói xôi thì mới phải chờ lâu đến thế ! chứ mua ba cái sách truyện thổ tả in bắng giấy bèo nhèo thì bán cho chó nó ăn à?. Đi ỉa thì dùng Báo Nhân Dân, vừa sẵn đỡ tốn tiền, giấy lại dai và chùi sạch tay hơn nhiều."
Read moreBAO GIỜ BẮC KỲ HỌC CÁCH LÀM NGƯỜI TỬ TẾ (Mai Thị Mùi)
Suốt từ 75 đến giờ, dân Nam đã ăn đủ mùi tráo trở, xảo quyệt, lọc lừa rồi. Họ ấm ức, họ tức tưởi, họ chán ngán quá nhiều rồi. Người dân Nam nào lên tiếng sẽ bị cho là kỳ thị. Một người Bắc 54 lên tiếng cũng bị cho là mất gốc nên mới nói.
Còn một người Bắc 75 lên tiếng thì họ cho là vào hùa với dân Nam.
Tôi, một con nhỏ Bắc kỳ 1985 lên tiếng thì bị cho là cố xóa vết tích Bắc kỳ, muốn chứng minh mình là thượng hảo hạng. ……….
Read moreParis Và Những Câu Chuyện Kỳ Lạ Về Nước Hoa ( Trúc Tiên )
Trước khi trở thành biểu tượng của sự tinh tế, nước hoa từng gắn với những bí mật của cung đình, những khu vườn đầy hoa và cả những huyền thoại văn chương. Từ người thợ nước hoa bí ẩn của Catherine de Médicis đến khu vườn hoa hồng của Hoàng hậu Joséphine, từ Shalimar của Guerlain đến Chanel No.5, lịch sử nước hoa Pháp cũng chính là một phần của lịch sử Paris.
René le Florentin – phù thủy bí ẩn của Catherine de Médicis
Năm 1533, Catherine de Médicis rời Florence để sang Pháp kết hôn với hoàng tử Henri – người sau này trở thành vua Henri II. Cùng với bà đến Paris không chỉ là những nghi thức tinh tế của triều đình Ý, mà còn cả một thế giới mới của mùi hương.
Nhân dịp cuộc hôn nhân ấy, tu viện Santa Maria Novella ở Florence đã tạo ra cho Catherine một loại nước thơm đặc biệt mang tên Eau de la Reine – “Nước của Hoàng hậu”. Hương thơm của nó pha trộn bergamote, hoa trắng và các loại gia vị nhẹ, tạo nên một mùi hương thanh khiết nhưng sâu lắng. Công thức này vẫn còn được lưu giữ đến ngày nay.
Nhưng món quà quan trọng nhất mà Catherine mang sang Pháp không phải là một chai nước hoa, mà là người thợ chế tác mùi hương của bà: Renato Bianco, sau này được gọi ở Paris là René le Florentin. René nhanh chóng trở thành một nhân vật gây tò mò trong triều đình. Trong những lời đồn của thời ấy, ông không chỉ là một nhà chế tác nước hoa mà còn là người nắm giữ những bí mật nguy hiểm của thảo mộc và hương liệu.
Một giai thoại kể rằng Catherine de Médicis từng tìm cách đầu độc hoàng tử Condé bằng một pomander – quả cầu tỏa hương – do chính René chuẩn bị. Câu chuyện có lẽ chỉ thuộc về truyền thuyết, nhưng nó cho thấy nỗi ám ảnh của thời Phục Hưng: ranh giới giữa mùi hương và độc dược đôi khi rất mong manh.
Một câu chuyện khác liên quan đến Jeanne d’Albret, nữ hoàng xứ Navarre và mẹ của Henri IV. Tháng 6 năm 1572, bà đột ngột qua đời tại Paris. Tin đồn lan khắp triều đình: người ta cho rằng bà đã đeo một đôi găng tay tẩm hương trong đó có giấu chất độc.
Những lời buộc tội như thế, được truyền miệng qua nhiều thế hệ, dần biến Catherine de Médicis thành một nhân vật gần như huyền thoại – một nữ hoàng vừa quyền lực vừa đáng sợ.
Giữa truyền thuyết và sự thật, Paris thời Phục Hưng vì thế mang một hình ảnh rất đặc biệt: nơi nước hoa không chỉ gắn với sự quyến rũ, mà đôi khi còn gợi lên nỗi sợ hãi.
Hoàng hậu Joséphine và khu vườn hoa hồng Malmaison
Đến đầu thế kỷ XIX, nước hoa Pháp tìm thấy một biểu tượng dịu dàng hơn: hoa hồng. Câu chuyện ấy bắt đầu tại Malmaison, điền trang của Hoàng hậu Joséphine – vợ của Napoléon Bonaparte – ở ngoại ô Paris. Joséphine có một niềm say mê đặc biệt đối với hoa hồng. Bà muốn sưu tập càng nhiều giống hồng càng tốt, như thể muốn giữ lại trong khu vườn của mình toàn bộ vẻ đẹp mong manh của loài hoa ấy.
Các nhà thực vật học và những người làm vườn mang về Malmaison những giống hồng từ khắp nơi: Anh, Ý, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Trung Hoa. Có thời điểm khu vườn của hoàng hậu sở hữu hơn hai trăm giống hồng, gần như toàn bộ những giống hồng được biết đến ở châu Âu. Ngay cả khi Pháp và Anh đang chiến tranh, nhiều cây giống vẫn được gửi đến Malmaison – như thể trong thế giới của hoa, những xung đột không còn ý nghĩa.
Mùa hè, khi hoa nở rộ, khu vườn tràn ngập hương hồng dịu dàng; nhiều vị khách nói rằng họ ngửi thấy nó trước khi nhìn thấy. Joséphine còn mời họa sĩ thực vật Pierre-Joseph Redouté – “Raphaël của các loài hoa” – vẽ những giống hồng trong vườn. Các bức tranh sau này được xuất bản trong cuốn Les Roses (1817), trở thành một trong những bộ minh họa hoa đẹp nhất châu Âu.
Từ Malmaison, hoa hồng dần trở thành một trong những nguyên liệu quan trọng nhất của ngành nước hoa Pháp. Nếu thời Catherine de Médicis, mùi hương còn gắn với bí mật của triều đình, thì đến thời Joséphine, nước hoa bắt đầu gắn với thiên nhiên và nghệ thuật.
Vườn hồng Château Joséphine – Malmaison
Shalimar – khi nước hoa trở thành huyền thoại
Đầu thế kỷ XX, khi Paris đã trở thành trung tâm của nghệ thuật nước hoa, các nhà nước hoa bắt đầu tìm kiếm cảm hứng vượt ra ngoài châu Âu. Một trong những câu chuyện đẹp nhất của nước hoa Pháp ra đời năm 1925, trong nhà nước hoa Guerlain.
Người tạo ra nó là Jacques Guerlain. Cảm hứng của ông đến từ một câu chuyện tình nổi tiếng của Ấn Độ. Vào thế kỷ XVII, hoàng đế Shah Jahan đã xây dựng Taj Mahal để tưởng nhớ người vợ yêu quý của mình, Mumtaz Mahal. Theo truyền thuyết, trước đó hai người thường gặp nhau trong vườn Shalimar – nơi những hồ nước và những luống hoa tỏa hương trong đêm.
Jacques Guerlain muốn tạo ra một mùi hương có thể gợi lại khung cảnh ấy: một khu vườn phương Đông vào buổi tối, nơi hương hoa hòa với hơi ấm của đất và ánh sáng của đèn.
Kết quả là Shalimar – một mùi hương sâu và ấm, nơi vanille, hoa và nhựa thơm hòa quyện thành một lớp hương vừa mềm mại vừa bí ẩn. Khi ra mắt tại Triển lãm Nghệ thuật Trang trí Quốc tế ở Paris năm 1925, Shalimar lập tức gây ấn tượng. Chai nước hoa với thiết kế như một chiếc quạt Ba Tư trở thành biểu tượng của sự sang trọng.
Shalimar không chỉ là một chai nước hoa. Nó là một câu chuyện tình được kể lại bằng mùi hương.
Chanel No.5 – mùi hương của thế kỷ XX
Nếu Shalimar là một giấc mơ phương Đông, thì vài năm trước đó Paris đã chứng kiến sự ra đời của một mùi hương hoàn toàn khác.
Năm 1921, Gabrielle Chanel quyết định tạo ra chai nước hoa của riêng mình. Nhưng bà không muốn một mùi hương giống như những loại nước hoa quen thuộc lúc bấy giờ – những mùi chỉ gợi lại một bông hoa cụ thể. “Tôi muốn một mùi hương của người phụ nữ, chứ không phải của một bông hoa”, Chanel từng nói.
Gabrielle Chanel
Để thực hiện ý tưởng ấy, bà hợp tác với Ernest Beaux, một nhà chế tác nước hoa từng làm việc cho triều đình Nga. Beaux mang đến nhiều mẫu thử khác nhau, và Chanel chọn mẫu số 5.
Điều làm nên cuộc cách mạng của Chanel No.5 nằm ở việc sử dụng aldehyde, một hợp chất tổng hợp tạo ra mùi hương hoàn toàn mới – trừu tượng, sáng và không giống bất kỳ bông hoa nào trong tự nhiên. Ngay cả thiết kế chai cũng khác thường: một chai thủy tinh vuông đơn giản, gần như khắc khổ. Chính sự tối giản ấy lại trở thành biểu tượng.
Chanel No.5 nhanh chóng trở thành một trong những chai nước hoa nổi tiếng nhất thế giới. Khi Marilyn Monroe từng nói rằng bà chỉ mặc “vài giọt Chanel No.5” khi đi ngủ, huyền thoại của chai nước hoa ấy càng lan rộng.
Shalimar của Guerlain – mùi hương được lấy cảm hứng từ khu vườn Shalimar và huyền thoại Taj Mahal.
Jacques Guerlain (1874-1963)
Jean-Baptiste Grenouille – Paris trong mùi hương của bóng tối
Nếu những câu chuyện trước đó của nước hoa gắn với hoàng hậu và những huyền thoại tình yêu, thì tiểu thuyết Le Parfum của Patrick Süskind (1985) lại đưa người đọc vào một Paris hoàn toàn khác. Nhân vật chính, Jean-Baptiste Grenouille, sinh ra giữa khu chợ cá hôi tanh của Paris thế kỷ XVIII nhưng sở hữu khứu giác gần như hoàn hảo, có thể nhận ra từng mùi hương nhỏ nhất của thành phố. Trớ trêu thay, chính hắn lại không có mùi của riêng mình. Bị ám ảnh bởi việc tạo ra mùi hương hoàn hảo nhất thế giới, Grenouille bắt đầu một hành trình rùng rợn để chưng cất hương thơm của những cô gái trẻ.
Qua câu chuyện ấy, Süskind đã biến Paris thành một thành phố của khứu giác, nơi mùi chợ cá, mùi da thuộc, mùi sông Seine và mùi của con người hòa lẫn với nhau. Le Parfum vì thế không chỉ là một tiểu thuyết trinh thám, mà còn là một suy tưởng về sức mạnh kỳ lạ của mùi hương.
Paris – kinh đô của những câu chuyện mùi hương
Câu chuyện của Jean-Baptiste Grenouille, dẫu chỉ tồn tại trong văn chương, vẫn gợi ra một điều: mùi hương luôn mang một quyền lực kỳ lạ. Nó có thể đánh thức ký ức và lay động cảm xúc của con người. Có lẽ vì thế mà trong lịch sử Paris, nước hoa chưa bao giờ chỉ là một sản phẩm làm đẹp. Từ những bí mật của triều đình Catherine de Médicis, khu vườn hoa hồng của Joséphine, đến những sáng tạo của Guerlain hay Chanel, mùi hương luôn gắn với những câu chuyện của con người. Và cũng từ những câu chuyện ấy, Paris dần trở thành kinh đô của nước hoa – nơi mùi hương mang theo cả lịch sử, cảm xúc và trí tưởng tượng.
Marilyn Monroe: “tôi không mặc gì khi đi ngủ ngoài vài giọt Chanel No5”
Trúc Tiên
Vì Sao Con Công Lại Ghen Tị Với Một Con Quạ? (Mỹ Mỹ biên dịch)
Vì sao con Công lại ghen tị với một con quạ?
Câu chuyện này dành cho những ai luôn cảm thấy cuộc sống của mình không đủ tốt và cho rằng người khác hạnh phúc hơn mình.
Có một con quạ luôn chán ghét cuộc sống của chính mình. Nó cảm thấy mình xấu xí, bị mọi người ghét bỏ, thậm chí kiếm thức ăn cũng vô cùng khó khăn. Một ngày nọ, nó buồn bã đậu trên cành cây, nước mắt không ngừng rơi xuống.
Đúng lúc ấy, một vị sư đi ngang qua và ngồi nghỉ dưới gốc cây. Những giọt nước mắt của con quạ rơi xuống môi ông. Vị sư ngẩng đầu lên, nhìn thấy con quạ đang khóc, trong lòng dâng lên niềm thương cảm.
Ông hỏi:
– Bạn của ta, chuyện gì đã xảy ra? Tại sao ngươi lại khóc?
Con quạ nghẹn ngào đáp:
– Thưa bậc trí giả, tôi quá tuyệt vọng với cuộc sống của mình. Không ai thích tôi, mọi người luôn xua đuổi tôi. Không ai muốn cho tôi thức ăn, ai cũng ghét tôi. Tôi nghĩ chết đi còn tốt hơn sống như thế này.
Vị sư dịu dàng nói:
– Bạn của ta, chúng ta nên học cách vui vẻ trong mọi hoàn cảnh.
Nhưng con quạ không thể hiểu được lời ấy, nó vẫn tiếp tục than thân trách phận.
Vị sư khẽ thở dài:
– Đừng buồn nữa. Hãy nói cho ta biết, ngươi muốn trở thành điều gì? Ta có thể giúp ngươi thực hiện điều đó.
Nghe vậy, con quạ lau nước mắt, phấn chấn hẳn lên:
– Nếu ngài có thể giúp tôi, tôi muốn trở thành một con thiên nga!
Vị sư mỉm cười:
– Được thôi. Nhưng trước tiên, hãy đi hỏi thiên nga xem nó có hài lòng với cuộc sống của mình hay không, rồi hãy quay lại gặp ta.
Con quạ vui vẻ bay đi tìm thiên nga.
Nó nhìn thấy một con thiên nga trắng như tuyết đang bơi trên mặt hồ. Quạ bay đến và thán phục:
– Bạn thật xinh đẹp! Mọi người đều yêu quý bạn. Chắc hẳn bạn là loài chim hạnh phúc nhất thế gian.
Thiên nga buồn bã đáp:
– Không đâu, bạn của tôi. Tôi chẳng hạnh phúc chút nào. Trên thế giới có biết bao màu sắc rực rỡ, còn tôi chỉ có một màu trắng đơn điệu. Tôi nghĩ vẹt mới là loài chim hạnh phúc nhất, vì chúng sở hữu bộ lông đầy màu sắc.
Thế là con quạ lại đi tìm vẹt.
Nó nói:
– Bạn thật đẹp! Bộ lông của bạn rực rỡ biết bao. Chắc chắn bạn là loài chim hạnh phúc nhất thế giới.
Con vẹt lắc đầu:
– Không, tôi không hạnh phúc. Con người luôn muốn nhốt chúng tôi vào lồng. Mỗi ngày tôi đều lo sợ bị bắt và mất tự do. Tôi nghĩ công mới là loài chim hạnh phúc nhất. Chúng không chỉ đẹp mà còn tự do hơn chúng tôi.
Nghe vậy, con quạ lại lên đường tìm công.
Sau bao vất vả, nó tìm thấy một con công trong khu rừng, đang bị rất nhiều người vây quanh ngắm nhìn. Đợi đám đông giải tán, quạ mới đến gần và nói:
– Công ơi, bạn thật đẹp! Ngày nào cũng có bao nhiêu người đến chiêm ngưỡng bạn. Còn tôi, hễ ai nhìn thấy đều muốn đuổi đi. Chắc chắn bạn là loài chim hạnh phúc nhất thế gian.
Con công khẽ thở dài:
– Tôi từng nghĩ mình là loài chim đẹp nhất và hạnh phúc nhất. Nhưng cũng chính vì vẻ đẹp ấy mà tôi bị giam cầm, mất đi tự do. Người ta bắt tôi chỉ vì những chiếc lông đẹp, nhổ lông tôi để làm đồ trang trí. Tôi đã chịu rất nhiều đau khổ. Bạn của tôi, tôi chẳng hề hạnh phúc…
Con quạ vô cùng ngạc nhiên:
– Vậy theo bạn, ai mới là loài chim hạnh phúc nhất?
Con công suy nghĩ một lúc rồi đáp:
– Tôi đã quan sát tất cả các loài vật và nhận ra rằng chính bạn – con quạ – mới là loài chim hạnh phúc nhất. Không ai muốn bắt hay nhốt bạn. Bạn có thể tự do bay đến bất cứ nơi đâu. Nhiều ngày qua, tôi vẫn nghĩ rằng: giá như tôi là một con quạ thì tốt biết mấy!
Nghe những lời ấy, con quạ như bừng tỉnh.
Lần đầu tiên trong đời, nó nhận ra rằng được làm một con quạ cũng là một điều vô cùng hạnh phúc.
Nó lập tức quay về gặp vị sư và xúc động nói:
– Thưa bậc trí giả, tôi đã hiểu rồi! Tôi không cần trở thành bất kỳ loài chim nào khác. Được là chính mình đã là điều tuyệt vời nhất.
Vị sư mỉm cười và gật đầu.
Nhìn lại cuộc đời mình, chúng ta sẽ nhận ra rằng nỗi khổ của con người thường bắt nguồn từ việc luôn đem bản thân ra so sánh với người khác. Chúng ta chỉ nhìn thấy những gì người khác có mà mình không có, nhưng lại quên mất những điều quý giá mà bản thân đang sở hữu.
Luôn có người giàu hơn ta, nhưng cũng luôn có người khó khăn hơn ta. Nếu cả đời chỉ chăm chăm so sánh, chúng ta sẽ không bao giờ thực sự hạnh phúc. Biết đủ mới là giàu có. Biết trân trọng những gì mình đang có mới là hạnh phúc thật sự.
Mỗi khi cảm thấy buồn bã hay bất mãn với cuộc sống, hãy nhớ đến câu chuyện của con quạ này và mỉm cười với cuộc đời. Bởi đôi khi, điều mà bạn đang có lại chính là điều mà người khác hằng ao ước.
Mỹ Mỹ biên dịch
Bà Ngoại Ô Sin (Vô Danh, Bài Trên Net)
Đọc câu chuyện trên mạng xã hội của một bà Mỹ kêu hy sinh đời mẹ củng cố đời con rồi cuối cùng bà ta Chán Mớ Đời bỏ nghề làm ô sin cho con và kể lại câu chuyện thấy hơi quen quen. Như người Việt hay kêu “sống không cho ăn, chết làm văn tế ruồi “…..
……Bà Alice cho biết trên giấy tờ của chính phủ bà là y tá về hưu với số tiền hưu trí ít ỏi nhưng trên thực tế bà làm việc toàn thời gian như lái xe đưa cháu đi học, nấu ăn rồi dạy hai đứa cháu làm bài tập.
Read moreCòn Đâu Cánh Bướm? (Tưởng Nhớ Nữ Nghệ Sĩ Hồ Điệp)
Còn đâu cánh bướm? (Tưởng nhớ Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp)
Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu (Có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Tý) sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Bà vào Nam năm 1954. Thi sĩ Đinh Hùng đã phát hiện ra tài năng ngâm thơ thiên phú của bà nên đặt cho nghệ danh Hồ Điệp.
Có thể giải thích cái tên được hàng triệu người yêu mến này: Hồ Điệp nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ngâm của bà nhẹ nhàng, mỏng manh, nhưng lại nhiều mầu sắc như những cánh bướm.
Hồ Điệp thường ngâm thơ trong chương trình Thi Văn Tao Đàn (Tiếng Nói Thi Văn Miền Tự Do), được đánh giá là giọng ngâm nổi bật hàng nhất thời đó. Gần mười giờ đêm ngày ngày, cảnh vật xung quanh chúng ta đã yên tĩnh, mà chúng ta lắng nghe Hồ Điệp ngâm thơ trên sóng điện với giọng trầm buồn, phảng phất khung cảnh Liêu Trai, cứ tưởng chừng như ở cõi mộng. Ngót 60 năm, nhiều người vẫn còn như nghe thoang thoảng đâu đây giọng ngâm có một không hai ấy, phải rợn tóc gáy, nhất là qua bài Gửi Người Dưới Mộ của thi sĩ Đinh Hùng:
Trời cuối Thu rồi – Em ở đâ
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu?
Thu ơi! đánh thức hồn ma dậy
Ta muốn vào thăm đáy mộ sâu
Em mộng về đâu?
Em mất về đâu?
Hằng đêm ta nguyện, ta cầu
Ấy mầu hương khói là mầu mắt xưa
Em đã về chưa?
Em sắp về chưa?
Trăng sao tắt, ngọn đèn mờ
Ta nằm nhỏ lệ, đọc thơ gọi hồn…
Giữa một đêm Trăng bàng bạc nào đó, nghe bà ngâm nga thánh thót, không ít người đã phải rùng mình tưởng chừng như cảm thấy đâu đó một hồn phách đang lang thang cõi âm.
Hồ Điệp trông hiền dịu phúc hậu, nụ cười luôn nở trên môi khiến nhiều người thương mến. Nhà thơ Nguyễn Phan Cảnh đã ví von, bà là một Quý Bà Thanh Sắc:
Thanh Sắc vọng mãi Đất Trời
Nghìn Thu cánh bướm vỗ hoài hồn Thơ
Với tài năng ít ai sánh bằng, bà được mời trình diễn ngâm thơ ở nhiều nước: Pháp, Thụy Sĩ, Thái Lan, Nhật, Đài Loan. Khán giả Việt Kiều tha hương nhớ nhà nhớ nước lắng nghe Hồ Điệp biểu diễn mà lòng thổn thức nức nở. Cây bút Bích Huyền của Đài VOA kể lại trong bài Một Thoáng Hương Xưa: Vào năm 1961, tại một cuộc họp văn nghệ sĩ với sự tham dự của thi sĩ Vũ Hoàng Chương, Hồ Điệp, nhà văn Mặc Thu (tác giả Gang Thép Đợi Chờ, Bát Cơm Bát Máu) và nhiều người khác, Vũ quân đã làm hai câu thơ tặng cả Mặc Thu và Hồ Điệp:
Mưa cầm, gió bắc (1) thương Hồ Điệp
Thép đợi, gang chờ, xót Mặc Thu
Nhà Thơ Hoàng Hương Trang kể lại: Từ khi mình còn nhỏ, Hồ Điệp là cô bé rất xinh với giọng cười trong như dòng suối tinh khiết, ngày đó chưa u uẩn và chưa biết buồn viễn xứ. Khi vào Sài Gòn, Hồ Điệp hay ra quét lá cây Trứng cá rụng đầy sân. Cô thường mặc quần satin Tuyết Nhung, áo phin trắng nõn, gấu và cổ tay quần áo có thêu rua. Buổi tối đi hát, cô đeo kiềng vàng, mặc áo nhung đen rưng rức trơn một mầu, không thêu, không vẽ. Choàng tấm khăn voan mỏng, chân mang hài cong, trang điểm nhẹ nhàng, tóc búi cao hoặc quấn khăn vành. Cử chỉ cô thật khiêm cung, nhỏ nhẹ, với nét đẹp truyền thống của thục nữ Bắc Hà.
Tác giả Phạm Công Luận (Sài Gòn – Chuyện Đời của Phố) cho biết Hồ Điệp có giọng ngâm mang phong cách cổ điển, âm hưởng Ca trù, thành công với các bài Thất ngôn và Lục bát, nhất là các đoạn trong Truyện Kiều, Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh của thi hào Nguyễn Du, thơ Bà Huyện Thanh Quan, và TTKH rất được thính giả ưa thích.
Cây bút Chu Văn Lễ nhận xét, giọng ngâm Hồ Điệp chắc chắn đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển của Thi ca và trở thành một phần không thể thiếu trong sinh hoạt văn hóa nghệ thuật miền Nam.
Sau 1975, Hồ Điệp từ chối trình diễn, chỉ nhận lời ngâm thơ tại các chùa hay nhà bạn hữu. Trần Vĩnh Tường, cựu nữ sinh Trưng Vương viết về Hồ Điệp trong bài Cánh Bướm Bên Trời: “… Năm 1987, tôi ở trại tị nạn Sin Thai dành cho người vượt biên đường bộ, nằm lẻ loi giữa chân ngọn núi Danreck, thuộc địa phận Thái Lan, cách biên giới Cao Miên chừng 1 km. Lúc đó tôi đang làm việc cho cơ quan Hồng Thập Tự Quốc Tế, lo chuyện tiếp đón, theo dấu người tị nạn, tìm cách đưa họ rải rác từ những cánh rừng về trại. Hôm đó chúng tôi nhận được một lá thư từ Mỹ gửi qua nhờ theo dõi tin tức người thân đã rời Sài Gòn khoảng đầu 1988. Thư cho biết nhóm gồm 11 người trong đó có Hồ Điệp. Đọc xong, lòng tôi nghẹn ngào. Phần vì lo, phần vì mừng. Đã có người đến được trại, và có những bước chân thì vĩnh viễn ngừng lại ở đâu đó, giữa cánh đồng, nơi khe núi, bên cạnh bụi Tre rừng”.
“Tôi báo tin cho một số bạn trong trại. Đêm đó ngồi bên nhau, chúng tôi say sưa nhắc lại những bài thơ, những giọng ngâm của Tao Đàn ngày trước. Ngoài Hồ Điệp, Giáng Hương, Hoàng Oanh, còn những giọng nam như Tô Kiều Ngân, Quách Đàm, Hoàng Thư. Con trai Giáo sư Nguyễn Sĩ Tế là Nguyễn Sĩ Độ mang ghi-ta đệm nhẹ vài dòng nhạc cho Thu Hà cất tiếng ngâm Gửi Người Dưới Mộ mà Hồ Điệp từng ngâm trên Đài Sài Gòn. Bài thơ hay quá đỗi, quá Liêu Trai, phù hợp với ánh Trăng xanh nhạt rải trên mái Tranh, trên từng đám lá Mồng tơi. Tôi quay lại nhìn rặng núi tím thẫm đằng kia để thầm lau nước mắt”.
“Ngày qua ngày, mỗi khi có người tị nạn đến trại, chúng tôi đều hỏi thăm tin tức. Thế nhưng thời gian qua đi, cánh bướm vẫn biền biệt bên trời. Không ai có thể ở trong rừng 6 tháng mà sống sót được”.
“Buổi tối cuối cùng, tôi sang trại Panat để đi Mỹ, bùi ngùi giây phút chia ly. Mọi người yêu cầu Thu Hà ngâm lại bài Gửi Người Dưới Mộ. Bỗng dưng một cánh bướm lẻ loi bay chập chờn trước mặt. Hết dừng trên phím ghi-ta lại nằm yên trên tay Thu Hà. Mọi người rùng mình nhìn nhau. Hay là Hồ Điệp cảm động mối tình chung của thính giả mà bay về báo mộng?”.
“Qua Mỹ nhiều năm. Đọc báo không thấy tin gì về Hồ Điệp cả. Thôi… thôi! Vậy là mây đã tan. Trăng đã khuyết. Ngọc đã vỡ thật rồi…”.
Hoàng Hương Trang cho biết thêm, di ảnh Hồ Điệp được một thính giả yêu giọng ngâm của Bà đem thờ trong chùa An Lạc, đường Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn. NguoiVietBoston đưa tin thêm, các con của Hồ Điệp sau đó đã định cư tại Mỹ.
Quả là, trong số các nghệ sĩ ngâm thơ trước 1975, Hồ Điệp là đàn chị và nổi tiếng hơn cả. Bà ngâm tuyệt vời và xuất sắc mọi thể loại. Nhưng bà cũng là người chịu bất hạnh nghiệt ngã nhất sau 1975, vì đã mất tích trong rừng. Bà được cho là mất vào quãng năm 1987 – 1988, có nghĩa là khi đó đã 57 – 58 tuổi, cái giá phải trả cho cuộc đi tìm tự do ở tuổi ấy sao mà đắt bằng cả sinh mệnh mình – Nhưng bà vẫn kiên quyết ra đi, dù là phụ nữ chân yếu tay mềm.
Còn nhớ, giọng ngâm thiên phú của Hồ Điệp là ngâm trong trẻo và sắc sảo, vừa sang trọng vừa cổ kính. Chuỗi ngân của bà không phải là chuỗi ngân của ca sĩ Tân nhạc, mà như tác phẩm Theo Chân Những Tiếng Hát của Hồ Trường An có viết: “(…) Đó là chuỗi ngân trong khẩu cái (2) chứ không phải ở trong cổ họng, nên nó đã kết thành từng hạt nhỏ li ti như hạt cườm. Chị thường pha thêm điệu lẩy Kiều vào cách ngâm của mình. Song ngâm hay lẩy Kiều, hay pha Sa Mạc, hoặc pha Bồng Mạc, lối nào chị cũng sành sỏi, cũng quyến rũ cả. Có thể bảo, bài Chiêu Hồn Thập Loại Chúng Sinh của Nguyễn Du, chưa có ai diễn tả vượt qua Hồ Điệp. Người nghe phải rợn tóc gáy bởi giọng lảnh lót và ma quái của chị. Ban Tao Đàn, vào mỗi kỳ lễ Vu Lan, thường nhờ Hồ Điệp ngâm bài này”.
“(…) Hồ Điệp đẹp. Vóc dáng thanh mảnh, khuôn trăng phúc hậu. Miệng tươi cười, nhưng cặp mắt sao mà buồn quá đỗi! Chị mà diện áo nhung lam hay áo nhung xanh vào, thì trông sang như một mệnh phụ. Đã vậy, chị lại có tư cách, quen nói năng mềm mỏng như một phụ nữ con nhà nền nếp. Nhiều văn nghệ sĩ sáng tác như Vũ Hoàng Chương, Nguyễn Thị Vinh, Trần Thị Tuệ Mai, Phạm Thiên Thư, Thanh Nam, Hoàng Hương Trang, Nguyễn Thị Thụy Vũ đều quý mến chị”.
Những thi phẩm lừng danh mà Hồ Điệp đã ngâm trong chương trình Tao Đàn: Sáu bài Kim Vân Kiều, bài Cố Nhân – Thơ Hoàng Phong Linh, bài Đàn Thu Tay Ngọc – Thơ Đinh Hùng, bài Giục Giã – Thơ Xuân Diệu, bài Thi Nhân Không Tuổi – Thơ Bàng Bá Lân, bài Vạn Lý Tình Thơ – Thơ Huy Cận.
Bạn xem ảnh ngày ấy, có thấy Hồ Điệp xinh đẹp, mà mong manh không?
——-
(1) Động từ, bắc qua, bắc sang, chứ không phải là danh từ theo nghĩa Đông, Tây, Nam, Bắc.
(2) Một chữ rất hiếm gặp: Khẩu là miệng, Cái là chính. Với ý Hồ Điệp có giọng ngâm thiên phú, làn hơi từ trong miệng đã sẵn có và khỏe, không cần phải lấy sâu từ lồng ngực.
(Loạt bài Bóng Đi Trước Người)
Hồ Ðiệp (1930-1988), tiếng vàng trong không gian
Viên Linh
Nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp – biệt danh do thi sĩ Ðinh Hùng đặt cho cô trong chương trình Thi Ca Tao Ðàn của đài phát thanh quốc gia từ 1954 – đã vĩnh viễn biệt tăm trong cuộc hành trình đường bộ rời xa tổ quốc qua ngả Cao Miên vào một ngày Tháng Năm âm lịch Mậu Thìn (1988) – để xa lánh cộng sản, không còn để lại chút gì của bản thân trong cát bụi, nhưng người hoa khôi ấy của Nghệ thuật Ca trù Việt Nam, giọng ngâm vàng ngọc ấy của thi ca đất nước, còn mãi mãi trong không gian, nếu thỉnh thoảng lại có người muốn “nghe sênh phách thời Hồ Ðiệp,” hay muốn “ngâm thơ kiểu Tao Ðàn.”
Nữ sĩ Hồ Điệp (Hình: Nguyễn Phan Cảnh)
Sáu bảy năm trước người viết bài này đã tổ chức một buổi Tưởng Niệm Tao Ðàn tại hội trường Người Việt, nơi chỉ có khoảng 300 ghế, mà người đến dự tới hơn 400, phải đứng vòng quanh các cửa bên ngoài. Một băng thơ Hồ Ðiệp đã được phát lại, dù chỉ nửa bài, thật ra dù chỉ nửa câu, người ta đã thấy bướm mộng bay về, không gian đã nghe giọng vàng lưu luyến.
Ca trù, bị gọi nôm na là hát ả đào, người ngâm hát bị gọi nôm na là cô đầu, chính thực là kho báu, là quốc túy của ta. Ai làm ra những bài hát nói, những bài thơ cho các cô đào ấy hát? Ai đàn, ai trống, ai đệm nhịp “tùng tùng cắc cắc” cho những giai nhân nghệ sĩ kia giãi tỏ tâm tình? Thưa đó là các nhà trí thức, các nhà thơ danh vọng, đó là những Nguyễn Du, Chu Mạnh Trinh, Tú Xương, Tản Ðà,… tác giả những từ khúc, thi phẩm cả thế kỷ qua được ghi vào chương trình giáo dục của quốc gia.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
(Nguyễn Công Trứ, Ngất Ngưởng)
Một khúc đêm khuya tiếng đã chầy
Nửa chen mặt nước nửa từng mây…
Từ xưa mặt ngọc ai là chẳng
Chén rượu bên đèn luống tỉnh say.
(Nguyễn Khuyến, Tiệc Hát)
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy
Tân thanh đáo để vị thùy thương.
(Chu Mạnh Trinh, Thúy Kiều Oan Trái)
“Chính ở ca trù chúng ta không những thấy được cái chân tướng con người sống động của giới trí thức Việt Nam xưa, mà chúng ta còn thấy được cái tài dung hợp Việt hóa nào Ðường thi, nào Từ nào Phú, nào Lục bát nào Song thất,… và màu sắc phong phú trăm hoa.” (Nguyễn Ðăng Thục, Khoa trưởng Ðại học Văn khoa, đề tựa Ca Trù của Ðỗ Bằng Ðoàn, Ðỗ Trọng Huề)
Cho nên nhiều người lầm lẫn cô đầu với nghệ sĩ ca trù, đã có thời vì thế ca trù bị quên lãng, người ca bị nhìn sai lệch. Nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp là bạn quí của những tài danh như Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Hà Thượng Nhân, Cao Tiêu. Bà tên thật là Nguyễn Thị Tý, tự là Nhu, sinh ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ tức ngày 1 tháng 6, 1930 trong một gia đình nghệ sĩ tại làng Hiệp Lộc, tỉnh Sơn Tây. Gia đình bà nhiều người là các nghệ sĩ chầu Văn, ca ngâm tại các đền chùa, hội hè ở Phủ Giầy, đền Hai Bà, đền Ðức Thánh Trần ở ngoài Bắc. Theo một bài viết của Vĩnh Tường đăng trên Khởi Hành, Hồ Ðiệp mất vào năm 1987, nhưng theo một bài viết của nữ sĩ Hoàng Hương Trang, có khác. “Di ảnh của Hồ Ðiệp hiện thấy được thờ ở chùa An Lạc, đường Phạm Ngũ Lão quận nhất thành phố Sài Gòn, trên di ảnh đề ngày mất 15 tháng 5 Mậu Thìn (1988). Có lẽ đó chỉ là ngày ra đi của Hồ Ðiệp chứ không phải là ngày mất thật sự.” (Hoàng Hương Trang, Nhớ Nghệ Sĩ Ngâm Thơ Hồ Ðiệp). Vẫn theo nhà thơ nữ thì Hồ Ðiệp được thờ ở đây là do lòng hâm mộ của một thính giả, một người say mê giọng ngâm của bà ở Sài Gòn. Một nhà thơ, tiến sĩ ngữ học Ðại Học Prague, Tiệp Khắc, mệnh danh Hồ Ðiệp là Nữ Hoàng Thanh Sắc với hai câu thơ:
Thanh, sắc vọng mãi Ðất Trời
Nghìn thu cánh bướm vỗ hoài Hồn Thơ.
(Nguyễn Phan Cảnh, Dự báo Bùng nổ Thi Ca)
Giọng ngâm chính của Ban Tao Ðàn còn mãi trong không gian, trong lòng người, cụ thể là trong ba băng nhạc nhan đề Thi Nhạc Giao Duyên, Thục Vũ thực hiện năm 1971; băng Mây Hồng do Hồng Vân thu năm 1972; và băng Hồ Ðiệp do vài vị liên tài thực hiện cùng năm.
Bài trên còn viết: “Theo cô Thái Hằng [bà Phạm Duy], thì khi còn nhỏ Hồ Ðiệp là một cô bé rất xinh đẹp. Thái Hằng và Hồ Ðiệp có cùng một ông ngoại. Hồ Ðiệp lớn lên ở quê ngoại, còn Thái Hằng theo bố mẹ ra Hà Nội. Mỗi lần Thái Hằng về quê, Hồ Ðiệp chạy thật nhanh từ cổng nhà lên đến tận bờ đê đón các anh các chị với quà Hà Nội… Hồ Ðiệp có giọng cười trong như một dòng suối tinh khiết và đôi mắt rất đẹp, ngày đó chưa u ẩn và chưa buồn viễn xứ.” Sau 1954 tại Sài Gòn, “Thỉnh thoảng, Hồ Ðiệp hay ra sân quét vạt sân rụng đầy lá trứng cá. Cô hay mặc quần satin tuyết nhung, áo phin trắng nõn, gấu và cổ tay có thêu rua. Buổi tối đi hát, cô hay đeo kiềng vàng, mặc áo nhung đen rưng rức trơn một màu, không thêu, không vẽ. Cô choàng tấm khăn san mỏng, chân mang hài cong. Cô trang điểm rất ít, tóc bới cao hay quấn khăn vành dây. Cử chỉ cô cực kỳ khiêm cung, nhỏ nhẹ. Cô có cái đẹp cổ kính của một thục nữ cõi Bắc Hà.” […] Theo lời bà Hồ Liễu (nữ đại tá QLVNCH), sau 1975 Hồ Ðiệp từ chối trình diễn, chỉ nhận lời ngâm thơ tại các chùa, hay tại nhà bạn hữu…
Như báo chí lâu nay vẫn loan tin, nữ nghệ sĩ Hồ Ðiệp vượt biên bằng đường bộ, và từ đó bặt vô âm tín. Không một nhân chứng nào xuất hiện, để thuật lại những gì đã xảy ra cho nữ nghệ sĩ; khác với trường hợp danh hài Khả Năng.
Nghệ sĩ Khả Năng cũng vượt biên đường bộ, và một nhân chứng là nhà thơ Trần Bát Nhã, sau này là chủ tịch Trung Tâm Văn Bút Louisianna, là chứng nhân, đã thuật lại cái chết của anh, bị bắn chết trong cuộc rượt đuổi cạnh biên giới, như bài tường thuật trên cùng tờ báo.
Có thời người ta coi rẻ nhạc cải cách, có thời người ta coi nhẹ nhạc sến, có thời người ta cười vọng cổ, có thời người ta chê bai nhạc vàng, và có thời người ta ám chỉ “hát cô đầu.”
Giáo Sư Nguyễn Ðăng Thục coi ca trù là quốc hồn quốc túy, nó cũng như ca dao, tục ngữ, đều là những thứ “do cái hồn chung của đất nước tự nhiên sản xuất ra,” cho nên biết gìn giữ kho báu ấy thì văn hóa đất nước mới phong phú được. Dương danh nghệ sĩ chân chính cũng chính là gìn giữ văn hóa chung vậy.
--
TQLC Phúc Yên Nguyễn Xuân Phúc ( MX Tô Văn Cấp)
Khoá 16 Võ Bị Ở Binh Chủng TQLC
Tháng 12/62, có 10 Thiếu Uý Khóa 16 Võ Bị tình nguyện về TQLC
TĐ1: Trịnh An Thạch*, Trần Văn Hiển.
TĐ2: Nguyễn Xuân Phúc*, Nguyễn Văn Kim*.
TĐ3: Phạm Văn Sắt, Nguyễn Đình Thuỷ*.
TĐ4: Trần Ngọc Toàn, Nguyễn Đằng Tống*, Đỗ Hữu Tùng*.
Và một ông thuộc dòng họ “Tôn Thất”, chưa kịp mặc bộ quân phục TQLC thì ông đã không còn “khát khao gió mưa cùng nguy hiểm” nữa mà bay đi…!
Sau đó có thêm 2 anh nữa đó là:
Anh Nguyễn Kim Đễ từ SĐ.7BB chuyển về
Anh Nguyễn Văn Cảnh gốc K16 học Khoá 2 Nha Trang.
Tổng cộng là 12 anh K16 Võ Bị phục vụ trong Binh Chủng TQLC.
Có 11 anh đều là Tiểu Đoàn Trưởng, Lữ Doàn Trưởng, Trưởng Phòng 3 Sư Đoàn. Các anh đã chiến đấu tới giờ phút cuối cũng trong quân phục TQLC. Có những anh đã hy sinh (*) lưu danh sử sách.
Duy có anh “tổn thất” chưa kịp mặc quân phục rằn ri, chưa được làm trung đội trưởng thì đã cao bay xa chạy về chốn bình yên, vì đời binh nghiệp của anh chưa bao giờ được nghe tiếng đạn AK, nay 2023 thì anh đang lăng quăng cùng đồng khoá, một huấn luyện viên súng cối, cả đời binh nghiệp chưa được nghe tiếng cối địch nhưng là chủ tịch đảng kíu nước! Cả hai đang cố tìm một chút danh gì đó để lưu xú muôn đời.
Trong 11 anh Khoá 16 trên đây, tôi có hân hạnh được phục vụ dưới quyền 5 anh: Xuân Phúc, Kim Đễ, Ngọc Toàn, Văn Sắt, Văn Hiển. Các anh đều là tiểu đoàn trưởng, mỗi anh có tài chỉ huy và lãnh đạo riêng khiến cấp trên nể, thuộc cấp phục. Tôi xin giới thiệu đến quý đồng môn, đồng khoá, đồng đội 1 trong 5 anh ấy, đó là:
TQLC Phúc Yên Nguyễn Xuân Phúc.
TQLC Phúc Yên Nguyễn Xuân Phúc tốt nghiệp Khóa 16 Trường Võ Bị, đời binh nghiệp của Anh đã được đồng đội và thân hữu mến phục qua các bài viết, tôi xin trích đoạn một số trong các bài viết các cấp đồng đội TQLC.
***
Tiểu Cần Nguyễn Thế Thụy: Thượng Sĩ am thoại viên BCH/LĐ147/TQLC.
Hạ Lào 719….
Cứ thế, ngày này sang ngày khác, chúng tôi nằm bó gối trong những căn hầm tránh pháo! Sang tuần thứ ba, sau nhiều lần VC vừa pháo kích vừa tấn công bằng bộ binh liên tục, ban ngày pháo kích, ban đêm tấn công, nhưng thảy đều bị TĐ2/TQLC bảo vệ BCH/LĐ147 đẩy lui. Tôi nhớ lúc đó tuyến ĐĐ5/TĐ2 của Tiền Giang Phạm Văn Tiền chịu nặng nhất. Sáng sớm ngày 22/3/1971 VC bắt đầu tấn công có cả xe tăng T54 đi đầu, nhưng chúng cũng bị các anh Trâu Điên chận đứng, tuyến vẫn còn nguyên vẹn. Chỉ có vài thằng đặc công VC lọt vào sau tuyến và đang bị Trâu Điên truy lùng tiêu diệt.
Tôi từ hầm của ban hiệu thính viên chạy sang hầm TOC trình công điện khẩn vừa nhận được từ BTL/SĐ/HQ gửi lên Lữ Đoàn Trưởng là ĐB Thăng Long Trung Tá Hoàng Tích Thông. Trong TOC lúc bấy giờ chật kín người, hệ thống truyền tin tiếng gọi phát ra từ 7 chiếc PRC25, tiếng trả lời vang dội. Tôi trình công điện cho ĐB Thăng Long xong vừa mới quay lưng đi thì một anh ATV kéo tôi lại nhờ điều chỉnh hệ thống truyền tin bị trở ngại. Đang điều chỉnh chiếc máy thì ĐB Nguyễn Xuân Phúc TĐT/TĐ2 vỗ vai tôi nói:
-Cho anh nói chuyện với Kình Ngư (TĐ4/TQLC).
Đây là lần đầu tiên tôi có duyên mặt tận mặt với một cấp chỉ huy có rất nhiều huyền thoại, không như những lần trước xa xa đứng nhìn. Chứng kiến khi ông làm việc, Hạ Sĩ Quan như tôi cũng có đủ kiến thức về bản đồ để theo dõi ngòi bút mỡ ông chấm, gạch, điều động máy bay đánh bom mới thấy rõ cái tài của ông.
Vâng, chính tôi và rất nhiều người trong TOC lúc đó chứng kiến sự kiện một TĐT/TĐ2 Trâu Điên tự nhiên trở thành một Lữ Đoàn Trưởng điều động từ trái sang phải, từ nội bộ Lữ Đoàn đến đơn vị bạn. Thật tuyệt vời, quá tuyệt vời hình ảnh người chỉ huy với đôi mắt mệt mỏi sau hơn 2 tuần chiến trận với quân thù, ông ngồi hẳn lên mặt bàn đóng bằng thùng gỗ đạn pháo binh đặt giàn máy PRC25, ông thao thao bất tuyệt, điện đàm với Hùm Xám (Tiểu Đoàn 7) xong, bỏ ống liên hợp xuống, bốc vội cái khác điều động Pháo Binh, rồi lại với BTL/SĐ/HQ v.v.. cứ thế tiếp tục ông làm việc không ngưng nghỉ. Chắc chắn là tôi không thể nào quên được những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến. Tôi đứng bên ông để trao vội ống liên hợp khi ông cần.
Đại Bàng Phúc Yên ơi! Tất cả những hình ảnh, giọng nói, dáng dấp, và nhứt là tài điều binh, chỉ huy xuất thần của Anh sẽ mãi mãi trong trí nhớ của tôi đến cuối cuộc đời. Xin nghiêm chào vĩnh biệt Anh! (hết trích).
***
TQLC Tr/Tá Nguyễn Văn Phán:
Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc, niềm hãnh diện của Thủy Quân Lục Chiến
“Robert Lửa”, do anh em trong đơn vị đặt, vì đối đầu với trận mạc, ông ta là lửa để đốt cháy địch và ông ta là một sức nóng để sưởi ấm cho đồng đội.
Phúc trình diện Tiểu Đoàn 2/TQLC tại Cà Mau, làm ĐĐP/ĐĐ.3 cho Trung Úy Nguyễn Năng Bảo (sau là Ðại Tá Bảo). Với óc thông minh và một khả năng thiên phú, Phúc đã lấy được cảm tình và sự kính nể của tất cả bạn bè, đồng đội và cả cấp chỉ huy.
Tiểu Đoàn 2 nghỉ dưỡng quân cạnh nhà máy gạo trên đường dẫn về Năm Căn đã bị bỏ hoang nhiều năm. Ðêm đó trời Cà Mau không lạnh nhưng có cái buồn của buổi chiều hôm, Phúc và tôi lang thang ra phố uống rượu. Hai giờ khuya tối mịt mùng, trở về đại đội qua cây cầu sắt khá cao có toán Ðịa Phương Quân đang gác cầu và nghe văng vẳng giọng hát một ca sĩ nào đó trong bản “Trăng Rụng Xuống Cầu”. Hai thằng tôi say ngất ngưỡng bèn cầm tay nhau làm... trăng rụng xuống cầu!
Cả toán Ðịa Phương Quân nhốn nháo la to: “Có người tự tử...” rồi nổ súng lia chia. Tôi và Phúc lội vào bờ ngửa mặt lên trời cười lớn. Sau cùng mấy ông Ðịa Phương Quân mới biết đó là 2 ông thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến đóng ở bên kia cầu.
Quận Ðầm Dơi mất trong đêm hôm sau, Tiểu Đoàn 2 nhảy tiếp viện. Tất cả 4 đại đội xuống đều bị cầm chân nằm chịu chết tại chỗ. Hỏa lực địch quá mạnh, hai tiểu đoàn VC là U Minh và Cửu Long phục kích và chận đường tiếp viện.
Tại sân bay Cà Mau, Phúc và tôi được lệnh nhảy đợt chót, chúng tôi là thành phần sau cùng. Trước khi vào mục tiêu, trên trực thăng tôi nhìn xuống thấy một chiếc B-57 bị bắn rớt nằm xoải cánh, khói mịt mù trong quận.
Tôi và Phúc được thả xuống khoảng 4 giờ chiều. Ðịa thế trống trải, ruộng nước sâu cỡ đầu gối, không tìm được chỗ che thân, các đường mương không đủ che lằn đạn địch đang nổ xối xả vào cánh quân của tôi và Phúc.
Hai thằng gom con cái lại thành một hàng ngang giữa ruộng trống đầy nước. Phúc bò sát tôi và nói:
-Ê Phán! Ðíu có đại đội nào vào chiếm bìa làng được, nằm yên tại chỗ chỉ chờ chết thôi. Tối đến mà tụi vẹm ủi ra là đi đoong”.
Tôi nói với Phúc:
- Vậy bây giờ tính sao? Hay xung phong bừa đi, mình tìm một con đường sống trong con đường chết.
Phúc nói rất bình tĩnh và chậm rãi lúc hai thằng ngâm mình dưới nước:
-Tao gom lính chiếm đám dừa bên tay mặt, xong yểm trợ cho mầy dzọt vào. Mầy chiếm được bìa làng thì tao chuyển xạ. Như vậy mới cứu được tiểu đoàn, nếu không cứ nằm tại đây thì chết hết.
Phúc thật nhạy và sắc bén, hai thằng đồng ý và làm liền.
Nhìn Phúc điều động quân mà tội nghiệp và thương xót cho một thằng thiếu úy đại đội phó, người đã làm nghiêng hẳn cả một mặt trận lớn nhất từ xưa đến giờ. Phúc đã rơi rụng thật nhiều con cái. Nhưng Phúc đã hiên ngang, hùng dũng dẫn đầu, xung phong chiếm được hàng dừa và mở hỏa lực ào ạt vào bìa làng ngay. Không cần nói chuyện trong máy, Phúc ra dấu cho tôi dzọt vào thật nhanh. Hình ảnh của Phúc quá tuyệt vời và anh em của tôi vừa bắn vừa chạy dưới nước vừa la xung phong, đứa nào rớt mặc kệ. Thượng Sĩ Hò bị thương kêu lên quằn quại cũng mặc kệ. Khí xung thiên đã bốc ngập đầu, căm hờn đã nổi dậy. Tôi chụp cây trung liên BAR của một người lính bên cạnh nhả đạn, vừa chạy vừa la lớn, hết băng nầy đến băng kia. Bắn không cần trúng, chỉ cần tiếng nổ để áp đảo tinh thần địch.
Bảy thầy trò lên sớm nhất đã bám được bìa làng. Sau đó tôi thấy tất cả Tiểu Đoàn đều xung phong như vũ bão. Việt Cộng không ngờ chúng tôi lại mau chóng và tấn công thần tốc như thế, chúng chém vè không kịp bị sông Ðầm Dơi ngăn cản, chúng nó toán thì dùng ghe, toán thì lội bằng tay cố gắng băng qua sông thật nhanh, thoát được toán nào thì thoát. Những cây bia thịt rụng dần xuống dòng sông. Hai tiểu đoàn khét tiếng của Việt Cộng ở Vùng IV đã bị Tiểu Đoàn 2/TQLC xóa tên.
Phúc và tôi nhận vị trí phòng thủ qua đêm, kiểm điểm tại chiến trường thu rất nhiều vũ khí, đặc biệt có 2 khẩu 75 ly không giật. Ðây là vũ khí lớn nhất mà lần đầu tiên Việt Cộng sử dụng tại chiến trường miền Nam. Và đây cũng là trận chiến lớn nhất và là chiến thắng vĩ đại nhất của QLVNCH cho đến cuối 1963. Cả nước đều nghe thấy, cả Vùng IV và Sài Gòn đều rúng động. Ngày hôm sau tiểu đoàn tái chiếm quận, nhìn chợ Ðầm Dơi tan nát, tất cả phải xây dựng từ đầu. Dân chúng ngơ ngác trở về, héo hắt nhìn nơi làm ăn nuôi sống của mình giờ đây phải làm lại tất cả...
Bốn ngày sau xác Việt Cộng sình thúi nổi đầy trên dòng sông, mùi hôi nồng nặc không đóng quân được phải đổi vị trí. Tiếp theo đó ngày nào phi cơ cũng thả báo chí tường thuật về trận đánh Ðầm Dơi cho cả Tiểu Đoàn 2 xem.
Tất cả quân dân thành phố Cà Mau đã hân hoan đón chào Tiểu Đoàn 2/TQLC tại vận động trường. Tôi và Phúc cũng có mặt trong hàng quân đó. Ðêm đó hai thằng lại ra phố và say bất kể trời đất.
Một cuộc đón rước thật rầm rộ từ Cà Mau đến Sài Gòn. Dân chúng cả vùng Thị Nghè đổ xô ra đường để chào mừng và đón tiếp, tiếng kêu la vang động cả vùng, tiếng kêu tên ơi ới vì biết chắc rằng những người thân yêu của họ còn sống trong đoàn quân chiến thắng trở về.
Thị Nghè là nơi đồn trú của Thủy Quân Lục Chiến. Buổi lễ trình diện Tiểu Đoàn 2 lên Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Chính Phủ tại bến Bạch Ðằng, huy chương được trao tặng từng người cũng như cho đơn vị và Binh Chủng TQLC.
Trước một chiến thắng như vậy, ngoài vị tiểu đoàn trưởng tài ba, ngoài các đại đội trưởng can đảm và kinh nghiệm cộng với truyền thống Binh Chủng mà tất cả các cấp trong Tiểu Đoàn đã tạo được chiến thắng vẻ vang đó, còn có sự bén nhạy, thông minh gan dạ và thật quả cảm của Nguyễn Xuân Phúc.
Thật vậy, nếu Phúc không quyết định sớm thì giờ đây trên mảnh đất lạc loài nầy tôi chưa chắc đã còn được ngồi đây để viết lên mấy dòng thật khiêm nhường cho Phúc. Cho tôi xin một đóa hoa hồng riêng gởi cho Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc.
Những tháng năm gian nan, hiểm nguy, cuộc đời chỉ có sông nước và mây trời, cuộc chiến càng ngày càng mãnh liệt. Phúc thật sự đã trưởng thành trong khói lửa, đã thật sự già dặn với kinh nghiệm của chiến trường. Ðiều nầy Phúc đã minh xác thật rõ ràng trong trận Mậu Thân 1968 đợt 2 với chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 6/TQLC.
Sau khi Việt Cộng đã làm chủ toàn vùng Gia Ðịnh, đặc biệt Việt Cộng đã chận đứng và làm chủ cầu Bình Lợi. Một lần nữa Phúc đã thật sự làm rạng danh cho Thủy Quân Lục Chiến với sự thông minh, mưu lược và số kinh nghiệm sẵn có đã chiếm lại cầu Bình Lợi, kiểm soát toàn vùng và chận tất cả các đường rút lui của Việt Cộng. Nhờ sự nhanh nhẹn đó của Phúc mà Tiểu Đoàn 1/TQLC đã thanh toán các đơn vị Việt Cộng tại Ngã Ba Cây Thị và Ngã Năm Bình Hòa thật mau chóng, và điều đáng kể là Việt Cộng bị bí lối nên đã ra đầu hàng hằng trăm tên với Tiểu Đoàn 1/TQLC.
Kết quả của trận chiến, Phúc nhận 2 viên đạn, một viên xuyên ngực, một viên xuyên cổ và một mảnh pháo làm rách mặt. Robert Lửa phải rời khỏi chiến trường gần 6 tháng. Công của ai? Danh vọng của ai? Phúc vẫn là Phúc, vẫn hào khí ngất trời. Ðối với Phúc điều đó không cần thiết, đó chỉ là hư danh vụn vặt. Và Phúc vẫn ngày trời tháng phật, vẫn lang bạt mây trời...
Ở nhà thương ra Nguyễn Xuân Phúc được chỉ định làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ, dù không thích hợp, nhưng Phúc vẫn làm tròn bổn phận, và Phúc đã chứng tỏ thật xuất sắc khả năng của mình ở mọi môi trường, kể cả môi trường không thích hợp. Ở điểm nầy không ai thấy được, cho tôi thay mặt Phúc để minh xác:
Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ toàn là những “cán bộ” …(?) thành ra rất khó khăn cho đơn vị trưởng. Nhưng Phúc đã tuyệt vời tái tổ chức đơn vị đúng với ý Phúc, và với một lý tưởng sáng ngời, với bộ óc tổ chức đầy kỷ cương, Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ đã vào khuôn phép, xây dựng đúng nghĩa một đơn vị yểm trợ.
Vì ông quá trong sạch, vì ông ta quá sáng, tất cả các “cán bộ” phải kính nể là điều hẳn nhiên. Tôi nghĩ làm được chuyện nầy chỉ có Phúc, vì nó còn khó hơn một trận đánh quyết định. Phúc đã thành công thật xứng đáng, tôi xin được vinh danh cho Robert Lửa.
Nhưng Tiểu Đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ đâu phải là nơi dừng chân thích hợp với mẫu người của Phúc, vì Phúc có lần nói với tôi ở hồ tắm Ngọc Thủy, Thủ Ðức: “Moa không thể nằm ở đây, moa phải xin ra tác chiến”.
Sau lần tâm sự nầy, Phúc đã đạt được nguyện vọng. Tiểu Đoàn 2/TQLC hỗn danh Trâu Ðiên, tiểu đoàn đầu đời của Phúc, tiểu đoàn đã vang danh từ Nam ra Bắc. Thật sự các đơn vị VC đã run sợ khi đụng với Trâu Ðiên. Bằng chứng là khi bắt được tù binh họ đều hỏi: “Các anh có phải là Trâu Ðiên không?” - Trâu Ðiên thật sự là do VC đặt sau một trận đánh ở Tam Quan, Bồng Sơn. Và tất cả các đơn vị bạn của QLVNCH đều hãnh diện với Tiểu Đoàn nầy. Phúc đã nghiễm nhiên trở thành con chim đầu đàn của Trâu Ðiên.
Những chiến thắng của Trâu Ðiên do Robert Lửa chỉ huy đã sơn thêm thật sáng, thật chói cho quân sử của đại đơn vị Thủy Quân Lục Chiến và thêm một lần nữa, tôi xin ghi ra đây để trải lòng với bạn hữu mà tôi rất kính phục: Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc.
Chiến trường Hạ Lào đã diễn ra thật qui mô, chiến trường thử lửa một mất một còn với Hà Nội. Trâu Ðiên của Phúc đã nhập trận cùng với Tiểu Đoàn 7 của Thiếu Tá Phạm Nhã, Tiểu Đoàn 4 của Thiếu Tá Kỉnh, Tiểu Đoàn 2 Pháo Binh của Thiếu Tá Ðạt, đặt dưới quyền chỉ huy của Lữ Đoàn A do Ðại Tá Hoàng Tích Thông chỉ huy và Trung Tá Phan Văn Thắng làm tham mưu trưởng.
Lữ Đoàn A thiết lập căn cứ hỏa lực nằm phía Nam của quốc lộ 9 và Tchépone. Trâu Ðiên bảo vệ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn và pháo binh. Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 4 mở các cuộc hành quân nới rộng vị trí Lữ Đoàn, chuẩn bị cho mục tiêu Tchépone.
Áp lực địch mỗi ngày mỗi nặng, một vài đơn vị bộ binh, thiết giáp đã tan hàng. Lữ Đoàn 3 Dù của Ðại Tá Thọ ở phía Bắc quốc lộ 9 đã anh dũng và hiên ngang giữ vị trí cho đến cùng, không lùi bước, không bỏ vị trí, không đầu hàng. Với tình hình đó, Lữ Đoàn A/TQLC cũng bị bao vây bốn phía. Việt Cộng tiếp tục tấn công ngày cũng như đêm với đủ mọi vũ khí, đặc công được tung ra tối đa để đột kích Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn A/TQLC.
Nhưng Lữ Đoàn với sự bảo vệ TĐ.2 của Phúc đã đánh bật được các cuộc tấn công và đã bắt sống cũng như tiêu diệt rất nhiều Việt Cộng ở trong vòng rào Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn. Các Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 4 cũng không kém, quần thảo không có thì giờ để nghỉ ngơi, hết tiền pháo lại hậu xung, tình hình thật nóng bỏng.
Trong lúc đó Tiểu Đoàn 8/TQLC của tôi (Phán) đang nằm ở Cô Rốc. Tiểu Đoàn 3 của Trung Tá Bảo nằm giữa đường tôi và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn. Tất cả các đơn vị đều bị vây khốn và pháo đổ xuống hàng ngày hàng đêm. Chúng cố cầm chân tôi và Trung Tá Bảo bằng cách bám thật chặt, vây quanh các điểm nước.
Hỏa châu sáng rực cả một vùng trời, phi cơ Mỹ yểm trợ tối đa. Phúc vẫn hiên ngang chống trả mọi cuộc tấn công của địch. Trong cuộc hành quân Hạ Lào không có một cố vấn Mỹ nào được đi theo. Tất cả mọi phi tuần quan sát và đánh bom đều phải liên lạc về Khe Sanh để nơi đây hướng dẫn đánh. Từng loạt B-52 trải thảm, Tiểu Đoàn 2 của Phúc đã bảo vệ Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn vững vàng.
Thương vong của các đơn vị càng ngày càng cao. Ðây là mối lo âu lớn nhất của các cấp chỉ huy với cố gắng tối đa để tải thương kể cả bằng lưới đạn của pháo binh. Tuy vậy vẫn không đủ để đưa hết thương binh và xác chết về được.
Sau khi Lữ Đoàn 3 Dù của Ðại Tá Thọ đã chiến đấu tới viên đạn cuối cùng, căn cứ hỏa lực của ông bị bộ binh và chiến xa tràn ngập. Còn lại một cái gai chính, đó là Lữ Đoàn A/TQLC. Tất cả các mũi dùi địch đều quay cả về phía Lữ Đoàn A/TQLC. Chúng làm một trận địa pháo khủng khiếp như là địa ngục của trần gian. Trong máy, tiếng ra lệnh của Phúc vẫn bình tĩnh, chậm rãi và thật rõ ràng, điều động các con cái của ông ta trám vào những chỗ bị chọc thủng. Tiếng Phúc dõng dạc ra lệnh luôn cho pháo binh trực xạ vào biển người.
Tình hình quá khẩn trương, tụi tôi chỉ biết theo dõi máy, thật nóng ruột và lo sợ cho họ. Cố tìm mọi cách làm sao để chia sẻ với Phúc và con cái ông ta trong hoàn cảnh đó, chính tụi tôi cũng đang trong tình trạng không thua gì Phúc, chỉ trừ chúng chưa dùng biển người.
Ðêm đó trời tối mịt mùng, không khí u buồn thê lương, tôi không biết là đêm thứ mấy của cuộc hành quân Hạ Lào. Tiếng kêu trong máy bỗng báo cáo loạn lên, Tiểu Đoàn 7 và 4 mất liên lạc. Súng hai bên dồn dập không ngừng, hỏa châu được soi sáng tới tấp, những tiếng nổ xé trời liên tục. Cả một khu núi rừng thâm u rung chuyển, lửa lóe lên mịt trời, không còn phân biệt được tiếng súng nào của địch của ta. Các đơn vị đang đụng kịch liệt, tiếng Phúc liên tục gọi Tiểu Đoàn 7 và Tiểu Đoàn 4.
Bỗng tiếng của Ðạt Pháo Binh hớt hãi báo cáo thật gấp:
-Cua của tụi nó đã sát bờ rào!
Vẫn giọng thật ấm trầm và bình tĩnh, Phúc ra lệnh cho pháo binh hạ nòng bắn thẳng. Chận đứng đợt thứ nhứt, đợt thứ hai nối tiếp và cứ thế liên tục. Ðạt báo cáo đều:
-Biển người tụi nó được sử dụng sau hai đợt chiến xa...
Phúc hét lớn trong máy ra lệnh cố giữ vị trí không cho địch tràn vào và ra lệnh cho Ðạt rất ngắn nhưng rất sắc:
-Ðạt! Còn bao nhiêu chơi bấy nhiêu không cần xin lệnh nữa!
Mặt khác Phúc vẫn cố gắng kêu Tiểu Đoàn 7 và 4 tiếp viện, nhưng trong thâm tâm Phúc biết chắc chắn rằng TĐ.7 và TĐ. 4 đã bị nặng nề lắm rồi.
Từ đầu đến cuối chỉ một mình Phúc ra lệnh và chỉ huy toàn diện. Mặt khác Phúc vẫn cố gắng gọi máy bay Mỹ xin thả trái sáng và yểm trợ cho ông ta chung quanh căn cứ. Vẫn chậm rãi bình tĩnh một cách khác thường, ông ta cho biết sơ qua tình hình và xin được yểm trợ gấp, tối đa. Ðây mới thật sự là giờ phút lịch sử của Phúc.
Ðạt báo cáo khẩn cấp:
-Cua và biển người đã tràn ngập các pháo đội, chúng đang tiến vào BCH/LĐ.
Phúc trả lời:
-Ðạt, còn cây pháo nào chơi cây đó, chơi tụi nó tới cùng.
Và từ đó Phúc mất liên lạc với Ðạt.
Bộ binh Bắc Việt tràn ngập vị trí Lữ Đoàn, trận cận chiến trong đêm tối bắt đầu. May thay, Phúc đã tiên liệu sẵn ám hiệu của đơn vị: “Tay áo mặt xắn thật cao, cánh tay trái thả xuống”. Mặt khác ông gọi tất cả các đại đội bên ngoài về cứu BCH/LĐ.
Trận chiến tôi không nhìn thấy, nhưng nghe con cái của Phúc báo cáo đều đặn. Lửa ngút trời làm sáng tỏ cả một khu núi rừng rộng lớn. Hỏa châu tiếp tục soi sáng, tiếng máy bay vẫn bao vùng trên không phận.
Hình như trận chiến đã quá khốc liệt, địch và chiến xa đã tràn ngập vị trí Lữ Đoàn. Bỗng tôi nghe Phúc dùng tiếng Anh yêu cầu đánh bom thẳng vào vị trí ông ta, lặp đi lặp lại hai ba lần:
- I'm Crazy Buffalo Battalion Commander.
Một hai phút sau giọng Phúc gấp và lớn, vừa tiếng Việt vừa tiếng Anh:
- Ð.M, I'm Ground Commander. Go ahead, do it, please!
Từ đó Tiểu Đoàn 8 của tôi và Tiểu Đoàn 3 của Tr/Tá Bảo cố gắng theo dõi Lữ Đoàn nhưng tất cả đều im lặng, một sự im lặng đáng run sợ. Chúng tôi cố gắng gọi Phúc (TĐ.2), TĐ.7 và TĐ.4 nhưng tất cả vẫn im lặng. Căn cứ đã bị bỏ ngỏ...
Mãi đến khoảng 4 giờ sáng, âm thoại viên của tôi báo cáo có tiếng Thiếu Tá Phúc, tôi liền chụp máy thật nhanh và theo dõi. Giọng Phúc quá nhẹ và quá chậm có lẽ vì quá mệt mỏi. Ông ta đã liên lạc được với Tiểu Đoàn 7 và TĐ.4. Tôi nói:
-Tôi sẽ thắp đèn cầy cho các ông, cứ đi hướng đèn thì sẽ gặp TĐ.3 và TĐ.8.
Thật tình mà nói trong giờ phút nầy ông ta (Phúc) vẫn còn sáng suốt và thông minh để liên lạc được với TĐ.3 và tôi để thắp những ngọn đèn cầy cho ông ta đi. Hỏa châu bắt đầu đánh dấu cho các đơn vị bạn. Sau chữ cám ơn nhẹ nhàng, ông ta tắt máy.
9 giờ sáng hôm sau gặp cánh tiền đồn của Tiểu Đoàn 3, Phúc cùng đi với Ðại Tá Thông và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn. Một lúc sau nghe báo cáo gặp được Ðạt và lần lượt các Tiểu đoàn 7 và TĐ.4. Họ cố gắng đi thêm vài cây số để tìm bãi đáp. Trung Tá Bảo Tiểu Đoàn 3 làm an ninh bãi đáp, sau đó trực thăng lần lượt đáp xuống để mang những đứa con thân yêu còn lại trở về Khe Sanh.
Phúc! Ông đã làm được tất cả những gì mà ông phải làm trong tình hình và hoàn cảnh bi đát như vậy. Thật sự ông đã làm được những việc mà không ai làm được. Ðã tròn với bổn phận, đã hết nhiệm vụ, ông không cần ai khen ngợi, ca tụng, ông không cần huy chương, ông cũng chả cần lon lá. Ông đang đau xót, đau xót tận cùng trong lòng của ông, khi nghĩ tới những thằng em, đồng đội của ông đang cô đơn, lạnh lẽo nằm rải rác đâu đó trên chiến trường Hạ Lào. Nhân danh một người bạn, cho tôi được nghiêng mình kính phục ông.
Vẫn bộ rằn ri bạc màu, không bao giờ chải chuốt, vẫn bình dân như một người lính, một buổi tối mênh mang trên khách sạn Hương Giang nhìn xuống dòng sông hiền từ. Trời không trăng, một vài vì sao nhỏ lấp lánh, trán của ông (Phúc) nhăn lại, sự quặn thắt tận cùng của ông, vết thẹo căng dài ra trên má ông. Ông đã nuốt hàng hàng lớp lớp đắng cay trong từng ly rượu. Cặp mắt ông nhíu lại và ông gục xuống bàn mà không hay...
Ðầu năm 1975, Nguyễn Xuân Phúc nhận Lữ Đoàn 369/TQLC.
Với kinh nghiệm đầy mình, với già dặn của chiến trường, Phúc đã dẫn Lữ Đoàn TQLC đi thay Lữ Đoàn Dù ở đồi 1062 Thường Đức, ngọn đồi lịch sử của các chiến sĩ Dù bách chiến bách thắng. Tùng, cùng khóa với Phúc, làm Lữ Đoàn Phó, một Ðỗ Hữu Tùng, người đã làm lịch sử cho Thủy Quân Lục Chiến. Tùng với Tiểu Đoàn 6/TQLC đã hạ hàng chục chiến xa và bắt sống 5 chiếc để mang về tận Sài Gòn và Huế triển lãm cho cả nước.
Tuy nhiên lịch sử xoay vần, 29/3/75 Ðà Nẵng mất, Phúc, Tùng và binh sĩ của các ông đã cùng chung số phận. Binh Chủng mất các ông, quân đội mất các ông như mất những viên trân châu quí giá nhất. Mẹ Ðà Lạt đã mất đi đứa con thân yêu được nuôi dưỡng bằng một lý tưởng vượt thoát. Khóa 16 đã mất đi một người bạn mà anh ta đã làm sáng rực và vinh danh cho khóa. Ðâu đây trên đời sống lưu vong này vẫn còn vang vang tiếng Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc.
Cho tôi được hâm nóng bầu rượu này để sưởi ấm phần nào cho người bạn là Nguyễn Xuân Phúc và cũng để được đền đáp ơn tri ngộ giữa tôi và Phúc đã cùng chiến đấu dưới cùng một màu cờ và sắc áo Thủy Quân Lục Chiến.
Trung Tá Nguyễn Văn Phán*
Tiểu Đoàn Trưởng TÐ8/TQLC.
(Quân nhân các cấp trong TĐ.8 gọi Anh Phán là Anh Hai
(*Anh đã qua đời ngày 1/12/2020 tại Houston TX)
***
Trâu Điên Thiếu Tá Lê Quang Liễn:
-Nhớ về NT Nguyễn Xuân Phúc là nghĩ đến một cấp chỉ huy có tài thao lược, một đồng đội có thủy chung, một người anh, và người bạn rất thân tình. Sống với anh Nguyễn Xuân Phúc như có hai thái cực:
-Khi làm việc, nhất là lúc đụng trận, anh rất nghiêm nghị.
-Lúc về hậu cứ, ăn nhậu thì anh rất thân tình, cởi mở, cư xử thân mật.
Trong anh, có hình ảnh của một cấp chỉ huy với tài lãnh đạo trong tương lai của Quân Lực đang hình thành:
-Một cấp chỉ huy và lãnh đạo có học thức, có lý tưởng, liêm khiết, và gần gũi với thuộc cấp.
***
Trâu Điên Trưởng Đại Tá Ngô Văn Định:
Khi tôi về làm TĐT/TĐ2 thay Ông Lê Hằng Minh tử trận tháng 6/1966 thì Ông Hay Chùa làm TĐP, Phúc làm ĐĐT/ĐĐ4. Tôi đề nghị với Tư Lệnh cho Ông Chùa về Sư Đoàn để ông Phúc làm Tiểu Đoàn Phó.
Ngay những ngày đầu hành quân ở khu Cồn Thiên Gio Linh Quảng Trị, tôi đã nhận biết được Nguyên Xuân Phúc TĐ Phó là một sĩ quan gan dạ và là cấp chỉ huy tôi có nhiều cảm tình. Đến năm 1967 tôi đề nghị cho anh đi học Chỉ Huy Tham Mưu, đi học về, vì nhu cầu anh được làm TĐP/TĐ5/TQLC, đánh trận Rạch Ruộng, một trận chiến thắng lớn của TĐ5 năm 1968, sau đó anh được đi nhận chức TĐT/TĐ6 hành quân Mậu Thân ở Gia Định.
Năm 1969, tôi bị thương nặng anh ra lãnh trách nhiệm chỉ huy TĐ2 thay tôi. Năm 1970, TĐ2 do anh chỉ huy trong trận Preveng ở Miên, đã đem về cho hiệu kỳ TĐ2 một ngành Dương Liễu, và đây là Dương Liễu thứ 8 nên TĐ2 được mang dây biểu chương mầu Tam Hợp.
Năm 1971 anh dẫn Trâu Điên sang Hạ Lào, anh thăng Trung Tá và vẫn coi TĐ2 cho đến khi đánh vào Quảng Trị năm 1972 thì giao TĐ2 cho Thiếu Tá Trần Văn Hợp và anh đi làm Lữ Đoàn Phó LĐ147/TQLC, và sau đó làm Lữ Đoàn Trưởng LĐ369/TQLC
Anh là một sĩ quan giỏi, không bao giờ biết đến đồng xu cắc bạc nào của anh em. Không làm điều gì mất danh dự của Quân Đội và TQLC. Anh mất đi để lại cho tôi niềm luyến tiếc.
***
TQLC Đại Tá Phạm Văn Chung:
Khoảng đầu năm 1968, Ðại Úy Nguyễn Xuân Phúc, Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2 Trâu Ðiên được chỉ định về nắm TĐ.6/TQLC. Ð/Úy Nguyễn Xuân Phúc, ngay tuần lễ đầu tiên đã chứng tỏ khả năng chỉ huy, tương lai hứa hẹn là một trong những tiểu đoàn trưởng đầy đủ phong độ, kích thước của Binh Chủng.
Vào một đêm khuya, sau khi nhận bàn giao Tiểu Đoàn 6 được vài ngày, 1 tiểu đoàn CSBV được tăng cường các đơn vị đặc công đã tấn công ngay vào đầu cầu phía Nam cũng là nơi đặt Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 6/TQLC. Sau ít giờ giao tranh, Đại Đội Phó Ðại Đội 1, đơn vị có trách nhiệm chận địch ngay khu dừa nước phía Đông cầu, bị tử thương. Vàtừ chỗ yếu đó địch bắt đầu khai thác.
Ðang trong hầm chỉ huy, Ð/Úy Phúc nhìn thấy các tổ đặc công địch đeo đầy chất nổ chạy lăng xăng sát đầu cầu. Anh phản ứng nhanh chóng bằng cách đưa ngay 1 trung đội thuộc tuyến phòng thủ Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn ra tiêu diệt các tổ đặc công này và bắt tay được với ÐĐ.1, ép địch chạy vào khu dừa nước rậm rạp. Sau đó anh điều động các đại đội khác đẩy địch xa dần về phía Đông, hơn 1 đại đội địch bị anh khóa chặt trong khu dừa nước phía Nam cầu Bình Lợi.
Trời sáng lần, địch quân không thể nào thoát được. Các toán Tâm Lý Chiến đã phải dùng loa phóng thanh kêu gọi chúng đầu hàng, trực thăng bay quần gây áp lực tinh thần địch. Sau nhiều giờ kháng cự lẻ tẻ, tất cả khoảng 150 cán bộ, binh sĩ (gần 2 đại đội CSBV) đầu hàng, ta tịch thu toàn bộ vũ khí, trên trận địa địch bỏ lại hơn 40 xác nữa, vũ khí nặng nhẹ vứt ngổn ngang.
Chiến công đầu tay của Tiểu Đoàn Trưởng Nguyễn Xuân Phúc cũng là chiến công đầu của Tiểu Đoàn 6 Cọp Biển.
***
Tư Lệnh TQLC Thiếu Tướng Bùi Thế Lân:
-Chọn một đại đội trưởng TQLC đã là một điều khó, cấp chỉ huy ở trên phải cân nhắc kỹ lưỡng, nhất là về khả năng và tác phong, vì dưới quyền chỉ huy tác chiến của họ luôn luôn có trong tay hơn một trăm sinh mạng, vậy thì chọn tiểu đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng là một việc vô cùng hệ trọng.
Tôi đã chọn Phúc làm tiểu đoàn phó, tiểu đoàn trưởng, lữ đoàn phó rồi lữ đoàn trưởng thì đủ biết Phúc có đầy đủ tư cách và khả năng, Phúc giỏi. Trong 7 ngày cuối cùng ở Hạ Lào, tôi chỉ còn làm việc trực tiếp với Phúc, và Phúc là người có công nhất trong giai đoạn rút quân khỏi Hạ Lào.
Bố tôi và bố Phúc là bạn thân cùng trường, trong ngành kỹ sư, nhưng chưa bao giờ hai cụ đề cập với tôi về chuyện Phúc ở TQLC, và Phúc cũng chẳng bao giờ quan tâm tới điều này.
Điều Phúc quan tâm là lính no hay đói, Phúc không biết gì về tiền bạc cả.
***.
Trâu Điên Tô Văn Cấp.
Đang vui với đồng đội ở TĐ5/TQLC, chỉ vì tội bốc đồng, tôi bị lãnh 15 ngày trọng cấm, ngồi tù QC 202 rồi bị đổi về TĐ2/TQLC khiến tôi buồn lắm!
Tháng 6/1966, trình diện Đại Đội Trưởng ĐĐ.4/TĐ2 tại Đà Nẵng, tôi tiến tới đứng nghiêm đưa tay chào ĐĐT Nguyễn Xuân Phúc và xưng danh đúng quân phong quân kỷ, nhưng “ông ta” vẫn ngồi dựa lưng vào ghế, hai chân gác lên mặt bàn, tay cầm điếu thuốc lá Ruby Queen gõ gõ lên hộp quẹt Zippo, hồi lâu ông cười ruồi rồi hất hàm nói:
-Ông đánh lộn bên TĐ5 rồi về đây kiếm tôi nữa phải không?
Đã từng nghe danh nghệ thuật trị những tên “ba-gai” của ông niên trưởng này từ lâu, nay đụng mặt trong hoàn cảnh này khiến tôi đành phải cắn môi đến rớm máu để nuốt cục buồn, bụng muốn trả lời “chưa biết”…, nhưng thôi, tôi đành im lặng!
Sau khi tỏ vẻ lạnh nhạt, ông đứng dậy quẹt lửa, châm thuốc hút, nhả khói rồi chậm rãi bước đi, miệng nói:
- Ông cạo râu đi rồi tìm Trung Úy Đại Đội Phó mà trình diện.
Đại Đội Phó là Tr/Uý Trần Văn Hợp-người bạn cùng Khóa 19 với tôi, hắn mới mang xe GMC đến đón tôi tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn trong Quân Trấn Đà Nẵng. Gặp hắn tôi mừng vội tiến tới chào, nhưng hắn không bắt tay hay nói gì cả mà chỉ tôi lên ngồi phía sau GMC, còn hắn thì lên ngồi một mình trên “cabin”, dù cabin GMC dư sức ngồi hai người. Đó là lý do tôi không thèm trình diện ĐĐP Hợp nữa, mà đi tìm chỗ khuất trong khu “biu đinh” xây dở dang, rồi giăng võng nằm ẩn mình trong bóng tối suy nghĩ sự đời.
Công bằng mà nói, chả cấp chỉ huy nào muốn nhận những tên “ba-gai” từ đơn vị khác chuyển đến, nhưng tôi không ngờ chỉ vì một phút bốc đồng mà tôi bị bạn đồng khóa và đàn anh ở đơn vị mới khinh thường đến thế!
Đang co mình trong góc tối để suy nghĩ tình đời thì tôi nhận hung tin từ đơn vị cũ mà tôi vừa mới rời khỏi là TĐ5/TQLC đụng trận và thiệt hại nặng tại Mộ Đức Quảng Ngãi, Th/Tá Tiểu Đoàn Trưởng Dương Hạnh Phước, cố vấn Mỹ, bác sĩ Lê Hữu Sanh đều tử trận! Riêng ĐĐ.4 cũ của tôi thì thiệt hại 3/4 quân số! Tr/Úy ĐĐT Dương Bửu Long bị thương, 2 Trung Đội Trưởng là Trần Tử Phương và Thảo tử trận, còn Th/Úy Lê Đình Quỳ(K20VB) và Ch/Úy Nguyễn Văn Lộc (K17/TĐ) bị VC bắt*, tất cả họ là anh em, đồng đội thân thiết của tôi!
(*Sau Lộc trốn thoát, còn Quỳ, tới 1973 mới được thả do trao đổi tù binh)
Đến đơn vị mới thì họ không cần, đơn vị cũ thì gặp đại nạn, bạn bè, đồng đội đang cần tôi thì tôi lại “trốn” trong một xó tối! Quá chán nản, tôi xách balo ra đi, chưa biết đi đâu, có thể tìm về đơn vị cũ hay bỏ về Saigon chơi cho bõ ghét thì Th/Úy Nguyễn Quốc Chính (K20VB) Trung Đội Trường TrĐ41/ĐĐ4 xuất hiện đúng lúc, Chính nói:
-Anh đừng đi, họ “thử lửa” anh đấy, chính anh Phúc xin anh về đại đội mà.
Nói xong, Chính mời tôi điếu Ruby và hớp café sữa rồi ngồi tâm tình nên tôi hiểu phần nào thế sự, tự ái được vuốt. Vả lại, gặp tình thế này thì tôi đành “phải thế”, ở lại coi “sẽ ra sao ngày sau” rồi sẽ tính. Trước mắt là lòng tôi được sưởi ấm bằng tình cảm của một đàn em dù mới chỉ gặp lần đầu.
Trong thời gian này, TĐ.2/TQLC chịu trách nhiệm an ninh trật tự trong vụ “Biến Động Miền Trung”, giải tỏa bàn thờ “xuống đường”. Đại Đội Trưởng không giao nhiệm vụ và nói năng gì với tôi cả, tôi cũng chả cần xin việc. Vài ngày sau, “xếp” gọi tôi ra lệnh:
- Ông xuống nhận Trung Đội 43 để sáng sớm mai đi hành quân.
Trung Đội 43 chưa có sĩ quan trung đội trưởng, nhưng ông ĐĐT muốn làm khó không cho tôi nhận từ sớm, tới lúc đi hành quân nới giao cho, hẳn là ý xếp muốn thử lửa tôi nên tôi cũng không hỏi thêm bất cứ điều gì, tôi bất cần. Tôi gọi Trung Đội Phó là Trung Sĩ Tuyết, truyền lệnh vắn tắt: “Chuẩn bị sáng mai đi hành quân.”
TĐ2/TQLC tiến quân dọc theo những xóm làng dọc ven biển, đụng địch tại mục tiêu Phù Liêu Gia Đặng, rồi quân ta truy kích địch về tới ngã ba sông Vĩnh Định, thôn Bích La, Quảng Trị. Địch hết đường thoát nên tử thủ tại đây nhưng rồi cũng bị TĐ1 và TĐ2 đánh tan. Suốt cuộc hành quân này Đại Đội Trưởng (ĐĐT) Nguyễn Xuân Phúc luôn để trung đội tôi lẽo đẽo theo sau và không hề ra lệnh hay nói năng gì cả.
Tại Phù Liêu, khi cánh quân đi đầu nổ súng, Thiếu Úy Kiệt (K20/VB) tử thương thì ở phía sau, VC bất ngờ “độn thổ” từ dưới cát chui lên, tấn công vào Trung Đội 43 của tôi, nhưng anh em đã nhanh chóng phản ứng cấp thời, không hề hấn gì mà VC còn bỏ lại vài cây AK, vài xác chết. Tôi báo lên đại đội nhưng xếp Phúc vẫn im lặng, không lên tiếng khen chê. Đại Đội tiếp tục truy kích giặc đến thôn Bích La Quảng Trị.
Tại Bích La Thôn, VC bị TĐ.1 và TĐ.2 dồn vào cửa tử, ngã ba sông Vĩnh Định, nên lợi dụng đêm tối, buộc chúng phải liều mình thoát thân. Khi chúng lội men theo bờ sông, đã đụng phải tuyến phòng thủ Trung Đội 43 của tôi với lựu đạn gài và mìn claymore khiến chúng bỏ lại hơn chục mạng.
Sáng hôm sau ngồi trên miệng hố, tôi đang nghĩ về những cái chết quá dễ dàng thì thấy ĐĐT Phúc đi đến, tôi làm bộ như không biết để khỏi phải đứng dậy chào. Khi tới sau lưng tôi, ĐĐT lên tiếng rồi đưa ca nhôm cà phê cho tôi và nói:
- Làm hớp đi cho ấm bụng, chú mày làm ăn được đấy.
- Cám ơn Trung Úy, anh em Trung Đội 43 giỏi chứ không phải tôi.
Ở đơn vị tác chiến, khi đầm ấm, thân thiện thì anh em nhà Võ xưng hô với nhau là“ông anh, niên trưởng” và “chú mày”. ĐĐT đã gọi tôi là "chú mầy" và cho uống cà phê đường, nhưng vì ác cảm lúc đầu, và thái độ coi thường nên tôi trả lời và gọi đúng cấp bậc nhà binh chớ không có “ông anh” gì cả. Phải giữ đúng nguyên tắc quân phong quân kỷ như SVSQ cán bộ K17 đã dạy tân khóa sinh:
-“Trong quân đội chỉ có tôi chứ không có em”.
ĐĐT ra lệnh cho tôi thu lượm vũ khí, căn dặn chi tiết rõ ràng hơn: “Phải cẩn thận”. Dường như anh không thèm để ý đến cử chỉ khó chịu của tôi, trái lại còn mỉm cười. Anh im lặng móc thuốc hút và đưa tôi một điếu, rồi đi đến vị trí phòng thủ Trung Đội 41 của Nguyễn Quốc Chính.
Ðây là lần đầu tiên anh trực tiếp ra lệnh cho tôi, những lần trước chỉ cho lệnh qua các hiệu thính viên. Thái độ thân thiện nầy cùa anh làm dây thần kinh tôi bớt căng thẳng, tự ái được vuốt nên tôi phải nhìn lại bản thân mình.
Sau một đêm vất vả với súng đạn nhưng được bình an, sáng sớm trời lạnh, nhìn xác địch trước tuyến mà lại còn được một ngụm cafe nóng, rít một hơi thuốc, ngửa mặt lên trời nhả khói vòng tròn là niềm hạnh phúc nhất của lính đánh giặc. Điếu thuốc đầu ngày làm tôi sảng khoái, nhất là điếu thuốc từ tay “xếp”, một người mà tôi ghét cay ghét đắng ngay từ khi về trình diện.
Hình như tôi say thuốc, nhìn qua khói thuốc, tôi thấy dáng anh đi đầy vẻ tự tin với thái độ “kẻ cả”, tôi chợt nhận ra cử chỉ của mình vừa rồi đầy mặc cảm tự ti! Còn anh, tuy thấp hơn tôi nhưng anh lại cao hơn tôi một “cái đầu”.
Tay tôi mân mê điếu thuốc hút dở dang, điếu thuốc in dấu tay của Đại Đội Trưởng Nguyễn Xuân Phúc. Có lẽ điếu thuốc đó đã làm thay đổi thái độ bất cần đời của tôi, nay tôi còn nhớ đó là điếu thuốc lá Ruby Queen đựng trong bao màu tím nhạt. Phong cách “người lớn”, rộng lượng của cấp chỉ huy hay hành động ích kỷ có thể làm thay đổi cuộc đời của một thuộc cấp. Thái độ “người lớn” của anh Phúc khiến tôi không còn là một con “ngựa non háu đá”.
Sau khi ổn định tình hình vụ “Biến Động Miền Trung”, đánh đuổi quân VC từ Phù Lưu, Gia Đẳng đến Bích La Thôn, Chiến Đoàn B TQLC trở lại Huế dự mừng lễ Chiến Thắng, một số quân nhân được ân thưởng huy chương và thăng cấp, trong đó có Thiếu Tá Lê Hằng Minh được vinh thăng Trung Tá.
Chiến Đoàn B tiếp tục hành quân, BCH Chiến Đoàn và TĐ.1 xuôi Nam, tăng phái cho SĐ2BB tại Quảng Ngãi. TĐ.2 tăng phái cho SĐ.1BB tại Quảng Trị.
Sáng 29-6-1966, TĐ.2 rời ngã ba cầu An Hòa đi Quảng Trị. Ðoàn xe vừa qua khỏi cầu Phò Trạch, Phong Ðiền thì bị phục kích. Ðịch từ hai bên đường độn thổ lên cận chiến ngay. Tiểu Đoàn Trưởng-Trung Tá Lê Hằng Minh cùng hơn 40 quân nhân tử trận, hơn 100 người bị thương, trong đó có anh Phúc, Hợp và tôi.
Trần Văn Hợp và tôi bị thương nhẹ nên tiếp tục ở lại cùng đơn vị, riêng anh Phúc bị đạn xuyên từ ngực trổ ra sau lưng nên anh phải nằm bệnh viện Nguyễn Tri Phương, Huế. Không ai giải thích được vì sao anh may mắn thoát chết với vết thương như thế. Chúng tôi chúc anh may mắn, nhưng anh không cho là may mắn mà còn “nói phét”, chửi tụi VC bắn dở. Ðúng là khôi hài kiểu Nguyễn Xuân Phúc.
Chỉ sau một thời gian ngắn nằm bệnh viện, anh trở lại đơn vị, anh làm Tiểu Đoàn Phó TĐ.2 thay thế cho Đ/Uý Hay (Chùa).
Tân Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.2 là Đồ Sơn Th/Tá Ngô Văn Định
Khi anh Phúc lên làm TĐP/TĐ.2 thì Trần Văn Hợp lên làm ĐĐT/ĐĐ.4, còn tôi được lên làm ĐĐP/ĐĐ.4. Ðược sống gần và sinh hoạt chung, chúng tôi thấy anh luôn tự tin, khẳng khái, không bao giờ xun xoe với thượng cấp. Ðàn em học được nơi anh kinh nghiệm tác chiến và xử thế, nhất là tình huynh đệ.
Một thời gian sau, anh được điều động đi làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ.6/TQLC. Trước khi đi, anh khuyên nhủ và gần như cảnh cáo tôi:
-Tao đi rồi, chú mày phải cẩn thận, đất dụng võ ở TQLC hẹp lắm. Chú mày đã phạm một lỗi lầm lớn.
Tôi sống với Anh Phúc một thời gian ở TĐ.2, từ thái độ khinh rẻ (thử thách) tôi lúc ban đầu, nay ra đi đơn vị mới Anh ân cần căn dặn những điều cần thiết. Tôi hiểu ý anh, nên “con ngựa chứng” trong tôi đã bị Anh khuất phục.
Anh làm TĐT/TĐ.6, trong trận Mậu Thân đạn lại xuyên cổ, pháo cào rách mặt, sau khi xuất bệnh viện anh về làm TĐT/TĐ Yểm Trợ Thủy Bộ, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, Tháng 1/1969 anh trở lại làm TĐT/TĐ.2 Trâu Điên thay thế Đồ Sơn khi Đồ Sơn bị trọng thương trong cuộc hành quân U Minh.
Khi Anh trở lại nắm TĐT/TĐ.2, Tiểu Đoàn Phó là Th/Tá Nguyễn Kim Đễ, Ban Ba (phụ tá) là Tr/Uý Nguyễn Kim Thân, Đại Đội Trưởng là các Đ/Úy Trần Văn Thương ĐĐ.3, Trần Văn Hợp ĐĐ.4, Vũ Đoàn Dzoan ĐĐ.2, Tô Văn Cấp ĐĐ.1. Đại đội phó là các Tr/Úy Lâm Tài Thạnh, Phạm Văn Tiền v.v… Với thành phần sĩ quan như vậy thì anh Phúc “khỏe re” và cũng là thời gian vui nhất, cùng làm, cùng chơi vì đại đa số còn độc thân, nhậu ào ào nhưng khi vào việc thì đâu ra đó, không la ó. Khi đụng trận mới thấy cái bình tĩnh của anh, anh không hối thúc la ó, cứ để cấp đại đội thoải mái phối hợp với nhau tùy tình hình, thỉnh thoảng anh xen vào câu ngắn gọn: “Cần gì không?”.
Thuộc cấp nào cũng thích kiểu chỉ huy nầy thay vì sốt sắng quá, hồi thúc thuộc cấp với lệnh: “Bằng mọi giá phải chiếm cho được mục tiêu”.
Khi Th/Tá Tiểu Đoàn Phó đi phép để chuẩn bị thành lập đơn vị mới. Đ/Uý Trần Văn Thương thuyên chuyển thì anh Phúc phân vân khi phải chọn 1 trong 3 Đại Úy ĐĐT còn lại lên tạm thời trám chỗ Tiểu Đoàn Phó. Cả 3 ĐĐT này đều thuộc Khoá 19, đều có khả năng và đánh đấm như nhau, hơi khó chọn nên anh cứ "thả nổi". Tới khi Tiểu Đoàn chuẩn bị đi hành quân ở Chương Thiện thì anh gọi tôi lên ra lệnh:
- Chú mày giao Đại Đội 1 lại cho Tr/Úy Lâm Tài Thạnh, sang coi ĐĐ.3 của Thương (thuyên chuyển) và tạm thời coi luôn “cánh B”.
Tôi bị bất ngờ nên hỏi lại:
- Sao lại tôi? Còn hai thằng Hợp và Dzoan đâu? Tụi nó là dân kỳ cựu TĐ.2, nhất là Hợp, nó lên trung úy trước tôi và làm đại đội phó cho anh từ lâu.
- C.! Nhưng nó đi Mỹ nên lên đại úy sau mày, cứ bàn giao Đại Đội 1 cho Thạnh ngay, đi hành quân chuyến này xong rồi về tính sau.
Chẳng phải quân tử “Tàu”, đã chọn nghiệp lính mà được đàn anh nâng đỡ thì còn gì bằng, nhưng cũng phải “biết mình, biết người” cho phải phép, vì Hợp gốc ĐĐ.4/TĐ.2, học trò cưng của anh Phúc, chỉ kẹt một sợi tóc, vì thời gian trận Mậu Thân 1968, Hợp đang du học tại Mỹ nên cái lon đại úy của hắn ít thâm…hơn của tôi nên anh chọn tôi coi cánh B. Cánh B là con đường “tương chao”, có thể làm phó, từ phó lên trưởng là tương lai.
Mưu sự do Anh, thành sự tại cái số của tôi nó đen-đen làm sao ấy! Trong cuộc hành quân này, anh Phúc coi cánh A với ĐĐ.1 của Thạnh và ĐĐ.4 của Hợp, còn tôi coi cánh B với ĐĐ.3 và ĐĐ.2 của Dzoan.
Nhưng rồi trong chuyến hành quân này, tôi bị trọng thương-gãy chân tay, tráo máu họng trên kinh Cán Gáo, Chương Thiện, bị loại khỏi vòng chiến, rời TĐ.2 luôn (9/1969).
Sau đó anh chọn Hợp coi cánh B và đề nghị đưa Dzoan đi làm phó ở tiểu đoàn khác. Nhưng Dzoan không chịu đi để tiến thân mà cứ đòi mài sừng làm Trâu, sau khi tôi bị thương ít lâu thì Dzoan cũng bị thương và giã từ vũ khí.
Trong thời gian hơn 1 năm tôi nằm bệnh viện, mỗi khi Tiểu Đoàn 2 về hậu cứ (Thủ Đức) tái trang bị vũ khí và quân số là anh Phúc ghé thăm tôi tại bệnh vện với 1 cây thuốc lá Ruby Queen và câu nói quen thuộc:
- C.! Chú mày làm tao mất hứng!
Bị anh sỉ vả mà tôi vẫn vui và nhớ mãi, nhớ nụ cười chúm chím rất có duyên của Anh với cái sẹo ngang mặt.
Khi tôi ra hội đồng y khoa, được phân loại 2 vĩnh viễn, được phép rời Binh Chủng, hoặc có thể giải ngũ, tôi buồn nên tìm đến anh, anh can thiệp cho tôi tiếp tục ở lại TQLC, nhờ vậy mà tôi lại được gặp anh lần cuối cùng trên bờ biển…
Lần Cuối Với Anh.
Những ngày tháng 3/1975, khi chiến trận bùng nổ khắp nơi, theo lệnh của Tổng Thống, Tr/Tướng Tư Lệnh QĐ1 cho Sư Đoàn Nhảy Dù rút khỏi Đà Nẵng để về Saigon làm tổng trừ bị, Sư Đoàn TQLC sẽ tái phôi trí quân lại để trám vào chỗ trống do Nhảy Dù rút đi. Cuộc thay quân bắt đầu ngày 14/3/75.
TQLC chỉ để LĐ.147/TQLC ở lại Quảng Trị, Huế, còn LĐ.258/TQLC thay LĐ.2 Dù khu vực Bắc Hải Vân. LĐ.369/TQLC thay LĐ.3 Dù khu vực Đại Lộc, LĐ.468/TQLC từ Saigon ra thay LĐ.1 Dù trên đèo Hải Vân.
Thời gian này, LĐ.369/TQLC của Tr/Tá Nguyễn Xuân Phúc, LĐP là Tr/Tá Đỗ Hữu Tùng gồm có 3 tiểu đoàn là: TĐ.2 của Th/Tá Trần Văn Hợp, TĐ.6 của Tr/Tá Lê Bá Bình, TĐ.9 của Th/Tá Lâm Tài Thạnh. LĐ.369/TQLC thay thế LĐ.3 Dù vùng Thường Đức, Đại Lộc phía Tây Đà Nẵng xong vào ngày 16/3/75.
Ngày 28/3/75 LĐ.369/TQLC được lệnh di chuyển về phòng thủ căn cứ Non Nước, Đà Nẵng. Nhưng chỉ có TĐ.2 và TĐ.6 đã về đến nơi vào rạng sáng 29/3, còn TĐ.9 của Th/Tá Lâm Tài Thạnh thì ở quá xa nên vẫn còn tiếp tục trên đường di chuyển và chỉ về đến nơi vào chiều tối 29/3/95 (và TĐ.9 phải đơn phương chiến đấu suốt đêm 29/3 với lực lượng địch với quân số gấp bội)
Khoảng 12 đêm 28/3, Tr/Tướng Tư Lệnh QĐI đến với SĐ/TQLC và ông ở lại trong Trung Tâm Hành Quân SĐ/TQLC (TTHQ) trong căn cứ Non Nước cho tới sáng 29/3, thì Ông cùng với TQLC bơi ra tàu Hải Quân tại bờ biển Non Nước.
Khỏang 6.30 giờ sáng 29/3/1975, không khí trong TTHQ quá nóng và ngột ngạt (có mặt trời ngồi trong đó). Tôi bước ra ngoài đề hít thở không khí bờ biển thì thấy anh Phúc, anh Tùng và Trần Văn Hợp đứng nói chuyện trước cửa TTHQ. Anh Tùng nói máy liên lạc với TĐ.9 đang trên đường rút về.
Khoảng 7 giờ sáng, khi có 2 tàu LSM của HQ tiến vào bờ biển Non Nước, lần lượt Trung Tướng TL/QĐI đi cùng với Đ/Tá Tango TLP/TQLC, Tr/Tá CHT/PB Đặng Bá Đạt, Tr/Tá Nguyễn Văn Phán (lúc này anh Phán là TĐT/TĐ/THD), P3 và TTHQ chúng tôi theo sau. Trước khi ra tàu HQ, tôi đứng nghiêm chào hai anh Phúc và Tùng.
Hai anh vẫn đứng tại đó, tiếp tục liên lạc với TĐ.9 đang trên đường rút về.
Bằng đủ mọi cách để mưu sinh thoát hiểm “vượt sông”, tôi, Th/Tá Phạm Văn Sắt, Th/Tá Phan Công Tôn đã vượt sóng bám vào dây để được kéo lên tàu, trong khi đó thì Đ/Uý Nguyễn Văn Hưởng được kéo lên nửa chừng thì tuột tay rớt trở lại xuống biển và mất tích.
Khoảng 9-10 giờ sáng 29/3/75, khi 2 tàu LSM đang tiếp tục kéo vớt những “cọp biển” thì VC pháo kích, vài quả đạn rơi quanh tàu, nên tàu lui ra khơi, sóng nước kéo theo nhiều, nhiều cọp biển về “thuỷ cung”! Còn trên bờ, nơi hai Anh Phúc Tùng đứng đó thì một cơn bão lửa sấm sét mù trời khiến nhiều người về “thiên quốc”! Hai Anh Phúc Tùng “mất tích” từ giờ phút đó!
Bình thường như những người bình thường thì hai anh đã lên được LSM, nhưng các anh là cấp chỉ huy lý tưởng, ở lại để điều động đơn vị cuồi cùng là TĐ.9 và có lẽ hai Anh đã ở lại đó mãi mãi. Tôi không bao giờ gặp lại hai anh Phúc, Tùng nữa!
Có người viết rằng thấy hai Anh lên trực thăng, có người nói hình như hai Anh lên tàu, lại còn có bố (láo) nghe tiếng anh kêu gọi thuộc cấp rút lên đỉnh Sơn Chà tử thủ!
Không thấy tận mắt chuyện gì xảy ra, thì xin đừng “thần thánh hoá” và cũng không nên bịa chuyện làm mờ những tấm gương sáng
Trong bài “Trận chiến sau cùng của Tiểu đoàn 9/TQLC”, Trưởng B.3/TĐ.9 là Đ/Uý Tân An Ðoàn Văn Tịnh viết: (xin trích).
***
Sáng ngày 29/3/1975, gần 10 giờ trưa cánh A mới tới được bờ sông Hàn. Tôi gọi Tr/TáTùng. Tiếng của anh Tùng trong ống liên hợp và chiếc loa nhỏ gắn trên máy PRC-25 không được rõ ràng, lẫn lộn với một loạt âm thanh quen thuộc, hình như tiếng cánh quạt của trực thăng hay tiếng sóng biển vỗ vào mạn tàu.
- Thái Dương đang ở đâu? Trên máy bay hay tàu thủy?
- Sao Tân An lại hỏi vậy?
- Vì tôi nghe có tiếng quạt đập gió hay tiếng oằm oặp của sóng.
- Không tàu cũng chẳng máy bay. Ðó là tiếng sóng vỗ bên bờ biển.
Tôi nghe tiếng la rất lớn của Trung tá Phúc:
- Cho Tân An ngay tần số của Hợp, và Hợp có bổn phận đón Tiểu Đoàn 9.
- OK, OK! Tân An đây Thái Dương. Hãy ghi tần số nầy và liên lạc với Hà Nội để Hà Nội thu xếp đón Tiểu Đoàn 9 lên tàu.
- Ðáp nhận. Ðại Bàng!
- Chúc may mắn.
“Ầm”!
Bỗng tôi nghe trong máy một tiếng nổ rất lớn cắt ngang tiếng nói của anh Tùng và chấm dứt cuộc đối thoại. Ðó là lần nói chuyện sau cùng của chúng tôi với Trung Tá Ðỗ Hữu Tùng.
***
Đối chiếu diễn tiến cuộc đàm thoại giữ LĐP Đỗ Hữu Tùng và Tân An Đoàn Văn Tịnh cùng sự kiện mắt thấy tai nghe của chúng tôi (Anh Sắt, Tôn, Cấp) thì có thể biết được chuyện gì đã xảy ra với hai Anh Phúc Tùng vào khoảng 10-11 giờ sáng ngày 29/3/75 tại bãi biển Non Nước.
Lần đầu tiên, khi trình diện TĐ.2 tại Đà Nẵng, năm 1966, tôi gặp ĐĐT/ĐĐ4 Nguyễn Xuân Phúc thì lần sau cùng tôi gặp Tr/Tá LĐT/LĐ.369 Nguyễn Xuân Phúc cũng tại Đà Nẵng, không ngờ đó là lần sau cùng tôi gặp Anh!
Anh Phúc không cho tôi huy chương và cấp bậc, tiền bạc thì lại càng không vì Anh quá nghèo. Tôi ghét cay ghét đắng, có thể nói là hận Anh ngay từ khi mới đến trình diện. Nhưng “ở lâu mới biết lòng người có nhân”, với phong cách chỉ huy và tài lãnh đạo, cung cách “sống đẹp” với người xung quanh đã khiến tôi kính và phục Anh, nếu không muốn nói Anh là “thần tượng” của tôi.
Không chỉ riêng tôi, mà khi tiếp xúc với những người biết Anh, những ai từng làm việc với Anh thì hầu như tất cả đều dành cho Anh sự ngưỡng mộ, cảm tình yêu mến.
Nửa đường gãy gánh, con đường binh nghiệp Anh chưa thành công, nhưng anh đã thành danh. Nay ở một nơi nào trên Thiên Quốc, anh đang cười, ngất ngưởng ly rượu cầm tay, tay kia đánh nhịp hát: “Trấn Thủ Lưu Đồn”./.
Tuổi Già Tang Thương ( Bác Sĩ Nguyễn Lê Hiếu)
TAO ĐƯA MÀY VỀ VỚI MẸ (N.M. Tự)
Xin click link dưới đây để nghe nhạc.
https://youtu.be/p6KFlwKYIdE?si=x4edX4N3oiKH5NkK
Có những hình ảnh của chiến tranh không cần nhiều lời giải thích, nhưng vẫn đủ sức làm trái tim người xem nghẹn lại.
Một người lính Thủy Quân Lục Chiến của quân đội VNCH lặng lẽ đi qua vùng cát trắng Quảng Trị, trên vai là thân xác người bạn, người đồng đội vừa nằm xuống giữa chiến trường.
Sau lưng anh là khói lửa, trước mặt anh là con đường trở về tuyến sau. Nhưng con đường ấy không chỉ là con đường quân sự. Đó là con đường của tình bạn, của lời thề, của danh dự người lính.
Bản nhạc “Tao Đưa Mày Về Với Mẹ” được viết từ chính hình ảnh đau thương ấy (hình thật, người thật).
Trong chiến tranh, người lính có thể mất tất cả trong một khoảnh khắc: tuổi trẻ, tình yêu, mái nhà, và ngay cả ngày mai. Nhưng có những điều họ không để mất, đó là tình đồng đội và lời hứa với nhau giữa sống và chết.
Người lính tử trận trong bài hát không chỉ là một thân xác được mang về. Anh còn là đứa con của một bà mẹ già đang mong ngóng nơi quê nhà. Anh là người chồng trẻ của một người vợ mới cưới, đang mang trong lòng đứa con chưa kịp thấy mặt cha.
Trước khi ra đi, anh chỉ có một lời nhắn gửi: “Nếu tao chết, mày cố gắng đưa xác tao về cho mẹ tao, cho vợ tao”.
Và người bạn còn sống đã vác xác anh trở về, không chỉ bằng đôi vai mệt lả, mà bằng cả trái tim đau đớn của một người lính giữ trọn lời thề.
Ca khúc không nhằm ca tụng chiến tranh. Trái lại, bài hát nói lên cái giá quá đắt của chiến tranh: những bà mẹ mất con, những người vợ mất chồng, những đứa trẻ sinh ra chưa một lần được gọi tiếng cha.
Nhưng giữa đổ nát và chết chóc, tình người vẫn sáng lên. Người lính có thể ngã xuống, nhưng tình đồng đội không ngã xuống.
Thân xác có thể rã rời, nhưng lời hứa vẫn được mang về tới nơi. Với giai điệu chậm, buồn, bi tráng, “Tao Đưa Mày Về Với Mẹ” nên được hát như một lời kể nghẹn ngào hơn là một khúc ca thông thường.
Tiếng hát cần nhẹ ở đầu, dồn nén ở giữa, rồi vỡ ra trong điệp khúc như tiếng khóc không bật thành lời. Mỗi câu hát là một bước chân trên cát nóng của Quảng Trị, mỗi nhịp nhạc là một hơi thở nặng nề của người lính đang vác bạn mình trở về.
Đây là một bản nhạc viết cho những người đã nằm xuống, cho những người còn sống mang nặng ký ức chiến trường, và cho những lời hứa thiêng liêng giữa bạn bè trong giờ phút sinh tử.
“Tao đưa mày về…”
Một câu nói mộc mạc, nhưng chứa cả một trời nghĩa tình của người lính Việt Nam Cộng Hòa trong những năm tháng khốc liệt nhất của quê hương.
N.M. Tự
Mảnh Bằng Một Gang (Nguyễn Việt Hùng)
Ngày xưa, trước năm 1975 ở miền Nam, thi cử không phải là chuyện “làm bài rồi chờ email báo điểm”.
Nó là một trận đánh.
Một trận đánh thật sự.
Mà chiến trường là sân trường, vũ khí là cây bút máy Pilot, và thương vong thì tính bằng… nước mắt.
Nếu bây giờ hỏi một học sinh:
– Con thi rớt thì sao?
Nó sẽ nhún vai:
-Thì năm sau thi lại.
Nhớ lại thời đó, thi rớt không đơn giản như vậy.
Thi rớt có thể làm đổi hướng cả cuộc đời.
Đó là lý do mà mỗi mùa thi, cả xã hội hồi hộp như chờ kết quả bầu cử tổng thống.
Lễ Trưng Bầy bộ Quân Phục Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
“Sống tranh đấu mà không sờn lao khổ
Chết huy hoàng mà chẳng khuất phục ai”
Đó là hình ảnh quả cảm của các quân nhân trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nói chung và Binh chủng TQLC nói riêng. Họ đã nêu cao được tinh thần Danh Dự Tổ Quốc Trách Nhiệm. Và anh tôi, Y Sĩ Thiếu Tá TXD cũng không ngoại lệ.
“Mũ xanh làm hãnh diện đoàn quân
Áo sóng dựng lên tựa Sóng Thần
Vũ bão xông pha ngoài trận địa
Thủy Quân Lục Chiến mạnh vô ngần.”
Ngược dòng thời gian, vào một ngày đầu năm 2023, có một bệnh nhân đến phòng mạch anh tôi, Bác Sĩ Trần Xuân Dũng ở Footcray, Úc Châu, nói rằng: “Tại Shrine of Remember (Bảo tàng Viện Chiến Tranh) ở Victoria, Melbourne đã trưng bầy ảnh Hồ Chí Minh, Cờ Máu (cờ đỏ sao vàng), dép râu và nón cối.
Được biết thế, Anh Dũng liền hợp tác với 2 Sĩ Quan Biệt Động Quân (Hạ Bá Hùng và Nguyễn Đức An) cả hai vị sĩ quan BĐQ này rất tích cực trong việc chống cộng ở Melbourne hàng mấy chục năm qua. Thế rồi các anh âm thầm lên kế hoạch đối phó, từng bước một. Tiếp xúc với giới thẩm quyền của Bảo Tàng Viện Chiến Tranh, đề nghị hủy bỏ hình Hồ Chí Minh, cờ Máu, dép râu, nón cối để thay thế bằng Cờ Việt Nam Cộng Hòa (Cờ Vàng). Bộ Sách Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến (song ngữ, anh Dũng xuất bản năm 1997 và tái bản năm 2007 với 1579 trang, ghi lại các trận đánh lịch sử của TQLCVN do các nhân chứng trong cuộc chiến), và Bộ Quân Phục Biệt Động Quân, hình ảnh của người lính VNCH.
Anh Dũng đang trình bầy, giới thiệu về quyển Chiến Sử TQLC.
Sau nhiều lần trình bầy, giải thích, và thuyết phục về chính nghĩa của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Các anh đã thành công!
Vào một ngày đẹp trời cuối tháng tư 2023, Giám Đốc Bảo Tàng Viện Chiến Tranh Melbourne Shrine's Director điện thoại cho anh Dũng nói rằng: “ Đã ra quyết định dẹp bỏ phần trưng bày của VC.”
Lá cờ VNCH, bộ sách Chiến Sử TQLC, bộ quân phục và mũ BĐQ của Đại Úy Hạ Bá Hùng đã được trao tặng tận tay Manager và Director của Melbourne Shrine cho họ sửa soạn trưng bày vào tủ kính trong “Section Vietnam War” của Đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Trận Vong, Melbourne- Victoria, Australia. Bộ sách Chiến Sử TQLC cũngđược lưu giữ như tài liệu chiến tranh trong thư viện của Melbourne Shrines of Remember.
Sau khi sửa sọan xong, để tránh có điều sơ sót, họ mời ba anh đến xem (final check) trước khi ra mắt công chúng
Anh Dũng đứng cạnh tủ kính sau khi đã được thay thế
Để mừng ngày Quân Lực VNCH 19/06/2023. Các anh đã chọn ngày 17/06//2023 làm lễ ra mắt tại The Main Auditorium Melbourne Shrine of Remember với công chúng.
Buổi lễ được tổ chức long trọng có rước quốc kỳ, chào cờ và giới thiệu sự thành công của ba anh Dũng - Hùng - An cho công chúng biết. Chỉ tiếc ngày trọng đại này anh tôi không còn nữa. Trong phần giới thiệu anh Hùng anh An bổng nhiên bật khóc làm cả hội trường bùi ngùi..... Ngày làm lễ không có anh Dũng nên hai anh Hùng - An mời Uyển Diễm, trưởng nữ của anh Dũng đến đại diện.
Cháu Uyển Diễm, Ông Nguyễn Hữu An và Ông Hạ Bá Hùng
Buổi lễ được tổ chức tại hội trường chính của Melbourne Shrine, vì vấn đề an ninh vô cùng chặt chẻ, các quan khách và các hội đoàn báo chí được mời rất giới hạn. Sau buổi lễ có chương trình văn nghệ và ăn trưa cho quan khách Úc - Việt. Thật đau lòng anh Dũng đột ngột ra đi ngày 30 tháng 5, không chờ được đến ngày vinh dự này.
Điểm đáng ca ngợi là hai Sĩ Quan BĐQ Nguyễn Hữu An và Hạ Bá Hùng đã không ngừng tại đây mà tiếp tục vận động theo dự án lúc ban đầu. Để được trưng bầy Cờ VNCH, bộ quân phục TQLC và bộ sách Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến tại RSL.
Bộ áo trận của Mũ Xanh Bùi Văn Đạt
Ngày 25-08-2024, tại RSL Dandenong đã nhận và trưng bày cờ VNCH, bộ áo trận TQLC của MX Bùi Văn Đại, thuộc Tiểu Đoàn 4 TQLC và bộ sách Chiến Sử TQLC của Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng tại Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam của Hội Cựu Chiến Binh VNCH tại Melbourne - Victoria được tọa lạc ở trong khuôn viên của RSL Club vùng Dandenong, một quận ngoại ô thuộc Melbourne tiểu bang Victoria Úc Châu.
Tưởng cũng nên biết thêm về RSL
RSL là viết tắt của Returned and Services League of Australia: is an Independent Support Organization for people who have served or are serving in the Australian Defence Force.
RSL gồm câu lạc bộ giãi trí được tài trợ của Chính Phủ Úc cho các quân nhân hiện dịch và cựu chiến binh Úc, một chuỗi nhà hàng - khách sạn - Franchise này được xây dựng khắp các quận, các thành phố quanh Melbourne và thôn quê. Từ ngày có người Việt Tỵ Nạn Công Sản đến Úc, hội RSL nhận luôn các Cựu Chiến Binh VNCH làm thành viên và được hưởng mọi quy chế như cựu chiến binh quân đội Úc.
Khi Cộng đồng người Việt Tự Do ngày càng lớn mạnh thì các Cựu Quân Nhân VNCH nộp đơn xin chính phủ Úc cấp cho đất và kinh phí xây dựng văn phòng riêng cho hội Cựu Chiến Binh VN, nhưng phải chờ nhiều năm trời mà chưa có kết quả.
May thay, ông Nguyễn Hữu An và ông Hạ Bá Hùng đã gặp lại một người bạn Úc, làm Đại Đội Trưởng của quân đội Úc khi tham chiến tại VN, họ đã chiến đấu cùng nhau những tháng ngày đó.
Từ khi giải ngũ ông ta trở về Úc làm Chủ Tịch hội RSL ở quận Dandenong. Biết được nguyện vọng của các Cựu Chiến Binh VNCH ông ta đồng ý và cho phép hội Cựu Chiến Binh VNCH xây dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh VN ngay trong khuôn viên của hội RSL Dandenong, tạm thởi trong thời gian chờ đợi chính quyền tiểu bang cho đất. Ba anh Hùng -An-Dũng và các anh trong ban chấp hành, kêu gọi các thương gia và mạnh thưởng quân đóng góp để xây dựng Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam của riêng cho công đồng người Việt Tự Do Tỵ Nạn Cộng Sản tại Melbourne - Victoria.
Anh Dũng đảm trách nhiệm vụ tham khảo các tài liệu liên quan đến các hoạt động quân sự cũng như viện trợ của Mỹ và các nước đồng minh cho VNCH. Anh Dũng đã thiết kế những tấm “Information Marble Plaque” gắn chung quanh khuôn viên đài tưởng niệm.
Từ ngày có đài tưởng niệm này. Hàng năm vào ngày 19 tháng 6, ngày Quân Lực VNCH, Cộng Đồng VN quy tụ về nơi đây làm lễ tưởng niệm.
Ngày nay, chính phủ tiểu bang đã cho đất và kinh phí xây đựng văn phòng cộng đồng người Việt Tự Do Tỵ Nạn Cộng Sản, nhưng địa điểm lại quá xa trung tâm thành phố. Cho nên RSL Dandenong nghiễm nhiên trở thành nơi tưởng niệm chính của người Việt tại Melbourne.
Thế rồi Hội Cựu Quân Nhân và Hội Biệt Động Quân QLVNCH lại tiếp tục liên lạc với các vị hội trưởng của Hội RSL East Malvern để thực hiện trưng bầy Cờ Việt Nam Cộng Hòa, bộ Quân Phục TQLC và bộ Sách Chiến Sử TQLC.
Và ngày 1 tháng 6 năm 2025, một lần nữa, bộ Quân Phục Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam, biểu tượng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với lá cờ Việt Nam Cộng Hòa và bộ Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam lại được trưng bầy tại phòng khánh tiết của RSL East Malvern (Stanley Grose Dr, Malvern East VIC 3145).
Buổi lễ Khánh Thành, đã được diễn ra trong không khí long trọng và trang nghiêm, tại phòng khánh tiết của RSL East Malvern (Stanley Grose Dr, Malvern East VIC 3145) theo đúng lễ nghi quân cách, do Hội Cựu Quân Nhân và Hội Biệt Động Quân Victoria đảm trách.
Quan khách tham dự buổi lễ LỄ TRƯNG BẦY BỘ QUÂN PHỤC THỦY QUÂN LỤC CHIẾN CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA
Có khoảng hơn 100 người, với sự hiện diện các quan khách Úc và Việt như:
*Ông Geoffrey Tobin – Hội trưởng của hội RSL East Malvern
* Bà Tiến sĩ Carina Garland, Dân biểu Quốc hội Liên bang của vùng Chisholm
* Ông Michael O’Brien, Dân biểu Quốc hội Tiểu bang của vùng Malvern.
* Bà Pam Young – Quả phụ của cố Đại úy Barry Young thuộc Lữ Đoàn SAS (Borneo) và Đội Huấn luyện Quân đội Úc tại Việt Nam.
* Ông Nguyễn Hữu An (MC) – Hội trưởng Hội Biệt Động Quân .
* Ông Đặng Văn Đạt – Hội Trưởng Hội Cựu Quân Nhân Tiểu bang Victoria, đã giới thiệu thành phần quan khách người Việt, gồm có:
* Gia đình của cố Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng - Bà quả phụ Trần Xuân Dũng, và Trưởng nữ - Nha Sĩ Trần Uyển Diễm.
* Bà Trần Đặng Thanh Khâm OAM – Phó Chủ Tịch Hội Phụ Nữ Việt Nam tại VIC.
* Ông Hạ Bá Hùng – Phó Chủ tịch Hội Biệt động Quân tại VIC.
* Ông Nguyễn Văn Long – Tổng Hội Trưởng Tổng hội Nhẩy Dù Úc Châu, kiêm Phó Chủ tịch RSL Footscray.
* Ông Phạm Ngọc Tiền – Hội Trưởng Hội Hải Quân Hàng Hải VIC,
* Ông Nguyễn Văn Dũng – Hội Trưởng Hội Không Quân VIC.
Sau đây là diễn tiến được ngắn gọn dựa trên bài tường trình của Hội Trưởng Hội Biệt Động Quân.
Khai mặc buổi lễ, ông Geoffrey Tobin – Hội trưởng của hội RSL East Malvern, chào mừng tất cả các quan khách đã đến tham dự và, giới thiệu với công chúng bộ quân phục của người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
Tiếp theo là nghi lễ chào quốc kỳ và diễn hành do toán Quốc Quân Kỳ thực hiện, được đón chào bởi hai hàng lính đủ các binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đứng dọc hai bên. Bản Quốc ca Úc Đại Lợi và Việt Nam Cộng Hòa được vang lên bởi giọng hát của Nữ Bác Sĩ Hoàng Trang.
Phút mặc niệm bắt đầu bằng lời tuyên đọc ‘’The Ode of Remembrance’’ của bà Pam Young:
‘’ They shall grow not old, as we that are left grow old:
Age shall not weary them, nor the years condemn.
At the going down of the sun and in the morning
We will remember them.
Sau phần nghi lễ
Ông Geoffrey Tobin, Hội trưởng của hội RSL East Malvern, đã phát biểu:
Ông cám ơn hội Cựu Quân Nhân, hội Biệt Động Quân và toàn thể hội viên, đã giúp đỡ hoàn thành tủ trưng bầy và tổ chức buổi lễ ngày hôm nay. Ông cũng cám ơn gia đình cố Y Sĩ - Thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến Trần Xuân Dũng, đã tặng bộ quân phục của Bác Sĩ Dũng để Hội RSL trưng bầy tại hội quán.
Tiếp theo là lời phát biểu của ông Đặng Văn Đạt – Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam Victoria, người đã dành nhiều thời gian để chuẩn bị cho buổi lễ này.
Theo lời ông Đạt, ông biết Bác Sĩ Dũng và hoạt động chung trong những hoạt động của hội Cựu Quân Nhân với nhau từ năm 1990.
Bác Sĩ Dũng là một người lính xuất sắc của Sư Đoàn Thủy quân Lục Chiến, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mặc dù là bác sĩ, nhưng ông đã xông pha chiến đấu trên khắp các chiến trường mà người lính Thủy Quân Lục Chiến đảm trách.
Lúc đầu, với cấp bậc Y Sĩ Trung úy, ông phục vụ cho Tiểu Đoàn 4 và 6 của Thủy Quân Lục Chiến. Sau trận Mậu Thân 1968, ông được thăng cấp Đại úy và đảm trách chức vụ Y Sĩ Trưởng cho Chiến đoàn B Thủy quân Lục Chiến. Chỉ vài năm sau, với những thành tích và sự phục vụ của mình, ông một lần nữa được vinh thăng Thiếu tá, giữ chức vự Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Toàn Quân Y Sư Đoàn 2 Bộ Binh.
Trong bầu không khí trang nghiêm của ngày hôm nay, với tư cách là Chủ Tịch của Hội Cựu Quân Nhân tại Victoria, tôi rất vinh dự được tham gia cùng ban chấp hành của RSL Malvern East và Hội Biệt Động Quân Victoria để giới thiệu lá cờ Việt Nam Cộng hòa và bộ quân phục của Thiếu tá Trần.
MC Nguyễn Hữu An giới thiệu diễn giả kế tiếp:
Thưa quý vị, Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng đã qua đời vào ngày 30 tháng 5 năm 2023. Sự nghiệp của ông với tư cách là một bác sĩ quân y bắt đầu không phải tại các bệnh viện yên bình ở Sài Gòn, mà là tại nhiều trận chiến kinh hoàng mà Thủy Quân Lục chiến Việt Nam Cộng Hòa chịu trách nhiệm, bao gồm cả cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968.
Tôi có biết về Bác Sĩ Dũng, nhưng không thể nhiều bằng con gái của ông ta! Tôi xin được giới thiệu: Nha Sĩ Uyển Diễm Trần - Trưởng nữ của Bác Sĩ Dũng – sẽ nói về cha mình.
Với giọng nói thật xúc động, cô Uyển Diễm đã nói:
‘’Xin kính chào tất cả các bác, cô chú, bạn bè, gia đình và các vị khách đáng kính. Tôi rất cảm kích khi quý vị đến vào Chủ Nhật để ủng hộ sự kiện đặc biệt này. Hôm nay, gia đình tôi rất vinh dự được tặng bộ Quân Phục Thủy Quân Lục chiến của người cha quá cố của tôi – Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng. Bộ quân phục này sẽ được trưng bày cùng với lá cờ của Việt Nam Cộng Hòa, và bộ sách Chiến Sử Thủy Quân Lục Chiến, trong tủ kỷ niệm này, do RSL Malvern East đảm trách.
Tôi muốn cảm ơn những người anh em của cha tôi đã cho phép bộ quân phục của ông đại diện cho toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại nơi đây. Thời gian không cho phép tôi nêu tên tất cả những người ủng hộ và các tổ chức. Nhưng tôi biết ông Nguyễn Hữu An, ông Đặng Văn Đạt và nhóm của họ đã làm việc chặt chẽ với ông Geoff Tobin, chủ tịch của RSL Malvern East, để biến điều này thành hiện thực.
Cha tôi là một người đàn ông có tâm tốt với nhiều tài năng, nhưng tôi không đến đây để nói về những thành tựu cá nhân của ông.
Tôi đến đây để suy ngẫm về lý do tại sao buổi trưng bày này lại có ý nghĩa lịch sử và văn hóa.
Năm mươi năm sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, sau khi các quốc gia tham chiến đã bình thường hóa quan hệ, một điều thường bị lãng quên là cái giá phải trả qúa đắt của binh lính và dân chúng cho những quyết định chính trị.
Đối với nhiều quân đội nước ngoài được gửi đến chiến đấu ở Việt Nam, vẫn còn đó với những băn khoăn về lý do tại sao họ được gởi đi. Quá trình phát triển và lý giải cho Chiến tranh Việt Nam quả thực rất phức tạp.
Tùy thuộc vào quan điểm chính trị của mỗi người, nó có thể được xem là một cuộc chiến chống Mỹ, hoặc một cuộc đấu tranh giành độc lập của dân tộc, hoặc một lập trường chống lại sự bành trướng của Cộng sản. Có lẽ tất cả những điều này đều đúng, nhưng đối với Nam Việt Nam, đó thực sự là một cuộc đấu tranh sinh tồn bởi sự xâm lăng của Việt Cộng đã không tôn trọng Hiệp Định Genève.
Cha tôi sinh ra vào thời kỳ hỗn loạn ở Bắc Việt Nam năm 1939. Sau khi sống sót qua cuộc chiến tranh man rợ của quân Nhật Bản trong Thế chiến II, ông đã phải chịu đựng những khốn khổ đau thương do Việt Cộng non trẻ (Việt Minh) gây ra. Ông đã tận mắt chứng kiến những phương pháp kiểm soát và nhồi sọ người dân quá mức và thâm độc. Vì vậy, ông là một trong số hàng triệu người tị nạn, di cư vào miền Nam Việt Nam năm 1954. Mặc dù tự hào là người miền Bắc, ông đã phải từ bỏ và chọn phiá mà ông cảm thấy được hứa hẹn về tự do tư tưởng, trật tự, công bằng, dân chủ và có nền giáo dục nhân bản.
Rất nhiều người Mỹ và Úc đã được gửi đi chiến đấu cũng chính vì những lý tưởng này.
Hàng năm, chúng ta đau buồn khi nhìn thấy vô số tên tuổi của những người đã tham chiến, được khắc trên các Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam Cộng Hòa trên khắp nước Mỹ và Úc. Tuy nhiên, đối với những người lính QLVNCH đã hy sinh, lại có rất ít địa điểm và cơ hội để tưởng nhớ đến họ.
Ngày nay, trong khi các cựu chiến binh Mỹ và Úc được chào đón trở về Việt Nam với sự ấm áp và lòng vị tha, thì vẫn không có sự ân cần hay cử chỉ hào hiệp nào dành cho các quân nhân QLVNCH trên chính quê hương của họ. Đó là một thực tế khắc nghiệt và cay đắng đối với những người mà Việt Cộng đã kết tội họ là đã chiến đấu bảo vệ đất nước khi Bắc Việt Nam đã không tôn trọng Hiệp định chia đôi đất nước, năm 1954. Một tình huống, mặc dù không lý tưởng, đã cho phép hai thể chế khác nhau tại Việt Nam - không khác gì tình hình ở Bắc Triều Tiên và Nam Triều Tiên ngày nay.
Nhiều người đau khổ chỉ vì họ đang thực hiện Nghĩa vụ Quốc gia, hoặc vì họ trở thành nạn nhân của chế độ bạo tàn Việt Cộng đã ăn sâu bén rễ. Theo cách nói ngày nay, người ta có thể lập luận rằng họ phải đối mặt với chủ nghĩa khủng bố. Đây là lý do tại sao có một cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc , mà lý do quân đội Úc được gửi đến giúp đỡ Nam Việt Nam, và đây là cũng là lý do tại sao có những người tị nạn Cộng Sản Việt Nam.
Sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử sẽ không trọn vẹn nếu chúng ta quên đi khía cạnh này của câu chuyện.
Khoảng 2 triệu người đã chạy trốn khỏi Việt Nam sau khi Sài Gòn sụp đổ. Chưa kể đến rất nhiều người muốn rời đi nhưng không thể. Ước tính có khoảng 500.000 người tỵ nạn đã chết khi cố gắng chạy trốn khỏi sự đàn áp của Việt Cộng. Hơn 150.000 người đã được định cư tại Úc, một quốc gia an toàn, tự do và dân chủ.
Cái tủ kiếng trưng bầy này cũng là một nơi định cư an toàn: Đó là nơi để những người như cha tôi được tưởng nhớ với lòng nhân hậu và sự tôn nghiêm. Bộ đồng phục này tượng trưng cho tất cả những người lính Việt Nam Cộng Hòa hiện đang bị lãng quên ở Việt Nam. Ngoài ra, còn có những cựu chiến binh VNCH vẫn mang trên mình vết thương chiến tranh và vết đòn thù từ các trại tập trung của Việt Cộng. Bộ đồng phục này, bên cạnh những bộ đồng phục mà những Cựu Chiến Binh Úc khác mặc, là lời nhắc nhở rằng: Đã từng có thời, Úc và Nam Việt Nam sát cánh bên nhau.
Đối với những Cựu Chiến Binh Úc, đó không phải là cuộc chiến của các bạn, nhưng các bạn đã đến, đã chiến đấu với lòng dũng cảm và đã giúp đỡ bằng sự tử tế.
Đối với tôi, điều đặc biệt cảm động là 50 năm sau chiến tranh, những CỰU CHIẾN BINH ÚC vẫn đang quan tâm đến những người anh em Nam Việt Nam của mình. Đây chính là tình bạn tuyệt vời nhất của người Úc.
Một lần nữa, tôi muốn gửi lời cảm ơn đến ông Geoff Tobin và hội RSLMalvern East đã dành không gian và thời gian cho người Úc gốc Việt để vinh danh những người đã phục vụ. Tôi cũng muốn cảm ơn tất cả quý vị đã dành thời gian và công sức cho buổi ra mắt ngày hôm nay.
Đúng 11:25 sáng, thời khắc lịch sử đã đến:
Lễ Trưng Bầy bộ Quân Phục Thủy Quân Lục Chiến của
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Tiến sĩ Carina Garland, ông Michael O’Brien, ông Geoff Tobin, ông Đặng Văn Đạt, bà quả phụ cố Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng, bà quả phụ của cố Đại úy Barry Young, đã được mời lên để kéo tấm khăn phủ, khánh thành tủ trưng bầy.
Ông An đã mời mọi người cùng đếm ngược với ông:
Mười, chín, tám, bảy, sáu, năm, bốn, ba, hai, một!
Mọi người đồng loạt kêu lên một cách đầy ngạc nhiên:
Unveil : Khăn phủ được kéo xuống.
Trước mắt mọi người, một tủ kính trong suốt, nhìn rõ bức tượng (Mennaquin) mặc bộ Quân Phục Thủy Quân Lục Chiến, đội bê rê mầu xanh lá cây, khăn quàng cổ mầu đỏ. Trên túi áo bên trái mang bảng tên DŨNG, cũng mầu đỏ.
Một phút ngỡ ngàng, bất động, chỉ yên lặng ngắm hình tượng Người Lính Thủy Quân Lục Chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Có những giòng nước mắt trên nhiều gương mặt.
Có những tiếng xì xầm chung quanh.
Một lúc sau, những tiếng lích kích của máy chụp hình mới vang lên.
MC Nguyễn Hữu An chỉ tay vào hình tượng người mẫu mà giới thiệu:
‘’Thưa quý vị, đây là hình ảnh của một người lính Thủy Quân Lục Chiến - Một trong những đơn vị tinh nhuệ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Bộ quân phục này thuộc về cố Y Sĩ Thiếu tá Trần Xuân Dũng, và được quả phụ Trần và gia đình tặng cho RSL East Malvern.
Thủa xưa, bất cứ khi nào ra trận, Bác Sĩ Dũng, thay vì mang theo khẩu súng trường M16, và đeo khẩu súng ngắn bên hông, ông lại mang theo một túi xách đựng đầy thuốc men và dụng cụ giải phẫu ở bên hông phải, ống nghe ở tay trái. Mục đích của ông không phải là giết bất kỳ ai mà là cố gắng hết sức mình cứu sống đồng đội bị thương và đôi khi, cứu cả những người lính Việt Cộng bị thương và bị bắt làm tù binh nữa.
Nhìn ông, không khác gì một người lính tiền sát, ngoại trừ phần trên túi áo bên trái của ông có thêu một con rắn quấn quanh một cây gậy, biểu tượng của một bác sĩ tiền tuyến, được cả bạn bè và kẻ thù kính trọng.
Phía sau Bác sĩ Trần là lá cờ vàng ba sọc đỏ của nước Việt Nam Cộng Hòa thân yêu của chúng tôi.
Dưới lá Cờ Vàng này, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, sát cánh cùng các lực lượng đồng minh, như Úc, New Zealand, Mỹ, Nam Hàn, Thái Lan và Phi Luật Tân, chúng ta đã cùng chiến đấu chống lại quân xâm lược Việt Cộng để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Miền Nam Việt Nam, tự do và hạnh phúc cho người Việt Nam. ít nhất là cho đến tháng 4 năm 1975.
Lá Cờ VNCH này do Hội Biệt Động Quân Victoria tặng.
Phía trước Bác sĩ Trần, là hai cuốn sách do chính ông xuất bản, kể lại lịch sử và các chiến tích của Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa.
Bên cạnh đó là những món quà từ các binh chủng khác của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, bao gồm:
Mũ Phi Công, Mũ Sĩ Quan Hàng Hải, Mũ Biệt Động Quân và Khăn quàng cổ có thêu chữ : Biệt Động Quân SÁT – Rangers Lead The Way. Đó là khẩu hiệu của Biệt Động Quân, do Thiếu úy Nguyễn Hữu An tặng.
Thưa quý vị, chúng tôi rất đau buồn khi Quân lực Việt Nam Cộng hòa của chúng tôi không còn nữa. Năm mươi năm đã trôi qua; Mọi thứ đã rơi vào quên lãng.
Nhưng tình đồng đội giữa những người lính Úc và Việt Nam vẫn còn.
Chúng tôi vẫn còn những người bạn tốt ở East Malvern RSL, những người này vẫn còn nhớ đến chúng tôi và đặt hình tượng của chúng tôi tại câu lạc bộ của họ, cùng với những người lính từ Thế Chiến Thứ Nhất, Thế Chiến Thứ Hai, Chiến tranh Triều Tiên, và Chiến tranh Afghanistan . . .
Cảm ơn các Cựu Chiến Binh Việt Nam. Cảm ơn ban chấp hành và các thành viên của East Malvern RSL. Chúng tôi tự hào về tình đồng đội của quý vị.”
“LEST WE FORGET”.
Mở đầu cho chương trình văn nghệ giúp vui cho buổi lễ, ban văn nghệ của Hội Biệt Động Quân đã trình diễn bản nhạc đầu tiên: VIỆT NAM VIỆT NAM.
MC Đinh Hiếu đã nói với cử tọa người Úc rằng: ‘’Quý vị không cần phải là người Việt Nam, nhưng tôi tin chắc rằng, quý vị sẽ hiểu bài này, là vì toàn bài hát chỉ có một câu được nhắc lại nhiều lần: VIỆT NAM VIỆT NAM.
Tiếp theo, Bác sĩ Hoàng Trang đã hát bài Walzing Matilda, bài hát mà cả người Úc lẫn Việt đều biết và hát theo.
Và rồi Bác Sĩ Hoàng Trang trong bộ quân phục Thủy Quân Lục Chiến hát tặng cho gia đình Cố Y Sĩ Thiếu Tá Trần Xuân Dũng và các người Lính Thủy Quân Lục Chiến một bài hát khác thật đặc sắc: Hành Trình Thủy Quân Lục Chiến. Thơ của Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến Phạm Văn Bình, Phạm Duy phổ nhạc:
‘Tháng Giêng xuôi quân ra Huế , Cố Đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều, em vắng bóng, Tóc thề đã quấn khăn tang
Bài hát thật hay, thật có ý nghĩa, ghi rõ hành trình của người Linh Thủy Quân Lục Chiến suốt 12 tháng trường. Tháng nào cũng hành quân, không hành quân thì về trấn thủ đô, giữ an ninh cho người dân. Bài hát mà người lính Cọp Biển nào cũng thích, cũng muốn nghe, nhưng lại rất khó hát. Vậy mà Bác Sĩ Hoàng Trang hát thật hay:
Lúc thì cô hát thật nhanh theo điệu quân hành:
“Ba lô lên vai tới miền Tây Đô
Quê hương em xanh, xanh ngợp bóng dừa
Đêm ngủ bìa rừng, thèm làn môi ấm
Ngọt trái sầu riêng, này lúc sang mùa’’
Lúc thì cô hát thật nhẹ nhàng như ngâm thơ
‘’Cuối năm, mùa Đông đan áo
Cuối năm trời đã lạnh rồi
Thiên hạ thì may áo cưới
Ta thì hẹn tới năm sau.’’
Thật là thương cảm cho người Lính, khi đến cuối năm, thiên hạ đua nhau may áo cưới, còn người lính Thủy Quân Lục Chiến – vì nghĩa vụ trên vai, đành . . . hẹn đến năm sau . . .
Tiếp theo đó, lại một bài hát của dân Úc, mà người Úc, từ lớn đến nhỏ, nam phụ lão ấu . . . đều nghe và hát được, thậm chí còn nổi tiếng hơn cả bài quốc ca:
‘’I still call Australia home’’
Bạn có là người Úc, có đi xa, có cảm thấy nhớ nhà, thì mới hiểu được bài hát này, nỗi nhớ nhà này.
Khi viết ra câu ‘’I still call Australia home’’, nhạc sĩ Peter Allen có thể cũng có cùng một tâm trạng nhớ nhà với nhà thơ Hồ Dzếnh:
‘’Nhớ nhà châm điếu thuốc, khói huyền bay lên cao’’
“Bài hát cuối cùng là bài ‘’Cờ bay trên thành phố Quảng Trị’’, một bài hùng ca nói lên tinh thần quyết chiến quyết thắng của quân dân Việt Nam Cộng Hòa, một lòng chiến đấu gìn giữ đất nước. Đó là lý do mà MC Đinh Hiếu đã mời cử tọa đứng lên để cùng hát, cùng vui với người dân Việt khi chiếm lại được Quảng Trị. “
Buổi lễ được kết thúc đúng 12 giờ trưa.
Ông Geoff Tobin – Hội trưởng hội RSL East Malvern và ông Đặng Văn Đạt – Hội trưởng Hội Cựu Quân Nhân VIC đã đồng tuyên bố bế mạc buổi lễ bằng song ngữ Anh và Việt.
Tường Vi Trần Bảo Anh
Thăm Con Dâu Mới Sinh (Nguyễn Thị Thanh Dương )
Máy bay đáp xuống, bà Phụng chỉ có 1 vali carry on nên ra ngoài mau lẹ, bà ngó tìm hình bóng Kent, thì kia chẳng những Kent mà có cả Jade nữa. Bà Phụng kinh ngạc kêu lên:
– Ồ Kent, mẹ tưởng một mình con ra đón mẹ thôi chứ.
– Chào mommy.
Bà Phụng ngỡ ngàng nhìn con dâu, nàng ăn mặc thoải mái quần soọc áo thun hở cổ hở nách, bên cạnh Kent tay xách giỏ trong có baby đang nằm ngủ ngon lành. Jade nhào đến bên bà, tươi cười:
Read moreNhân cách của người lính Nhảy Dù VNCH ! ( Vĩnh Chánh )
Trong những ngày cuối của cuộc chiến, khi mọi thứ dần dần sụp đổ thành phố lần lược bị bỏ ngỏ, vị chỉ huy của một đơn vị Nhảy Dù vẫn đứng ở vị trí của mình, giữa trách nhiệm, giữa đơn vị, giữa lời thề của một sĩ quan. Ông biết mình không thể rời bỏ binh sĩ, nhưng cũng biết vợ và ba đứa con nhỏ không thể ở lại. Vậy là ông thu xếp cho họ đi trước, bằng tất cả ông có thể làm trong hỗn loạn. Một quyết định rất đúng, nhưng vừa đau lại vừa mang theo nỗi bất an mà ông không bao giờ nói ra, vì vợ ông chưa bao giờ biết làm gì ngoài chuyện lo cho gia đình và các con còn nhỏ.
Rồi ông đi tù. Hơn mười năm. Những năm tháng ấy không chỉ hao mòn sức lực, mà còn bào mòn luôn cả những gì ông từng biết trong quá khứ và niềm tin vào tương lai. Khi được HO đưa sang Mỹ, ông mang theo một hy vọng nhỏ nhoi: được gặp lại gia đình, được nhìn thấy vợ con bình yên sau bao năm xa cách.
Nhưng khi đứng trước căn nhà nơi họ đang sống, ông nhìn thấy một sự thật mà không ai nói ra: vợ ông đã có chồng mới. Không lời trách móc, không một câu hỏi, không một giọt nước mắt. Ông chỉ đứng đó rất lâu, rồi lặng lẽ quay đi.
Không trở lại. Không tìm gặp. Không liên lạc với thuộc quyền, không tìm bạn bè Võ Bị, không nhận mình là ai trong quá khứ. Ông chọn một tiểu bang xa lắc, nơi không ai biết ông từng là một cấp chỉ huy lừng lẫy, từng có những người lính sẵn sàng sống chết theo lệnh ông. Ông sống một đời giản dị, lặng lẽ, như thể muốn xóa đi dấu vết của chính mình. Nhưng không oán hận. Không kể lể.
Chỉ sống, một cách khiêm nhường, cô độc, và đầy tự trọng.
Trong vô số mảnh tình bị thời cuộc xé nát, có những mảnh không tan vì phản bội, mà tan vì chiến tranh đã lấy đi quá nhiều thời gian, quá nhiều năm tháng mà không ai có thể bù đắp. Và có những người đàn ông, như ông, chọn cách mang nỗi đau ấy đi thật xa, để không làm phiền ai, để giữ lại chút phẩm giá cuối cùng cho chính mình.
Chờ Người (Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh)
Là con gái nhưng Kim ảnh hưởng nhiều tánh cách của ba. Ông Đình thường dẫn Kim đến quán ăn bình dân, ông dặn dò:
- Mình may mắn có của ăn của để, tuy nhiên không vì vậy mà hoang phí. Cái gì không đáng xài phải biết hạn chế…
Ngược với tánh của ba, má Kim lại là một phụ nữ kiêu căng, bà không hòa đồng với những người làm việc cho gia đình bà, đặc biệt là với chú Thanh. Bà không thích chú vì cho rằng chú biết cách lấy lòng nên được ông Đình quí mến. Một người có tánh đa nghi thì họ khó nghĩ tốt cho người khác, mỗi khi bực dọc việc gì, má Kim lại trút giận lên người giúp việc, ông Đình bất bình thái độ của vợ lắm nhưng lắm khi phải nhượng bộ, nhưng có một lần ông nói:
Read moreCách người Trung Quốc dặt tên cho các TT Mỹ (Dinh Hiep )
Cách người Trung Quốc dặt tên cho các TT Mỹ (Dinh Hiep )
Nhân khi chú Trump qua Trung Quốc làm việc, ta bàn vui tí về cách người TQ đặt tên và biệt danh cho các vị ngoại quốc.
Chúng ta đã biết khá nhiều vị trong lịch sử: Nã Pháo Luân (Napoleon), Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ), Karl Marx (Ca Nhĩ Mã Khắc Tư), Lenin (Liệt Ninh).
Ngoài phiên âm thường, họ đặt tên chữ Hán có ý đồ của họ, ví dụ cùng là Monroe nhưng Tổng thống thứ 5 của Mỹ James Monre được họ gọi là Môn La, tức là thần giữ cửa, nhằm đề cập đến Học thuyết Monroe của ông ta, đóng cửa châu Mỹ, chống lại sự can thiệp của châu Âu vào các nước Mỹ Latin. Còn cô đào Marilyn Monroe thì họ gọi là Mộng Lỗ, ám chỉ đến mông đít.
Những người mới thời nay: Elon Musk là Y Long Mã Tư Khắc, Ronaldo là La Nạp Nhĩ Đa, Messi là Mai Tây...
Tổng thống Biden có tên là Bái Đăng, Bái là lạy, Đăng là leo lên, lạy lục để leo lên ghế cao chăng? Ông ta có biệt danh là Bái Chấn Hoa. Bái tức là lạy, Chấn là giúp đỡ, chấn hưng, Hoa là người TQ, “cúi lạy để giúp TrungHoa chấn hưng”, ý nói Biden là người cầu cạnh và làm lợi cho TQ. Đúng quá còn gì, Tập chỉ hy vọng mấy người lú lẫn, hèn nhát như Biden mãi mãi làm TT Mỹ, để TQ rảnh tay thực hiện “Trung Hoa mộng”. Vậy đồng chí Bái Đăng là chuyên gia giúp Trung Hoa phát triển.
Obama có tên là Áo Ba Mã, dân mạng đặt cho ông ta biệt danh Áo Quan Hải. Áo giữ nguyên để gợi nhớ đến Obama, Quan là nhìn, Hải là biển, ý nói ông ta “chỉ đứng nhìn tình hình thế giới như nhìn biển, chứ không hành động mạnh mẽ”. Quan sát nhiều mà không hành động.
Thêm một nghĩa nữa: Áo tức là bên trong, phía trong, sâu xa, góc khuất, còn Hải là ám chỉ Trung Nam Hải, Áo Quan Hải tức là “Người đứng từ góc nhìn của Trung Nam Hải để nhìn thế giới”, nhìn thế giới từ lập trường Trung Nam Hải, thấy gì có lợi cho TQ thì cắm đầu làm.
Cho nên các bạn cũng biết rồi đấy, hai tên Bái Chấn Hoa và Áo Quan Hải, thân là TT Mỹ, nhưng lại là tay sai của TQ.
Chú Trump tôi thì có tên Đặc Lãng Phổ. Tên đầy đủ của ông, nếu bạn muốn biết: Donald (Đường Nạp Đức) John (Ước Hàn) Trump (Đặc Lãng Phổ).
Ông được đặt khá nhiều biệt danh. Đầu tiên là Đặc Bất Kháo Phổ gần giống với tên ông, có nghĩa là “không đáng tin cậy”. OK lah, đợi đấy. Thứ nữa làVạn Thuế Gia Gia ám chỉ chính sách đánh thuế nặng lên hàng nước ngoài. Rồi Sàng Phá (phiên âm chuáng pò), nghĩa là phá giường, do phiên âm chữ “chuáng” gần giống “Trump”, còn “pò” gần giống Phổ trong tên ông.
Tiếp theo là Xuyên Kiến Quốc, Xuyên phát âm là “chuan” khá giống “trump”, còn Kiến Quốc là “xây dựng đất nước”, một cái tên phổ biến sau năm 1949. Đi họp, người ta sẽ nói: “Đồng chí Xuyên Kiến Quốc vất vả rồi!” Gọi ông Trump là Xuyên Kiến Quốc, ngụ ý của người TQ là “Trump đang giúp xây dựng TQ” bằng cách rút khỏi các hiệp định quốc tê, gây rạn nứt với các đồng minh. Thế nhưng họ đã nhầm to, TQ đang xính vính khi bị Trump dồn vào góc võ đài đấm cho túi bụi.
Họ còn lấy chữ “Xuyên” và chữ “Phổ” (trong tên Đặc Lãng Phổ) ghép lại để gọi ông Trump. Mỗi khi Trump cho TQ ăn đòn là dân TQ bất đồng chính kiến viết lên mạng: “Xuyên Phổ lão sư lại cho Bắc Kinh một bài học nữa rồi”, “Xuyên Phổ giáo quan đang bắt Bắc Kinh tập chống đẩy”, “Xuyên Phổ đang bóp cổ Bắc Kinh”. Có thể nói cái tên Xuyên Phổ được dùng nhiều nhất, các trang báo như Yahoo tiếng Hoa cũng dùng Xuyên Phổ để chỉ ông Trump. Xuyên (川) kiểu như dòng nước đã chảy thì không thể ngừng nghỉ và xuyên phá qua mọi chỗ, còn Phổ (普) là phổ biến, rộng khắp, lan rộng, nội hai chữ này ghép với nhau thì ông Trump là bá chủ đúng cmnr.
Biệt danh khác của ông là Đổng Vương, tức là “vua biết tuốt”, bởi ông hay phát biểu trước giới truyền thông những câu như “Không ai biết về X hơn tôi”, “Tôi biết về X hơn bất kỳ ai”.
Khi Trump nói điều gì đó, dân mạng sẽ viết kiểu tút kiểu: “Đổng vương lại lên tiếng rồi” hoặc “Chuyện này Đổng vương hiểu nhất”. Danh sách “tôi biết nhất” của Trump dài như Vạn Lý Trường Thành: kinh tế, thuế quan, quân sự, công nghệ, Đài Loan, Tân Cương, Hằng Lực… đúng, ông biết hết, vì ông là tổng thống Mỹ, thông tin ông nắm trong tay hẳn nhiều nhất thế giới rồi. Dân TQ định cà khịa Trump nhưng họ đang ôm mồm, các con đợi đấy, còn nữa.
Nhờ mái tóc huyền thoại, ông còn được đặt biệt danh là Kim Mao. Móa, nghe “Kim Mao Tầm Hồi Khuyển”, tức là giống chó Golden Retriever. Thôi cũng được, ông Trump tuổi Tuất, Golden Retriever là giống chó đẹp, hay đùa, thông minh, trung thành, có thể dùng làm chó đặc vụ dò tìm mai thúy.
Ba Mươi Tháng Tư – Nỗi Bất Hạnh Của Dân Tộc Việt (Phạm Mạnh Tuấn)
Ngày 30-4-1975 khi người CS chiếm được miền Nam, đây là cơ hội bằng vàng để người dân cả nước kề vai sát cánh, xây dựng quê hương ấm no hạnh phúc, tạo cho VN một chỗ đứng được nể trọng trên trường quốc tế. Nhưng rất tiếc, người CS đã đặt mục tiêu truyền bá chủ nghĩa cộng sản lên trên tiền đồ dân tộc. Họ máy móc thực thi những giáo điều cộng sản chớ không đoái hoài gì đến hạnh phúc của người người dân. Người CS đã phí phạm biết bao nhân lực tài lực của cả nước chỉ để áp dụng mô hình XHCN ngu muội của Nga - Tầu. Nếu biết tận dụng khả năng cần mẫn, giỏi chịu đựng của người miền Bắc công với óc sáng tạo, tính cởi mở của người miền Nam, VN sợ gì không vượt xa Đài Loan, Nam Hàn, chớ nói chi Thái Lan, Phi Luật Tân vốn thua miền Nam VN.
Read more