• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

MỘT NÉN HƯƠNG THƠM VÀ MỘT LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG (Nguyễn Doãn Đôn- một nguời VNCS/BK)) 

April 27, 2026 Ninh Tran

MỘT NÉN HƯƠNG THƠM VÀ MỘT LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG (Nguyễn Doãn Đôn) 

 

Hôm nay ngày 25.04.2026 tại Thủ đô Berlin, Liên hội người Việt tỵ nạn tại Cộng hòa Liên bang Đức đã tổ chức ngày Việt Nam Cộng Hòa mất nước. Tức là mất Miền Nam, mà họ gọi là ngày "Quốc hận".

Tôi là người Bắc, từng vào Nam xung trận và là Đảng viên đảng lao động VN, ngay nay là Đảng CS VN. Vì tò mò nên tôi cũng đi tham gia xem người Miền Nam họ tổ chức về ngày này ra sao. Tôi để ý thấy họ đi biểu tình không ồn ào, huyên náo, khuân mặt ai cũng vui vẻ, hiền hòa, êm ả.

Nụ cười nhẹ, lời nói êm như từ tâm phát ra. Rất nhiều người biết tôi, nhưng tôi lại không biết họ. Vì họ vào đọc Facebook của tôi. Xin cảm ơn.

 Tôi quan sát khi họ biểu tình thì Ban tổ chức hướng dẫn thế nào là họ tôn trọng nghe và làm theo như thế, chứ họ không cãi lộn hay chạy nhảy lăng xăng, rồi gào la, to tiếng đóng góp ý kiến, rằng là phải thế này, rằng là phải thế kia, để cố thể hiện ta đây nói có lý hơn người khác, như dân Bắc mình.

 Họ tổ chức rất khoan thai, bình tĩnh, bài bản, lịch sự và văn minh. Tôi thấy có hai xe ô tô của cảnh sát Đức và một số nhân viên của họ đi bộ với đoàn diễu hành để bảo vệ khâu an ninh. 

 Họ hô vang những khẩu hiệu bằng cả tiếng Đức lẫn tiếng Việt với Nội dung như là ; Đả đảo CS, Đả đảo Tô Lâm, Tự do cho VN, Dân chủ cho VN. Nhiều bài phát biểu của các vị trong Ban tổ chức bằng tiếng Đức và tiếng Việt rất đanh thép tại sân nhà Quốc hội và tại Cổng thành Brandenburger Tor đòi tự do, dân chủ, nhân quyền, xóa bỏ CS và yêu cầu thả tù nhân Chính trị đã vang lên và được nhiều khách Đức và khách du lịch đi qua giơ tay chào đón và ủng hộ.

 Có lẽ họ cũng cho rằng những đòi hỏi đó là chính đáng.

Tôi nghe thấy họ Đả đảo CS mà buồn thiu, vì tôi là Đảng viên, lại từng đã vào Nam xâm lược Đất nước của họ. Một Đất nước có chủ quyền, có cờ, có Quốc ca và có một Thể chế dân chủ văn minh. 

Vâng tôi phải đau lòng nhận lấy câu đả đảo của họ. Vì họ đả đảo đúng. Không đời thủa nào một Đất nước tối tăm lạc hậu, đói rách triền miên, phi dân chủ, trọng bạo lực lại đi giải phóng một Dân tộc văn minh hơn mình, giàu có hơn mình để "giúp" cho họ trở thành khổ và ngu ngốc như mình. 

Tôi thương họ và buồn cho họ vì để mất Tổ quốc. Tôi trách họ, vì đã để chúng tôi thắng; để rồi cả nước thua. Nên hôm nay họ kỷ niệm ngày đen tối của họ, thì cũng là ngày đen tối trong trái tim tôi-Một người từng bên kia chiến tuyến, khi nhận ra bộ mặt thật của CS Bắc Kỳ.

 Vâng, thưa bà con, thế hệ chúng tôi đã bồng súng lên đường đi giải phóng ngược! Lẽ ra Bắc tiến mới thực là giải phóng. 

Thật cảm động và xót xa khi thấy bà con người Miền Nam họ cúi mặt mặc niệm những người lính của họ, người dân của họ đã ngã xuống do chúng tôi vượt suối băng rừng ngày xưa từ ngoài Bắc vào gây ra . Họ cũng tưởng nhớ tới hàng ngàn người chết vì vượt biển làm mồi cho cá sau này.

 Những người đứng giữa 3 lựa chọn ngày đó; mà một phần không nhỏ đã ra đi nằm dưới đại dương...

"Nhất con nuôi má 

Nhì má nuôi con 

Ba con nuôi cá."

 

Có nghĩa là nếu vượt biên thoát được con sẽ gửi tiền về nuôi má; nhưng chẳng may con bị CS bắt thì má phải mang cơm vào nhà tu nuôi con. Còn cuối cùng rất có thể con sẽ phải làm mồi nuôi cá ngoài biển khơi mênh mông...

 Tôi thật buồn rằng chúng ta hô hào hòa giải, hòa hợp mà 51 năm rồi vẫn chỉ là "võ miệng". Người Bắc chúng ta đã không nhận ra hay cố tình không muốn nhận ra là chúng ta đã bị CS lừa. Chúng ta không như Dân Ukraine ngày nay là họ đánh độc tài, để bảo vệ nền Dân chủ; còn chúng ta u minh lại đi đánh Dân chủ để bảo vệ độc tài. Muốn hòa giải hòa hợp được chúng ta phải nhận ra rằng đó là một cuộc chiến vô nghĩa và ngu xuẩn. 

Giải phóng ngược như thế, thà rằng không thống nhất còn hơn. Thì chúng ta còn vớt vát được một nửa nước như Nam Hàn và hơn Nam Hàn . Ai ngờ giờ đây mất cả nước rơi vào tay CS. do Ngoại bang chỉ đạo, giật dây. 

Bà con yêu quý ơi, không có bên thắng cuộc đâu. Mà chúng ta ở cả hai miền đều thua cuộc mốt cách đau đớn xót xa! 

Ngày này chúng ta hãy thắp một nén hương lòng không chỉ cho đồng bào và Chiến sỹ VN Cộng hòa; mà cả cho những người dân chết vì Chiến tranh ở ngoài Bắc của tôi. Và không thể nào được phép quên là hãy thắp cả cho những người đồng đội của tôi. Các anh đã ra đi trên mảnh đất Cha ông mà không được may mắn như tôi, để sống, để biết rằng, chúng ta đã sai lầm.

 Trước khi nhắm mắt xuôi tay chắc các anh vẫn cứ đinh ninh rằng các anh hy sinh vì Dân vì Nước; chứ không ngờ: 

 "Cả cuộc đời ta hy sinh cuồng nhiệt  

Lại dựng nên chính cỗ máy này" (Thơ Bùi Minh Quốc)

 

Xin chia buồn cùng với bà con Miền Nam thương đau trong tháng 4 u sầu và đen tối này. 

 

Nhân đây tôi cũng cúi đầu xin lỗi bà con, vì tôi đã từng nghe Đảng và Bác xui dại mà vào xâm lược Tổ quốc, Quê hương yêu dấu của bà con. Để giờ đây tôi và bà con từ hai chiến tuyến đều trở thành kẻ chiến bại bi hùng...

 

Cầu Chúa ban phước lành cho tất cả chúng ta.

 

Thủ đô Berlin, 25.04.2026

Nguyễn Doãn Đôn

 

In Giáo Dục, Quán Chiếu Tags MỘT NÉN HƯƠNG THƠM VÀ MỘT LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG., Nguyễn Doãn Đôn- một nguời VNCS/BK))
Comment

Ảo Tưởng Giải Phóng Miền Nam (Nguyễn Tường Tâm⁩)

April 22, 2026 Ninh Tran

Bài tặng các người miền Bắc trước 1975 và các người trưởng thành trong môi trường giáo dục XHCN

 

Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), có dịp tìm hiểu tinh thần chiến đấu của bộ đội miền Bắc, người ta dễ dàng nhận thấy, mặc dù không phải người bộ đội nào cũng có tinh thần hăng say khi được/bị gửi vào chiến trường miền Nam đầy hiểm nguy, nhưng cũng rõ ràng đại đa số những bộ đội đi Nam chiến đấu đều tin tưởng rằng nhân dân miền Nam đói khổ vì bị Mỹ Ngụy kềm kẹp; và họ có tinh thần cao đẹp của những người chiến sĩ đi giải phóng quê hương thực sự. Nhà văn Dương Thu Hương, trong lần trả lời phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái, đã cho biết “khi tham dự cuộc chiến chống Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là cuộc chiến chống xâm lược, tôi đã từ bỏ cuộc sống ở hậu phương mà tôi cho là hèn hạ, hoặc đi ra nước ngoài là hèn hạ, để rồi tôi dấn thân vào chốn chông gai như thế.”

Nhưng ngay sau khi chiếm được miền Nam, không hiếm người “chiến sĩ giải phóng” đã thất vọng, và cảm thấy họ bị đảng lừa gạt khi nhìn thấy đường xá to rộng, nhà cao cửa rộng, đời sống sung túc, phong phú và thoải mái của người dân miền Nam. Chỉ vài tuần sau chiến thắng miền Nam, nhà văn Dương Thu Hương khi vào Nam đã nhận định, “Theo tôi, cái mô hình xã hội của cái miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi là người trong đội ngũ chiến thắng thì thực ra chúng tôi đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ. Và điều đó khiến tôi hết sức cay đắng.” DTH kể tiếp, “xã hội chủ nghĩa hồi đó mỗi năm họ bán cho 5 mét vải. Khi tôi còn thiếu nữ thì cái tuổi thiếu nữ của tôi chỉ được diện toàn cái đồ rách của mẹ tôi. Tại vì có 5 mét vải thì làm sao mà đủ cho một người được. Nhất là trẻ con thì lại chỉ được 4 mét thôi cơ. Mẹ tôi mới được 5 mét. Thì tôi nhớ lúc đó 16, 17 tuổi tôi vẫn còn mặc quần vá bởi vì những cái quần nào mà, mẹ tôi đi dậy học thì phải mặc tử tế rồi, thì tất nhiên chúng tôi thì quần áo chữa đi chữa lại. Tôi cũng không nhớ hình dung là giải phóng tôi vào nhà bác tôi tôi mặc gì. Tôi chỉ biết là mọi người, chắc chắn trước mắt mọi người tôi là một con nhà quê, đen đủi, gầy gò, đại loại là không ra người; đại loại là, nhiều năm đói khổ, nhiều năm ở trong rừng ăn những thứ, nói thật là thức ăn của súc vật. Bởi vì lúc đó chính phủ Việt Nam có bán một thứ sữa mà sau này tất cả mọi người ăn đều bị kiết lỵ; sữa đấy là sữa cho trâu của Ấn độ; trước khi trâu đẻ người ta cho ăn. Thì sau này cả thế hệ của tôi đã bị rất nhiều bệnh là vì ăn những thứ đồ ăn của súc vật. Mà lúc đấy nó là quí lắm vì ít ra nó còn là thực phẩm. Còn bình thường thì rau là rau dại. Còn gạo trong chiến trường thì là gạo chuyển ra gạo tốt. Còn gạo bán cho cán bộ là gạo để lâu rồi. Tóm lại, đó là một thời rất khổ… Nhưng điều mà tôi thấy một cái sự mà không thể nào chấp nhận được là ở miền Nam lúc đó sách bán tứ tung, tất cả mọi nhà đều có television (truyền hình), và có radio, người ta có thể tự do để mà tiếp xúc với tất cả mọi nền văn minh khác. Người ta có thể tự do nghe tất cả các đài báo khác. Và do đó mà trí óc con người, ít nhất, dù là người Việt Nam, tức là cái nền rất thấp, là cái nền xuất phát từ chế độ phong kiến nô lệ, vẫn có thể có điều kiện tiếp xúc với ánh sáng, là các nền văn minh, kiến thức. Trong khi đó thì ở miền Bắc chỉ có một thứ đài được phát ong ỏng trên cái loa công cộng thôi, là được nghe. Còn dân chúng như chúng tôi thì không bao giờ được phép nghe đài nước ngoài.” DTH kể tiếp, “Sách báo cũng vậy. Khi tôi vào miền Nam, tôi mua đến hàng bao nhiêu tạ sách…và tôi đọc như điên và tôi hiểu rằng đây chính là nền văn minh, nơi con người có tự do tiếp xúc với ánh sáng, tiếp xúc mọi thứ thông tin; đó là nền văn minh. Còn xã hội miền Bắc là sao? Là cấm tiệt tất cả những nền văn minh, những nền thông tin khác, để dìm dân chúng trong sự tối tăm và ngu dốt; đó là địa ngục, và đó là một chế độ man rợ… Trong khi đó thì ở miền Bắc, với cái chế độ cộng sản trại lính, người ta phân phối cho mỗi người, ví dụ như học sinh như tôi ấy, một tháng được 1 lạng đường, 1 lạng thịt; mẹ tôi thì 250 gram, hay 2 lạng rưỡi thịt. Tôi nhớ là với cái chế độ ấy con người biến thành súc vật; vì sao? Tất cả tuổi thơ của tôi, ngày nào tôi cũng phải ra đồng. Bởi vì nếu tôi không ra đồng kiếm tôm, kiếm cá, mò cua bắt ốc thì bản thân tôi cũng còi xương. Còn những đứa em tôi và bà ngoại cũng không có gì ăn cả. Bởi vì là một lần mua thịt trong một tháng thôi. Mẹ tôi được 2 lạng rưỡi, trong nhà mỗi người 1 lạng nữa thì tôi phải dậy xếp hàng từ 3 giờ sáng. Rồi số thịt ấy bố tôi bảo mẹ tôi yếu cho nên là phải để mẹ tôi ăn. Thế còn tất cả các bà cháu chỉ trông vào rỏ cua rỏ cá ngoài đồng thôi. Cho nên là khi mà người ta bị đánh vật với miếng ăn thì người ta biến thành con vật. Cho nên nhà nước điều khiển con người bằng sự tối tăm, ngu dốt và sự đói khổ. Và đó là cái vòng luẩn quẩn… Và lúc đó tôi đã bảo rằng chế độ này cần phải bị lật đổ; đấy là ý nghĩ khởi đầu của tôi. Tôi bảo là đây là chế độ lừa đảo, gian manh và cần phải bị lật đổ.”

Trong cuốn hồi ký “Để Gió Cuốn Đi”, nữ ca sĩ xinh đẹp Ái Vân, một người được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, vào Sài Gòn lần đầu tiên vào đúng dịp 30/04/1975. Thời điểm 1975, Ái Vân mới 19 tuổi, đang là sinh viên năm 2 khoa Thanh Nhạc của Nhạc Viện Hà Nội. Cô kể lại: “Được vào Nam, lại được làm xướng ngôn viên (Miền Bắc gọi là phát thanh viên) cho Đài Truyền Hình Sài Gòn những ngày đầu tiên của hòa bình, còn vinh dự nào hơn. Trước đây cứ nghe nói đồng bào Miền Nam “bị Mỹ ngụy kìm kẹp” khổ lắm, rất cần sự giúp đỡ từ Miền Bắc, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi ni lông đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc. Theo địa chỉ ba cho từ ngoài Bắc, tôi tìm đến nhà cô Hà Thị Tuyết, ở nhà gọi là cô Cả, là chị lớn của ba. Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Con dâu trưởng của cô Cả hỏi: “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?”  Tôi trịnh trọng vừa mở bọc ni lông vừa nói: “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần.” Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả: “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em.” Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có bất kỳ nhà nào ở Miền Bắc tại thời điểm đấy, dù là nhà ông Thủ Tướng.”

Ở trên là nhận xét, so sánh giữa hai miền Nam-Bắc trong thời chiến của hai nữ nghệ sĩ nổi tiếng nhất miền Bắc thời đó. Nhà văn Nguyễn Quang Lập thì kể, sau 30-4, gia đình ông vào Nam thăm ông bác, được ông bác cho bố ông 20 cây vàng, “hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kì.”

Tác giả Trần Hiếu, trong bài “Cảm Ơn Từ Đáy Lòng” viết, “Nhờ có Giải Phóng mới biết được gói bột gặt VISO hòa vào nước để ngâm cho dễ giặt chứ không phải luộc quả bồ hòn để lấy nước giặt hay dùng bánh xà phòng 72% của Liên Xô thâm-xì cứng-ngắc đáp chết chó mèo. Mới biết được dân miền Nam đi xe máy và ô tô nhiều hơn xe đạp. Mới có được những đồ chơi bằng nhựa như búp bê nhắm mở mắt, ô tô, máy bay, chú ếch xanh chạy cót tinh xảo cho trẻ em. Và đặc biệt hơn là mới biết được có cái nhà xí rất hay có thể làm chung cùng nhà tắm và chỉ cần xả nước một cái là sạch sẽ không mùi, chứ không như cái nhà xí lộ thiên đầy ruồi nhặng mà mỗi lần đi đại tiện xong lại phải ra đầu gió đứng 15 phút để gió thổi bớt mùi đi rồi mới dám vào nhà, không thì mọi người lại tưởng mình vừa đi ăn lẩu thập cẩm đó là chưa nói tới cái khoản phải có kỹ năng vò nát tờ giấy vở để nó tơi và mềm ra thì mới có cái mà chùi các bác ạ ! Vì làm chó gì có giấy chuyên dùng cho vấn đề này. Trước 30/4 /1975 ngồi nhà đèn dầu nghe loa phát thanh tuyên truyền các bác miền Nam khổ lắm bị chính quyền dồn vào ấp chiến lược khống chế quyền tự do đi lại rồi bị áp bức đói khổ mà chúng tôi đau lòng và cứ thương các bác miền Nam quá! Té ra chúng tôi ăn khoai sắn nằm ổ rơm hút thuốc lào nghe loa công cộng tối ngủ nóng hết cả bụng lẫn cổ họng lại đi thương các bác ăn cơm thịt bò, cá kho tộ, nằm đệm mút, máy lạnh, xem ti vi, nghe nhạc trữ tình.”
Người ta không thể giải phóng một thành phần dân chúng giầu có sung túc gấp trăm lần mình. Người ta cũng không thể giải phóng thành phần dân chúng có trình độ văn hóa cao gấp chục lần minh. Nhiều thành phần dân chúng sinh sau 1975, nhìn hình ảnh thành phố hiện nay đã tưởng rằng trước 1975, miền Bắc cũng có hình ảnh gần tương tự như vậy và việc giải phóng miền Nam là chính đáng. Không phải đâu, miền Bắc trong chiến tranh chỉ là những căn nhà ổ chuột, sống chen chúc chục hộ gia đình, mỗi người được chỉ tiêu 4 mét vuông, không bếp, không cầu tiêu, nhà tắm riêng. Hai hình ảnh dưới đây do nhà báo quốc tế chụp hình hai anh bộ đội mang về miền Bắc sau chiến tranh những chiến lợi phẩm không giá trị của miền Nam thời đó nhưng đối với miền Bắc là những món quà quí giá chứng tỏ sự chênh lệch giầu nghèo giữa hai miền Nam Bắc, chứng tỏ lý tưởng “chiến tranh giải phóng miền Nam” là điều đảng bịa đặt để thúc đẩy người dân miền Bắc đi vào cuộc chiến vô nghĩa, nếu không muốn nói là phi nghĩa, làm thiệt mạng mấy triệu người dân hai miền trong 20 năm huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt.

Error! Filename not specified.

Nguồn: Soldier on the road, back from Saigon, 1976 – Photo by Marc Riboud by manhhai, on Flickr) Anh bộ đội miền Bắc từ Saigon trở về nhà sau chiến tranh, 1976 mang theo các chiến lợi phẩm chứa trong hòm và con búp bê cầm ở tay.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Ảo Tưởng Giải Phóng Miền Nam, Nguyễn Tường Tâm
Comment

Có Những Lời Thật Không Nói Ra, ChChết Cũng Không Nhắm Mắt: Lời Thật Của Một Thầy Phong Thủy Sau 40 Năm Hành Nghề. (Vô Danh)

April 17, 2026 Ninh Tran

Tôi năm nay năm mươi lăm tuổi. Mười lăm tuổi theo sư phụ mù nhập nghề, học xem la bàn, quan sát thế núi dòng nước, tìm long mạch điểm huyệt. Suốt bốn mươi năm lăn lộn trong nghề, quan lớn tôi từng gặp, người buôn gánh bán bưng tôi cũng từng quen; biệt thự sang trọng tôi từng bố cục, núi hoang mộ lạnh tôi cũng từng đặt chân.

Trong giới, người ta gọi tôi là “Trần bán tiên”, nói tôi đoán việc như đinh đóng cột, có thể đổi vận cải mệnh. 

Nhưng hôm nay, tôi muốn đâm thủng lớp giấy cửa sổ đã lừa người đời, cũng trói buộc chính mình suốt cả đời. 

Bốn mươi năm qua, tôi đã thấy quá nhiều chuyện hoang đường. Nếu hôm nay không nói ra những lời thật này, e rằng đến ngày chết, mắt tôi cũng không thể nhắm lại.

 

1. Phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi lòng người

Người tìm đến thầy phong thủy, đa phần chỉ cầu thăng quan phát tài, gia đình bình an. Họ nghĩ rằng đặt một con tỳ hưu trong nhà, đặt bể cá ở vị trí tài lộc, hoặc dời mộ tổ tiên đến nơi “tựa núi nhìn sông” là có thể đổi vận đổi đời.

Thật là chuyện nực cười. 

Nếu chỉ cần đặt vài món đồ là có thể phát tài, thì những người làm phong thủy như chúng tôi đã là người giàu nhất thế giới rồi, đâu cần dầm mưa dãi nắng kiếm tiền của các vị? 

Hai mươi năm trước, tôi nhận một vụ lớn. Người mời tôi là một ông trùm bất động sản họ Lâm. Việc làm ăn của ông rất lớn, nhưng lúc đó dòng tiền gặp trục trặc. Ông tin rằng phong thủy mộ tổ bị hỏng nên cầu tôi tìm “chân long kết huyệt” để cải vận.

Sau nửa tháng trèo đèo lội suối, tôi tìm được một thế đất tuyệt đẹp: lưng tựa núi xanh, trước có dòng nước uốn quanh, minh đường rộng mở theo phong thủy là đất sinh đại phú. 

Ông Lâm vui mừng khôn xiết, bỏ tiền lớn mua đất, tổ chức lễ cải táng cực kỳ long trọng. 

Sau nghi lễ, tôi đến nhà ông làm khách. Biệt thự xa hoa bậc nhất thành phố, mọi thứ lộng lẫy đến chói mắt. Nhưng khi đi nhầm vào một căn phòng nhỏ ở góc tầng một, tôi chết lặng.

 

Căn phòng ẩm thấp, không cửa sổ, đầy mùi mốc và mùi thuốc. Trên chiếc giường cũ nằm một bà lão gầy yếu, tóc bạc trắng, đó chính là mẹ ruột của ông Lâm.

Vì bà bị liệt, vệ sinh khó khăn nên vợ ông chê bẩn, chuyển bà từ phòng lớn đầy nắng xuống căn phòng chứa đồ này. Và ông Lâm, người sở hữu hàng trăm triệu tài sản đã mặc nhiên chấp nhận. 

Khoảnh khắc đó, tôi thấy lạnh từ trong xương.

Tôi không nhận nửa khoản tiền còn lại, chỉ nói một câu:

“Phong thủy tốt nhất không ở trên núi, mà ở ngay trong nhà ông. Ông bỏ ‘vị Bồ Tát sống’ vào góc tối không ánh sáng, thì người chết ngoài núi dù nằm trên long mạch cũng không giữ nổi tài khí cho ông.” 

Ba năm sau, công ty ông phá sản, tài sản bị phong tỏa, vợ mang tiền bỏ trốn. Cuối cùng, trong một đêm mùa đông gió lạnh, ông nhảy lầu tự tử. 

Người ta nói tôi chọn nhầm huyệt xấu. Tôi không giải thích. Bởi tôi hiểu: phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi nhân tâm xấu.

Người bất hiếu, lòng như nước chết, la bàn nào cũng không định nổi hướng đời họ. Cha mẹ là gốc, con cháu là cành lá. Gốc đã chặt, sao mong cây kết trái vàng? 

Đây là lời thật thứ nhất: Người không hiếu thuận, cầu thần bái Phật hay xem phong thủy đều vô ích.

 2. Người thật sự đổi mệnh không cần đổi phong thủy

Mười lăm năm trước, tôi gặp một người phụ nữ tên Vương Quế Hoa ở một ngôi làng nghèo.

Nhà bà nằm đúng thế “Bạch Hổ thò đầu” lại thêm “kéo cắt”, phong thủy cực xấu, chủ suy bại, cô độc, tai họa. Bà góa chồng, nuôi con trai tàn tật, sống cực khổ. Nhưng trên mặt bà không có oán hận, chỉ có nụ cười hiền. 

Tôi đề nghị giúp bà cải phong thủy, dựng đá trấn trạch.

Bà chỉ cười nhẹ: “Dựng đá chắc tốn tiền lắm. Tôi để dành tiền đưa con đi chữa bệnh. Chỉ cần mẹ con tôi sống ngay thẳng, trời chắc không dồn chúng tôi vào đường cùng.”

Câu nói ấy như cái tát làm tôi tỉnh ngộ.

Mười năm sau quay lại, nơi giao lộ “hung hiểm” ấy đã được mở rộng thành khu chợ. Nhà bà thành cửa hàng tạp hóa, con trai trở thành nghệ nhân điêu khắc nổi tiếng, có gia đình hạnh phúc. 

Bà không đổi phong thủy, bà đổi chính mình. 

Đây là lời thật thứ hai:

Phong thủy tốt nhất không phải hướng nhà hay mộ tổ, mà là nhân phẩm và tu dưỡng của bạn.

Tâm rộng, đi đâu cũng là đường sáng. Tâm hẹp, sống trong cung điện cũng thấy ngõ cụt. 

3. Phong thủy lớn nhất của một gia đình

Bốn mươi năm hành nghề, tôi thấy vô số cặp vợ chồng cãi nhau chỉ vì vị trí sofa hay cửa bếp.

Họ hỏi tôi: “Nhà tôi có phạm xung không?”

Tôi chỉ muốn nói: Nhà có xung hay không tôi không chắc, nhưng tính khí hai người thì chắc chắn đang xung rồi.

Trong một gia đình: Sát khí lớn nhất không phải dầm đè hay xuyên đường, mà là cãi vã, lạnh nhạt và tính toán lẫn nhau. 

Người phụ nữ là con mắt phong thủy của gia đình. Tầm nhìn của người đàn ông là bức tường chịu lực của ngôi nhà. Gia đình hòa thuận, dù ở nhà thuê nhỏ vẫn là đất lành. Gia đình bất hòa, biệt thự cũng thành hung trạch.

4. Phong thủy rốt cuộc là gì? 

Trong Kinh Dịch có câu: “Nhà tích thiện ắt có dư phúc, nhà tích ác ắt có dư họa.” 

Tổ tiên đã nói rõ chân lý phong thủy từ lâu. Chỉ là con người quá tham, luôn muốn đi đường tắt, nghĩ rằng trả tiền cho thầy phong thủy là có thể trốn nhân quả, đổi số nghịch trời. 

Tôi hiểu ra một điều: TÔI CÓ THỂ TÌM ĐẤT TỐT, NHƯNG KHÔNG TÌM ĐƯỢC LƯƠNG TÂM CHO NGƯỜI KHÁC. TÔI CÓ THỂ HOÁ GIẢI SÁT KHÍ TRONG NHÀ, NHƯNG KHÔNG HOÁ GIẢI ĐƯỢC OÁN KHÍ TRONG LÒNG NGƯỜI.

Tôi đã rửa tay gác nghề. Sắp rời thành phố, về quê trồng vài mẫu ruộng, nuôi gà vịt. Tiền tích góp ngoài phần dưỡng già, tôi sẽ quyên góp cho trường học vùng núi. 

Nếu giờ đây bạn đang lo bố trí căn nhà mới, hay đang vì làm ăn thất bại mà cầu khấn khắp nơi, hoặc đang ở đáy cuộc đời và cảm thấy vận xui bủa vây, hãy nghe tôi một câu:

Đừng vội đi xem bói hay xem phong thủy nữa. HÃY NHÌN CHA MẸ, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA NẤU CHO HỌ MỘT BỬA CƠM? NHÌN NGƯỜI BẠN ĐỜI, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA ÔM HỌ THẬT ẤM? NHÌN CHÍNH MÌNH, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA GIÚP AI ĐÓ VÔ ĐIỀU KIỆN? 

Nuôi dưỡng tính khí cho tốt. Chăm sóc thân tâm cho lành. Giữ gìn các mối quan hệ cho tử tế. Bớt tính toán, thêm chân thành. Bớt oán trách, thêm biết ơn.Khi tâm bạn đổi, từ trường quanh bạn cũng đổi. Vận mệnh cũng theo đó mà đổi. 

Bởi vì, chính bạn mới là thầy phong thủy mạnh mẽ nhất của cuộc đời mình. 

Bốn mươi năm phong ba, tôi đã nhìn thấu sự hư ảo của nghề này, cũng nhìn rõ chân tình nơi nhân gian. Hôm nay viết ra những lời từ đáy lòng, chỉ mong có thể đánh thức vài người hữu duyên.

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Lời Thật Của Một Thầy Phong Thủy Sau 40 Năm Hành Nghề.
Comment

Bạn Già (Đông Vân Nguyễn Văn Dõng)

April 4, 2026 Ninh Tran

Thấy vợ con người ta mà ham!

- Ê, nói năng cẩn thận tí nghe bố, không phải ỷ già rồi muốn nói sao thì nói, lạng quạng bọn trẻ nó nghe được nó bảo mình già dịch.

- Ừ, thì mình cũng có “dịch” thật, dù dịch ít hơn xưa. Nhưng nói thật mầy nghe, dạo sau nầy bà nhà tao đổi tánh ghê quá, đôi khi tao phải bỏ nhà đi vòng vòng ngoài vườn, ngoài phố cho nó thoáng cái đầu.

- Mầy làm như có một mình bả đổi, còn mầy thì lúc nào cũng trơ trơ cùng tuế nguyệt!

- Không phải vậy, bả tự nhiên trở nên kỳ cục, hồi nào tới giờ có khi nào bả ghen tương gì đâu, dù bóng gió, mấy mươi năm rồi lúc nào cũng hoà hợp hòa giải hết sức vui vẻ, mầy cũng biết tính tao. Tao muốn đi đâu, lúc nào thì cứ đi, bây giờ gần đất xa trời tự dưng bả lại kiếm chuyện. Mỗi lần tao ra Connexion xem máy móc là bả cằn nhằn cử nhử “Đi đâu đi hoài, ở nhà một chút có được không...” Bực cả cái mình.

- Bực mình rồi mầy có cự bả không?

- Lúc đầu thì không, nhưng thét rồi phải cự.

- Tội nghiệp bà già.

- Tội cái quái gì, mầy chưa lâm cảnh chưa biết...

- Tại mầy không hay, không biết chớ bà nhà tao cũng như bà nhà mầy, và bà nhà mầy thì cũng như thiên hạ thôi. Chả có gì mới lạ dưới ánh mặt trời, chỉ có tao là không như mầy, chẳng bao giờ tao cự nự cả. Không phải tao không “nhạy cảm”, mà cũng bực mình lắm chớ, đôi khi “muốn kêu một tiếng cho dài kẻo câm”, nhưng tao hiểu rằng là mấy bà thuộc giai cấp “cổ lai hy” đều mắc phải cái bịnh lo, bịnh sợ. Họ sợ những bất trắc đang rình rập họ, nào tai nạn, nào bịnh tật, nào chết chóc... Họ sợ có chuyện gì không ai giúp đỡ, tóm lại họ sợ cô đơn. Mầy cũng còn may là bả chưa nuôi chó, nuôi mèo để thế mầy hủ hỉ cho đỡ buồn.

- Thì đồng ý, nhưng đi một chút cũng không xong thì chẳng lẽ tao phải ngồi ở đầu giường canh bả hay sao? Tao vẫn phục cái tài tỉnh bơ của mầy, tao thì rất dễ xì-nẹt.

- Thì ai lại chẳng xì-nẹt, nhưng phải biết “làm chủ” mấy sợi dây thần kinh của mình, thế thôi. Thú thật với mầy tao không bao giờ lên giọng với bà xã, cũng chẳng khi nào cằn nhằn cử nhử gì hết. Khi có chuyện không bằng lòng làm tao xì-nẹt thì tao đi chỗ khác chơi, cắn chặt hai hàm răng lại, không cho cái “lưỡi rắn” nó thò lò ra lải nhải gì hết. Khi nào trời yên biển lặng tao sẽ đi đường lưỡi sau. Vậy là vui vẻ cả nhà và vui vẻ dài dài, có gì khó đâu. La hét ngay tại chỗ chỉ mất hòa khí, chẳng ích lợi gì. Những cái sứt mẻ tí ti đó lâu ngày tụ lại thành bể nát.
- Biết vậy nhưng không nhịn được...
- Mầy nói chuyện ngộ thiệt, biết vậy mà không chịu nhịn là sao?
- Không phải ai cũng làm như mầy được. Tụi tao đều biết mầy không giống ai. Mấy thằng chưa biết mầy, nghe nói vợ chồng mầy không bao giờ cãi nhau, tụi nó đếch tin và cho là mầy “pas normal”.
- Tụi nó nói có khi đúng, ở đời cái gì mà có nhiều người nghe, nhiều người làm thì cái đó đúng “tiêu chuẩn” của một sự việc “bình thường”. Còn cái thật sự phải là chuyện bình thường nhưng vì chẳng có mấy người “chấp nhận được” thì nó trở thành chuyện không bình thường. Đó cũng chính là cái cốt lõi của thể chế dân chủ: đa số có lý, đa số thắng. Nhờ vậy nên cái đám “ái nam ái nữ” mới được công nhận “cưới hỏi” ăn ở với nhau như những kẻ bình thường. Văn minh thời đại có những chuyện nghịch thiên không ngửi được. Đúng là cái lưỡi không xương, đến cả tình ái, cái dài cái vuông mà nó cũng vo tròn bớp méo được.
- Sẵn đây tao hỏi mầy luôn, mầy làm sao mà nhịn hay vậy?
- Chẳng có gì khó hết, tao đặt mọi việc trên căn bản tình yêu, nếu mầy thật tâm thương yêu bà xã thì phải luôn nhớ điều đó để không bao giờ nói lời xúc phạm đến tình yêu kia. Trong tình yêu còn có sự kính trọng nhau, nếu mầy ý thức đúng mức điều nầy thì mầy sẽ chẳng bao giờ xài xể người mầy đã từng quì gối ôm chân bắt giò, thở dài thườn thượt, xuống sáu câu ai oán ỉ ôi nào là “đài gương soi đến dấu bèo cho chăng”..., theo đuổi trong hồi hộp, lo âu, sầu khổ, ăn không ngon, ngủ không nhắm mắt... Có thằng bạn bảo tao là nó thương vợ lắm, xem bả như, hoặc hơn cả bản thân... Có lẽ chính vì xem bả như thế, nó quên rằng bả là một người bạn đường xa, nên nó rầy rà, nạt nộ vợ nó như kẻ ăn người ở trong nhà! Thương vợ kiểu vô ý thức bất bình đẳng đó thì tao xin can mầy nhé.
- Nghe mầy nói sao dễ quá...
- Thật ra thì chẳng dễ cũng chẳng khó, chỉ có chịu khó suy nghĩ và luyện tập. Chí công mài sắt có ngày nên kim. Tao đã suy nghĩ từ thuở vừa lớn khôn, và tao cũng đã sớm hiểu câu văn ôn võ luyện. Không có gì mà ngày trước ngày sau là đạt được. Đặc biệt cái hạnh phúc gia đình, hay cái hạnh phúc tout court, nó đòi hỏi biết mình, hiểu đời, phải biết cách thương vợ, thương con. Ừ, đến việc yêu thương ngoài những “kiểu”, còn phải biết “cách” nữa, chớ không phải muốn yêu thế nào thì yêu. Mà muốn biết được cái “kiểu cách” đó mầy phải hiểu “đối tượng”, tức phải “biết người biết ta”. Cũng như bất cứ chuyện gì, muốn biết thì phải chịu khó bỏ công quan sát, suy nghĩ. Chỉ có vậy thôi, có gì rắc rối đâu. Cái rắc rối chính là chuyện “đối tượng” không chịu biết, không chịu hiểu như mình. Mà ở đời khi bánh ít đi mà bánh qui không lại thì chuyện cơm không lành canh không ngọt gần như là hậu quả đương nhiên, khó lòng tránh khỏi, bởi vì sức người có hạn, nhường nhịn nhau cũng chỉ tới chừng mực nào đó thôi. Nghĩ cho cùng thì “vạn sự khởi đầu nan”, thưở ban đầu chỉ biết có cái đẹp... sau đó đa số đều gặp phải lắm vấn đề đôi khi nan giải phải đi tới tan vỡ. Họ không nghĩ rằng thường tình những người trời cho đẹp lại hay nông cạn chỉ vì phải lo chăm sóc cái đẹp bên ngoài nhiều hơn cái tâm của họ.
- Mầy triết lý kinh bỏ mẹ! Làm thế quái nào mà biết được ai châm lo cái tâm? Châm lo cái sắc thì lộ liễu dễ biết và dễ lôi cuốn hơn. Một người không đẹp mầy lấy gì bảo đảm tâm họ đẹp, và ngược lại?
- Ai bảo đảm được chuyện đó cho mầy? Chỉ có mầy ráng mở to mắt ra mà quan sát, suy nghĩ. Mầy quên câu “xấu đẹp tùy người đối diện” rồi à? Mầy nên nhớ rằng cái tâm không dễ gì bị tàn phá, chớ cái đẹp nó như sương như khói vậy. Chẳng lẽ mầy không hiểu chuyện đó? Mầy cũng phải biết rằng muốn hiểu được cái tâm của đối tượng thì phải dày công theo dõi. Cái trò quen nhau trong thời gian ngắn, mê tít thò lò rồi lo cưới hỏi ngay kẻo trể thường rất dễ chết. Vả lại ông bà đã dặn “dạy vợ từ thưở ban sơ mới về”. Chờ đến lúc cổ lai hi thì chẳng còn gì để nói nữa.
- Vậy bây giờ mầy bảo tao phải chịu trận cho tới chết à?
- Bộ mầy tính bỏ bả vô viện dưỡng lão cho rảnh nợ hay sao?
- Đôi khi bực quá tao cũng có ý nghĩ đó. Không thì chính tao vô...
- Nầy, tao nói cho mầy biết, làm như vậy là bất nhân, bất nghĩa đó nghe.
- Tại sao vậy?
- Không những bất nhân bất nghĩa mà còn bất xứng nữa. Mầy đã cưới bả chớ bả có cưới mầy đâu! Nhờ bả mầy mới có một quãng thời gian sướng đời, hạnh phúc. Những lúc mầy xa nhà vì chiến cuộc, rồi vì học tập cải tạo, ai lo cho đàn con? Ai lo thăm nuôi mầy đói khổ trong lao tù? Ai sầu ai khổ trong cô đơn? Bây giờ mầy định phủi tay quên hết tình nghĩa ấy ư? Tao nói cho mầy nghe, đây chính là lúc mầy đền ơn đáp nghĩa người mầy từng yêu thương và cũng từng, cũng vẫn yêu thương mầy dù nay có chút khó tánh vì tuổi tác. Tao thấy cũng cần nhắc mầy một chuyện, ngoài tình yêu lứa đôi, mầy nên “đính kèm” tình thương thân phận làm người, rồi mầy sẽ hiểu ra mọi việc dễ dàng hơn. Tao có cảm tưởng đã đòi hỏi mầy quá nhiều. Giờ chỉ cần khuyên mầy ăn ở sao cho đáng mặt “anh hùng”, thế thôi.
Ngồi nghe hai ông bạn già “già mồm” với nhau cũng học được vài điều hay hay.
Có những bạn già nghĩ cũng đáng thương. Già rồi nên sinh ra lẩm cẩm, lại dễ xì nẹt. Có bạn già bực bội vì thế sự đã làm lỡ mất công danh sự nghiệp, đã đến cuối cuộc đời mà vẫn trắng tay, rồi sinh ra cáu kỉnh với vợ con, làm gia đình mất vui vì chuyện không đâu, chỉ vì họ thiếu suy nghĩ chín chắn. Bá nhân bá tánh, biết sao.
Thật ra thì có mấy ai chịu hiểu rằng hạnh phúc gia đình trên hết mọi công danh. Trên tiên cảnh, thiên đàng chỉ có hạnh phúc chớ đâu có công danh. Danh lợi như củ cà-rốt ông phu xe treo trước đầu lừa. Tội nghiệp con lừa bị lừa ra sức kéo xe chạy suốt khoảng đường dài, đôi mắt dán chặt vào mục tiêu, há hốc mồm nước dãi chảy ròng ròng, quên cả thiên nhiên đẹp quanh mình, đưa lão phu xe tới đích rồi mà mục tiêu vẫn còn trong gang tấc.
Những kẻ phàm phu tục tử chỉ thấy hạnh phúc khi họ được công danh. Trong gia đình chẳng ai trọng ai, họ chẳng cần. Con cái có lêu lổng cũng mặc, khôn nhờ, dại chịu, họ chỉ biết lo cho bản thân họ, họ chẳng biết trách nhiệm là cái chi, sẵn sàng hạ mình, dù có phải “đội quần”, để được công danh.

 Ba mươi năm sống giữa khu bình dân gồm trên ba mươi sắc dân tứ xứ, quan sát họ quanh năm, đâm ra ngán ngẩm. Tuyệt đại đa số là dân tha phương cầu thực. Nay có chút tiền, nên cũng lên xe (cũ) bóng loáng, cũng ăn diện (áo quần Babou) lòe loẹt như ai, nhưng cung cách thật là khiếp đảm, ngôn ngữ thì nghe điếc ráy luôn. Để quên đi cái quá khứ nghèo hèn, họ chọn lấy một cung cách trái ngược: tự cao, phách lối. Trong môi trường đó làm sao tìm được hai chữ hạnh phúc? Họa chăng chỉ có những thoả mãn nhứt thời, thế thôi. Đúng là đời sống của sinh vật. Nghĩ cho cùng thấy họ thật đáng thương, không được dạy dỗ, học hành họ làm sao hiểu được gì hơn ngoài manh áo miếng cơm.
Nói vậy chứ ngay cả trong số khoa bảng có lắm kẻ cũng chẳng khá hơn bao nhiêu, họ sẵn sàng khom lưng, cúi mặt trước cường địch ngày nào chỉ để được ăn ngon mặc đẹp. Muốn cho con cái họ sau nầy thoát ra khỏi cảnh sống sinh vật đó chỉ có cách giúp chúng nó học hành để chúng nó biết suy nghĩ, nhận ra con đường nào phải theo. Không làm được chuyện đó thì mầm mống loạn lạc vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng khổ nỗi, khi nhìn bộ giáo dục xứ Phú Lang Sa nầy, cũng như nhiều xứ văn minh khác, chỉ chú trọng việc đào tạo chuyên viên, hoàn toàn bỏ ngoài chuyện dạy luân thường, đạo lý.
Vừa mới đây nhân vụ ông lớn của FMI, có nhà báo hỏi một nhân vật trong chính phủ rằng có nên “đạo đức hóa” chính trị hay không, thì ông ta nhanh nhẩu trả lời: “La morale limite notre liberté”. Luân thường đạo lý giới hạn quyền tự do của chúng ta! Còn gì để nói nữa không? Những chuyện nhiễu nhương, trộm cướp, đốt phá... khắp các khu “nhà lá” từ Paris xuống Marseille là hậu quả tất yếu của một nền giáo dục phi luân lý nhưng nhuộm màu sắc chính trị mị dân.
Ai cũng nhìn thấy và ca ngợi tư cách của người dân Nhựt trong lần động đất vừa qua, nhưng không một ai đủ can đảm nghĩ đến chuyện theo gương. Ông kia nói đâu có sai: “luân thường đạo lý cấm đoán chúng ta không được tự do làm điều xằng bậy... Không làm được điều xằng bậy đời sẽ mất vui! Chuyện ông lớn FMI làm bậy ở Nữu Ước, và ở nhiều nơi trên đất Pháp, chỉ là một trong nhiều chuyện hấp dẫn mà chưa ai biết hết đó thôi. Vừa mới đây, cựu Tổng Thống J. Chirac ra tòa lãnh án 2 năm tù treo về tội “lường gạt, biển thủ công quỹ, lạm dụng quyền thế” !... Toàn là những chuyện vô tiền khoáng hậu. Những bậc “cha mẹ dân” của một quốc gia văn minh như Pháp mà còn ăn ở như vậy thì trách ai khác bây giờ?
Đời chỉ vui khi ta được quyền làm bậy!
Hình như đó là một phần định nghĩa của hai chữ tự do ở Châu Âu. Có nhiều chuyện nghĩ tức cười, cởi truồng trên baãi biển cho mọi người ngắm, dù rằng đôi khi cặp vú muớp dài tới rún, da nhăn nheo, nhưng đó là tự do, là văn minh, ở truồng trong rừng rậm là... rừng rú, man ri mọi rợ!
Có một ông bạn già làm thơ nhớ thời son trẻ, nay đã về chiều hối hả ôn lại ngày qua, tìm đường vào cõi tịnh, chuẩn bị cho một ngày “hồn phi phách tán” vào cõi thần tiên...
Nghe chim hót tang bồng rũ áo
Chút bụi trần gạt nốt, chân như...
Rừng phong lặng gió như chờ đón
Lạc bước thinh không hết bụi trần.
(Một Cõi Hư Vô)
Thâm tâm, hảo ý là vậy mà hình thức lại không phải vậy, vì khi nhìn kỹ những gì bạn già làm thì phần muốn “siêu thoát” bị phần muốn “ghi danh hậu thế” lấn át mất. Khi nhìn tấm ảnh của bạn già lại càng thấy bạn không có vẻ gì muốn lánh mặt cuộc đời nầy cả, trái lại bạn vẫn còn tràn đầy nhựa sống, rất phong độ, rất hợp thời trang từ xiêm y đến đầu tóc. Niềm yêu đời vẫn còn rành rành trên khóe mắt, nụ cười, dù chỉ một bước nữa là đạt thành bát thập tướng quân. Mục tiêu của người tìm vào cõi tịnh có khác chi mấy với mục đích của kẻ tu hành: thoát tục? Muốn thoát tục phải diệt dục, nếu vẫn cứ dính dấp với dục, loanh quanh trong những cái tục thì mần răng mà thoát trần được. Thiên hạ đã chẳng gọi là “trần tục” hay sao? Khi tâm chưa tịnh thì chưa thể vào thiền. Ví như con ruồi mắc lưới nhện, càng cựa quậy càng bị siết chặt và cuối cùng bị “nhền nhện làm thịt”. Được vậy cũng sướng đời - như lão Trư Bác Gíái xưa kia cả ngày cứ trốn Thầy đi tìm “ổ nhện”. Nhưng thôi, chuyện muốn thật hay muốn giả vờ của những nghệ sĩ khó ai biết được, bởi vì mấy ông thi sĩ, nghệ sĩ nổi hứng bất tử để rồi ngay sau đó chẳng còn nhớ tới những cuộc tình tục lãng mạn của họ nữa; dù sao thì mấy ổng cũng để lại cho đời những dòng thơ, tiếng nhạc hay. Không thành công thoát tục thì cũng thành danh, chẳng mất mát gì cả. Nói nhỏ mà nghe: thành danh vẫn hơn thoát tục. Thường tình thì ai cũng muốn vừa thoát tục vừa để lại chút danh gì với núi sông.
Tuy nhiên, khi đặt mấy vần thơ ướt át vào bối cảnh của một người vong quốc đã từng có trọng trách trong xã hội, khi tình dân tộc, nợ nước non vẫn còn mê mê ra đó chờ đợi mọi người, thì mấy vần thơ của bạn già nghe ra có cái gì lạc vận, hư vị đăng đắng đúng như cụ Nguyễn Du đã than:
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.
Có khi còn bị hiểu là “thi sĩ bất tri vong quốc hận”. Bạn già đã nhịn nhục trở về thăm lại chốn xưa, những chốn xưa, nhưng chỉ để “nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa”, mơ màng những hình ảnh thân thương của thời son trẻ yêu đương mùi mẫn, chỉ để tìm lại những cảm xúc của một thời hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay, tất cả chỉ nhằm tìm cảm hứng cho nguồn thơ để đời...
Chốn xưa tìm lại tàn hương cũ
Gói ghém thương vào một tứ thơ...
(Hà Nội Thành Đô)
Bạn già đáng được một lời khen: làm sao lại có thể không thấy được - dù có nhắm mắt - những cảnh đau lòng mà cả dân tộc đang chịu đựng để đủ hứng viết thơ tình? Phải chi bên cạnh những dòng thơ chứa chan tình cảm đó, bạn già cũng có (hay sẽ có, mong thay!) mấy vần cảm xúc trước cảnh khốn cùng của muôn dân để đời sau biết đến thì thật vẹn toàn, hay biết mấy. Hay là bạn già nghĩ rằng như thế sẽ làm “ô nhiễm” tập thơ tình, làm rối rấm tâm tư đang cần yên tĩnh tìm vào cõi tịnh?
Kể cũng lạ ông bạn già của tôi muốn tìm vào thiền, vào tịnh mà cứ tiếp tục quanh quẩn trong cõi tình thì mần răng mà thấy đường vào cõi tịnh. Đức Phật đã dạy rồi, tình là bể khổ, con người chỉ có trầm luân trong đó thôi, chẳng khác nào thuyền nhân bị chìm xuồng giữa Thái Bình dương biết đâu là bến bờ để bơi vào; vả lại một khi đã trầm mình vào đó rồi thì còn hơi sức đâu nữa mà bơi với lội. Tôi cũng rất thích thơ với thẩn, nhưng khi nghĩ đến người xưa, lại nhớ tới quê nhà, thế là hình ảnh của Bác lấn át hết cả, nàng thơ hoảng sợ nắm tay người xưa chạy mất, làm cụt hứng ngay, chẳng còn thơ văn đâu nữa, chỉ còn cái cốt nhà binh của một “cọp biển”: chỉ muốn xé xác lũ tam vô buôn dân bán nước. Bạn bè trách tôi thù dai.
Đúng, tôi thù VC rất dai, đầu thai luôn mấy kiếp vẫn cứ thù, không bỏ được. Chúa Phật có vì thế mà phạt tôi vào địa ngục cũng chả sao, đã từng “kinh” qua trường cải tạo rồi, cũng vậy thôi, không ngán. Không làm sao tôi có thể “hòa hợp” được với lũ yêu ma đó; thật ra trong hoàn cảnh hôm nay, nói tới hoà hợp hòa giải với việt cộng thì chỉ có hai hạng người: hạng ngu như bò và hạng ngu hơn bò. Gia đình anh em con cháu đều kẹt lại quê nhà, nhưng tôi nhứt định không về thăm. Bà chị tôi lúc hấp hối thì thào trong điện thoại lời vĩnh biệt và có ý muốn tôi về thăm, tôi cố giữ bình tĩnh trả lời chị rằng tôi rất đau lòng nhưng tôi không làm sao có thể “hạ mình”, nhịn “nhục” xin chúng nó cho phép tôi trở về nhà của tôi thăm chị một lần cuối. Xin chị hiểu cho và miễn chấp. 

Những chuyện tình cảm không thiếu đề tài phù hợp với tình cảnh của chúng ta, như chuyện “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, đọc rơi nước mắt và đời sau sẽ thấu hiểu tình cảnh mà cả dân tộc đã hứng chịu dưới sự tàn bạo dã man của cộng phỉ Bắc Việt. Ba thập niên hay ba thế kỷ nào phải là thời gian đủ để chúng ta cho mọi tội lỗi của cộng phỉ, của những kẻ phản bội... đi vào quá khứ để yên tâm an hưởng, phủi tay rảnh nợ nước non và để yên cho những tên phản bội bán nước mỉm cười nơi chín suối? Nghĩa tử nghĩa tận chỉ áp dụng vào trường hợp người dân thường. Đối với những kẻ đã “ghi danh sử sách” thì không có nghĩa tận được, ngàn đời sau thế gian vẫn nhắc nhở, phán xét họ. Bảo rằng nên tôn trọng một xác chết không còn biện bạch được là... dốt, là ngụy biện. Ngày nào lũ buôn dân bán nước còn đó, dân tộc còn thống khổ, ngày đó người “trí thức” vẫn còn món nợ nặng nề trên hai vai không thể chối bỏ, lo thân. Tôi chẳng trách bạn già viết thơ tình cảm riêng tư, mà trách bạn già sao chỉ viết có thế.

Ngòi bút cũng là một vũ khí lợi hại để đánh đổ chế độ phi nhân. Đâu phải ai cầm bút là cũng viết lách được; những ai có biệt tài mà không có tí trách nhiệm thì thật là phí biết bao. Trên trận tuyến hải ngoại chống cộng sản Bắc Việt, những trí thức, những nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo... là những chiến sĩ hàng đầu duy nhứt có khả năng đánh những đòn chí tử vào yếu huyệt của cường địch dù nghìn trùng xa cách, nở nào lại chỉ có làm thơ ca ngợi hay luyến tiếc những cuộc tình riêng tư không thôi sao?

Ngoài trọng trách chứng tỏ cho hậu thế thấy rằng văn học lưu vong vẫn hơn xa văn chương của lũ cộng phỉ dốt nát, dối trá trong nước, trí thức, nghệ sĩ hải ngoại còn phải ghi lại những mẩu chuyện nghịch lý, những mảnh đời tan vỡ đau thương vì bọn cộng nô Bắc Việt như là những chứng tích để hậu thế biết rõ tội ác của chúng và hiểu thế nào là cộng sản để không bao giờ tái phạm lỗi lầm hôm nay. Ghi lại những chiến tích oai hùng của quân dân miền Nam đã từng đánh đuổi lũ “chó cắn trộm” cộng nô tả tơi manh giáp trong ngày Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ lửa để hậu thế không bị tuyên truyền đầu độc của bọn phản chiến rằng chỉ có “Mỹ đánh giặc” ở Việt Nam...

Nói vậy chứ cũng còn có những kẻ đã từng ở trong hàng ngũ chúng ta, từng bị thân bại danh liệt, tàn gia bại sản, nay thoát được ra ngoài tưởng đã hồi sinh sáng mắt; thế nhưng sau mấy thập niên ăn no ngủ kỹ một số bỗng dưng nổi hứng lớn tiếng ồn ào rằng họ biết ơn cộng phỉ có công thống nhứt đất nước (Trời đất!? Phải kêu trời mới được), hay rêu rao hòa hợp với lũ cướp của giết người! Lại còn lớn tiếng chê bai thiên hạ chống cộng “thấp” chỉ vì những người nầy đã lấy lá cờ máu của cộng phỉ bịt khu, che mông!

Vậy là khi muốn chống cộng “ cao” phải đội lá cờ máu trên đầu sau đó muốn chống gì mặc tình? Tôi chẳng biết có cách chống cộng nào gọi là “cao”? Có thể như thế nầy: các nhà trí thức đó họ chỉ chống cộng bằng ngòi bút, bằng mồm nhưng trong cung cách “cao”, nghĩa là chỉ nói xa nói gần, né tránh trực tiếp kể tội ác đích danh lũ buôn dân bán nước. Họ chỉ trích nhẹ nhàng đến độ người bị chỉ trích cũng không biết mình bị xài xể; và thiên hạ cũng chẳng biết là họ chống cộng, phải chờ họ giải thích rằng khi họ viết thế nầy, nói thế kia là họ có “ẩn ý” chống cộng. Hay là họ cung kính dâng kiến nghị lên giặc cộng yêu cầu chúng tự sát để cho dân sống? Vậy là vui vẻ cả đôi bên, khi cần về nước du hí người chống cộng “cao” không sợ bị các đồng chí làm khó dễ. Họ chỉ có bổn phận không theo giặc cộng, chứ có ai buộc họ phải chống cộng đâu. Họ cứ yên tâm viết văn, làm thơ, nghiên cứu bất cứ gì họ thich.

Chuyện gì phải mặc cảm. Nếu có mặc cảm chăng là vì trước 75 họ cũng đã từng chống cộng “cao” như thế: họ tìm đủ mọi cách để phục vụ ở hậu phương, nếu “trốn lính” được càng hay. Thế mới biết cái ngu si, hèn hạ của con người nó vô biên như vũ trụ. Thật ra thì dân trí của phe ta, dù ở cấp nào đi chăng nữa, cũng chưa cao. Dù biết thượng cấp, anh em phe ta làm bậy, nhưng cũng cứ đứng sau lưng ủng hộ! Phe ta xem tự ái to hơn Thái sơn nhiều. Trái lại hai tiếng phục thiện nhỏ tí xíu. Vả lại vào thời đại nguyên tử, lằn ranh thiện-ác đã mờ mịt: gian ác như Hồ tặc vẫn có lắm kẻ tôn thờ, Thiên Chúa vẫn bị người xỉ vả...

Từ kế kỷ 19, 20 những Marx, Engels, Lénine, Martov, Troski, Plekhanov... đều bị lưu đày hay di tản ra hải ngoại, nhưng họ đã không ngớt dùng ngòi bút và tâm trí để khơi động cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Marx chẳng biết làm thơ như Sosso (tục danh của Staline, một bút hiệu thường dùng trong nhiều bút hiệu của Djougachvili), chỉ biết triết lý và cách mạng; trong lúc Engels vừa là triết gia vừa là một nhà tư bản chủ nhân một xưởng dệt đồ sộ trên đất Anh. Nhờ giàu có nên Engels gần như cấp dưởng Marx và vợ con suốt đời để cuối cùng cả hai gầy dựng nên thuyết mát-xít làm phương châm chỉ đường cho giới công nhân thế giới làm loạn.

Đầu năm 1848, thợ thuyền nổi dậy ở Paris; vua Louis Philippe phải từ bỏ ngai vàng. Phe làm loạn buộc chính phủ phải bỏ hai màu xanh trắng của quốc kỳ, chỉ giữ lại một màu đỏ, nhưng ngoại trưởng Lamartine dứt khoát không chấp nhận lá cờ màu máu, ông bảo đó là cờ của đảng phái, không thể là quốc kỳ. Nhà thi sĩ lại cũng đã phán một câu rằng “vô sản là tiếng nguyền rủa vô luân, hạ cấp, gớm ghiếc cần được xóa bỏ khỏi ngôn ngữ, và trong xã hội cũng phải dần dần làm cho không còn có một người vô sản nào nữa”. Engels tức mình gọi Lamartine là “tên phản tặc văn hay”. Engels là cha đẻ của chủ trương “đấu tranh giai cấp”, tuy là đại tư bản nhưng mang trong người dòng máu cách mạng... vô sản! Cái mới lạ. Phần Staline, y có một giọng hát như ca sĩ, có biệt tài làm thơ như thi sĩ, chỉ với hai tài đó y phải là một nghệ nhân; nhưng trong y, cái bản chất tàn ác lạ thường hoàn toàn lấn át bản chất của người nghệ sĩ và Staline đã trở thành một tên đồ tể khét tiếng: mới 18 tuổi đã rời bỏ chủng viện, nơi mẹ ông gởi gắm để học hành thành cố đạo, và tổ chức đánh cướp ngân hàng, sát hại binh sĩ, lấy tiền để làm... cách mạng.

Đã sinh ra tên đồ tể Staline, trời lại sinh thêm Lénine với bản chất thô bạo cũng khác thường, và cặp bài trùng đó đã gây nên bao nhiêu tan tóc cho dân Nga và nhân loại. Lénine, Staline và các đồng chí ở Nga nổi lên lật đổ Nga hoàng trong một cuộc cách mạng đầy máu lửa lan tràn trên khắp thế gian. Cũng chỉ vì Nicolas II mù tịt về tình trạng của xã hội, của dân Nga nên đã phạm một lỗi lầm tài trời vào ngày Chủ Nhật 9/1/1905 khi đông đảo dân Nga kéo nhau đến trình “thỉnh nguyện thư” yêu cầu Nga hoàng cải tổ chính trị trong tinh thần “hòa hợp hoà giải” không một mải may nào có ý làm loạn. Thế nhưng Nga hoàng, vì mặc cảm do nhiều cuộc đình công rối ren trước đó, lại ra lịnh cho binh lính “giải tán biểu tình” bằng súng đạn, gây nên một cuộc thảm sát có đến hàng chục thương vong! Chỉ vài tháng sau,5/1905, giới thợ thuyền thành lập tổ chức mang tên Sô Viết đầu tiên.

Trong Sô Viết của thành phố Pétersbourg, Troski và Nosar cho phát hành tờ tuần san Izvestia sovieta. (Tờ báo nầy vẫn còn sống sau khi Liên bang sô-viết sụp đổ). Thế mới biết trí thức bao giờ cũng dùng ngòi bút để mở đường đấu tranh. Khi Troski bị bắt, thì một nhóm khác với Gorki, Bogdanov, Minski cho ra một tờ báo mà chủ bút là bà vợ thứ hai của Gorki, kịch sĩ Maria Andreeva. Đến cuối năm đó Lénine mới trở về Pétersbourg và lập tức lăn xả vào viết báo liên tục với những tờ Luồng Sóng (Volna), Tiếng vang (Ekho), Vô sản (Proletarii)... Chính Lénine đã đặt mục tiêu sau cùng là chuyên chính vô sản, không có một đồng chí nào đủ sức lèo lái y ra khỏi 4 tiếng đó, mục tiêu đó.

Chỉ với mấy chữ vàng đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của vài ba “tư tưởng gia” từ hai thế kỷ trước mà đến nay dân Việt vẫn còn hứng chịu hậu quả khóc liệt chưa biết đến bao giờ mới hết. Trí thức không thể thiếu vắng trong bất cứ một cuộc đấu tranh nào, dù gây họa hay tạo phúc cho muôn dân. Nhưng không phải trí thức nào cũng có khả năng làm được việc đó; dân ta còn quá chậm tiến, nhút nhát, cầu an, nhứt là sợ sệt... Người dân Bắc Phi đã không sợ, chấp nhận hy sinh, cùng nhau hàng trăm ngàn ngày ngày, tháng tháng xuống đường cho đến khi nào bạo quyền phải lui bước mới thôi. Dân ta có lẽ không bao giờ dám xuống đường như vậy, nên chuyện đấu tranh giai cấp của Engels và chế độ vô sản nhập cản của Lénine sẽ có triển vọng tồn tại lâu dài trên quê hương...

Nhưng thôi, chuyện nước non cũng như chuyện văn thơ, không phải ai cũng biết nghĩ, biết làm. Mỗi người có đóng góp một chút gì đó là quí lắm rồi. Từng tuổi bát thập mà còn viết lách như ông bạn già của tôi đã là đáng khen. Thường tình khi vào lứa “cổ lai hi”, nếu không ra sức già cố quơ quào hưởng thụ một “cú đẹt”, thì đa số chỉ còn biết chăm sóc lấy thân già, của mình và của người bạn đường từ nửa thế kỷ trước. Luẩn quẩn có bấy nhiêu đó việc mà có khi còn làm chưa ổn, mong gì chuyện lớn. Mỗi sáng tỉnh giấc, chống tay ngồi dậy, bước xuống giường đi tới nhà tiêu được và “ể” được là mừng cho ngày đó máy còn tốt. Chưa bị Alzheimer hay “đột quị” nằm liệt giường, xụi lơ cán cuốc là vui lắm rồi.

Đông Vân Nguyễn Văn Dõng 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Bạn Già, Đông Vân Nguyễn Văn Dõng
Comment

Tình Yêu Thương Chính Là Dưỡng Chất Tốt Nhất Cho Tâm Hồn ( An Nhiên)

March 29, 2026 Ninh Tran

Tình yêu thương chính là dưỡng chất tốt nhất cho tâm hồn

Có một cậu bé bị liệt hai chân luôn tự coi mình là người bất hạnh nhất trên thế giới này. Vì mặc cảm tự ti, cậu rất ít khi chơi đùa với bạn bè. Khi thầy giáo gọi lên bảng trả lời câu hỏi, cậu chỉ cúi đầu mà không nói một lời nào.

Vào một ngày mùa xuân, cha cậu mang về một vài cây non để trồng trước nhà, bởi vậy ông đã gọi các con đến và yêu cầu mỗi đứa trẻ trồng một cây. Ông nói, nếu cây của ai lớn nhanh nhất thì sẽ được thưởng một món quà mà mình yêu thích.

Cậu bé cũng mong muốn nhận được món quà của cha. Nhưng khi nhìn thấy các anh chị em đều ra sức chăm bón cho cây của họ, bỗng cậu cảm thấy nản chí và muốn bỏ cuộc. Do vậy chỉ sau một, hai lần tưới nước, cậu hoàn toàn bỏ bẵng, không để ý quan tâm tới cái cây của mình nữa.

Vài ngày sau đó khi đi xe lăn ngang qua khu vườn, cậu bé sửng sốt thấy cái cây non của mình không những không bị khô héo tàn lụi mà còn nảy thêm nhiều lá non. Những chiếc lá nhỏ li ti nhưng xanh tươi mỡ màng, vươn lên đầy sức sống. Và khi nhìn sang những chậu cây của các anh chị em mình, cậu bé không khỏi ngạc nhiên khi nó thậm chí còn xanh tốt và có sức sống hơn nhiều.

Khi nhìn thấy cây non đang vươn mình mạnh mẽ, hẳn cậu bé đã nghĩ rằng: “Mầm non bé nhỏ à, vì sao mình bỏ bê như vậy mà cậu vẫn không hề bỏ cuộc? Cậu thật là mầm non dũng cảm! Nếu cậu làm được, mình cũng sẽ làm được, phải không?”

Và cha thật sự giữ lời hứa, ông đã mua cho cậu một món quà mà cậu bé luôn ao ước. Ông còn nói: “Nhìn cái cây này, chắc chắn sau này con sẽ là một nhà sinh vật học xuất sắc!” Nhờ câu nói ấy, cậu bé không còn tự ti vào bản thân nữa. Cậu đã nhìn thấy những lộc non rực sáng dưới ánh nắng ban mai. Và nhất định rồi, từ giờ cậu có thêm niềm tin vào tương lai phía trước, đôi chân tật nguyền vẫn khiến cậu chật vật tồn tại nhưng cậu vui vì ít nhất thì mình cũng không kém anh chị em trong nhà.

Một buổi tối nọ, cậu bé nằm trên giường ngắm trăng sáng ngoài cửa sổ. Hình như có lần thầy giáo dạy sinh vật đã nói rằng, thực vật thường sinh trưởng và phát triển vào ban đêm. Cậu bé liền nghĩ: “Sao mình không tự đi kiểm tra cái cây của mình xem có phải như vậy không nhỉ?”

Thế là cậu bé bước xuống giường, rồi nhẹ nhàng mở cửa ra tới ngoài vườn. Dưới ánh trăng vằng vặc, cậu bỗng nhìn thấy cha đang cẩn thận tưới nước cho cái cây của mình. Đến lúc này cậu bé mới hiểu ra tất cả mọi chuyện, hóa ra là cha luôn âm thầm chăm sóc cho cái cây cậu trồng. Cậu bé trở về phòng, ôm chặt gối mặc kệ cho nước mắt không ngừng tuôn rơi.

Nhiều năm qua đi, cậu bé tàn tật đó mặc dù không bước vào con đường của một nhà sinh vật học, nhưng lại trở thành chủ doanh nghiệp kinh doanh cây cảnh hết sức thành công. Ông chọn nghề kinh doanh và làm đẹp cho không gian sống bằng cây cối bởi vì bất cứ khi nào khó khăn hay va vấp trên đường đời gian khó, hình ảnh người cha tưới cái cây trong đêm lại hiện lên trong tâm tưởng giúp ông có thêm can đảm, nghị lực vượt qua khó nạn.

Cái cây cha trồng lớn lên như hình ảnh về sức mạnh của tình yêu nuôi dưỡng tâm hồn và thắp lên niềm tin trong lòng con trẻ. Với đôi chân tàn tật, ông vẫn đi khắp nơi trên thế giới để truyền cảm hứng cho những em nhỏ tật nguyền, ông luôn mang theo bên mình một cái cây nhỏ trồng trong chậu bé xíu, và bắt đầu bài diễn thuyết của mình bằng việc kể về câu chuyện người cha trong đêm…

…Dù bạn không phải là người cha hay bạn không có một đứa con nhỏ như cậu bé, đừng quên trao đi yêu thương và sự khích lê với những người xung quanh mình, ngay cả khi họ không tật nguyền về thân thể, thì ai cũng đều có những nỗi đau trong tâm hồn. Nhưng tại sao ta không thể như người cha kia, lấy sự yêu thương tự đáy lòng trao cho ai đó, cần đến nó, như gieo một mầm xanh của sự chia sẻ, đồng cảm, một chút nỗ lực bé nhỏ ấy có thể thay đổi thậm chí có thể mang lại cho họ cả một cuộc đời… khác.

 

An Nhiên

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa Tags Tình Yêu Thương Chính Là Dưỡng Chất Tốt Nhất Cho Tâm Hồn, An Nhiên
Comment

HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI MỸ VỀ CẤP CHỈ HUY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4.1975 (Phạm Phong Dinh)

March 29, 2026 Ninh Tran

Tướng Trần Văn Hai

Đa số sách báo Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam không tường thuật nhiều về những ngày, những giờ phút cuối cùng của Miền Nam một cách chính xác. Điều dễ hiểu là, những người Mỹ làm việc tại Miền Nam đã được di tản nhiều ngày trước khi quân đội Bắc Việt vào Sài Gòn, nên những chi tiết về giờ thứ 25 rất ít được ghi nhận. Tuy nhiên, cũng có vài tác phẩm viết lại những sự việc xảy ra những ngày cuối tháng Tư, như cuốn Goodnight Saigon của Charles Henderson, Decent Interval của Frank Snepp, hay cuốn Last Man Out của James E. Parker.

 Tác phẩm Goodnight Saigon (Giã Biệt Saigon) nghiêng nhiều về tường thuật những diễn biến quân sự từ những thảm họa trên cao nguyên và ngoài Quân Khu 1, đến những ngày hấp hối của Sài gòn, những xao động của dân chúng. Một vài câu chuyện về những nhân vật dân sự như nhà văn Mai Thảo, diễn viên Kiều Chinh.

 Trong cuốn Decent Interval (Khoảng Thời Gian Coi Được), tác giả Frank Snepp chú trọng nhiều về những diễn biến và xáo trộn chánh trị ở Hoa Kỳ và Miền Nam. Đặc biệt ông tường thuật cuộc ra đi trong đêm 25.4.1975 của Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm. Cái tựa đề đã nói thay cho chánh sách của chánh quyền Hoa Kỳ, hay nói chính xác, là công việc để đời của ông Henry Kissinger, khi ông này tiên liệu sau Hiệp Định Ba Lê thì Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn sống sót được chừng một năm rưỡi nữa là cùng. Đó là khoảng thời gian coi được cho một cái chết từ từ, nếu chết nhanh quá thì coi cũng… kỳ.

 Tuần lễ cuối của tháng Tư, khi Tổng Thống Thiệu đã ra đi, thì ông Henry đã sốt ruột hỏi nhau với những cộng sự, rằng không biết giờ này VNCH đã chết chưa.

 Ở con người Kissinger tương phản hai thái cực kỳ dị. Khi còn trong cuộc hòa đàm thì ông ta nhũn nhặn chìu chuộng Hà Nội đủ mọi thứ, đến đỗi Tổng Thống Thiệu đã bực tức hỏi thẳng ông Phó Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn khi ông ta nài nỉ Tổng Thống Thiệu chịu ký Hiệp Định: “Các ông đại diện cho người Mỹ hay đại diện cho Bắc Việt”.

 Bằng mọi giá, ông Kissinger phải ký cho được Hiệp Định Ngừng Bắn Ba Lê, đưa tù binh Mỹ về nước, và chấm hết. Nhưng khi Bắc Việt ngổ ngáo vi phạm hiệp định, tái phát chiến tranh, thì ông lại bênh vực VNCH và đòi trừng phạt Hà Nội. Chẳng biết là ông diễn tuồng, điều mà ông gọi là lương tâm của nước Mỹ, hay là thật lòng. Những dẫu sao thì quốc hội Mỹ cũng đã quyết định thay giùm ông, rằng VNCH phải chết.

 Tác phẩm Last Man Out (Người Cuối Cùng Ra Đi) của James E. Parker là hồi ức về những ngày công tác tại Việt Nam trong cương vị của một nhân viên CIA có trách nhiệm liên lạc và thu thập tin tức quân sự với những cấp chỉ huy của QLVNCH, rồi tổng hợp làm phúc trình cho cơ quan CIA tại Sài Gòn. Ông Parker đang làm việc ở chi nhánh CIA Cần Thơ, thì ông nhận lịnh thuyên chuyển về Vị Thanh, tỉnh lỵ của tỉnh Chương Thiện. Đối với người Việt Nam, thì Chương Thiện là một địa danh ít người muốn đến, còn theo Parker thì bên ngoài tỉnh lỵ bước ra mấy bước là đã ngửi thấy mùi Việt Cộng. Nên bất cứ người Mỹ nào về làm việc ở đấy đều được đồng nghiệp gọi tên giễu (nickname) là Dead Man (Người Chết).

 Tuy vậy khi về Vị Thanh, Parker nhận ra rằng Việt Cộng chẳng bao giờ muốn làm phiền ông ta, ông được an toàn. Từ đấy Parker suy luận rằng, chúng chẳng muốn khiêu khích Hoa Kỳ bằng cách giết một CIA Mỹ trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc chiến, chẳng có lợi gì mà có khi còn làm cho anh Mỹ nổi giận quay trở lại thì khốn. Cứ để cho những người Mỹ tà tà làm việc cho đến ngày họ cuốn gói ra khỏi Việt Nam, bởi ngày ấy chẳng còn lâu la gì.

 Công tác ở Miền Tây, là nhân viên đại diện cho CIA Cần Thơ, Parker có dịp tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của vùng châu thổ Cửu Long, những nhân vật đầy giai thoại: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Đặc biệt, trong những ngày cuối cùng của tháng Tư, chiếc trực thăng của Parker gần như hàng ngày đáp xuống Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Hai để nghe ông trình bày quân tình, dân tình lúc ấy, rồi sau này nhiều người đã ngỡ rằng người Mỹ đến mời Chuẩn Tướng Hai ra đi.

 Nhưng nếu người Mỹ thực sự có ý định đưa Chuẩn Tướng Hai đi, thì ông cũng sẽ khảng khái từ chối, như Tổng Thống Trần Văn Hương từ chối các ông Đại Sứ Mỹ Martin và Đại Sứ Pháp Mérillon, thề ở lại chia xẻ hoạn nạn với chiến sĩ và đồng bào của ông. Hay Thiếu Tướng Lê Minh Đảo từ chối sự mời mọc của người Mỹ, ông thề ở lại cùng sống chết với chiến hữu của ông.

 James Parker đã dành nhiều trang kể lại những cuộc tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của quân đội Việt Nam, cuộc gặp đầu tiên là với Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, lúc ấy ông đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, bản doanh sư đoàn đặt tại Vị Thanh, kính mời quý độc giả cùng theo dõi (chú thích trong ngoặc là của chúng tôi):

 Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tiếp đón chúng tôi rất niềm nở. Ông Tướng nói Anh ngữ hơi chậm nhưng phát âm rõ ràng, cho biết sư đoàn của ông có trách nhiệm bảo vệ vùng hạ châu thổ. Sư Đoàn trong thế bị áp đảo về quân số nhưng ông đã làm tất cả những gì có thể, ông chọn lựa mục tiêu. Ông không muốn tấn công vào những điểm kiên cố của quân cộng, bởi ông nghĩ rằng ông sẽ bị tổn thất nhân mạng nhanh chóng. Vì ông đang ở trong một cuộc chiến quá lâu dài, ông phải bảo vệ nhân lực và nguồn tiếp liệu của ông. Ông nói với tôi rằng ông không thể xoay chuyển cục diện ở đây, nếu ông muốn tạo một chiến thắng thì quân Bắc Việt chắc chắn sẽ đưa nhiều quân đến nữa. Tôi hỏi ông:

- Tại sao chiến đấu một cuộc chiến đang thấy thua rõ?

Ông Tướng hỏi vặn lại, rồi mỉm cười:

- Tôi còn có sự chọn lựa gì nữa không? Nhưng đây là đất nước của chúng tôi.

 Vị Thanh là nơi hiểm nghèo nhứt ở Miền Nam, không có lý lẽ nào để nuôi hy vọng ở đây. Quân địch đầy dẫy chung quanh thành phố. Tại sao lại mạo hiểm để cho những người Mỹ bị địch cầm giữ trong giờ thứ mười một này. Những tháng sau, tôi làm việc nhiều thời gian trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21, thu thập tin tức trong vùng hạ châu thổ, cuối cùng tôi được cho phép thường xuyên tiếp xúc với Phòng 2 và Phòng 3 Sư Đoàn.

 Trong lúc đó thì Tướng Hưng có mặt hầu hết ngoài mặt trận. Chiếc trực thăng chỉ huy của ông cất cánh mỗi buổi sáng sớm đưa ông đến những địa điểm xa xôi nhứt để ông có thể thăm hỏi những cấp chỉ huy. Tôi chỉ gặp ông hầu như vào lúc ban đêm, lúc thì dùng bữa tối, lúc thì uống với nhau. Thỉnh thoảng thì tôi cũng gặp ông Tướng vào lúc ban ngày trong văn phòng của ông. Thời gian dần trôi, thì cuộc gặp gỡ của chúng tôi trở nên thoải mái nhiều, chúng tôi thích thú sự hiện diện của nhau.

 Terry (nhân viên CIA mà Parker đến thay thế) giới thiệu tôi với vị Tỉnh Trưởng, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông Đại Tá được tuyên dương là Chiến Sĩ Xuất Sắc Của Năm (1972), trước khi ông đến nhậm chức ở Chương Thiện, một vinh dự gặt hái được từ chiến công anh hùng của ông chống quân Bắc Việt ở An Lộc. Ông đã bị thương rất nặng, mất một phần mặt của ông. Khi tôi gặp ông, thì phần bị mất ấy đã được chữa trị bằng phẫu thuật, từ cái nhìn đầu tiên thì tôi đã có thể nhận ra một vết thẹo dài chạy dọc theo bên hàm. Đại Tá Cẩn có một quan niệm rất lạc quan về chiến tranh, dù cảnh quan buồn tẻ ở Vị Thanh. Ông đúng là người lính của những người lính, dũng cảm và thanh liêm. Ban đêm ông thường đi xuồng đến những đồn bót xa xôi nhứt để phát lương cho binh sĩ. Ông nói rằng ông có dưới tay nhiều chiến sĩ giỏi mà có thể chiến đấu chống cộng sản đến khi họ chết hoặc là đất nước được thanh bình.

 Những buổi tối của tôi với Chuẩn Tướng Hưng càng lúc càng thân tình. Ông thường hỏi thăm về gia đình tôi, về Hoa Kỳ cùng những gì đang xảy ra bên ấy. Ông rất quan tâm đến văn học Mỹ nên tôi thường có dịp nói về các tác giả Hoa Kỳ và tác phẩm của họ. Mặc dù tôi thường đọc hai, ba cuốn sách mỗi tuần ở Vị Thanh, nhưng tôi lại chưa đọc những cuốn mà Tướng Hưng hỏi tôi. Về phần ông, thì ông nói về lịch sử và chuyện chiến tranh ở Đông Dương. Ông thường nói chuyện một cách có cân nhắc và chậm rãi, hay mỉm cười dù đang đề cập đến những sự việc nghiêm trọng. Từ ông toát ra một vẻ rất tự tin và ánh lên sự trầm tĩnh.

 Trong tháng 2 (1975), cấp chỉ huy ở Cần Thơ và Sài Gòn thúc giục, Tướng Hưng cho quân tấn công một đơn vị lớn Bắc Việt về phía Đông Chương Thiện thuộc rừng U Minh, là một khu vực cộng quân chiếm đóng từ lâu. Cuộc tấn công này là chiến dịch lớn nhứt từ lúc tôi về tỉnh Chương Thiện. Ông Tướng áp dụng tất cả nguồn yểm trợ của Không Quân mà ông có. Mặc dù ông sở hữu nhiều khẩu đại bác do quân đội Mỹ để lại, ông lại có khó khăn khi di chuyển chúng vì sự hạn chế phi vụ chuyển vận. Ông cũng thiếu thốn những tiếp liệu cần thiết và đầy đủ để trang bị cho lực lượng tấn công. Thí dụ, ông có rất nhiều mìn claymore nhưng thiếu ngòi nổ, đạn pháo binh cũng thế, có nhiều nhưng rỉ sét. Do vậy, sư đoàn chịu nhiều thiệt hại. Chiến sĩ của ông chiến đấu rất dũng cảm. Tôi hiểu nỗi đau đớn của ông Tướng, và tôi hiểu niềm hãnh diện của ông đối với những người lính ấy, dù bị thương vong rất nhiều nhưng họ vẫn tiếp tục tiến tới.

 Khi trận chiến tàn, quân Bắc Việt bị đẩy lùi vào rừng U Minh, Tướng Hưng vẫn không chắc rằng ông đã thực sự chiếm thượng phong. Ông đã dùng quá nhiều nguồn tiếp liệu mà ông có. Cho cái gì mới được? Mấy ngày sau, một thứ mùi kinh khủng tuôn vào chỗ tôi cư ngụ. Tôi đã từng ngửi thấy mùi này, đó là mùi của thịt thúi, của người chết. Một thông dịch viên cho tôi biết nhà xác sư đoàn nằm giữa khu tôi ở và cô nhi viện tỉnh. Những xác tử sĩ nằm chờ được chở đi. Phương tiện chuyên chở đã hiếm hoi mà phòng lạnh cũng không. Một số xác được lấy về từ khu vực chiếm đóng của cộng quân. Dẫu sao thì khi tôi muốn chạy xa khỏi khu nhà ở, thì ông Tướng đã xoay sở phương tiện đưa xác tử sĩ đi trong tuần.

 Tháng sau (10.3.1975), Ban Mê Thuột thất thủ, Bộ Tư Lệnh Tối Cao ở Sài Gòn tái phối trí lực lượng để bảo vệ phần còn lại của Miền Nam. Sư Đoàn của Chuẩn Tướng Hưng di chuyển về bảo vệ khu vực phía Bắc Cần Thơ, ông Tướng được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó khu vực phía Nam Sài Gòn (Quân Khu 4).

Ngày 20.3.1975, Huế thất thủ.

Ngày 30.3.1975, Đà Nẵng mất.

 Ở Cần Thơ, Tướng Hưng làm việc với Jim D. (Sếp CIA Cần Thơ) và những sĩ quan liên lạc quân sự, nhưng ông tỏ ra thích làm việc với tôi ngay lần đầu gặp gỡ hơn là với những người sĩ quan này. Jim D. bảo tôi lên Cần Thơ thường xuyên hơn để làm việc với ông Tướng. Tôi có kế hoạch trở lại Vị Thanh mỗi tuần hay mỗi hai tuần để coi lại khu vực trú ngụ và nghe thuyết trình quân tình từ Đại Tá Mạch Văn Trường, Tân Tư Lệnh Sư Đoàn 21 đang chỉ huy những đơn vị còn lại ở đấy (Một ngày trước khi ra đi, ngày 24.4.1975, Tổng Thống Thiệu ký nghị định đặc cách thăng Chuẩn Tướng cho Đại Tá Trường. Ông là vị Tướng được thăng chức sau cùng nhứt của cuộc chiến).

 Khu vực càng lúc càng thu hút sự quan tâm là con đường Quốc Lộ 4 chạy dài theo hướng Tây và Tây Nam từ Sài Gòn, phía Bắc sông Bassac (tức sông Hậu Giang), rồi đổ vào vùng châu thổ. Các đơn vị của Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm bảo vệ quốc lộ, Chuẩn Tướng Hưng sắp xếp cho tôi được nghe thuyết trình từ Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Tướng Hưng cho biết ông từng phục vụ trong sư đoàn lúc còn trẻ. Ông cố vấn sư đoàn lúc đó là con người đầy giai thoại Trung Tá John Paul Vann, một nhân vật đầy quyền lực đối với quân đội Nam Việt Nam. Cuối cùng thì ông đã chết (trong một tai nạn trực thăng ở Kontum, tháng 6.1972).

 Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và diện kiến Chuẩn Tướng Hai trong văn phòng của ông. Ông Tướng đúng là một bản sao của một sĩ quan Mỹ với bộ quân phục sạch thẳng nếp, tay áo xắn lên quá khuỷu tay. Ông Tướng nói Anh ngữ rất lưu loát (khi còn là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, người ta luôn thấy trong tay Chuẩn Tướng Hai nếu không là một cuốn kinh Phật, thì cũng là một cuốn sách tự học Anh Văn. Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông cũng đã từng được gửi đi thụ huấn khóa tham mưu ở Hoa Kỳ). Đôi mắt trên khuôn mặt đầy đặn của ông ánh vẻ nghiêm khắc và ông chẳng tỏ ra thân thiện. Tôi hỏi ông Tướng về tình hình.

- Anh muốn biết tin tức, anh nhân viên chánh phủ Hoa Kỳ, tôi muốn cơ phận cho trực thăng, tôi muốn đạn dược.

- Ngài đang nói chuyện với lầm người rồi, điều ấy chẳng phải là công việc của tôi.

- Anh chính là chánh phủ Hoa Kỳ. Chánh phủ Mỹ hứa luôn cung cấp tiếp liệu cho chúng tôi để chúng tôi có thể chiến đấu. Chúng tôi có thể làm được chuyện ấy, chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, nếu chúng tôi có đạn và phi cơ. Hãy nói lại với chánh phủ của anh điều đó rồi tôi sẽ nói anh nghe những gì đang xảy ra ở đây.

- Vâng, tôi sẽ báo cáo rằng quân đội đang thiếu hụt tiếp liệu.

Ông Tướng chằm chằm nhìn tôi một lúc lâu, cuối cùng ông nói:

- Người Mỹ các anh không thường giữ lời hứa với người Việt chúng tôi.

 Ông Tướng tiếp tục nhìn tôi qua làn khói thuốc, chờ đợi phản ứng của tôi. Khi tôi không tỏ thái độ gì, ông nhún vai và bắt đầu thuyết trình. Ông cho biết binh sĩ của ông chiếm giữ những vị trí trên Quốc Lộ 4 và hành quân đến biên giới Kampuchea để bảo vệ vùng lãnh thổ dưới Sài Gòn. Khu vực này phần lớn là những cánh đồng ruộng trồng lúa. Tinh thần binh sĩ rất cao, ông có thể ngăn chống lực lượng địch cấp sư đoàn của Bắc Việt trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên tinh thần binh sĩ có thể suy sụp nếu sư đoàn đối đầu với lực lượng địch lớn hơn và nếu đạn dược hao hụt. Ông tiên đoán rằng quân Bắc Việt sẽ tấn công sớm, mà ông thì không có tái tiếp tế. Sư đoàn ông đang trực diện với Sư Đoàn 9 Bắc Việt do Tướng Di Thiên Tích chỉ huy, mà đã chiến đấu trong khu vực này từ trước năm 1965.

- Tướng Tích có thể là tướng chỉ huy xuất sắc nhứt mà Bắc Việt có. Anh có biết chiến hiệu (slogan) của sư đoàn ấy là gì không? Là “Quét Sạch Kẻ Thù”. Kẻ thù ấy là tôi.

Có nọc độc trong giọng nói của ông. Quân Lực VNCH đang sụp đổ ở phía Bắc, ông buồn phiền và cay đắng. Không giống như Tướng Hưng, Tướng Hai không triết lý cho tương lai. Ông giận dữ. Tôi đưa ý kiến rằng có thể có cuộc thương thuyết ngừng bắn mà từ đó bảo vệ được chủ quyền của chánh phủ Miền Nam. Ông Tướng nhìn tôi không nói, tôi không rõ ông đang nghĩ gì. Khi tôi trở về Cần Thơ, tôi báo cáo với Jim D. buổi gặp mặt ở Sư Đoàn 7 Bộ Binh, rồi kết thúc bằng sự việc ông Tướng muốn đạn dược và cơ phận. Jim D. nhíu mày nhìn tội

- Đưa chuyện ấy vào báo cáo gởi cho Washington, và đứng nói với tôi nữa.

 Tôi thường xuyên đến thăm Chuẩn Tướng Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Ông hiếm khi cười. Ông Tướng thường ngồi trên một cái ghế gỗ đằng sau bàn làm việc, ẩn đằng sau khói thuốc khi tôi đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương gần biên giới Miên. Mỗi lần nói chuyện với nhau, thì ông Tướng thường gợi lại những điều mà ông cho là “Sự Can Thiệp Đầy May Rủi” của Quân Đội Hoa Kỳ. Những điều ông nói, đại khái như:

- Giữa hai nền văn hóa có một sự khác biệt lớn lao, người Mỹ các anh luôn muốn chúng tôi suy nghĩ và hành động y hệt như các anh. Thực ra thì chúng tôi đâu có thích các anh hay chánh sách của các anh… Anh có nghe tôi không? Chúng tôi không thích các anh bảo chúng tôi phải làm gì. Nhưng chúng tôi cần sự giúp đỡ để tồn tại, và chúng tôi biết các anh có lợi thế nhìn chúng tôi sinh tồn. Nhưng không có nghĩa là các anh có quyền xía vào công việc và nền văn hóa của chúng tôi.

Tại sao các anh không đưa quân vô Kampuchea. Quân Bắc Việt đang ở đấy đấy, tại sao các anh thì không? Nếu các anh vượt đường xa đến đây để chận đứng chủ nghĩa cộng sản, tại sao các anh không tiến vào đất Miên nơi có những căn cứ của cộng quân rồi đánh cho chúng tiêu tùng. Tại sao các anh không vào Lào? Tại sao các anh không dùng cơ giới nặng ủi sạch con đường Hồ Chí Minh ở đó. Tình hình quân sự ở đây rất đơn giản. Tại sao các anh hành động như những thằng khùng? Người Việt chúng tôi cho là các anh khùng. Anh nói gì về điều đó, anh CIA? Các anh ngáo làm việc cho một tổ chức ngáo.

 Sau khi ông Tướng đã giảng thế nào là cách điều khiển chiến tranh, sau khi gọi tôi bằng đủ thứ danh xưng, lập đi lập những chuyện ấy, nổi giận lên, thì ông mới nói tới chuyện quân tình trong khu vực. Trong những lần tiếp xúc tại Bộ Tư Lệnh, dần dà giữa ông Tướng và tôi cảm thấy thoải mái với nhau hơn. Không thân thiết, nhưng thoải mái, chúng tôi biết vị trí của nhau. Có thể là do thời gian hai năm ở Lào tôi có nhiều bạn bản xứ, nhưng cũng có thể ông Tướng nhận biết được sự cảm thông và kính trọng của tôi đối với cảm niệm của ông về Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm ở thời điểm mà rất nhiều cấp chỉ huy khác chỉ nghĩ đến bản thân họ. Cũng có thể khi chúng tôi cảm thấy thoải mái vì tôi là người khách thường xuyên của sư đoàn.

 Thượng Nghị Sĩ Frank Church phát biểu trong cuộc họp Thượng Viện ngày 10.4.1975, nói rằng thế là đủ rồi (enough is enough), Quân Đội Nam Việt Nam tự lo liệu lấy. Trong khi đó thì Hạ Viện cũng đã bác bỏ yêu cầu quân viện khẩn cấp 722 triệu mỹ kim và 250 triệu cho kinh tế của Tổng Thống Ford (con số này là do Tướng Weyand lập ra và đệ trình sau khi đi quan sát tình hình quân sự ở Việt Nam về. Còn con số 700 triệu cho tài khóa 1974-1975, rồi bị cắt xuống 300 triệu đã bị cắt bỏ tàn bạo từ lâu). Quốc Hội chỉ đồng ý cấp ngân khoản dùng cho việc di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.

 Ngày hôm sau, trực thăng của Air America (có hợp đồng chuyên chở cho CIA) đưa tôi đến gặp Tướng Hai. Ông Tướng không đứng dậy chào khi tôi bước vào văn phòng. Rất bất ngờ như bước ra từ cõi sương mù, ông nói chậm rãi, hành động của chánh phủ tôi giống như cục phân, nghị sĩ Church xấu xa hơn Hitler, nước Mỹ không còn danh dự, quân đội nước tôi đã vi phạm quy luật hành xử chung của chiến sĩ khi quay lưng với chiến hữu và bỏ rơi họ trên chiến địa.

 Ông Tướng đứng dậy và tiến đến gần tôi, đôi mắt ông đỏ hoe, bàn tay ông sờ vào báng súng lục, chằm chằm nhìn tôi không che dấu sự giận dữ từ thái độ của ông. Trong trạng thái căng thẳng đến điểm khó kiềm chế, những ngón tay của ông nắm chặt lấy báng súng. Khoảnh khắc ấy qua đi, ông thở dài:

- Tôi có thể giết anh nhân danh những con người dũng cảm đã hy sinh trong cuộc chiến này. Tôi có thể giết anh vì chánh phủ của anh đã không cố gắng chiến thắng.

Tôi đứng lặng thinh, run rẩy. Tôi nhỏ nhẹ nói:

- Chiến tranh đang tàn lụi, cuộc chiến đấu đã hoàn thành. Ngài phải chấp nhận những gì đã xảy ra, ngài phải chấp nhận số phận.

Chuẩn Tướng Hai hỏi lại:

- Tôi nghe ông Kissinger của anh ngày kia nói rằng Việt Nam đã chết. Ông ta có biết là chúng tôi vẫn còn sống ở đây không?

 Tôi không thể trả lời. Cuối cùng thì ông Tướng nhún vai, giọng khàn đục không còn hơi. Ông nói cho tôi nghe tin tức mới nhứt về cuộc điều quân của quân địch mà ông quan sát từ trên phi cơ trên vùng biên giới Việt-Miên. Ngày hôm sau, 15.4.1975, tôi bay đến Sư Đoàn 7 từ sáng sớm. Như thường lệ, ông Tướng rầy rà tôi về hành động của Hoa Kỳ:

- Đâu là người bạn của Miền Nam khi Miền Nam cần? Tôi có thể gọi ai đây? Quân giặc đã đến ngưỡng cửa của chúng tôi rồi, đất nước tôi trong cơn nguy khốn tận cùng. Ai sẽ tới tiếp cứu chúng tôi?

Phía bên kia biên giới Miên, ông đã quan sát thấy quân cộng tập trung lên con số đông đảo, cơ giới và chiến cụ liên tục di chuyển đến hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày.

- Phi cơ bỏ bom của các anh đâu? Chúng ta đã trông thấy địch lộ diện, đúng là thời điểm dội lên đầu chúng. Chúng chuyển quân rầm rộ trước chiến sĩ của tôi, tôi cần giúp. Hãy giúp tôi, anh bạn CIA.

Như thường lệ, ông ngồi trên chiếc ghế gỗ nhìn tôi sau màn khói thuốc.

 Ngày 17.4.1975, Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ. Tôi khởi sự đến gặp Chuẩn Tướng Hai mỗi ngày. Ông Tướng cho biết quân Bắc Việt tiếp tục tập kết ngay phía bên kia biên giới, chúng đưa đến chiến xa, cầu nổi và pháo binh. Bộ đội mới, tươi rói đã đến mà ông suy đoán sẽ là nỗ lực chánh tiến đánh Sài Gòn. Đó là mục tiêu thực sự của cộng quân. Cộng quân tập trung đông đảo như vậy không phải là để tấn công Sư Đoàn 7 Bộ Binh hay chiếm lấy QL4. Thỉnh thoảng tôi đến thăm Chuẩn Tướng Hưng ở Cần Thơ. Ông biết rõ tình hình quân sự toàn quốc, nhưng ông vẫn bình tĩnh và vẫn thư thả đợi cái gì tới sẽ tới . Mười sáu tỉnh của vùng châu thổ chưa có thành phố nào rơi vào tay cộng quân, với một nửa dân số của Miền Nam vẫn được an toàn.

 

Trong cuộc gặp ngày 19.4.1975, Tướng Hai cho tôi biết có vẻ như là không có thêm quân cộng tập kết ở vùng biên giới nữa, chúng đang điều động đến các vị trí. Ông nghĩ rằng khi chúng bắt đầu đội hình với bộ đội mới vào ở gần biên giới, phía sau những đội công binh bắt cầu, với đoàn chiến xa nặng húc về phía Sài Gòn, cuộc tấn công sẽ nổ ra. Cộng quân sẽ mất bảy ngày để xuất phát từ đất Miên vượt qua vùng Đồng Tháp Mười và tiến về Sài Gòn. Sư Đoàn 7 của ông Tướng chỉ có thể làm chậm tốc độ tiến quân của chúng mà thôi. Tướng Hai nói:

- Chúng tôi không thể chận đứng chúng, quân địch quá đông mà quân chúng tôi quá ít.

 

Ngày 21.4.1975, Xuân Lộc, một trong những cứ điểm cuối cùng của QLVNCH ở phía Bắc Sài Gòn thất thủ (thiệt ra chỉ di tản theo lịnh của Trung Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III&Quân Khu 3 về bảo vệ Sài Gòn), sau khi đã anh dũng chận đứng đà tiến của một lực lượng lớn quân Bắc Việt. Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từ chức trong ngày ấy.

 

Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh SĐ7BB trong ngày 22.4.1975. Phòng làm việc của ông Tướng tối quá, ông đang ngồi trên chiếc ghế quen thuộc và hút thuốc.

- Những chiến xa nặng của Bắc Việt đang vào đội hình, bộ binh dàn trận phía sau. Chúng sắp sửa xuất phát, Sài Gòn sẽ rơi vào tay Bắc Việt trong vòng bảy ngày, 29.4.1975.

 

Ông Tướng đưa cao chiếc tách cà phê nóng lên, làm một cử chỉ vinh danh những người lính đã hy sinh và chào đón tương lai, nhưng ông không cười. Ý định của quân cộng thiệt rõ ràng đối với Chuẩn Tướng Hai. Chúng sẽ đánh lấy, chiếm được Sài Gòn trong bảy ngày nữa, mà Sư Đoàn 7 thì không thể chận chúng lại được. Tôi đến gặp Chuẩn Tướng Hưng buổi chiều cùng ngày. Ông cho hay từ buổi sáng sớm quân Bắc Việt đã vượt biên giới ở khu vực gần các đơn vị của Chuẩn Tướng Hai và tiến về hướng Sài Gòn. Tướng Hưng đã lệnh cho lực lượng ít ỏi Không Quân và Pháo Binh chuẩn bị chống lại cuộc tiến quân của quân địch, nhưng có lẽ cũng không làm chúng khựng lại được. Ông Tướng vẫn vẻ bình tĩnh và giữ gia đình gần bên.

 James E. Parker cùng các đồng sự CIA giúp được nhiều nhân viên Việt Nam và thân nhân ở Cần Thơ thoát được ra biển trong những ngày cuối cùng và được vớt lên chiếc tàu buôn Pioneer Contender.

 Đứng trên cầu tàu, tôi quay nhìn về hướng Việt Nam, bất giác tôi chợt nghĩ trong một thoáng thiệt rõ ràng, rằng dù chúng tôi đã thua trận, nhưng chúng tôi đã hành động đúng khi tới đó và chiến đấu. Lịch sử sẽ rộng lượng phán xét ý định tốt của chúng tôi đến giúp cứu một đất nước bị xâm lấn. Chúng tôi đã không thắng vì những chánh trị gia, những nhà hoạch định chánh sách Hoa Kỳ đã đưa ra những quyết định xấu xa đầy tội lỗi, từ lúc khởi đầu cho tới lúc tàn cuộc.

 Đối với tôi, cái di sản bất tử của cuộc chiến là những người lính đã đáp lời gọi của đất nước, hy sinh thân sống ở Việt Nam. Trong thời điểm của những giá trị chao đảo, họ đã khẳng định những nguyên tắc trường cửu của Trách Nhiệm.Vì Tổ Quốc họ đã tự dấn mình trong những truyền thống Mỹ đẹp đẽ nhứt của những người lính chiến Mỹ. Họ đã chết trẻ rất Danh Dự trong chiến tranh. Mỗi người lính đều là những anh hùng.

 Hướng về phía bờ biển, tôi đứng nghiêm chào đúng quân cách, chậm rãi. Tôi đứng lặng thinh trong một khoảnh khắc, rồi quay người đi xuống bên dưới. Cuộc chiến đã chấm dứt.

Trắc trở hàng ngàn người tỵ nạn Việt Nam, con tàu Pionneer Contender nhổ neo buổi sáng sớm hôm sau hướng mũi tàu tiến về hướng Đông. Việt Nam mờ nhạt dần từ phía sau.

 

PHẠM PHONG DINH

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI MỸ VỀ CẤP CHỈ HUY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4.1975, Phạm Phong Dinh
Comment

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

March 13, 2026 Ninh Tran

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG

 Cũng như nhiều người trong chúng ta, trong những ngày tĩnh lặng của tuổi vào thu, tôi mong còn dịp trang trải những điều giữ trong tâm qua bao năm tháng dài của cuộc đời, để tìm thanh tịnh cho tâm thần.

Một trong những hoài vọng này là được gởi lời cảm tạ đến những người đã đi qua đời tôi và đã ít nhiều cho tôi diễm phúc được yêu, dù tôi có biết hay không, dù tôi có nhớ những phút giây hạnh phúc này không, và nhứt là tôi có hình dung họ là ai hay không.

Lý do tôi hơi dài giòng nơi đây vì từ tuổi trưởng thành và đi xây cuộc đời mới trên quê hương thứ hai sau khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn một ngày đất thảm trời sầu tháng tư đen, tôi không còn nhớ nhiều về quãng đời trước đó. Không nhớ không phải vì tôi không muốn nhớ, nhưng trong tâm tưởng của tôi, một phần rất lớn của dĩ vãng chỉ là một tờ giấy trắng, không hình ảnh, không ký ức. Tôi không buồn lắm vì quanh tôi còn có người thân, gia quyến đôi khi nhắc nhở hay đem lại cho tôi vài khoảng của dĩ vàng mà tôi đã quên.

 

Một người bạn y khoa biết tôi như thế, có nhã ý giúp tôi nhìn lại những vùng dĩ vãng đã mất bằng y thuật hypnosis nhưng sau khi cân nhắc kỹ càng tôi cảm ơn lòng thành của người bạn này nhưng đành khước từ nhã ý ấy. Theo tôi nghĩ, nếu tiềm thức của tôi đã khiến tôi quên những khoảng thời gian đó chắc nó có lý do rất chính đáng.Trong cuộc sống nhiều cam go này có những trường hợp quá bi lụy khiến con người phải cố mà bỏ qua cho được để còn tiếp tục sống và thích nghi với đời sống mới. Vì thế tôi chấp nhận một đời sống với đầy khoảng trống trong ký ức.

Nhưng có những lúc tôi buồn vì với thích ứng đó tôi đành phải chấp nhận mất đi những khoảnh an vui của thời dĩ vãng vì hình như ký ức tâm tư không lúc nào cũng phân biệt và chọn được phần nào nên quên, phần nào phải giữ lại, nên quên phứt tất cả. Tôi không quá buồn vì không giữ được những kỷ niệm vui nhưng điều tôi buồn nhất là tôi đã không nhớ được nhiều người đã thương tôi, yêu tôi trong dòng đời dĩ vãng, bạn bè, thân quyến gần xa, người yêu, người tình. Nên hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn những người đó đã có thạnh tình với tôi và cũng xin lỗi họ nếu ngày xưa đó họ nghỉ tôi không quan tâm hay trọng tình ý của người chung quanh mình nhứt là nếu tôi, vì lý do nào tôi không nhớ, đã phụ chân tình của họ.

Hôm nay tôi viết bài này vì tháng qua trong một cuộc họp gia đình của chị em chúng tôi lâu năm sống phân tán nhiều nơi trên xứ Mỹ và châu Âu, tình cờ một người em tôi hỏi về một người yêu cũ của tôi ngày vừa mới lớn. Tôi ngẩn ngơ không biết người đó là ai và cô em của tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu làm sao mà tôi không nhớ người đó,

Yến bào tôi rằng

“Chị thật tình không nhớ sao. Ngày xưa đó chị khóc cả tuần vì cha chúng mình muốn gả chị đi lấy chồng nhưng chị không chịu vì người yêu của chị vừa ngỏ ý với chị”. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, tôi phải vâng lời nghiêm đường mà tiến tới cuộc hôn nhân với một người chưa từng quen biết. Đó là một trong những chuyện não lòng mà tôi đã không còn ý thức.

  Lại một lần nữa, cũng trong một cuộc họp mặt gia đình khác, có một người đến, tự giới thiệu là cháu của tôi. Phượng nói "ba cháu mất rồi nhưng mẹ cháu vẫn hằng nhắc đến cô, mẹ mến cô lắm vì ngày xưa khi mẹ về với cha cháu, cô đã đón mẹ cháu vào gia đình rất  nồng hậu, mẹ cháu gởi lời thăm cô". Lại một lần nữa tôi ngần ngơ và khó lòng, khó xử không biết nói gì hơn là lí nhí lời cám ơn, vì tôi không nhớ họ là ai cà. Thật buồn cho những mất mác đó.

Ngày nay tôi tự hỏi nhữngchuyện quan trọng như thế mà tôi không nhớ thì còn những chuyện gì khác mà tôi đã quên. Nhưng thôi, những gì đã qua thì nên cho đi qua, buông xả trên dòng tâm linh.

Đời người là thoáng trăm năm, thoáng đến, thoáng đi trong chốn phù vân. Ai biết ngày mai sẽ ra sao, và biết ai còn ai mất.

Nên hôm nay tôi xin viết lời tạ từ cám ơn về những người đã đi qua đời tôi, đã cho tôi ít nhiều hạnh phúc. Và cùng lúc tôi xin gởi lời chân thành tạ lỗi với những người mà tôi vô ý hay không cố ý làm họ buồn.

Về người yêu mà em tôi vừa nhắc, tôi xin chân thành gởi lời xin lỗi muộn màng vì tôi không vẹn tình nghĩa với anh.

Và những người khác mà tôi không nhớ cũng xin cho tôi gởi lời từ tạ và cám ơn.

   Nhưng, viết để mà viết chứ trên thực tế những lời cảm tạ và xin lỗi này chỉ là làn gió thoảng trong mênh mông không trung hay dải Ngân Hà nhiều tinh tú, vỉ làm sao mà đến được người nhận khi tôi không còn biết họ là ai, những người của dĩ vãng mịt mờ sương khói.

Thành ngữ Pháp có câu “L’homme propose mais Dieu díspose”. Tôi không muốn dịch sát nghĩa nhưng tương tự tiếng mình cùng ý nghĩa “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”phải đồng có cùng lúc thì mới đủ căn duyên cho sự hữu hình của sự việc. Vì thế, dù bao mong muốn nhưng lời cảm tạ và xin lỗi, tôi có cơ duyên được viết nhưng người có nhận được hay không còn tùy duyên nợ của họ đối với tôi.

Dù sao tôi cũng mong rằng những lời chân thành muộn màng này giải tỏa được phần nào nợ duyên của tôi trong dòng đời dâu bể và cho tôi giấc ngủ bình an trong mùa thu đông của cuộc đời.

 Hôm nay, ngồi viết bài này bên giòng liên hoa trên sóng, tôi nghe lòng thanh thản, không buồn không vui, những ước mơ như cánh chim trời hay nước xuôi về biển cả, với lời cầu nguyện thầm lặng, tôi xin buông xả những điều sân si của cuộc sống, để tâm lắngđọng trên dòng thiên nhiên.

Tôi cũng xin cảm tạ ân trời, tình đất mẹ thiên nhiên luôn ban cho ta nguồn tĩnh lặng, những vẻ đẹp đất trời tuyệt mỹ, cho ta được lắng dịu tâm trần lao chao và tìm nguồn chân như trong bể dâu đời sống.

 THƠ: TRÊN SÓNG LIÊN ĐÀI

Đây vùng trời nước rạng vầng dương,

Lững thững thuyền mây cánh buồm trương,

Đôi cánh hạc ngàn đùa mây sóng,

Dịu dàng làn gió vén màn sương,

 

Ríu rít rộn ràng tiếng gọi đàn,

Lành lót trong sương liệng én vàng,

Du dương trên gió trầm bỗng sóng,

Văng vẳng trời xa khúc tiêu ngàn.

 

Trên sóng liên đài sương ngọc ngời,

Áo hoa phơn phớt ánh vàng trời,

Dìu dịu khúc trong vờn đá cuội,

Sơn tuyền trầm mặc tiếng sương rơi.

 

Tĩnh lặng hư không trời bâng khuâng,

Đạt thành ai quảng chốn phù vân,

Ngộ giác duyên phần trong tĩnh mịch,

Chân như huyền ào rạng tâm trần.

 

Trên sóng liên hoa bùn chằng đọng,

Sơn tuyền lờ lững cánh bè rong,

Hồn thiên nghệ sĩ hòa thi nhạc,

Tuyệt mỹ an nhiên vẽ non bồng.

 

Bồng lai tiên cảnh chằng đâu xa,

Chẳng vùng phố thị, chốn phồn hoa,

Dù ai vằng tiếng lời phù ảo,

Chằng chao thanh tịnh tâm an hòa.

 

Sơn lâm đồi núi tiếng quê nhà,

Văng vẳng trong sương lời sơn hà,

Năm châu bốn bể đường vinh nhục,

Giữ rạng vào hồn tiếng mặn mà.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG
Comment

Hồi Ký Của Một Bác Sĩ ( Võ Tam Anh)

March 8, 2026 Ninh Tran

Một bác-sĩ “cách-mạng” từ Bắc vào, hăm-hở đến tiếp-thu bệnh-viện Vĩnh-long sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã thốt ra câu nói đầu tiên với chúng tôi : "Các anh là kẽ thù của nhân-dân, đáng tội chết..." Tuy mới mấy ngày sau khi "giải-phóng" nhưng tai chúng tôi cũng đã quen với câu nói đó, chỉ có khác là lần này được phát ra từ miệng một bác-sĩ mà chúng tôi chờ đợi để hy-vọng thấy được một nụ cười hay một chút thông-cảm trong tình đồng-nghiệp. Chẳng khác gì những cán-bộ khác, bác-sĩ cũng tuông ra câu học thuộc lòng: "Nhưng Đảng và Nhà-nước khoan-hồng tha tội chết cho các anh..."

May thay, chúng tôi được tha tội chết, nhưng thay vào đó, phải lảnh cái án "dở sống dở chết " kéo dài năm này qua năm nọ trong các nhà tù, nhường sự-nghiệp lại cho các đồng-nghiệp mới, huênh-hoang trong cái độc-quyền nhân-đạo với các bảng hiệu « Lương Y như Từ-mẫu » treo nhan nhản khắp xó xỉnh trong bệnh-viện.

Có lẽ Cụ Hippocrate ở dưới suối vàng cũng không khỏi phẫn-nộ khi các môn-đệ ở Miền Bắc không chịu học lời thề Cụ dạy trước khi ra trường:

"Tôi thề sẽ giúp đở các đồng- nghiệp và gia-đình họ trong cơn ngặt nghèo, tôi sẽ mất hết danh-dự và bị khinh-bỉ nếu tôi không giữ lời thề đó".

Trước mặt thì đồng-nghiệp gọi chúng tôi bằng "anh", nhưng quay lưng lại là "thằng", là "chúng nó" ngay, không hiểu là vì thói quen, vì văn-hóa, vì mặc-cảm hay vì chính-sách.

Ngày đầu tiên mới đặt chân lên đất Bắc trên con đường lưu đày, khi mà tầm mắt đang còn ngỡ-ngàng với rừng sâu núi thẳm, khi mà thể xác và tinh-thần chưa lai tỉnh qua cuộc hành trình định-mệnh kinh-hoàng, thì chúng tôi được đón tiếp vồn-vã bởi một đồng-nghiệp. Vồn-vã không phải để thăm hỏi sức khỏe hoặc để an-ủi một lời nào, mà để tịch-thu thuốc men và dung cụ y-khoa mà chúng tôi mang theo, nhất là để tò mò tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống "phồn-vinh giã-tạo" ở trong Nam.

Câu nói đầu tiên và gần như là câu chào hỏi ở cửa miệng mỗi khi gặp nhau: "Anh ăn mấy lạng ?" (gạo mỗi ngày), làm chúng tôi bở ngở không biết đâu mà trả lời. Thì ra cái quan-tâm hàng đầu của nền y-khoa miền Bắc là cái bao-tử, và xã-hội được chia ra làm nhiều loại bao-tử khác nhau tùy theo đẳng-cấp và sự trung-thành với Đảng: 120 lạng ,150 lạng, 170 lạng.... cái hàn-thử-biểu để đo vị-trí mình trong xã-hội. Kế đó là thắc mắc về những phần thịt đươc bồi-dưỡng trong những ngày lể, ngày Tết…

Thấy chúng tôi không ở cùng một tần-số trong cái hội-chứng đường ruột đó, bác-sĩ bèn lên mặt chỉ-đạo: "Chớ có trốn trại nghe, không thoát đâu ". Quả-nhiên lời khuyên có chấp-chứa ít nhiều tình thật đó lại là không sai. Chỉ có vài ngày sau khi đặt chân đến cái nơi núi rừng chằng chịt mang tên Sơn La đó, khi chưa xác định được vị-trí trong cái bản-đồ mênh-mông của miền Thượng-du Bắc Việt, thì một số anh em đã lần lượt trốn trại rồi lần lượt bị bắt lại để gánh chịu những hình phạt ghê gớm đang chờ sẵn. Trong số đó phải kể đến hai đồng-nghiệp, một Thiếu-tá Y-sĩ- trưởng Trung-tâm Hồi-lực ở Sài-gòn và một Y-sĩ Đại-úy Thủy-quân Lục-chiến, đã thoát khỏi lao tù vì đã trốn qua "bên kia thế -giới" sau khi không thành-công trong cuộc tổ-chức trốn qua "bên kia biên-giới".

Sau một thời gian xáo trộn, chúng tôi gồm có 8 bác-sĩ, 1 nha-sĩ, 2 dược-sĩ được tập-trung lại để thành-lập một "trạm-xá " có nhiệm-vu săn sóc sức khỏe cho anh em tù trong vùng. Bằng những phương-tiện của thời-đại đồ...tre, với kỹ thuật từ thời Hoa-đà, chúng tôi cũng được an-ủi bằng một số thành-công trong nhiệm-vụ chửa trị, và đã lưu lại cho chúng tôi nhiều kỹ niệm khó quên. Anh T. bị bệnh phung cùi, bọn cai tù ghê sợ, biệt giam trong một cái chòi giữa rừng, thường ngày chúng tôi đến thăm viếng, theo dỏi bệnh tình, chia nhau từng củ sắn củ khoai, khích lệ cho nhau cho đến ngày về. Anh H. bị mất trí vì trúng độc khi ăn phải trái cây rừng, suốt ngày la hét, phải cách ly trong một túp lều ở giữa rừng, chúng tôi chia phiên nhau túc trực ngày đêm bên cạnh để canh chừng, nhưng cuối cùng anh cũng qua đời.

Phải kể đến những trường hợp giải-phẩu theo kiểu...rừng, với tất cả liều lỉnh rủi may. Trang-bị bằng một bộ trung-phẩu dã-chiến của Trung quốc và một lò hấp ướt (autoclave), với mấy bình ê-te (ether) và cái masque Ombredane là dụng cụ đánh thuốc mê hở (circuit ouvert) cổ lổ sĩ dùng trước thế chiến 1914-1918. Trong những "bloc" được ngăn cách bởi những tấm phên tre và tấm vải mùng, muổi mòng tha hồ bay lượn, dưới ngọn đèn dầu và đèn pin, mà nhờ trời chúng tôi cũng thành-công được trong nhiều trường hợp, những chấn-thương vì tai-nạn lao-động, hay trường hợp anh N. bị tắc nghẻn ruột, phải giải-phẩu để tái tạo một hậu-môn tạm thời, phải theo dỏi và săn sóc từ A đến Z trong nhiều tháng với sự tận-tình của mọi người nên kết quả rất khả-quan, vân vân và vân vân.

Chúng tôi đã đóng tất cả các vai trò trong việc điều trị, từ lao-công, y-tá, phụ mổ, gây mê, cầm dao, rồi hậu-phẩu, vệ-sinh, giặt giủ v...v...bù lại khỏi phải đi lao-động đốn vầu, đốn nứa, đẩy xe trong những lúc đó.

Một sự tình cờ khiến chúng tôi phải giải-phẩu cấp cứu thành-công cho một tên cán bộ bị viêm ruột thừa cấp-tính mà không biết chở đi đâu. Mấy tháng sau, nhân dịp Tết Nguyên-đán 1978, có mấy cán-bộ trong ban chỉ-huy trại đến cám ơn chúng tôi, và tưởng-thưởng bằng một tấm hình chụp chung mấy anh em chuyên-môn trong bệnh-xá, một kỹ-niệm độc nhất vô nhị của những ngày tù ở Sơn La. Tiếng đồn lên tới Bộ chỉ huy Đoàn. Một số cán-bộ có thiện tâm muốn mở tầm hoạt động của chúng tôi cho dân chúng trong vùng Mường Thải, huyện Phù-yên, nơi mà xưa nay dân chúng chưa hề thấy đươc cục xà bông chớ đùng nói chi đến viên thuốc tây. Thế rồi dân chúng đến xin chửa trị mỗi ngày một đông, tuy thuốc men chẳng có gì nhiều nhưng cũng giúp ích được một số lớn trường hợp và ít ra cũng giúp họ làm quen với y-khoa ngày nay thay vì phải uống lá rừng suốt đời. Khi đặt ống nghe vào ngực, có người đã huênh-hoang khoe rằng là được... rọi điện.

Đông nhất là phần chửa răng. Ngậm một cái răng sâu năm này qua tháng nọ như một cái đinh đóng vào óc, nay được nha-sĩ nhẹ nhàng xoi xỉa với một cái máy quay đạp bằng chân, hoặc nhổ đi mà không đau đớn gì, thật là một điều mà dân Mường ở đó không bao giờ mơ tới.

Một đêm nọ, đang lúc giữa khuya, một cán bộ VC cầm cây đèn bảo xăm xăm bước vào phòng giam chúng tôi, bảo rằng một người đàn bà trong bảng Mường đang nguy kịch vì đẻ không ra đã hai ngày nay. Anh Thức, chuyên môn về phụ-khoa được cử đi cấp-cứu. Trong môt gian nhà sàn rộng rải không có vách ngăn, ở giữa là cái bếp lửa cháy suốt ngày đêm, dăm ba người đàn ông ngồi quanh nói chuyện ồn ào tỏ vẻ lo lắng, ở trong góc một người đàn bà đang quằn quại rên la một cách tuyệt-vọng. Trong khi mọi người bu quanh chăm chú và nghiêm-nghị nhìn anh Thức khám bệnh như nhìn một phù thủy đang làm phép, anh Thức bình tỉnh khám thấy rằng đó là một trường hợp song thai, hai đứa bé ôm quàng lấy nhau mà lại nằm ngang, không đẻ ra bằng đường tự-nhiên được. Phải chở đi bệnh-viện để mổ lấy con ra, nhưng anh Thức quên rằng chuyện đó không thể có được ở đây. Không làm gì hơn được, anh bèn tạm thời dẹp sách vở qua một bên mà cố gắng xoay một đứa cho cái đầu ở vị trí thuận-lợi để ra trước, rồi đến đứa kia, cuối cùng được mẹ tròn con vuông, trong sự rối rít cám ơn của mọi người mà trước đó đã được học tập để coi chúng tôi như những kẽ ác ôn, lúc nào cũng sẳn sàng "cho một mũi tên độc".

Từ đó các cô gái Mường trong bản cũng tự -nhiên hơn, cưới đùa mỗi khi tắm suối mà có chúng tôi đi lao động ngang qua, có khi còn chọc ghẹo nửa. Có anh trong phút chốc bốc đồng đã quên mình là tù đang đói rách, cũng gồng mình nhảy xuống tắm theo, chỉ tiếc là không có sẵn cục xà bông để tặng mấy cô Mường, lúc đó hẳn là muôn phần quý giá hơn cả viên kim cương đem tặng đào ở Sài–gòn nửa. Về sau mỗi cô gái Mường lại đươc đặt cho cái tên của một ca sĩ nổi tiếng, nào là Mai-Lệ-Huyền, Phương-Dung, Giao-linh, Phương-Hồng-Quế v…v…, để rồi lúc chiều về, trong khi ngậm-ngùi nhai từng hột bo bo, thường kể cho nhau nghe rằng hôm nay đi rừng gặp được ca-sĩ nào, ai nghe tưởng như mới đi phòng trà về mà tạm quên trong giây lát cái cảnh nước sông công tù mình đang sống.

Một hôm, một cô giáo hớt ha hớt hãi tìm tới chúng tôi, vì chồng cô, một bộ đội công-tác ở trong Nam được về nghỉ phép, bổng nhiên thấy mình mẩy nổi mề-đay lên đỏ rần, ngứa khắp cả người. Chúng tôi đoán là bị dị-ứng với trứng gà, vì thường ngày đi lao-động ngang qua trường học, thấy cô giáo cứ o bế mấy con gà để chờ ngày chàng về mà bồi-dưởng. Chúng tôi bèn lục lạo đươc mấy viên thuốc Phénergan đưa hết cho cô.

Mấy hôm sau đi lao-động gặp lại, chúng tôi hỏi : "Sao ? Anh nhà đã đở chưa ?" Cô vui vẻ trả lời : "Thuốc các anh cho hay quá, khỏi ngay". Chưa kịp hỏi thêm thì bổng thấy cô cúi mặt e thẹn, ấp úng nói thêm như không muốn cho chúng tôi nghe: " Nhưng ngủ li bì, về phép có năm ngày mà ngủ như chết suốt cả năm ngày" .Chúng tôi hối hận vì đã cho thuốc ngủ mà không dặn trước, làm cho cô phải bỏ lở một cơ-hội bằng vàng !

Thế rồi trạm-xá càng ngày càng đông khách, dân chúng từ xa cũng nghe đồn kéo lại để cho trạm-xá được hoạt-động đúng với danh-nghĩa y tế của nó. Thiện-cảm và uy -tín càng tăng thì, ngược đời thay, cấp chỉ-huy Trại càng lo lắng. Cuối cùng, Uỷ-viên Chính-trị trên Đoàn lập tức ra lệnh không được khám bệnh cho dân nửa, vì trái với chính-sách, và ný-nuận rằng từ mấy ngàn năm nay họ đã chửa trị bằng lá rừng thì đã sao đâu !

Chúng tôi trở lại lao-động, cũng đốn vầu đốn nứa như những anh khác.

Phải cái tội cao giò, tôi thường được chọn đi công tác gánh hàng ở xa, để gánh luôn tất cả tủi nhục của kiếp làm… tôi mọi. Buổi sáng ra đi thì còn dể chịu, trời mát, gánh nhẹ. Nhưng buổi trưa lúc trở về, trời nắng gắt miền núi như đốt cháy da, lại phải leo đèo, mồ hôi chảy giọt, bụng đói cồn cào, cái đầu nặng trỉu, chiếc đòn gánh đè nặng trên vai đang nghiền nát da thịt như những con dao. Người cán-bộ đi theo cũng không quên máng thêm vào chiếc nón cối, cái áo trấn-thủ mà hồi sáng mang trong người vì trời lạnh, nay không cần nửa thì tội gì mà không để cho rảnh tay, vì tay đang bận cầm cây roi, một thứ thời trang của cán-bộ quản-giáo khi đi bên cạnh tù. Đã thế mà khi gặp một bạn đồng-hành, cán-bộ cũng không quên niềm-nỡ mời :"Đồng-chí có mang gì không, đưa cho nó gánh luôn". Tôi nghe mà rụng-rời, mắt hoa lên mà không dám nhắm lại vì sợ ngả sẽ không bao giờ dậy lại được, cũng không dám nhìn xa hơn mấy đầu ngón chân vì sợ không đủ can-đảm để bước thêm...

Một hôm vì nhu-cầu cấp-cứu một bệnh-nhân tù đang nguy kịch, tôi được cử theo một cán-bộ đến bệnh-viện Phù-yên để xin mấy chai nước biển. Đã lâu bị giam hãm giữa bốn bức tường núi, nay được dịp thấy lại làng mạc với cảnh sinh-hoạt của nhân-dân, lòng cũng không khỏi thích-thú vì tầm mắt đươc hé rộng ra một chút và thỏa -mãn thêm tánh tò mò nghề-nghiệp muốn biết tổ-chức y-tế miền Bắc ra sao mà các "đồng-nghiệp " đề cao như là đúng hàng đầu trên thế-giới.

Huyện Phù-yên thuộc tỉnh Sơn La, nằm giữa một thung-lũng nhỏ, bốn bề là núi nhưng rất nên thơ. Từ trại tới huyện phải đi qua ngọn đèo Bang xinh xinh, có con đường mòn uốn quanh, có hoa rừng thơm ngát. Từ trên nhìn xuống gần giống như một bức tranh Tàu, mờ mờ ảo ảo., rải rát nơi nơi là nhũng túp lều lụp xụp bám theo sườn núi.. Bước vào huyện phải qua một con suối lớn, mùa khô thì chỉ là một suối đá hiền-hòa thơ-mộng, nhưng khi mưa xuống thì trở nên một thác lũ kinh-hoàng. Bắt ngang qua suối là một cây cầu treo, gió thổỉ đu đưa, mà lại được anh em tù gán cho cái tên rất hấp-dẩn để cho trí tưởng-tượng được nâng cao là cầu Golden Gate. Mỗi khi gánh hàng qua Golden Gate, tôi có cảm-tưởng như mình đang là một nghệ-sĩ đu giây trong một đoàn xiệc mà có thể hụt tay bất cứ lúc nào..

Bên kia cầu là một túp lều không vách, gió lộng bốn phía, đó là trường học với dăm bảy em bé ốm tong teo, bụng ỏng thề lề, mỗi đứa cầm một que củi đang cháy quơ qua quơ lại trước người cho đở lạnh trong những bộ áo Mường mỏng manh. Trong khi các em nghêu ngao hát bài "Hôm qua em mơ thấy Bác Hồ...." thì cô giáo đang chăm chú ngồi vá áo, mắt đăm chiêu, hình như cũng đang mơ thấy những chuyện mà dĩ-nhiên khác hơn là thấy Bác Hồ. Hình ảnh đó làm cho tôi có cảm tưởng rằng Cụ Cao-Bá-Quát đã đi ngang qua đây để cảm-hứng mấy câu thơ:"Một thầy một cô một chó cái, Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi."

Bên cạnh trường là một cái "cối giả gạo" có lẽ đã được sáng chế từ đời vua Thần Nông. Nước từ con suối nhỏ đươc dẩn qua một máng xối đục từ một thân cây, chảy xuống một thân cây dài khác, một đầu là cái chày, đầu kia đục thành một máng chứa nước. Hể máng đầy nước thì cái chày tự -động ngóc lên, rồi nước bị đổ ra ngoài để cho chày giả xuống cái cối ở đằng trước. Cứ thế mà tiếp-tục, cối cứ giả ngày giả đêm, tạo nên một tiếng đập nhịp nhàng khô khan để đánh thức cô giáo và lủ học trò khỏi ngủ gật.. Năm thì mười họa, một năm vài lần cối mới có gạo để giả, vì dân phải đóng cho nhà nước hết ba phần tư số thu hoạch, vốn đã nghèo nàn trên những mãnh ruộng bằng bàn tay xếp thành từng tầng trên sườn núi.

Khi đến cổng bệnh-viện, tôi được chứng-kiến một cảnh tấp-nập khác thường, nghỉ bụng rằng chương-trình y-tế ở đây đã thành-công vì được dân-chúng hưởng-ứng đông đảo. Mọi người bu quanh một tấm bảng, hình như để theo dỏi một thông-báo gì quan-trọng của bệnh-viện về một biện-pháp y-tế nào đó chăng. Lại gần, tôi thấy rõ thông-báo như sau "Hôm nay bệnh-viện có mổ lợn, bán theo giá chính-thức. Đồng-bào nào muốn mua xin ghi tên ở phòng ngoại-chẩn". Tôi suýt té ngửa vì sau bao nhiêu năm hoạt động trong ngành y- tế tôi vẫn chưa biết được rằng cung-cấp thực-phẩm cho dân chúng cũng là một khía cạnh trong chương-trình y-tế.

Trái với cảnh xôn-xao ngoài cổng, trong bệnh viện lại vắng tanh. Tìm cho ra người thủ-kho để xin thuốc thì được biết cô gái Mường này bận đi hái bông lau về làm nệm để tặng một cô bạn gái sắp về nhà chồng, một tục-lệ không thể bỏ được của người Mường. Lân la mãi mới gặp được bác-sĩ trực, vị này không mấy niềm-nỡ vì đang bận cải-hoạt (có nghĩa là cải-tiến sinh-hoạt để cho đời sống vui tươi hơn) bằng cách ngốn nghiến mấy củ khoai. Bác-sĩ trực cho biết "Chỉ có bác-sĩ thủ-trưởng mới có quyền quyết-định, nhưng bác-sĩ đang bận mổ."

Tôi thất-vọng chán chường, nghỉ đến bệnh-nhân ở trại đang hấp-hối mong chờ mấy giọt nước hồi-sinh, nghỉ đến con đường về vừa nắng gắt vừa phải leo giốc, nghỉ đến cái dạ-dày đang cồn-cào vì sáng nay không may đọc được mấy chữ "thịt lợn" trên bảng thông-cáo mà nước bọt cứ chảy dài (chẳng lẽ tôi lại biến thành con chó của Pavlov, hể nghe tiếng chuông là dịch tiêu -hóa cứ tuôn chảy, rồi hay sao?) Tôi buồn rầu thất vọng, không biết bao giờ bác-sĩ trưởng mới mổ xong, vã lại áo quần lem-luốc thế này làm sao gặp được bác-sĩ ở khu giải -phẩu. Tôi đánh bạo tìm đến bác-sĩ trực hỏi : "Thế tôi có thể gặp bác-sĩ thủ -trưởng được không ?"

Lần này vị y-sĩ trực vui vẻ trả lời (vì đã ngốn xong mấy củ khoai): " Được chứ, có gì đâu, anh ấy đang bận mổ lợn dưới ao đấy mà". Tôi như từ cung trăng rơi xuống !

Quả nhiên, cách đó không xa, cạnh bờ ao, năm ba người đang bao quanh một con lợn đã cạo lông trắng nõn nằm trên một tấm thớt lớn. Trong khi đó, bác-sĩ thủ-trưởng bệnh-viện, mình trần, quần xắn tới bẹn, áo bờ-lu vắt ở hàng rào, đang nhanh nhẹn ra tay mổ bộ đồ lòng với tất cả sự nhanh nhẹn và khéo léo của một...đại giải -phẩu gia. Lẽ tất nhiên tôi phải chờ cho ông bạn đồng-nghiệp thanh toán xong con lợn để giải -quyết cho mấy chai nước biển rồi mới hân-hoan ra về. Ra tới cổng, tôi gặp lại đám dân-chúng cũng đang hân hoan thở phào nhẹ nhõm như tôi khi được tin bác-sĩ đã mổ xong.... lợn.

Trên đường về, lần này chiếc đòn gánh đè nặng lên vai không còn cho tôi cảm-giác đau đớn như trước nửa, vì đầu óc tôi đang bị ám-ảnh bởi một ý-tưởng muôn phần nặng-nề hơn, vì tôi đã nhìn thấy được sự thật, đã chứng-kiến tận mắt một hiện-tượng sinh-hoạt phản-ảnh lối sống của những "đồng-nghiêp" bên kia bức màn tư-tưởng.

Phương-vũ VÕ Tam-Anh.

In Văn Hóa, Quán Chiếu, Giáo Dục Tags Hồi Ký Của Một Bác Sĩ, Võ Tam Anh
Comment

CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ (VŨ THẾ THÀNH)

March 2, 2026 Ninh Tran

  1. Tôi không hiểu sao, tiếng Việt mình gọi là tình mẫu tử, tình phụ tử - chữ tình bao hàm bản năng trong đó, không thể tách rời. Nhưng hiếu thảo lại là - "lòng" hiếu thảo. Chữ "lòng" mang tính tự nguyện, nên hiếu thảo là lựa chọn của tâm, không phải nghĩa vụ. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học. Tôi chỉ cảm nhận như thế.

   Lòng hiếu thảo có tính phổ quát, dù là tự nguyện, thì hiếu thảo ở đâu, phương Đông hay phương Tây gì cũng thế. Chỉ có điều thể hiện khác nhau.

   Câu chuyện ấy khiến tôi nghĩ, có lẽ mỗi nền văn hóa có một cách riêng để thể hiện lòng hiếu thảo. Tôi đọc được status của một phụ nữ Mỹ chia sẻ chuyện cô đến thăm mẹ ở viện dưỡng lão. Cả tuần cô mới sắp xếp được một ngày đến thăm, tuần nào cũng thế. Khi cô đến, bà cụ đã ngồi chờ sẵn ở sân viện. Hai mẹ con chuyện trò đủ thứ. Khi cô về, bà cụ cũng ngồi ở sân viện, dõi mắt trông theo. Cô lên xe, ngoái lại, vẫn thấy cụ đang nhìn theo. Cô chia sẻ điều này trên Facebook, bằng giọng văn viết vội, không đầu không đuôi, lại sai chính tả. Cô bị ám ảnh bởi đôi mắt "trông theo" của mẹ.

   Tôi cũng bị ám ảnh khi đọc những dòng chia sẻ của cô. Tôi nhớ lại đôi mắt của mẹ tôi, cũng dõi nhìn tôi như thế, khi tôi phải đi công tác xa vài ngày, trong những ngày tháng bà bệnh nặng. Bà sợ không kịp nhìn thấy tôi lần cuối trước khi qua đời.

   Với phương Tây, lòng hiếu thảo không đồng nghĩa với "ở cạnh và tự tay chăm sóc". Bác sĩ và điều dưỡng có chuyên môn chăm sóc tốt hơn. Điều này rất thực tế. Đi làm cả ngày, có khi đi công tác xa, chăm sóc thể nào được, khi tuổi già mong manh.

   Hiếu thảo là làm thế nào để cha mẹ được chăm sóc đúng cách, tự quyết định mà không lệ thuộc con cái. Con cái chỉ cần thỉnh thoảng tới thăm. Và nếu cần, hỗ trợ viện phí cho nhà dưỡng lão.

  Ở ta, ảnh hưởng văn hóa Nho giáo, lòng hiếu thảo bị ràng buộc nặng nề bởi đạo lý và xã hội, và cả sự kỳ vọng của cộng đồng. Chút tiền trợ cấp, theo pháp luật, không nói lên điều gì về hiếu thảo. Chăm sóc cha mẹ già mới là vấn đề.

2.   Thế hệ con cái bây giờ sống trong đô thị, dù làm việc gần hay xa, đều muốn ở riêng. Mô hình gia đình, tam tứ đại đồng đường hầu như biến mất, may ra còn sót lại đâu đó ở nông thôn.

   Cha mẹ sống chung với một đứa con nào đó cũng đang dần thu hẹp. Lập gia đình là ra ở riêng. Vẫn thỉnh thoảng về thăm nom cha mẹ, vẫn hỏi han qua điện thoại hằng ngày. Nếu ở chung, con cái sẽ chăm sóc cha mẹ theo cách riêng của chúng. Áp lực xã hội còn quá nặng nề, chưa đủ để con cái nghĩ đến đưa cha mẹ già vào viện dưỡng lão, dù là đóng phí không rẻ, tùy dịch vụ.

   Bọn già tụi mình cũng thế. Căn nhà không chỉ là căn nhà, mà đó còn là tài sản chắt chiu, chất chứa biết bao ký ức một thời vất vả, vì bổn phận gia đình. Căn phòng ở viện dưỡng lão dù tiện nghi đến đâu cũng chỉ là nhà thuê, không phải là "home", mà là "house".

   Sự xung đột nửa tây nửa ta như thế quả là một thách thức để thích nghi. Thách thức không chỉ với con cái, mà còn với tuổi già. Con cái chăm sóc chúng ta theo kiểu hiện đại. Còn tuổi già bọn mình mong muốn những gì ở tuổi xế chiều? Khi mà đầu óc lãng đãng, chuyện xưa thì nhớ, chuyện nay thì quên.

   Chúng ta chưa đủ tinh thần để tách rời khỏi căn nhà. Hầu hết người già muốn được sống gần con cháu, không chỉ vì cần giúp đỡ vật chất, mà vì là mong muốn được hiện diện, được nghe tiếng người, được thấy đời sống tiếp nối. Mong muốn đó không phải là "lệ thuộc" vào con cái, mà là một cách níu kéo sợi dây với đời.

   Đôi lúc chúng mang con cái về nhà gửi cả ngày, vợ chồng chúng đi chơi. Vừa là nhờ vả, vừa là ân huệ với tuổi già - mà chắc là ân huệ thiệt. Tuổi già thèm thủ thỉ với trẻ thơ. Chẳng phải chúng ta đã mua bánh kẹo sẵn, chờ đợi bọn trẻ đến đấy sao? Vừa chăm sóc, vừa chiều chuộng, vừa hỏi han. Chỉ có già mới kiên nhẫn lắng nghe, những câu hỏi thật nhanh, và quên thật nhanh của trẻ con. Dù sao, đó cũng là chút chứng tỏ mình còn có ích, con cái mới nhờ vả, chứ chưa vô dụng.

   Có khi mình trông con cho chúng, không đúng như chúng dặn, là bị cằn nhằn. Nghĩ cũng buồn!

   Dù sao, con cái còn quan tâm, chăm sóc đến mình là điều đáng mừng. Dù là quan tâm cho có lệ, hay thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi cũng là điều đáng mừng rồi.

   Nếu có đứa nào tới lui chăm sóc là điều vượt quá mong đợi của tuổi già. Hãnh diện chứ! Nhưng mọi chăm sóc của chúng thường theo xu hướng hiện đại. Có điều gì đó mà đôi khi tuổi già miễn cưỡng nghe theo để khỏi phụ lòng.

   Miễn cưỡng nghe như là chịu đựng… Có cách quan tâm, chăm sóc nào khác không?

 3.  Thỉnh thoảng, con cái đặt "món ngon mẹ nấu", ship về tận nhà cho mình, nhưng chẳng bao giờ chúng đãi người già "món ngon con nấu".

   Con nấu thế này, có ngon như hồi xưa mẹ nấu không? Khẩu vị người già dù đã thay đổi ít nhiều, nhưng trong khoảnh khắc sẽ hồi tỉnh lại. Tuổi già sẽ chỉ bảo, phải làm thế này, thêm thứ nọ mới đúng. Già rồi, đi đứng hết nổi, nhưng cũng cảm thấy mình còn có ích đôi chút, còn "truyền nghề" cho chúng. Niềm vui tuổi già chỉ giản dị thế thôi.

   Nhưng có đứa nào chịu làm "món ngon con nấu" đâu. Chúng đặt hàng vài phút là có "món ngon mẹ nấu". Ký ức ẩm thực tuổi già bị lãng quên!

Người già thèm những món ăn quen thuộc. Thèm để nhớ một thời gian khổ, mà sao hồi đó ngon lạ thường. Món phá lấu, chẳng hạn. Hồi trước, ngày nào rủng rỉnh chút đỉnh, tôi mua đĩa phá lấu. Phần chúng nhiều gấp ba bốn phần mình. Nhìn chúng ăn ngon lành, ăn xong còn thòm thèm. Cha mẹ nào nuốt nổi phần mình nữa.

   Bây giờ thèm, mình mua món phá lấu. Chúng cằn nhằn, chê món phá lấu mất vệ sinh. Ăn nội tạng heo bò làm tăng mỡ máu, có hại cho sức khỏe. Chúng ép mình phải ăn "món ngon mẹ nấu" mà chúng đặt hàng. Có đứa còn ép mình ăn kiêng, chỉ toàn món chay hảo hạng. Không ăn đúng như thế lại cằn nhằn.

   Hồi đó mình thèm món phá lấu, nó cũng thèm. Mình nhường hết cho nó. Bây giờ mình thèm phá lấu, chúng lại bắt mình ăn "nem công chả phượng" như cách chúng nó. Món ăn dĩ vãng của tuổi già đã bị bỏ rơi!

   Tôi làm ở phòng lab, điều chỉnh chính xác từng giọt dung dịch từ burette để định lượng. Bây giờ tay chân vụng về, rót nước từ bình đun vào chai, rơi vãi. Con cái cằn nhằn, nói để chúng làm. Không, tôi muốn tự làm những gì có thể làm được. Các bạn già cũng thế, phải không?

   Thế hệ chúng ta làm cật lực, bất kể ngày đêm chỉ để trang trải gánh nặng gia đình. Bây giờ ngồi không, như kẻ vô dụng. Thật khó chịu!

   Không ít bạn già, theo chân các đoàn thể tôn giáo, đóng góp và giúp đỡ những nơi bị thiên tai, những vùng đói kém. Cũng làm được chút gì đó có ích cho đời.

   Tôi cũng vậy. Tôi vẫn viết lai rai về an toàn thực phẩm, chỉ muốn chia sẻ lại chút kiến thức, không chỉ lý thuyết, mà cả những kinh nghiệm tích lũy suốt mấy chục năm. Có được một người nghe, và làm theo cũng là niềm vui.         Không làm được chuyện lớn cho đời thì làm chuyện nhỏ, dù là rất nhỏ. Còn hơn ngồi than thở và phẫn nộ những chuyện chướng mắt ở đời.

   Gần hết cả đời, chúng ta đã cho đi. Già rồi, có cần gì nữa đâu, mà chỉ sợ mình thành gánh nặng hoặc bị lãng quên. Nếu sợ, đó là sợ tình thương pha lẫn lòng thương hại.

   Các bạn trẻ, xin đừng tước đi niềm kiêu hãnh cuối cùng của tuổi già. Đừng "xả láng" báo hiếu, để rồi chăm sóc quá đáng - Hãy để chúng tôi tự làm. Đừng khuấy động mặc cảm vô dụng tuổi già.

 4.  Quê mẹ tôi không trồng lúa được, vì nước sông dâng cao cả vài tháng, chỉ có thể trồng bắp, khoai, vài loại rau ngắn ngày. Năm 1945, quê mẹ tôi chết đói nhiều lắm, tứ tán cả. Ngay từ hồi tôi 4 tuổi, bà đã dạy tôi phải biết quý hạt gạo. Hạt cơm rơi xuống phải nhặt lên.

   Khi mẹ tôi mất, tôi bỏ lên Đà Lạt. Đêm giao thừa đầu tiên, không có bà bên cạnh. Tôi nâng ly rượu, chợt nhớ "hạt cơm rơi". Tôi ngước nhìn bàn thờ, và tự hỏi - Đời bà gian truân thế nào? Nước sông dâng cao như vậy, khi nước rút, làm sao nhận ra mồ mả ông bà? Bà bỏ lên Hà Nội kiếm sống thế nào? Vào Sài Gòn, bà bán xôi. Tôi chưa bao giờ hỏi bà cách đồ xôi thế nào, chọn nếp ra sao? Còn nhiều câu hỏi trong đầu, nhiều điều tôi muốn biết nữa, nhưng không thể…

   Những năm cuối đời, nếu ai hỏi chuyện xưa, mẹ tôi nói cả giờ. Tôi chỉ miễn cưỡng nghe vài phút, rồi lên lầu. Còn nhiều công việc mưu sinh phải làm. Tôi nghĩ, chỉ cần chăm sóc bà đầy đủ là được.

 

   Thế hệ chúng ta lớn lên trong chiến tranh - Khổ! Tàn cuộc chiến - Khổ. Khổ đủ kiểu, tùy môi trường xuất thân. Ở cái thời "rau muống bổ hơn thịt bò" - Thật xấu hổ! Có lẽ mấy bà khổ nhất - Cái khổ ngấm ngầm mà dai dẳng. Đó là cầm giỏ ra chợ với chút xíu tiền. Làm sao thu vén cho bữa ăn gia đình. Những năm tháng đó, làm sao ai biết? Mà có ai muốn biết đâu!

   Tuổi già ở nhà là một thế giới khép kín, cô đơn giữa mọi tiện nghi, giữa những "món ngon mẹ nấu", và những cú điện thoại "chăm sóc" quá kỹ lưỡng của con cái. Muốn được chia sẻ, nhưng có ai lắng nghe để chia sẻ? Con cái ư?

   Tôi chỉ nín lặng chấp nhận "quả báo", không dám cưỡng cầu. Nhưng mấy bà thì tâm tư chất chứa đủ thứ. Về nhà dồn nén, dồn nén… Các bạn marketing rất tinh quái, nếu biết số phone, sẽ gọi lại tỉ tê đủ thứ, và chào bán thực phẩm chức năng. Sa bẫy là điều dễ hiểu. Đừng trách tuổi già! Marketing biết lắng nghe họ hơn con cái.

   Già rồi, cổ lỗ sĩ mọi thứ. Dĩ vãng cũng cổ lỗ sĩ. Nhu cầu lắng nghe nhiều nhất, nhưng cũng mong manh nhất. Tôi thì quá muộn rồi! Ai còn cơ hội thì chớ bỏ lỡ.

   Tuổi già muốn được chăm sóc. Muốn chỉ vì gìn giữ sự kết nối, không phải muốn để lệ thuộc. Muốn được làm theo ý nguyện, muốn được tôn trọng, và muốn được lắng nghe, nhưng bất khả.

   Sự lạc nhịp giữa hai thế hệ, những mong muốn chăm sóc tuổi già chỉ là giấc mơ. Tôi biết - Chỉ là giấc mơ thôi. 

Vũ Thế Thành

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ, VŨ THẾ THÀNH
Comment

Mùa Xuân Thần Thoại (Nguyễn Thị Thêm)

February 26, 2026 Ninh Tran

Tôi bước xuống phi trường Narita mà tưởng mình còn mơ ngủ.

 Kéo chiếc vali nhỏ tôi cố chạy theo cho kịp mẹ nuôi. Mẹ dừng lại nhìn tôi mỉm cười từ ái.

      Thoáng chốc mẹ đã quên mình là lính đi nhanh. Còn tôi chân có vấn đề và là một đứa bé trong trại mồ côi lần đầu tiên ra khỏi Việt Nam. Mẹ đưa tay định kéo hành lý dùm tôi. Nhưng tôi giữ lại và cương quyết tự làm cho mình. Bề nào tôi cũng là một thanh niên ở độ tuổi đang lớn.

        Mẹ đi sát bên tôi. Hai mẹ con trình giấy tờ ở hải quan và xuống nhận hành lý. Qua khu vực kiểm soát hai mẹ con đẩy xe ra ngoài. Đây là lần đầu tiên tôi được đi máy bay và thật vô cùng tuyệt vời tôi được đến nước Nhật. Một đất nước mà tôi chỉ biết qua sách vở và trong những giấc  mơ.

       Tôi không biết làm sao để diễn tả tâm trạng tôi lúc này. Mọi thứ vượt ngoài tầm hiểu biết và tưởng tượng của tôi. Tôi nhắm mắt lại và thầm thì với chính mình:

-Đây là nước Nhật. Mình đang ở nước Nhật.

       Tôi không thể hình dung được đi máy bay là như thế này. Sự phục vụ của phi hành đoàn lịch sự nhã nhặn như vậy.  Máy bay có đủ những tiện nghi cần thiết cho hành khách. Thức ăn đựng trong những hộp nho nhỏ còn nóng hổi và ngon như thế.Tôi đã đặt chân đến nước Nhật với những con người và phương tiện tân tiến nhất nhì thế giới. Ơn trên đã mở cho tôi cánh cửa của thiên đàng. Tôi bước vào đó ngỡ ngàng với cái chân tàn tật với tâm hồn đầy sẹo của quá khứ.

       Mẹ không để tôi đẩy hành lý mà kêu tôi đi theo. Một người trung niên đã đợi sẵn bên ngoài. Mẹ giới thiệu đây là bạn cùng đơn vị của mẹ.   Tôi run run bắt tay sau lời chúc mừng của bác ấy. Bác đẩy xe và mẹ bấm thang máy để đi lên. Bãi đậu xe ở tầng lầu. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Tôi không thể hiểu họ nói những gì, chỉ biết họ rất thân tình, vui mừng gặp lại nhau.

        Để túi xách nhỏ vào xe. Tôi ngồi vào băng sau và thấy mình như say sóng. Mọi việc diễn tiến như chuyện cổ tích mà tôi giống như cô bé Lọ Lem được hoàng tử chọn để kết hôn.

*****

       Tôi là một đứa bé mồ côi từ lúc mới sinh ra đời. Không phải cha mẹ tôi chết mà họ đã vứt tôi trước cửa nhà một vị hảo tâm. Tôi chỉ nghe mẹ nuôi tôi nói như vậy. Người mẹ nuôi tôi không phải là người phụ nữ da trắng đang ngồi phía trước xe. Mà là một người phụ nữ VN đã bị mất con trong một lần sinh khó. Người chồng phản bội đã bỏ bà với cái thai trong bụng để đi theo một người đàn bà khác trẻ đẹp hơn.

       Đau khổ cùng cực vừa mất con lại mất chồng. Mẹ nuôi tôi gục ngã và trở nên loạn trí, lúc nào cũng đi tìm con. Bà nghĩ con mình còn sống và đang bị thất lạc ở một nơi nào đó. Ông Bà ngoại tôi đem con gái về chăm sóc. Với trái tim yêu thương con vô tận, ông bà đã đến bệnh viện xin một đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi đem về cho con gái, nói là đã tìm được đứa cháu ngoại bị thất lạc. 

       Đứa con đó cũng không phải là tôi, mà là người con nuôi lớn nhất của mẹ. Mẹ tôi lần hồi bình phục với đứa con còn đỏ hỏn mới đôi ba ngày tuổi. Ông bà ngoại coi đứa bé như ruột thịt. Thương yêu và hết lòng chăm sóc. Rồi tiếng lành đồn xa. Thêm một đứa trẻ mới sinh được vứt trước nhà ông bà ngoại. Rồi đứa thứ hai và tới tôi là đứa thứ ba.

       Mẹ tôi đã vứt tôi trước cửa nhà này và biến mất. Không biết bà có núp ở một góc nhà nào đó để theo dõi tiếng khóc của tôi. Hay rình xem mẹ nuôi tôi đã làm gì với đống vải nhăn nhúm quấn lấy tôi mới sinh được 3 ngày tuổi. Nói chung là bà ra đi không thương tiếc.

        Đương nhiên là tôi không biết gì hết. Tôi không biết cha mẹ mình là ai và vì sao họ bỏ rơi tôi. Tôi không biết lúc đó mình khóc nhiều hay ít? Tôi bú sữa bò hay nước cháo để sống còn.Tôi dễ nuôi hay èo uột, Bốn đứa con nít chỉ biết ăn biết bú khóc mãi không thôi. Hẳn chỉ có những người có trái tim thật nhân từ và nhẫn nại mới mở lòng ra cưu mang như vậy. Ông bà ngoại làm việc nhiều hơn để nuôi bầy cháu nhỏ không ruột thịt với mình. Mẹ nuôi tôi mất một đứa con, nhưng có đến 4 đứa khác để bù trừ. Mẹ quên cả bệnh, mẹ quên cả bản thân mình. Mẹ quần quật cả ngày để chỉ sống vì chúng tôi. Nhà không giàu có mấy, còn ít đất đai ông bà để lại, ông bà ngoại cắt bán dần để nuôi chúng tôi.

      Khi tôi lớn hơn một chút, tôi nhận thức được tôi khác hơn các anh chị của mình. Một cái chân tôi không đi được. Tôi đi từng bước khó nhọc mà người xung quanh gọi tôi là “Thằng thọt”. Tôi buồn lắm mỗi khi chạy chơi với các anh chị trong nhà. Tôi luôn bị thua thiệt vì sự không nguyên vẹn của mình. Trong tôi là sự mặc cảm về thân phận tật nguyền.

      Mẹ nuôi tôi không gì vậy mà hất hủi tôi. Bà yêu thương tôi hơn các anh chị khác. Bà thường gọi đùa tôi là “Con trai đích tôn” Lúc đầu tôi không hiểu gì cả vì trước tôi đã có anh Ba. Sau này trong một lần trò chuyện tôi đã hiểu và thương yêu ông bà ngoại và mẹ hơn bao giờ hết.

       Nguyên do là lúc nhỏ tôi bị sốt tê liệt. Ông bà ngoại đã bán nốt miếng đất hương quả ông bà cố để lại cho cháu đích tôn mà chạy chữa cho tôi.   Tôi thoát chết, nhưng một chân đã bị rút teo lại.Tội nghiệp mẹ tôi đã cố gắng tập cho tôi đi lại, bao nhiêu thuốc thang để cái chân tôi được như bây giờ. Tôi mang một cái chân bất toàn và mang nghĩa tình bất tận của ông bà và mẹ tôi. Những người không hề có dính dáng với máu mủ, ruột thịt.

       Tôi lớn lên trong căn nhà tình nghĩa đó. Ông bà ngoại ngày một già, tiền bạc cũng không còn. Mẹ tôi bôn ba buôn bán không đủ nuôi mấy miệng ăn đang độ tuổi lớn. Chúng tôi không thể đến trường đều đặn mà phải cùng nhau đi làm để phụ kiếm sống. Các anh chị tôi thay nhau vừa bán vé số vừa đi học. Tôi cũng vậy, la lết ở các bến xe, nhà hàng để kiếm cơm .

       Ông ngoại bệnh nặng,  mẹ tôi phải ở nhà chăm sóc. Tôi 8 tuổi ôm tập vé số len lỏi chốn chợ đời. Trái tim nhân hậu của con người dường như bị đánh mất trong xã hội lừa đảo. Tôi thường xuyên bị đánh vì giành mối.   Có lúc về nhà trắng tay, cả xấp vé số lẫn tiền bị trấn lột. Có những cạm bẫy mà xã hội đã đưa anh em chúng tôi lạc bước. Đồng tiền của người nghèo đổi bằng nhiều thứ trong đó có sự gian xảo lọc lừa. Đồng tiền nhàu nát và bẩn thỉu, có khi đổi bằng nước mắt và cả chính máu và mạng sống của mình.

       Bụi đời cũng có lắm phe nhóm, băng đảng, tốt và xấu. Ngoại và mẹ dạy chúng tôi phải lương thiện và nhịn nhục. Lương thiện chỉ từ chết đến bị thương. Bản năng sinh tồn không cho phép con người khoanh tay khi bị đàn áp và ức hiếp. Anh Ba tôi đã không nhịn nổi phải  chống cự và đánh lộn để bênh vực em. Một lần gây ra ẩu đả đổ máu đụng đến công an can thiệp.

       Cuối cùng của bi kịch đời người là tất cả anh em chúng tôi bị lôi ra khỏi vòng tay mẹ nuôi và bị đưa vào trại mồ côi. ( trừ chị Hai tôi có giấy tờ xin nuôi chính thức. )

       Tôi rời xa căn nhà thân yêu đã cưu mang tôi khôn lớn là ngày giỗ đầu ông ngoại. Năm đó tôi vừa 12 tuổi. Một đứa bé tàn tật, mồ côi lăn lóc chợ trời mưu sinh thì thiên hạ nhìn tôi không mấy mỹ cảm. Còn tôi, tôi đã biết mái nhà xiêu vẹo thiếu thốn mọi thứ có tình thương yêu thật sự.   Còn trại mồ côi nơi tiếp nhận những đứa bé bụi đời chỉ là giải quyết vấn nạn của xã hội. Tôi không muốn đi vì mẹ nuôi tôi bây giờ hay đau yếu. Bà ngoại tôi già rồi cần người chăm sóc đỡ đần. Đã đến lúc chúng tôi giúp đỡ họ phần nào, nhưng chúng tôi bị buộc phải xa lìa trong nước mắt. Tôi tự nhủ với lòng sẽ có ngày trở về phụng dưỡng trả ơn.

       Tất cả chúng tôi bị đưa lên xe và bước vào một cuộc sống mới. Nơi đây giống như là nơi tập trung cải tạo, giáo dục thiếu nhi mồ côi lẫn bụi đời. Chúng tôi phải sống với rất nhiều bạn đồng trang lứa. Họ cũng lang thang để kiếm sống như chúng tôi. Tuy nhiên tôi có phước hơn họ là đã từng có một mái nhà, có ông bà và mẹ. Có gia đình ấm cúng thương yêu dù chẳng ruột rà. Còn họ đủ mọi thành phần bị gom bắt đưa về đây . Có bạn hút xì ke lên cơn nghiện la hét cả đêm. Có bạn người đầy những vết sẹo vì đâm thuê chém mướn. Có bạn chuyên nghề móc túi hay dẫn gái ăn sương. Họ thích sống bụi đời. Họ tự do quậy phá quen rồi. Họ không muốn cuộc sống tù túng bó buộc nơi này. Tâm lý của họ là phó cho định mệnh. Họ tin đời họ chẳng bao giờ có tương lai tươi sáng. Họ không hề muốn thay đổi làm lại cuộc đời.

       Nghe lời dặn dò của mẹ nuôi trước lúc ra đi. Tôi siêng năng học chữ, học nghề. Tôi không trốn trại ra ngoài. Tôi chấp hành kỷ luật dù khó đến đâu. Tôi nhịn nhục dù bị bức hiếp rất nhiều của những người bạn chung phòng. Tôi tự nhủ:” Không thể chống trả được, thì đây là cơ hội  để học và thay đổi ” Tôi nhớ lời ông ngoại đã nói” Dù chân con có tàn tật, nhưng đầu óc con minh mẫn. Hãy cố gắng.” Đêm đêm tôi úp mặt xuống gối khóc vì nhớ mẹ nhớ ông bà. Tôi nhớ quá chừng căn nhà nghèo nàn dột nát mà ấm cúng thâm tình. Họ tuy không giàu có, nhưng trái tim và lòng nhân ái của họ thật bao la.

       Một ngày tôi được gọi lên văn phòng. Trước mặt tôi là một người phụ nữ da trắng trung niên. Đây là người đã làm thủ tục để xin con nuôi tại Việt Nam và được giới thiệu tới nơi này. Không hiểu vì lý do gì  mà tôi được chọn ra đây với hai người bạn khác. Những người đạt đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu của hai bên. 

       Tôi lặng người đi vì hồi hộp. Tôi có được chọn không? nếu chọn tôi sẽ đi đâu?. Cuộc sống thế nào? Tôi còn có cơ hội để thăm viếng và giúp đỡ mẹ nuôi tôi  không? Tôi run run cúi mặt lo lắng. Người phụ nữ có mái tóc vàng thật đẹp, gương mặt phúc hậu bước lại gần tôi. Bà nắm bàn tay tôi ấm áp. Bà nhìn tôi trìu mến. Có lẽ thành tích của tôi ở trường khiến bà hài lòng. Bà không hề kỳ thị với cái chân tật nguyền của tôi. Trong mắt bà tôi nhìn thấy sự cảm thông, chia sẻ và yêu thương.

       Tôi được mời lên văn phòng nhiều lần để làm thủ tục giấy tờ. Tôi bằng lòng làm con nuôi người phụ nữ có gương mặt phúc hậu ấy. Tôi sẽ có thêm một bà mẹ. Sẽ bước qua một bước ngoặt mới. Tôi sẽ cố gắng học tập và làm tốt bản thân. Còn những gì kế tiếp thật tình tôi không dám nghĩ đến.

        Người nhận nuôi tôi là một người phụ nữ Mỹ độc thân. Bà là nữ Đại Úy không quân trong quân lực Hoa Kỳ. Bà là một người tham gia nhiều chương trình từ thiện tại VN. Hiện tại bà đang công tác tại một căn cứ không quân của Mỹ tại Nhật Bản.

Sau bao nhiêu lần mẹ nuôi tôi đi đi về về, tốn rất nhiều tiền để hoàn tất giấy tờ thủ tục. Tôi chính thức được công nhận làm con nuôi của mẹ Lisa theo đúng luật định. Bà là một người phụ nữ có lòng hảo tâm. Khi nghe tôi kể về quá khứ của mình, bà đã đến nhà mẹ nuôi tôi và giúp đỡ cho họ. Bà cho tôi đi học thêm sinh ngữ và chỉ dạy tôi rất nhiều về cuộc sống ở Mỹ để dễ hội nhập

*****

       Tôi đến nơi này, một căn cứ không quân Hoa Kỳ trong lòng nước Nhật. Hai mẹ con tôi sống trong một căn hộ được chính phủ cấp khang trang. Tôi được giới thiệu với các bạn bè của mẹ. Ban đầu tôi rất mặc cảm vì thân thế của mình. Nhưng dần dà tôi mới thấy rõ những tư tưởng phóng khoáng của người Mỹ. Họ tôn trọng giá trị và tự do của mỗi con người không phân biệt xuất thân. Những người lính nơi đây cho tôi một cảm giác ấm áp tình thân như người trong một gia đình.

       Tôi thấy mình thật hạnh phúc và may mắn có thêm một bà mẹ nuôi hết sức tốt bụng. Bà đã coi tôi như con đẻ, chăm sóc tôi chu đáo, chuẩn bị cho tôi tất cả để tôi không thiếu thốn thứ gì. Bà đã bỏ tất cả thời gian sau giờ công tác để dạy tiếng Anh cho tôi. Trong nhà mọi nơi, mọi chỗ đều có gắn những mẩu giấy nhỏ ghi rõ tên bằng Anh ngữ của đồ vật đó. Bà lấy ngày nghỉ để dẫn tôi đi chơi. Chỉ cho tôi và dạy tôi nói cho đúng. Bà mời cô giáo đến tận nhà dạy tôi học thêm để theo kịp bạn bè khi tới lớp.

       Mỗi ngày bà nấu cho tôi những món ăn Mỹ lẫn Việt Nam mà bà học được trên Internet. Có khi ngon, có khi dở nhưng tôi rất thích vì mẹ đã nấu bằng cả trái tim. Bà đã cho tôi một tấm gương về cuộc sống tự lập và sự tốt đẹp của người quân nhân Hoa Kỳ.

       Tôi đã đến trường và có nhiều bạn. Mỗi sáng tôi ra đón xe bus trước nhà để đến trường trong căn cứ . Tuy hơi khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ nhưng tôi cố gắng nghe và cố gắng rèn luyện. Tôi là một thanh niên đầy đủ sức khỏe. Một học sinh trung học có triển vọng. Tôi có một người mẹ tốt bụng xinh đẹp và tài ba. Tôi sẽ đi lên bằng chính đôi chân không được nguyên vẹn của mình. Bằng nghị lực và niềm tin vào ngày mai tôi tin tôi sẽ thành công.

       Con người không ai có thể chọn xuất thân của mình. Tôi đã không may mắn được mẹ ruột thương yêu, đùm bọc. Mẹ bỏ rơi tôi có lẽ vì mẹ có nỗi khổ riêng tư. Tôi cám ơn mẹ không vất tôi ở thùng rác hay bên vệ đường mà đặt tôi vào tay một gia đình nhân đức. Hai người mẹ nuôi cho tôi thấy tình mẫu tử tuyệt vời trong trái tim người phụ nữ. Tôi không trách mẹ ruột và càng yêu kính mẹ nuôi. Trong đời tôi may mắn có đến 3 bà mẹ. Xin ơn trên cho tất cả các bà mẹ của tôi đều được bình an.

       Tôi cũng không mặc cảm mình là người Việt nam nói không rành tiếng Mỹ.Rồi ngày qua ngày tôi sẽ nói rành rọt như họ. Tôi cũng không vì cái chân không được nguyên vẹn mà bỏ rơi ý chí và ước mơ của mình. Tôi sẽ học giỏi và sẽ là một bác sĩ quân y tương lai như mẹ nuôi. Tôi sẽ giúp đỡ những trẻ em khuyết tật, những đứa bé mồ côi từng khổ sở như tôi.

       “Không có gì là không thể thực hiện nếu mình quyết tâm.” Mẹ nuôi tôi đã nói với tôi như vậy. Tôi tin tưởng bà sẽ bên cạnh giúp tôi thực hiện ước mơ của mình. Nơi căn cứ cũng có vài gia đình sĩ quan người Việt. Tôi đã đến đó, đã được cùng họ trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Tôi đã nhận những thân tình và những lời dặn dò khuyên bảo. Đây là đồng hương, là những người cùng chung ngôn ngữ và màu da. Tôi đến với họ thường xuyên mỗi khi rảnh rang. Tôi nghe họ kể chuyện đời họ, chuyện về người cha Sĩ quan đi tù Cộng Sản. Chuyện người mẹ bán hết đồ đạc để thăm nuôi. Chuyện những người anh, người chị vượt biên trên biển cả. Chuyện những ngày đầu đến Mỹ và lý do tại sao họ có mặt ở đây.     Những câu chuyện thật bi thương và cảm động mà những ngày ở VN tôi không hề nghe hay biết. Tôi đã được thấy một lá cờ khác lá quốc kỳ mà tôi được biết. Lá cờ vàng với ba sọc đỏ mà con trai người cựu Sĩ quan VNCH trân trọng cất giữ.

       Tôi đã được ăn những thức ăn VN thật ngon và có những đứa em rất dễ thương để vui đùa và yêu thương. Đất nước Mỹ, quê hương Việt Nam của tôi nằm trong căn cứ này. Một căn cứ ấm áp tình người, tình đồng đội và tình gia đình.

       Tôi không hề cô đơn hay cảm thấy lẻ loi mà tôi thấy mình rất hạnh phúc. Ơn trên đã không bạc đãi mà đã cho tôi rất nhiều ân sủng và phước lành. Tôi phải nắm lấy những may mắn đó mà bước tới bằng tấm lòng biết tri ân và báo đáp. Tôi đã nhờ mẹ Lisa nối đường dây để tôi liên lạc với mẹ và bà ngoại. Vài tháng tôi dành dụm tiền quà để gửi về VN giúp đỡ Mẹ Có lần mẹ Lisa đã gửi số tiền khá lớn để trang trải tiền bệnh viện cho ngoại tôi. Một ngày nào đó trong tương lai tôi sẽ về lại VN. Bằng chính đồng lương của mình kiếm được, tôi sẽ xây nhà cho mẹ nuôi và bà ngoại. Tôi sẽ cho mẹ tôi sống cuối đời no ấm, đầy đủ và hạnh phúc. Đứa con mẹ nhặt trước cửa nhà sẽ không bao giờ quên công ơn của mẹ.

       Tôi đã ở đây một thời gian khá dài. Tôi đã được Mẹ Lisa cho đi thăm viếng những thắng cảnh ở Nhật. Tôi đã thấy hoa Anh Đào rực rỡ trên đất nước Phù Tang. Đã thấy mùa thu tuyệt đẹp trong căn cứ, trong công viên lẫn khắp nẻo đường Nhật Bản. Tôi đã chạm được với tuyết và nhìn tuyết rơi trắng xóa mùa Đông. Tôi đã có bạn học, tôi đã có tất cả những gì tôi từng mơ ước.

Mẹ Lisa lại nói với tôi:

-Mẹ là quân nhân, là lính Mỹ phục vụ nước ngoài, mẹ không được ở một nơi cố định. Chỉ còn hơn một năm nữa chúng ta sẽ đổi đến một nơi khác mà mẹ không biết ở đâu. Cho nên con phải ráng học, chấp nhận và thích ứng khi con sẽ phải đến học một trường khác, quốc gia khác. Mỗi nơi chúng ta đến cho ta một bài học về xứ sở và con người, ngôn ngữ và đời sống nơi đó. Nó sẽ giúp cho con kiến thức và tầm nhìn xa hơn. Hãy thưởng thức và ghi nhận những gì con biết. Không ai dễ có được sự trải nghiệm đó đâu con. 

        Mùa Xuân đã về trong căn cứ. Tôi cùng mẹ tham dự những buổi liên hoan dành cho gia đình binh sĩ. Tôi hãnh diện làm con của mẹ, tôi hãnh diện là con trai một người lính Mỹ.Tôi cố gắng học tập, giúp mẹ những việc nặng nhọc, tôi phụ mẹ cắt cỏ, quét lá, dọn dẹp nhà cửa và nấu cho mẹ những món ăn VN mẹ thích. Tôi sẽ cho mẹ niềm vui để mẹ xóa đi nỗi buồn cô đơn của một người phụ nữ độc thân. Tôi sẽ cho mẹ một tình cảm mẹ con ấm áp. 

       Gia đình chúng tôi lấp lánh ánh đèn trên cây thông Giáng Sinh. Hạnh phúc bao trùm hai mẹ con tôi trong đêm giá lạnh. Tình yêu thương không phân biệt màu da và chủng tộc. Mẹ con tôi hai con người thiếu thốn tình mẫu tử. Chúng tôi sẽ bù đắp cho nhau và xây dựng mái ấm gia đình. 

        Ngày tết Nguyên Đán năm nay rơi vào ngày cuối tuần. Mẹ tôi cũng trang trí trong nhà vài hình ảnh ngày tết mà mẹ mua ở Việt Nam. Ngày mồng một, gia đình thiếu tá Nguyễn mời chúng tôi tới nhà. Năm nay mẹ bác ấy đến thăm và ở lại ăn Tết cùng con. Tôi mặc áo quần lịch sự. Mẹ Lisa mặc áo dài VN màu kem in những cánh mai vàng thật đẹp. Mẹ nói mẹ đã mua khi về VN làm giấy tờ mà chưa bao giờ được mặc.

       Nhà bác Nguyễn mời thêm nhà bác Hiến cũng ở trong căn cứ. Ba gia đình VN vui Tết quê hương. Mẹ bác Nguyễn cũng mặc áo dài, bà khen mẹ Lisa mặc áo dài quá đẹp. Bà vui vẻ nhận những lời chúc của các con cháu và mọi người. Bà chúc mọi người sức khỏe và thành công, chúc tôi học giỏi. Bà tặng chúng tôi những bao lì xì màu đỏ, màu vàng có in hình lá cờ VN hoặc trống đồng rất đẹp. Thú thật lần đầu tiên tôi cầm trên tay phong bao có hình lá cờ vàng với ba sọc đỏ. Thật lạ và đẹp. Một biểu tượng của lịch sử mà tôi cần phải học hỏi. Hôm đó tôi được ăn Tết VN thật sự. Bà đã cho chúng tôi thưởng thức thịt kho tàu, canh khổ qua, nem, chả giò và phở bò thật ngon. Bà nói ở đây không có điều kiện nên bà không thể gói bánh tét hay bánh chưng, bà chỉ gói ít bánh tét chuối ăn cho vui để nhớ. 

       Đây là cái Tết đầu tiên mà tôi đón nhận với tất cả niềm vui hạnh phúc và hy vọng. Đêm nay tôi sẽ ngủ thật ngon với nhiều mộng đẹp tương lai.  Mùa Xuân nơi đây, trong căn cứ này  sẽ là mùa Xuân thần thoại của riêng tôi.

Nguyễn thị Thêm.

(Viết thay cho cháu Tuấn khi gặp cháu trong căn cứ Yokota Nhật Bản)

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Mùa Xuân Thần Thoại, Nguyễn Thị Thêm
Comment

Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ ( Từ Thức)

February 26, 2026 Ninh Tran

“Vào năm giảm tô, ông nội bị bắt giam. Ông bị treo lên, đầu dọng xuống đất. Sao lại dọng đầu ông xuống đất, sau này tôi hỏi mẹ. Mẹ bảo, để cho ông có nuốt vàng vào trong bụng thì nhả ra. Họ dọng đầu ông như thế từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối. Cho đến lúc không tra khảo gì nữa thì tống vào tù”.

Đó là một cảnh đấu tố trong cuốn “GIA ĐÌNH” của Phan Thúy Hà (Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam) ra mắt năm 2020. Tác giả đi gặp, ghi lại lời kể của những nhân chứng còn sống sót thời Cải Cách Ruộng Đất kinh hoàng, đẫm máu ở miền Bắc, từ 1953 tới 1956.

“ĐOẠN ĐỜI NIÊN THIẾU” là cuốn thứ hai, cùng một đề tài, vừa được Hội Nhà Văn xuất bản ở Hà Nội (2023). Người đọc, dù đã biết, đã đọc những chuyện tàn khốc, man rợ về những cuộc đấu tố, sẽ sững sờ trước những sự kiện, những kỷ niệm sống, vượt xa sức tưởng tượng của những nhà văn giầu tưởng tượng nhất. Hơn cả cái tàn ác, cái làm cho người đọc kinh hoàng là sự hủy hoại tình người, mà Tô Thùy Yên gọi là cái “thương tổn nặng nề cho nhân phẩm.”

Gấp sách lại, người đọc tự hỏi: Tại sao con người có thể độc ác, tàn tệ với nhau đến như vậy? Nhất là đây không phải là nghĩa vụ “uống máu quân thù”. Đối tượng không phải là giặc Pháp, cũng chưa có “Mỹ Ngụy”.

Đối tượng là những người láng giềng, cha mẹ, anh em, chiến hữu đã cùng nhau vào sinh ra tử, những người cùng đổ máu để xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa, hôm trước là chiến sĩ gương mẫu, hôm sau bị quy là địa chủ bóc lột, vì có vài sào ruộng, một con trâu, một đàn gà. Hay chỉ vì một chút hận thù, ganh ghét cá nhân.

39 GIA ĐÌNH TAN NÁT

“Mẹ tôi nói: cha đấy con. Cha con là người vừa bị bịt mắt dải khăn đen kia. Cha giật dải khăn đen ra: Tôi không có tội gì cả. Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm. Chủ tịch HCM muôn năm (…) Buổi chiều trước ngày cha bị bắn, mẹ đưa cơm cho cha. Cha ăn cơm xong, người ta trả cái giỏ đựng nồi cơm cho mẹ. Mẹ thấy ở dưới đáy nồi mẩu giấy nhắn của cha: Ai ngờ vô tội mà chết oan. Âu cũng là số kiếp. Gắng mà nuôi con. Sau này Đảng có hỏi thì trình bày tới nơi tới chốn (Gia Đình; trang 171)

Đây không phải là một cuốn sách hư cấu. Dưới hai cái tựa hiền lành, gần như lạnh lùng, tác giả ghi lại lời kể của các nhân chứng, không một lời bình luận. Những dữ kiện trần truồng, không gói ghém, càng khiến cái man rợ man rợ hơn. Sự thực, cũng chẳng cần bình luận. Sự kiện, tự nó nó nói. Khi cái man rợ lên tới tột độ, lời bình luận trở thành thừa thãi.

Gia Đình (274 trang) là chuyện của 19 người; Đoạn Đời Niên Thiếu (250 trang), 20 người, tổng cộng 39 gia đình tan nát. Mỗi trang là một thảm kịch. Mỗi câu chuyện trong hai cuốn sách có cái tựa mang tên người kể chuyện: Lê Xuân Đài, Đặng Thị Dung, Đặng Văn Chương v.v…

Đoạn trích trên đầu bài là lời kể của nhân chứng Võ Tá Tạo (Gia Đình; trang 49-53).

Ngoài ông nội, bị treo ngược đầu, sau đó chết vì bệnh, “bác Võ Tá Cảnh, con trai cả của ông bà, chết trong trại giam. Có người nói bác tự vẫn (…). Anh chết, em phải thế mạng. Cha tôi, Võ Tá Tân, phải đền tội thay Võ Tá Cảnh. Cha về làng để nhận án tử hình thay thế bác Cảnh (…).

Trên quả đồi trọc, những bó đuốc giơ lên. ‘Cho mi nói một lời cuối cùng với bà con nông dân’. Cha nói: Con thưa bà con nông dân, con là một thằng phản dân, phản đảng, phản nước, con xin ông bà nông dân tha tội bắn cho con… Ba phát súng. Ở nhà chúng tôi nghe rõ. Cha tôi gục xuống.”

Trước khi xử tử, người ta quy tội. Có người bị hành hạ vì tội đã học tiếng Pháp, chắc chắn là để làm mật thám cho Tây. Có người bị kết án vì lý do ngớ ngẩn: Thằng Bản (địa chủ bị gọi là thằng, xưng con, bất chấp tuổi tác) chặt cây ngụy trang chỉ điểm cho giặc. Bởi vì có lần bà ta đi ngang ngõ thấy cha tôi bắc thang trèo cây, tỉa bớt cành lá (Gia Đình; trang 27).

Tội trạng như vậy, đủ để bị trói, bị quỳ trên sỏi đá, cho dân làng nhục mạ. “Buổi chiều, tôi gấp một chiếc giẻ may vào phần đầu gối chiếc quần cho cha quỳ đỡ đau buốt. Đứa nào may thêm vải này cho mày? Dạ thưa, con tự may. Lớp giẻ độn sau chiếc quần bị tháo ra. Đêm đó cha bị quỳ lâu hơn, đá nhọn dồn lên đầu gối sắc hơn hôm qua (Gia Đình; trang 28).

Cái đói, cái dã man hơn cả thú vật giữa người với người, cái nhục mạ, hành hạ thân xác, tinh thần những nạn nhân vô tội, và cái chết bi thảm, rùng rợn, của những người bị đạp ra khỏi xã hội hiện diện trên mỗi trang giấy. Một xã hội chỉ có nhu cầu ăn cho no, sẵn sàng đạp lên xác người khác để có bát gạo. Trò giải trí duy nhất là đi coi, hay tham dự đấu tố, cái vui duy nhất là nhục mạ, giết người trước đó là anh em, láng giềng hay ruột thịt.

CÁI TÀN ÁC MAN RỢ

Con đi bộ đội, một bà mẹ bị ép buộc hiến đất, hiến của cho cách mạng:

“Chum, vại, đàn trâu bò mẹ bán hết để mua công trái quốc gia, đóng thuế nông nghiệp (…). Mẹ được tặng bằng “Gia đình vẻ vang”. Con nhà người ta bị bắt đi tù, bị mang ra bắn, con mình được bằng khen. Mẹ bảo tôi tìm cho mẹ một cái ống tre khô, cuộn tròn tấm bằng khen, cất vào ống tre, để lên đầu giường. Một đêm, mẹ đang ngủ, dân quân gọi ra hội quán. Hôm sau tôi mang cho mẹ mấy củ khoai, thấy hai chân mẹ bị cùm, mẹ khóc. Hơn tháng sau, dân quân giải mẹ về, gọi tôi ra quỳ cùng với mẹ. Họ ra lệnh gì mẹ tôi cũng dạ (Đoạn Đời Niên Thiếu).

Ngoài sân như hội trường. Tiếng quát tháo, tiếng giành nhau đồ đạc. Cờ quạt dựng lên từ ngõ vào. Mẹ và bà nội bị bắt đi đâu không ai biết (…). Em tôi đói. Tôi cũng đói. Em lả dần và chết bên cạnh tôi. Người đấm đá vào lưng, vào gáy mẹ. Người ta lấy báng súng tọng lên lưng mẹ (Gia Đình; trang 39).

CÁI CƯỚP GIỰT

Đó là một xã hội cướp bóc, từ trên xuống dưới, công khai.

Nhà nước cướp: “Lúa chưa kịp phơi khô. Phải nộp hết. Gọi là thuế nông nghiệp’’ (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18). Thuế nông nghiệp, thuế khả năng và hàng chục thứ thuế khác. Nhiều người bị kết án tử hình sau khi đã cống hiến tất cả, nhưng vẫn chưa đủ.

“Cha bị bắt đi quản huấn. Ở nhà, thỉnh thoảng mẹ tôi bị bắt đến nhà một cố nông để khai báo còn cất bao nhiêu vàng bạc, lúa gạo. Còn gì mà khai báo. Vàng bạc đã cúng hiến cho kháng chiến trong “tuần lễ vàng”, lúa gạo đã cúng hiến cho chiến dịch ba tháng “góp gạo nuôi quân”, mùa lúa cuối cùng đã nộp hết cho thuế nông nghiệp” (Gia Đình; trang 55)

Mặc dầu vậy, “mẹ tôi bị trói cổ tay bằng sợi dây xỏ mũi trâu bò, treo lên cành cây bưởi ở mé sân, chân không chạm đất. Đàn con ngồi trước mặt mẹ, chứng kiến mẹ bị treo lơ lửng” (Gia Đình; trang 56)

Bị nhà nước cướp sách, dân đói, cướp lẫn nhau. Mang nhau ra sỉ vả, tra tấn, hành hạ hay chém giết chỉ để cướp một cái chiếu sạch, một cái nồi đồng.

-Mẹ dậy nhóm bếp, bẻ nửa nải chuối cho vào niêu luộc. Ánh lửa hất ra đường, cốt cán Hoe Năng đi tuần phát hiện, vào kiểm tra đang nấu gì. Chuối ở đâu ra (…). Tịch thu, của ni không phải của mi. Hoe Vinh bê niêu chuối trên bếp lẫn nửa nải chuối chưa luộc, mang đi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 34).

Cái cảnh cướp giựt, từ một miếng cơm, không biết nên cười hay nên khóc:

-Cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên. Đang ăn, dân quân đứng ngoài nhìn vào. Mẹ nhanh trí làm động tác như đang húp cháo. Nghĩ là ăn cháo, dân quân bỏ đi” (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 50)

-Trước khi đi ngủ, tôi xếp mười chiếc nón vào hai cái thúng. Sáng dậy gánh đi chợ hạ. Ra đầu ngõ bị dân quân tịch thu. Đây là âm mưu của địa chủ phân tán tài sản. Từng là chiến sĩ thi đua, được cả trường tôn trọng, nay gặp những chuyện vô lý như thế, tôi uất ức, khó chịu. Nhiều đêm không ngủ được, tôi nghĩ đến chuyện tự tử (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 70).

Một người cha đi tù, chuyển lời về nhà:

“Các con cứ để cho họ lấy hết. Một cái vung cũng không được giấu. Các con cố giữ lại thứ gì, tội cha to thêm thứ đó. Các con giữ thêm một đồ vật, cha bị kết tù thêm một năm” (Gia Đình; trang 34).

CÁI ĐÓI

Cái đói là một ám ảnh lớn. Trang sách nào cũng có chuyện ăn vỏ khoai, ăn lá cây, giành giựt nhau một nắm cơm, một bát cháo.

-Bán 10 viên (kẹo vừng), lời 4 viên. Các cháu đói quá, ăn vụng mất của o, đang lời thành lỗ. Chị dâu làm bánh tẻ, bánh ít đem ra chợ. Người ta xúm lại bóc bánh ăn rồi đi, không trả tiền (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18)

–Làm việc cả ngày, được nghỉ trưa một tiếng để ăn cháo. Chị nấu ăn hôm đó dùng thùng thuốc trừ sâu đựng cháo. Thùng chưa vệ sinh sạch. Mấy người ăn bị ngộ độc. Họ nghi tôi, con địa chủ, bỏ thuốc độc vào nồi cháo. Không ai ăn cùng mâm, không nói chuyện với tôi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 20).

Đôi khi người đọc mỉm cười: Mẹ bị tố, cả nhà đói, người anh đi bộ đội gởi về tặng em một… trái mìn, để đánh cá. Mìn nổ trên mặt nước, chỉ chết vài con cá mương (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 36).

CÁI SỢ

Cai trị bằng cái sợ là một chính sách, một lý thuyết chính trị của Lénine, được Staline, Mao, Pol Pot và những đệ tử Việt Nam trung thành áp dụng triệt để.

Sợ từ khi còn ngồi ghế nhà trường: “Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết sợ gì (Gia Đình; trang 42).

“Văn đệ tứ, phải chọn giữa 3 đề, đề 2: Bình luận một câu của Trường Chinh, đề 3: Phương pháp tả người của Nguyễn Du. Cả lớp làm đề 3. Dại chi làm đề kia, viết hớ hênh một câu mất lập trường là nguy (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 21).

Cái sợ bám vào nhân thân suốt đời, như một người cao tuổi, trong Gia Đình, tới nay vẫn không dám thắc mắc một chuyện gì:

“Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai, tôi vẫn là một ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một chuyện gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình, cầm bút lên tôi lại run”.

CÁI CHẾT

Hậu quả của sự tàn bạo là cái chết. Chết vì bị treo cổ, treo đầu ngón chân, bị đánh đập, tra tấn, vì đói, vì tự tử.

-Chị ngồi tựa lưng vào gốc cây dối, dải yếm trễ xuống, thằng con như con nhái bén vẫn đang nhai vú mẹ. Lúc đó chị đã chết rồi mà tôi không biết (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 41).

-Bà nội chết vì rét hay vì đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ, bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà, thấy hai chiếc xương sườn bị gẫy (Gia Đình).

HUẤN LUYỆN CĂM THÙ

Người ta tự hỏi: tại sao những người nông dân, vốn hiền lành, đã trở thành ác quỷ? Con người có thể trở thành thánh, hay thú vật, tùy môi trường sống, tùy giáo dục. Lịch sử đã chứng minh điều đó, với xã hội Đức dưới thời Hitler, Nga dưới Staline, Tàu dưới Mao, Cao Miên dưới Pol Pot. Việt Nam không phải là một ngoại lệ, nếu điều đó có thể an ủi người Việt.

Tất cả trò đấu tố đều học của Tàu, cố vấn Tàu sang dạy cách xử án, quy định tỷ số địa chủ phải mang ra làm thịt. Đó là một xã hội xây dựng trên sự căm thù, được dạy dỗ, tập luyện từ nhỏ, từ ghế nhà trường:

– “Thầy giáo nói hôm nay nghỉ học để tối đi đấu tố địa chủ… Xen vào những buổi đi học bình thường là những buổi nghỉ học để tối đi dự đấu tố. Học sinh đến trường tập trung. Mỗi em một bó đuốc, vừa đi vừa hô. Tôi cũng hô to không thua gì các bạn (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 64).

-Tấm biển “Địa chủ” dựng trước sân. Tôi hất đi thì hôm sau thằng bạn học cùng trường đến dựng lên. Trước đây nó cùng đội thiếu niên, tôi liên đội trưởng, nó liên đội phó (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 49).

Được dạy dỗ như vậy, bọn trẻ thơ ngây trở thành ác quỷ. Có lẽ cái giết sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ, nó còn ghê rợn hơn cả chuyện giết người.

-Bị đuổi dạy, thầy giáo Banh nấu nước chè xanh đi bán ở các làng khác, khi về đến đầu làng bị nhóm trẻ con xúm vào đập vỡ hết bát, ném xuống sông, thầy ngồi khóc trên cầu (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 87).

-Ê, con địa chủ, con địa chủ. Mấy đứa lao vào tôi. Bọn con gái không đánh được thì giật tóc, gõ đầu, cấu véo. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về đến nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này (Gia Đình; trang 41).

NHỤC MẠ

Giết người chưa đủ, đánh tan nát gia đình nạn nhân chưa đủ, chia nhau từng cái chổi cùn chưa đủ, còn phải nhục mạ người sống, người chết:

“Vườn của bác đã là vườn của nông dân. Không được chôn địa chủ trong vườn nông dân” (Gia Đình; trang 23).

Có lẽ cái nhục mạ nạn nhân, cái thú man rợ khi tước đoạt luôn nhân phẩm con người chỉ có dưới chế độ cộng sản, đặc biệt là cộng sản Tàu và đàn em. Dưới những chế độ độc tài khác, thường thường chỉ có cái ác.

SỬA SAI

Năm 1957, Đảng nhận lỗi, sửa sai. Nhưng lỗi là lỗi của những phần tử quá khích. Đảng không thể có lỗi. Tại trường học, những ông hiệu trưởng, giáo viên trước đây được khen ngợi đã thành công trong việc giúp học sinh đấu tố nhau, bị kết tội do địch gài vào để phá hoại.

Nhà nước xin lỗi, thế là xong, yên chuyện, ai về nhà nấy, như không có chuyện gì xẩy ra. Như có người vô tình chạm vào tôi ngoài đường, xin lỗi. Dạ, không có chi.

Dù sao, chuyện Đảng công khai xin lỗi cũng cho phép gia đình nạn nhân được khóc công khai những người đã bỏ mạng. Và cho phép rất nhiều tác phẩm về “Cải Cách Ruộng Đất” ra đời mà tác giả không đi tù hay mất mạng.

Mặc dù vậy, cái sợ hình như vẫn đâu đó.

Đại tá nhà văn Phan Kế Toại, đề tựa cho cuốn Gia Đình, đề cao việc làm của tác giả, coi trọng việc đi tìm sự thực, không quên thòong một câu, cho chắc ăn: “Mọi người cần chung tay cố gắng trân trọng sự đổi mới, gìn giữ thành quả dân chủ để đất nước không bao giờ trở lại thời kỳ ấu trĩ như thế nữa”.

“Thành quả dân chủ”! Câu kết luận politically correct không khỏi khiến người đọc mỉm cười, khi nghĩ đến thực trạng Việt Nam ngày nay về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng…

Trong cùng một bài tựa, ông Toại kể: “Trong gia đình tôi (…), nhiều người đã bị quy địa chủ, phú nông hoặc phản động. Người bị tịch thu tài sản, người tự vẫn, người bị bắt giam, bị cùm chân, người bị xử tử”. Dùng chữ “ấu trĩ” cho một xã hội lở lói khủng khiếp như vậy có lẽ hơi nhẹ.

Bao nhiêu người là nạn nhân của “cách mạng”? Theo BBC, nhà nghiên cứu Mông Cổ Balazs Szalontai khai thác các tài liệu Đông Âu và Liên Xô, đưa ra con số 7,7 triệu người dân và hàng trăm gia đình “buộc phải tham gia và chịu hệ lụy” chỉ trong đợt giảm tô. Trong đợt chính thức Cải Cách Ruộng Đất, 4 triệu người “chịu tác động”. Tác giả Hoàng Minh Chính đưa ra con số nửa triệu người (5% dân số miền Bắc) bị phỉ quyền Hà Nội giết hại.

Riêng “Cải Cách Ruộng Đất”, theo Bernard Fall, 50.000 bị xử tử, ít nhất gấp đôi bị đày đọa đi tù lao động khổ sai. (BBC 3/2/2022)

Le Livre Noir du Communisme (Sổ Đen của Chủ Nghĩa Cộng Sản) do sử gia Stéphane Courtois chủ biên, cũng đưa ra con số 50.000 người bị xử tử, từ 50.000 tới 100.000 người bị đưa đi tù lao động khổ sai. 

Le Livre Noir là một cuốn sách dày 662 trang, do các sử gia, ký giả, giáo sư Pháp biên soạn, tố cáo những tội ác man rợ của cộng sản quốc tế, với 100 triệu nạn nhân đã bỏ mạng để xây dựng “XHCN”.

Từ Thức

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ, Từ Thức
Comment

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH ̣̣ ̣Huỳnh Anh Trần-Schroeder

February 25, 2026 Ninh Tran

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH

Họ gặp nhau trong một buổi cắm trại hướng đạo vùng Lâm Đồng cao nguyên.

Sáng tinh sương, chàng vừa đưa tay vuốt mái tóc bồng trong gió rừng, ngắm cảnh nước cuốn trên dòng suối róc rách, bỗng nghe tiếng cười khúc khích tiếp theo là”thôi đẹp rồi, khỏi cần trau chuốt”.

Quay lưng lại, chàng thấy nàng cười tươi bên cụm lan rừng ven bờ suối.

Rồi tiếp theo là

Khỏi cần xưng tên, biết anh là Sói tốt tướng, thuộc tráng đoàn Bạch Mã Lam Sơn”

Chàng nheo mắt hỏi

“Giỏi lắm! Nhưng tốt tướng xin xét lại vì còn tùy nhãn quan người nhìn. Thế còn cô tên là gì?”

Chưa có tên rừng, nhưng nếu có chắc là én ranh mảnh, én tào lao hay én chọc quê, tùy người chọn.

Tôi xin chọn “yến mỹ miều”

“Ớ cái anh chàng vô duyên, chưa quen mà đã nịnh đầm rồi.

Én nầy là én lang thang.

Cuối rừng mượn gió trêu chàng tráng sinh,

Nắng lên đẹp lối bình minh,

Nhanh lời thơ mọn, chúc xinh tháng ngày,

Chúc ai thơ thẩn khoan thai,

Ngắm sen trong ánh sương mai ngọc ngà,

Chằng hẹn nhưng trót quen ta,

Xin lời tâm nguyện trên nhà bon chen,

Xa gần trước lạ sau quen,

Nhớ ngày tao ngộ, bờ sen ven rừng.”

 Thế là họ quen nhau một buồi đẹp trời rừng núi cao nguyên.

Thế rồi họ yêu nhau, cùng chung tâm tưởng giúp đời theo lời khuyên của Baden Powell và sau đó theo lời nguyền Hippocrates sau những năm dài học trình y khoa.

Ngày trên quê hương chiến tranh tăng tốc độ khắp quan hà núi sông, chàng vừa học xong năm cuối trường y, “mùa hè đỏ lửa” 1972 anh “xếp áo thư sinh theo tiếng gọi lên đường” vào quân y lăn lóc khắp các vùng hỏa tuyến quê mình. Nàng khoác áo trắng tình thương thêu chữ thập hồng ngược xuôi các trạm y tế hậu phương cùng tiền tuyến đem hành trang học trình đỡ đần chăm sóc thương binh cùng người dân họa hoằn trong những vùng khói lửa quê hương, ngày đêm cầu nguyện cho hòa bình trở lại, cho non nước lại xanh màu, dân tình thôi đau thương và người yêu trở về với mình, dù lành lặn hay mất mác vài khoảng thân hình nhưng vững niềm tin nơi loài người còn nhân tính và xứ quê hết vận mạt.

Họ xây dây cát đằng trong một buổi tinh sương bên bờ suối ở khu rừng họ gặp nhau ngày nào. Họ yêu nhau tha thiết, quên ngày xa cách những lúc chàng hành quân. Những ngày về phép tưng bừng vui nhộn. Cuộc đời rày đó mai đây, họ trân quý từng phút bên nhau, họ cho nhau những gì đẹp nhất trên đời, không bao giờ hờn giận nhau hay hận sầu quê hương vì biết sinh ra trong thời binh biến, chẳng biết ra sao ngày sau, một ngày có nhau là một ngày hạnh phúc vô biên. Họ cảm ơn đất trời, mỗi mùa sao sáng dưới chân Thánh Giá, mỗi buồi quỳ dưới tòa sen Phật Đài, nghe lòng lắng dịu nỗi sầu nhân thế.

Rồi năm tháng dần trôi. Gia đình lại thêm hồng phước với hai con, một trai, một gái, thêm tiếng cười ngày cha về phép.

Rồi tháng tư đen bỗng đến trong nghẹn ngào trên đất nước lầm than.

Rồi gia đình cùng qua cửa thần phù trên Thái Bình Dương khổ ải.

Nơi xứ lạ quê người thành quê hương thứ hai, cuộc sống đầy thử thách lại bắt đầu, tìm tình người trong nỗi sầu vong quốc, tìm ánh tương lai cho đàn con và ngày tĩnh lặng thu đông cuộc đời cho song đường hai bên người còn, người mất.

Bát ngát ruộng vườn ngô lúa mì mang nguồn sống mới, tuy khác lạ với ruộng vườn phù sa, cây trái xum xuê của miền nhiệt đới, nhưng đây là mảnh đất nhiệm mầu có chân tình thiên hạ, tâm hiền người dân làng quê xứ nhỏ của bao la xứ Mỹ. Nơi đây con của họ lớn lên, không nuôi dưỡng hận thù bất đắc dĩ, biết nhận thức nét đẹp thiên nhiên và cao cà lòng người với người dân nhiều hiểu biết văn hóa hơn dân xứ xưa của mình nhưng vẫn giữ lòng chất phác như người dân Việt của những ngày họ vừa lớn, vừa biết yêu thương.

Không như một số người y khoa đồng môn, đồng khóa đã đến bến bờ xứ Mỹ như họ mà vẫn đua đòi công hầu danh tướng sống nơi tụ tập dân Việt nhiều xa hoa như vùng Quận Cam Cali hay thủ đô Hoa Thịnh Đốn, vừa se sua thành tích, vừa nổ miệng khoe của, khoe thành tích con em chức cao đổ đạt, họ cần mẩn làm y sĩ làng quê, vui với sự giúp đỡ y tế cho dân làng và vui thú điền viên. Cuộc đời thật thanh bình, con cái hòa hợp, hòa đồng, trưởng thành với người bản xứ.

 Hôm nay là ngày kỷ niệm thứ  năm mươi  ngày họ gặp nhau.

Tay trong tay, hai bóng người lững thững dạo đường mòn ven núi, trong rạng đông sương gieo thánh thót trên chốn thiên nhiên âm thầm thanh tịnh.

Trên thảm cỏ xanh viền bờ suối vờn bọt sóng, họ ngồi cạnh nhánh cây nửa chìm nửa nổi trên dòng nước. Vuốt tóc nàng, chàng thầm thì trong gió rù rì qua rặng cây:

Cánh én yêu kiều, nhạn rừng hoang,

Hồn thơ lai láng, giấc mơ vàng,

Thương em qua dặm ngàn dâu bể,

Từ bình minh én dựng mùa xuân,

Đến độ thu đông, tuổi ân cần,

Tình sói miên man, dâu bể chẳng nề.

Sáng rạng đông hay cuối dương tà,

Tình ta tha thiết, tình mặn mà,

Thương em như lụa ngà trăng giăng,

Như bóng nguyệt lồng ngọn hải đăng,

Như đường tàu sóng hoa giăng trắng,

Trắng mơ màng người yêu dưới trăng.

Giờ đây sương khói mờ nhân ảnh,

Vẫn thương người em đẹp như tranh,

Bờ rừng ven suối lời ranh mành,

Trộm trái tim anh về chốn vườn thanh.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH
Comment

Viên Đạn Cuối Cùng (Bảo Định)

February 13, 2026 Ninh Tran

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trãi qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi dục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẵng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẩn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.

Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngũ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngã tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cải lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cọng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sữ. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giãi tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khoẽ. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.

Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vở. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.

Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL.Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:

- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hãi quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẳn sàng.

- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.

- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.

- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.

- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lữa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.

Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giãi phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:

- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặc khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăng bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra hỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!

Bảo Định - 30/4/2006.

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trãi qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi dục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẵng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẩn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.

Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngũ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngã tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cải lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cọng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sữ. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giãi tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khoẽ. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.

Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vở. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.

Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL.Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:

- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hãi quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẳn sàng.

- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.

- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.

- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.

- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lữa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.

Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giãi phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:

- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặc khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăng bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra hỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!

Bảo Định

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Viên Đạn Cuối Cùng, Bảo Định
Comment

Nửa Ổ Bánh Mì (Song Tử - Nguyễn Vân An)

February 13, 2026 Ninh Tran

Đây không phải là một bộ truyện ngôn tình sắc - sủng ướt át ngập cảnh nóng. 
Cũng không phải một bộ truyện teen tình yêu đầy ảo tưởng.
Không tình yêu, không tình dục… tôi chỉ muốn viết về một người mà đối với tôi, tình cảm ấy còn to lớn hơn gấp trăm ngàn lần tình yêu.

Ba mẹ tôi đến với nhau nhờ sự gắn ghép giữa bà nội của mẹ và mẹ của ba. Ý tôi muốn nói ở đây chính là ba mẹ tôi không hề yêu nhau trước khi làm đám cưới.
Mẹ của ba - tức bà nội tôi từng kể rằng ba trước khi kết hôn với mẹ đã có người yêu, nhưng bà nội không thích cô gái kia nên một mực ép ông cưới mẹ… Ba cũng không thể cải lời bà nên ngậm ngùi chia tay mối tình ấy mà cưới mẹ về.

Không bao lâu thì anh trai - người mà tôi muốn nói đến ra đời.

Năm đó hạn hán kéo dài, gia đình tôi đã nghèo lại càng nghèo hơn. Mẹ không còn sữa cho anh tôi uống nữa, khi đói thì khóc thét lên mẹ lại mang nước cháo cho anh tôi uống tạm qua cơn đói, ấy vậy mà anh tôi vẫn lớn lên, tuy hơi ốm một chút… nhưng thật khỏe mạnh.

Nhà tôi không có đất đai gì nhiều, được bà nội cho một ô ruộng để canh tác kiếm gạo sống qua ngày, ba tôi thường đi làm thuê làm mướn bên ngoài để kiếm tiền lo cho gia đình. Anh tôi được gửi sang nhà nội nếu đến ngày làm đồng án, cứ thế cuộc sống trôi qua.

Đến khi tôi được sinh ra, là lúc anh trai tôi lên bảy tuổi. Bà nội thường nói, tôi chính là may mắn của gia đình, vì năm tôi sinh ra cũng là năm mưa thuận gió hòa, lúa trúng đầy đồng. Ba tôi lại được ông chủ nhận làm quản lý của một kho lúa. Gia đình tôi nhờ vậy mà thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy vậy cũng chỉ đủ ăn qua ngày… nói là khá giả thì không đúng.

Năm tôi lên sáu tuổi, cũng đã đủ nhận thức mọi việc xung quanh mình. Tôi và anh trai là hai cực đối lập nhau, anh tôi thì sau khi đến trường đều ở nhà dọn dẹp nhà cửa nấu cơm giúp mẹ rồi học bài, còn tôi thì chỉ thích rong chơi ngoài đường cùng tụi thằng Tý, thằng Tèo. Ấy vậy mà mẹ tôi chẳng mắng tôi câu nào, ba thì mãi lo làm đến tối khuya mới về… người duy nhất thường la mắng và đánh đòn tôi chính là anh tôi.

“Viết bài chưa?” - Giọng nói đầy uy quyền của anh trai tôt thốt lên.

“Đi chơi về sẽ viết.” - Lúc ấy tôi không gọi anh tôi là anh, thường xưng là mày tao.

“Viết bài xong mới được đi chơi.”- Anh vừa ngồi trên bàn học vừa nói. “Bước ra khỏi nhà tao đập gãy chân.”

“Mày giám đánh tao, tao méc ba” - Tôi thách thức rồi cũng chạy ra khỏi nhà.

Tôi mang ba ra hù vì ba rất thương tôi, và có đôi phần lạnh lùng với anh - điều này thì sau này tôi mới nhận ra.

Tôi thường cùng thằng Tý và thằng Tèo chơi bắn bi ngoài sân phơi lúa của nhà thằng Tèo, nhà nó rộng lớn thuộc dạng giàu có trong làng, nó chỉ cho tôi và thằng Tý vào chơi vì có lần nó bị bọn xóm trên đánh trên đường, tôi và thằng Tý đã đánh bọn kia cứu nó, từ đó ba đứa trở thành bạn thân với nhau.

Thường thì tôi thích chơi bắn bi tam giác, còn hai đứa nó thích chơi bắn bi chia mức… Chỉ là tôi bắn bi rất giỏi, bắn bi tam giác một lần sẽ ăn được rất nhiều bi của tụi nó. Có lần xếp chín viên bi vào hình tam giác vẽ trên mặt đất, chỉ một mình tôi bắn đã ăn hết sạch chín viên khiến tụi nó tức lắm, nhưng không làm gì được.

“Chơi bắn bi chán rồi, tao có cái này hay hơn” - Thằng Tèo nói, sau đó nó vào trong nhà mang ra một cái cù tròn tròn được đẽo tỉ mĩ, nó dùng dây tung một cái cái cù liền xoay rất nhanh.

“Ai làm cho mày đó.” - Tôi hỏi.

“Ba tao mua trên thị xã” - Tèo đáp.

“Cho tao mượn coi.” - Thằng Tý thích thú.

Tôi nhìn thấy cũng thích, sau khi chơi chung cùng thằng Tèo con cù của nó tôi về nhà nằng nặc đòi ba tôi mua cho một cái. Nhưng ông tuy thương tôi nhưng thời đó việc mua những thứ này là phung phí, vậy là tôi bị đòn một trận rồi khóc lớn mà đi ngủ.

Hôm sau, khi tôi đi học về đến nhà thì nhìn thấy anh tôi đang cặm cụi làm gì phía sau nhà, tôi tò mò chạy xuống xem, thì ra anh tôi đang tự tay đẽo con cù cho tôi. Tôi cảm thấy vô cùng vui sướng, lúc đó tôi không còn ghét anh tôi nữa, nhưng cũng chỉ là lúc đó thôi.

Cù anh tôi làm quay còn nhanh và lâu hơn của thằng Tèo nữa, nó năn nỉ tôi đổi với nó nhưng tôi nhất quyết không chịu. Đến một lúc nó mang ra năm đồng tiền bảo rằng muốn mua lại con cù của tôi, số tiền năm đồng khi ấy với tôi như một gia tài, tôi đồng ý bán cho nó.

“Thằng Út đâu, mau ra đây.” - Tiếng la rất lớn trước cửa nhà tôi, còn Út chính là tên của tôi.

Mẹ tôi chạy ra trước, còn tôi thì đứng phía sau cửa, tôi nhận ra người đàn bà kia chính là mẹ thằng Tèo đang nắm tay nó qua nhà tôi, trên tay bà ta là con cù mà tôi bán cho thằng Tèo.

“Chị tìm thằng Út có chuyện gì vậy ạ?” - Mẹ tôi bất ngờ hỏi.

“Chị dạy con kiểu gì hả, mới còn nhỏ đã dụ con tôi trộm tiền nhà đề mua cái này của nó… Mau gọi nó ra trả lại năm đồng cho nhà tôi mau.” - Bà ta mắng chửi.

Mặt tôi tái mét, lần này xem ra sẽ bị ăn no đòn.

“Mày có lấy năm đồng của thằng Tèo không?” - Mẹ tôi hỏi.

Tôi từ trong túi móc ra năm đồng đưa về phía trước, giọng rung rung đầy lo sợ: “ Là nó đòi mua, con không có dụ nó ăn cắp tiền.”

Mẹ thằng Tèo sau khi chửi bới đủ thứ, lấy lại năm đồng kia rồi quăng lại con cù của tôi xuống đất bỏ về nhà. Mẹ tôi nhìn hàng xóm bu lại coi thì xem ra rất tức giận, bà lôi tôi vào trong đóng của lại, bắt tôi nằm úp lên giường.

“Lỗi không phải của thằng Út, mẹ không được đánh nó.” - Mẹ tôi đưa cây roi lên, giọng anh trai tôi vang lên.

“Mày còn binh nó, tao đánh cả mày luôn.” - Mẹ tôi vút một roi vào mông tôi, tạo thành một lằn đỏ ửng. Còn tôi thì khóc thét lên.

Đến roi thứ hai thì tôi không cảm thấy đau nữa, mẹ tôi thì tức giận vứt roi xuống đất mà nói: “Đúng là thứ mất dạy.”

Thì ra roi thứ hai kia anh trai tôi đã dùng tay đỡ giúp tôi, lúc đó tôi cũng thấy lạ, thường ngày anh đánh tôi rất ác… nay lại đỡ đòn giúp tôi như vậy.

Lần đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng mẹ tôi đánh tôi cho đến tận bây giờ, bà vẫn không hề ngó ngàng đến tôi, cũng không buồn nói chuyện với tôi quá ba câu.

Năm tôi lên lớp ba, anh trai tôi cũng vừa vào cấp ba nên nhà tôi càng chật vật hơn vì lo cho chúng tôi ăn học. Mặc dù trường cấp ba rất xa nhưng anh tôi hằng ngày vẫn đi bộ từ năm giờ sáng để kịp đến trường, còn tôi thì hằng ngày vì tiện đường đến nơi ba làm việc nên được ba chở đi bằng chiếc xe đạp duy nhất trong nhà.

Tôi vẫn bị anh tôi đánh vì tội ham chơi, lười học. Anh tôi thì học rất giỏi, năm nào cũng được lãnh thưởng và được giấy khen, cũng nhờ có anh tôi kèm cặp tôi hằng ngày mà tôi vẫn thế lên lớp đều đều, tuy nhiên tôi vẫn không gọi anh bằng anh như hiện tại.

Năm đó mẹ tôi không làm ruộng nữa mà theo người ta lên thị xã làm công nhân, vì còn có gia đình nên mẹ đi đi về về không ở lại như các cô chưa chồng. Sáng mẹ thường mua một ở bánh mì rồi cắt làm đôi để trên bàn, để anh em tôi ăn sáng trước khi đi học. Tôi thường dậy trễ hơn anh nên khi dậy tôi chỉ nhìn thấy nửa phần còn lại trên bàn.

Hôm ấy vào tờ mờ sáng, tiếng gà gáy vang dội cả một phương, tôi buồn tiểu nên bật dậy đi ra nhà vệ sinh. Khi quay về phòng đi ngang qua bàn cơm nhìn thấy anh trai tôi đang mở hai phần nửa ổ bánh mì ra xem.

“Mày làm gì đó.” - Tôi hỏi.

“Chưa sáng đâu, vào ngủ đi.” - Anh trai tôi lấy phần nửa ổ bên trái rồi nói.

Tôi lườm lườm anh rồi vào phòng mình ngủ mà ấm ức, tôi lại càng ghét anh trai tôi hơn.

Quả nhiên sáng hôm sau khi ăn nửa ổ bánh mì kia, tôi phát hiện bên trong nó ít thịt hơn bình thường.

Không biết ai nói gì, anh trai tôi bắt tôi gọi anh ấy là “anh” chứ không được hổn láo như trước nửa. Tôi nhất quyết không chịu, cuối cùng bị anh tôi đánh cho một trận tơi bời cho đến khi gọi anh ấy là “anh”. Tôi cứng đầu nhất quyết không chịu gọi, lúc đó anh tôi mới nói: “Mày không chịu gọi là anh, anh cũng sẽ mặc kệ mày giống mẹ.”

Năm đó lúa trúng, ba ở mãi trong kho làm việc, tôi không chịu được đành gọi anh ấy là “anh” cho đến tận hôm nay.

Vỏn vẹn hai năm trôi qua, anh tôi tốt nghiệp cấp ba thì tôi chuẩn bị vào cấp hai. Không nói ra nhưng tôi biết anh muốn thi lên đại học, ba tôi thì nói nhà không có điều kiện nên bảo anh ra kho làm cùng ba. Mẹ tôi và ba tôi cải nhau rất nhiều lần đó, tôi chỉ nhìn thấy mẹ khóc rất nhiều rồi khi nhìn thấy tôi thì ánh mắt rất dữ tợn. Lúc ấy, anh trai tôi đã lôi tôi ra ngoài đồng… tôi chỉ biết đi theo vì không dám ở nhà với mẹ lúc ấy.

“Anh sẽ không đi đâu, dù ba có cho.” - Anh không nhìn tôi, nhìn về phía ánh mặt trời đang lặn phía đằng tây.

Thật ra tôi không thích anh, nói đúng hơn là rất ghét anh nhưng nghĩ đến lúc anh đi học xa nhà tôi lại chột dạ như không muốn. Bởi, tôi sợ tôi không còn ai để ghét, không còn ai mắng chửi, không còn ai bắt tôi học bài.

“Nhưng mẹ muốn anh đi.” - Tôi đáp.

Anh xoa đầu tôi, mái tóc tôi thời ấy còn để hai mái rất ngố, nó xù lên như một thằng dở người.

“Anh đi rồi, ai giành ăn bánh mì với mày.” - Anh cười lớn.

Nhắc đến bánh mì, tôi quên kể cho các bạn nghe một chuyện, buổi sáng hôm ấy, tôi cũng buồn tiểu nên đi tiểu, lần này cũng thấy anh tôi đang làm gì đó trên hai phần bánh mì của tôi và anh. Tôi định bước ra nhưng nghe tiếng mẹ đành thụt lùi.

“Mày làm gì đó.” - Mẹ tôi lên tiếng.

“Không có gì, mẹ để quên đồ ạ? “ - Anh tôi hỏi.

Mẹ tôi bước lại lấy nửa ổ bánh mì trên tay anh, nhìn vào bên trong liền tức giận: “Tao có đối không tốt với nó đâu, tại sao mày phải nhường hết thịt cho nó.”

Anh tôi cười: “Thằng Út còn nhỏ, cần nhiều dinh dưỡng để học… con lớn rồi… chỉ cần no bụng.”

Tôi nhận ra… thì ra… anh tôi nhường cho tôi thịt bên trong ổ bánh mì từ đó tới giờ, lần đó vì bị tôi phát hiện mà không thể trút thịt qua nửa ổ của tôi được. Ngay từ lúc ấy, thật ra tôi đã bớt ghét anh đi nhiều. Và điều đó tôi cũng giấu trong tim cho đến ngày hôm nay. Từ sau ngày đó… tôi lấy lý do muốn được chọn lựa nên dậy rất sớm để lấy phần bánh của mình trước anh, thật ra tôi không muốn anh tôi chỉ ăn mỗi vỏ bánh như vậy.

Vậy là anh không thi lên đại học mà giúp ba ra kho phụ người ta vác lúa vào kho, còn tôi vẫn đến trường hằng ngày vô lo vô nghĩ. Mỗi tối anh tôi vẫn dạy tôi học bài, vẫn không cho tôi đi chơi… và vẫn đánh đòn nếu tôi bị điểm kém.

“Mùi gì lạ vậy?” - Tôi đang học thì nghe mùi rất lạ.

“Lo làm bài đi, đừng nhiều chuyện” - Anh tôi ngồi bên cạnh.

“Nhưng mùi rất khó chịu.” - Tôi nhăng lại.

“Anh đi ra ngoài một chút, khi vào chưa làm xong biết tay anh.”

Khi anh tôi đi ra ngoài, mùi kì lạ kia cũng biến mất… sau này tôi mới biết đó là mùi rượu thuốc trị nhức mỏi người, thì ra anh làm việc nặng nhọc nên bị đau lưng.

Tôi vào cấp ba, mọi người hối thúc anh cưới vợ… anh chỉ cười rồi lắc đầu: “Đợi thằng Út vào đại học, anh cưới vợ rồi ai canh nó học bài.”

Nhờ có anh nên tôi ngày càng học tiến bộ hơn, tôi liên tiếp được học sinh giỏi rồi thi huyện thi tỉnh được giải thưởng rất cao. Ba tôi tự hào lắm hay mang ra khoe với hàng xóm, anh chỉ cười cười khi nhìn thấy thành tích của tôi… còn mẹ tôi, tuyệt nhiên không quan tâm đến.

Tôi nhận ra cái mùi hôi trên người anh ngày càng nồng hơn, cảm thấy lưng anh tôi ngày càng cong hơn… nhưng tôi lại phớt lờ vì nghĩ anh bị đau lưng thông thường.

Ba mẹ tôi thường xuyên cải nhau hơn, tôi cũng không biết nguyên do chỉ vì mỗi khi họ cải nhau anh lại kéo tôi đi ra ngoài ruộng. Nhiều khi anh không nói gì, gương mặt chỉ hiện một nét buồn khắc khổ.

“Mày có người yêu chưa Út.” - Anh tôi hỏi.

“Người yêu gì, em còn nhỏ mà.” - Tôi đáp.

“Bằng tuổi mày, là tao có người yêu rồi đó.” - Anh tôi nằm lên đống rơm vàng ngoài ruộng, đôi môi hơi cười.

“Vậy sao anh không chịu cưới chị ấy đi.” - Tôi cũng nằm bên cạnh anh.

“Cuộc đời này đâu phải muốn là được, mày gáng học biết không… mày mà không đậu đại học thì tao đập gãy chân mày.”

Năm tôi học mười hai, cũng gần đến ngày đăng kí thi đại học… tôi phân vân không biết thi trường nào thì anh tôi lại nói: “Mày thích làm cái gì thì thi cái đó, đừng nghe lời người khác mà phân tâm… Gáng thi đậu, rớt là về làm ruộng thấy cha mày luôn biết chưa.”

Tôi được ba cho tiền đi luyện thi, vì chương trình luyện thi đại học vượt quá hiểu biết của anh. Anh trai tôi - chỉ là một thằng vác gạo ngoài kho… nhưng với tôi anh còn hơn cả một người thầy, hơn cả một người cha người mẹ… bởi vì tôi ghét anh lắm, ghét đến mức không muốn khiến anh thất vọng.

Tôi đậu đại học, ba tôi rất tự hào mang tôi khoe với cả làng. Anh tôi chỉ đứng nhìn giấy gọi nhập học mà mỉm cười hài lòng. Tôi thu xếp quần áo, chuẩn bị lên thành phố lớn để bước vào trường đại học.

“Cầm lấy mà lên đó cần gì thì mua, tiền ba làm ra lúc nào cũng đưa cho mẹ… Mẹ lại tiết kiệm nên có lẽ sẽ khó khăn cho mày.” - Anh tôi đưa cho tôi một số tiền.

“Cảm ơn anh.” - Tôi không biết nói gì ngoài hai từ ‘cảm ơn” bởi vì không có anh tôi sẽ không có ngày hôm nay.

Anh tôi không đáp… đi ra ngoài cho tôi tiếp tục thu dọn.

“Sao mày có thể cầm tiền anh mày để dành cưới vợ mà không suy nghĩ, mày đúng là ích kỉ như thằng cha của mày.” - Mẹ tôi bước vào phòng nói, gương mặt cau có.

Tôi không đáp… nhìn số tiền trên tay… bỗng dưng rơi nước mắt. Nước mắt của một thằng con trai, lần đầu tiên rơi không phải vì mẹ tôi mắng… mà chính là vì tôi cảm thấy tôi rất thương anh trai tôi, anh ấy đã vì tôi mà hy sinh quá nhiều.

Trước khi đi, tôi mang số tiền kia nhét vào dưới gối ngủ của anh. Anh không ra tiễn tôi, chỉ có ba tôi chở tôi ra bến xe rồi đưa tôi đến trường. Lần đầu tiên tôi xa nhà, người tôi nhớ chỉ có anh trai tôi.

Ở trong kí túc xá trong trường, tôi nghe thầy quản sinh gọi tên mình ra cổng có người tìm… tôi cứ ngỡ ba tôi đến tìm nhưng thật bất ngờ người đến tìm tôi lại là anh trai tôi. Dáng người cao cao gầy gầy, cái lưng cong cong theo năm tháng… từ phía xa tôi nhìn anh trai tôi… tự khi nào tôi đã ích kỉ như lời mẹ tôi nói, tôi đã không nhìn thấy nét già đi hơn cái độ tuổi của anh.

“Sao mày không mang theo tiền, để tao phải mang đến cho mày.” - Anh tôi đưa số tiền về phía tôi.

“Tiền anh lấy vợ, em không lấy đâu.” - Tôi từ chối.

“Tao không lấy vợ, mày cầm lấy mua gì thì mua.” - Anh tôi nhét vào túi tôi.

“Sao lại không lấy vợ, anh giữ đi… em ở đây rất tốt.” - Tôi nhất định không lấy.

Tôi ra trường, trở thành một kỹ sư và làm việc ở thành phố lớn… còn anh trai tôi hằng ngày vẫn vác những bao gạo nặng trĩu đôi đôi vai đầy mùi rượu thuốc. Ba tôi vẫn xem tôi như niềm tự hào của ông, anh trai tôi vẫn im lặng để nhìn tôi bước trên con đường thành công.

Vào một ngày nọ, mẹ tôi đến tìm tôi trong căn phòng trọ mà tôi thuê ở, tôi hơi bất ngờ vì suốt bao năm qua mẹ tôi chưa hề đến thăm tôi dù chỉ một lần.

“Mẹ, mẹ vào nhà đi ạ.” - Tôi ái ngại.

“Tôi không có nhiều thời gian nói chuyện với cậu, chỉ muốn cầu xin cậu một việc.” - Mẹ tôi nói, trên khóe mắt bà đã nhăng đi theo thời gian.

“Mẹ nói chuyện gì kì lạ, vì sao lại là cầu xin.” - Tôi hỏi.

“Anh trai cậu bị thận nhưng nhất quyết không chịu đi bệnh viện, giờ nó nằm liệt ở nhà ai nói gì cũng không đi… Nó thương cậu từ nhỏ, cậu hãy nói giúp tôi.” - Mẹ tôi nói, giọng nói rung rung đầy xa lạ.

Tôi ngay lập tức đón chuyến xe sớm nhất về quê, con đường về quê tôi khá xa… tôi lại nóng lòng muốn gặp anh, đã bao lâu vì có quá nhiều việc mà tôi không về thăm anh, tôi dần quen với cuộc sống thành thị mà quên đi sự chăm sóc từ anh. Tôi đã lớn, tự nhận thấy bản thân phải báo đáp anh.

“Mày về làm gì, tao không sao hết.” - Anh trai tôi nói.

“Nghe lời em, đi bệnh viện đi anh.” - Gương mặt anh xanh xao, gầy ốm.

“Từ khi nào mày có quyền đó hả, mày dù có lớn thì mãi mãi cũng là thằng Út em trai tao, hiểu không, dù có chuyện gì xảy ra mày vẫn mãi là em trai tao.”

Tôi không nghe lời anh, tôi nhất quyết không nghe lời anh tôi nữa… anh có đánh gãy chân tôi tôi cũng không muốn nghe lời anh nữa. Tôi và mẹ đưa anh đến bệnh viện, bác sĩ nói anh đã bị suy thận giai đoạn cuối do làm việc lao lực, tuy nhiên đã ủ bệnh quá lâu không điều trị kịp thời… nếu không tiến hành ghép thận sẽ không thể qua khỏi.

Gia đình tôi vẫn nghèo… dù lúc ấy tôi đã có việc làm nhưng chỉ là một sinh viên vừa ra trường, và điều duy nhất tôi có thể cho anh chính là quả thận của tôi.

Tôi không cho anh biết chuyện tôi sẽ cho anh một bên thân của tôi, anh ngồi trên xe lăn để tôi đẩy anh ra ngoài công viên hít thở không khí trong lành. Tôi ngồi bên cạnh anh, không nói gì… tôi biết vì tôi mà anh trai tôi rất đau đớn.

“Út, tao sắp chết rồi phải không?” - Anh tôi hỏi.

Tôi lắc đầu: “Không, anh sẽ không sao?”

“Mày biết vì sao mẹ không thương mày không, tao nghĩ mày đủ thông minh để nhận ra điều đó.” - Anh trai tôi nói.

Tôi lắc đầu: “Em không biết nhưng đối với em… mẹ vẫn mãi là mẹ.”

“Vì bả không phải người sinh ra mày, năm đó ba phát hiện tao không phải con ổng… nên ổng đi tìm cô người yêu trước khi cưới bả. Cuối cùng thì mang mày về… kiểu như trả thù. Và tao với mày lớn lên trong cái gia đình như vậy, cho nên từ nhỏ tao đã bắt mày học… mày phải học thật giỏi thì người khác mới không có cơ hội chê cười mày.”

Tôi có chút bất ngờ, nhưng trên hết là đã giải tỏa được thắc mắc rằng vì sao mẹ luôn lạnh nhạt với tôi.

“Tao với mày không có ruột rà máu mủ gì cả, vậy nên mày không cần ở đây chăm sóc tao.” - Anh tôi lắc đầu: “Tao chết cũng không được phép khóc hiểu chưa.”

Trên đường đến bệnh viện để chuẩn bị thủ tục hiến thận, một y tá đến nói với tôi rằng anh tôi đã trút hơi thở cuối cùng… Lý do chính là anh tự sát. Tôi không hiểu vì sao anh lại làm vậy, nhưng mẹ tôi nói rằng vì anh biết tôi muốn hiến thận cho anh, anh chỉ muốn tôi là một người toàn vẹn, thành công và không bị người đời chê cười.

Tôi lại cãi lời anh, tôi khóc rất nhiều…

Nhưng tôi tin… anh sẽ không đánh gãy chân tôi… vì anh chỉ hù dọa tôi thôi…. anh thương tôi hết luôn cả thương bản thân anh.

Còn tôi… tôi nhận ra… dù tôi và anh không hề có huyết thống… anh vẫn mãi là người tôi tôn trọng và yêu thương nhất. Tình cảm đó… chưa bao giờ tắt... 

 

Song Tử (Nguyễn Vân An)

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Song Tử (Nguyễn Vân An), Nửa Ổ Bánh Mì
Comment

KHÚC HÁT TRONG KHÔNG (Phạm Anh Dũng)

February 5, 2026 Ninh Tran

KHÚC HÁT TRONG KHÔNG

Sắc sắc không không chiều gió lặng 

Vô thường lay bóng chiếc thuyền trăng 

Tham sân si ngủ trong sương mỏng 

Ý khẩu thân về tựa ánh trăng 

 

Vô minh phủ lối mờ nhân ảnh 

Chuông chùa ngân nhẹ động trời xanh 

Hơi thở vào ra như sóng vỗ 

Từ bi thắp lửa ấm mong manh 

 

Buông xuống một niệm thôi 

Nghe lòng nhẹ như mây trôi giữa trời 

Vô thường đi qua rất khẽ 

Mà sen vẫn nở trong đời… lặng thinh 

 

Hỷ xả mở lòng như mây trắng 

Nhân duyên hợp tan tựa khói sương 

Bến giác đâu xa ngoài tự tánh 

Hoa sen còn nở giữa vô thường

--

In Thơ, Quán Chiếu Tags KHÚC HÁT TRONG KHÔNG, Phạm Anh Dũng
Comment

Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi (Lê Diễm Chi Huệ)

January 28, 2026 Ninh Tran

Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi

Khói hương nghi ngút tỏa

Người về trong sương đêm

Cõi trần gian lây lất

Bỗng rơi một vệt sầu!

Từ nhỏ tôi là một đứa trẻ khác với chúng bạn: ốm yếu nhút nhát và thường chơi một mình. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với khung cảnh núi rừng thâm u. Tôi không nhớ đã yêu trăng tự lúc nào, chỉ nhớ là rất mê ngắm trăng, một cái thú mà lắm lúc làm cho mẹ tôi phải phàn nàn. Mẹ năm lần bảy lượt gọi tôi vô ăn cơm tối, nhưng tôi cứ lưỡng lự vì mải say sưa vân du cùng bóng nguyệt. Giữa núi rừng hoang vu tĩnh mịch, tôi bầu bạn cùng trăng và ánh trăng là niềm an ủi vô tận. Ánh sáng mờ đục rọi xuống sân nhà đã cùng tôi dệt bao mộng mơ. Khung cảnh tứ bề hoang vu. Cả ngày tôi chơi với bóng trăng và lẩn thẩn một mình. Trong khi những đứa trẻ ngang lứa với tôi vui đùa vô tư lự, thì tôi lại thích ngồi một mình trầm ngâm suy nghĩ vẩn vơ hoặc để hồn chu du buồn theo gió sầu theo mây. Tôi hay tưởng tượng những áng mây tích tụ và tan là những hình hài luôn biến đổi. Tâm hồn tôi mẫn cảm, mau khóc mau buồn, và có lẽ đó cũng là lý do tôi trở thành một người nội tâm về sau.

Tôi không biết là những đặc tính của mình khiến cho tôi lọt vào mắt xanh của các vị ở cõi giới vô hình hay tôi có căn duyên với họ, nhưng từ nhỏ tôi có một vài trải nghiệm tâm linh mà tôi thường nghe gia đình kể lại. Tôi không để tâm vào những điều tâm linh xảy ra với tôi cho lắm vì tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì nhiều . Qua Mỹ tôi lo vùi đầu vào việc học hành để tiến thân không có thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác, cho đến khi mãi sau này. Dù đã trưởng thành, tôi luôn mang một cảm giác lạc lõng giữa chốn đông người. Có lẽ từ nhỏ tôi quen bầu bạn với chính mình, với tiếng nói tữ bên trong nên nội tâm của tôi là người bạn đồng hành trong sự tĩnh lặng vô biên. Rồi cuộc đời đưa đẩy tôi đứng trước những biến cố đầy rẫy thị phi, những con người mà tôi không gây thù oán nhưng lời nói và hành động đầy ác tâm của họ đã đẩy tôi đến bờ tuyệt vọng. Giữa khổ đau tột cùng, tôi cảm nhận dường như có một lực vô hình chạm vào người mình và vực tôi dậy. Tôi bỗng trở nên mạnh mẻ, sắc bén không như yếu đuối, dễ vỡ trước kia. Những điều cần nói cần viết như có ai rót vào tư tưởng khiến tôi trở nên nhạy bén mà bản thân tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên. Đó là lần đầu tiên tôi va chạm những rong rêu bọt bèo trần gian.

Biến cố kéo theo những rối rắm khác khiến tôi cảm giác mình như bị cuốn trôi trong cơn lũ. Bỗng anh xuất hiện, người xưa của tôi đã chết cách đây hai mươi năm, khiến tôi như trời trồng. Anh được giao sứ mệnh bảo hộ tôi. Vốn là người nhạy cảm nhưng cứng đầu, tôi hấp thụ nền giáo dục bên Mỹ nên đầu óc tôi nặng khoa học: phải mắt thấy tai nghe tôi mới tin. Sự xuất hiện của anh, người mang sứ mệnh bảo hộ đã dập cái bản ngã của tôi bao trận và nghiền nát tất cả sự hiểu biết ít ỏi của tôi về cõi giới vô hình, một cõi giới song song với cõi người trần. Và sự tỉnh thức tâm linh dường như tự kích hoạt trong tôi kể từ đó. Tôi cảm niệm sâu xa về sự cứu rỗi vô hình đúng lúc từ các vị trong cõi giới bên kia nên phát nguyện trường chay, và không ngờ đó cũng là bước ngoặc lớn trong cuộc đời tôi.

Mười năm không phải là chuồi thời gian quá dài cũng không phải là quá ngắn nhưng với một người thích chiêm nghiệm như tôi thì có quá nhiều điều để chia sẻ. Ở cái cõi nhân gian mấy ai hiểu, tôi không quan tâm ai nghĩ tôi thế nào, khen hay chê ra sao, tôi làm những điều từ cái biết, cái thấy từ bên trong. Tôi vẫn là một con người bình thường với những hỉ nộ ái ố như bao người khác, tuy nhiên điều khác hơn là những cảm xúc đó luôn đi kèm theo sự quán chiếu. Quan trọng nhất, những cái “tự nhiên biết”, và “tự nhiên thấy” đến với tôi những lúc tôi cần là điều bản thân tôi không thể giải thích được. Bài học lớn nhất mà tôi luôn ghi nhớ là chớ phán xét người . Anh thường nhắc nhở ” em không được phán xét người nghe em. Họ như vậy là do nghiệp quả.”. Lòng trắc ẩn và nhìn căn cơ của người là điều tôi suy xét để có cái nhìn cảm thông hơn về lời nói hay hành động của người khác. Khi lòng trắc ẩn có mặt thì tâm sân hận khó có cơ hội hoành hành.

Những người lấy bên ngoài làm nền tảng hạnh phúc dễ khiến tâm bị mù mờ bởi họ trở thành nô lệ cho bản ngã. Một cái tâm mù mờ sẽ khiến họ khó phân biệt đúng sai, thiện ác, điều này ảnh hưởng đến lời nói và hành động và cuối cùng tự chuốc lấy khổ đau từ sự bất an bên trong. Muốn có trí tuệ tâm linh, chúng ta phải rèn luyện và dọn rác thân tâm mỗi ngày. Thử thách lớn nhất là chúng ta sống trong một xã hội được định hướng sẳn nên khó vượt lên trên để tìm sự chân thật, sự trong suốt đến từ bên trong. Muốn có sự chân thật, trong suốt đó chúng ta bắt buộc phải làm cuộc giải phẩu nội tâm, và bớt quan tâm thói thường thế gian. Carl Jung, nhà tâm lý học nổi tiếng từng nói: “Who Who looks outside, dreams; who looks inside, awakes”. Những người vọng ngoại là người mơ, những kẻ đi vào bên trong là những người tỉnh. Tất cả những điều mà chúng ta hơn thua để có được từ hư danh đến chiếc mặt mạ hoàn hảo cũng chỉ là “giai thị hư vọng”, thấy vậy chứ không phải vậy bởi nó cũng chỉ là những huyễn hóa mà chúng ta ôm chặt bất chấp khổ đau.

Mười năm anh đã cho tôi biết bao kiến thức tâm linh, quán chiếu bản thân, quán chiếu về cõi sống cõi chết để tôi tiếp tục là một lữ khách tỉnh thức giữa trần gian. Anh dìu dắt tôi qua bao biến cố. Anh là bậc thầy tâm linh đầu tiên của tôi. Bên cạnh anh, những lời phỉ báng, mạ lỵ, thị phi, đố kỵ từ những người tôi biết, những người tôi không biết, những người tôi chưa biết là bậc thầy tâm linh thứ hai. Họ cho tôi cơ hội rèn luyện tâm bởi họ hy sinh nhân phẩm, chuốc nghiệp để tôi thực hành hạnh nhẫn nhục, nâng cao trí tuệ tâm linh của mình. Bậc thầy tâm linh thứ ba là người thương của tôi, là Bồ Tát giữa trần gian, che chở cho tôi trước những lầy lụa của người đời. Anh cho tôi thấy ví dụ sống của một cái tâm thiện giữa bể dâu với trùng trùng thử thách và cũng cho tôi không gian để tôi có thể trầm mình trong thế giới riêng, với sự thương yêu và thấu cảm, bởi hơn ai hết anh hiểu căn duyên của tôi trong kiếp này. Và cuối cùng Đức Phật là bậc thầy tâm linh lớn nhất của tôi bởi sau trải nghiệm tâm linh, tôi hay đối chiếu và chiêm nghiệm những giáo lý của Đức Phật với những điều tôi học hỏi từ người bảo hộ vô hình để được thông suốt hơn.

Giữa muôn trùng duyên nghiệp đan xen, chúng ta đã hụp lặn từ bao nhiêu kiếp và mang theo bao chủng tử để mãi trôi lăn trong vòng luân hồi. Những bậc thầy tâm linh của chúng ta là những người góp phần vào việc xây dựng cho chúng ta một ngôi nhà tâm linh nơi mà trí tuệ vượt ra ngoài cái hữu hạn, và cho chúng ta an trú trong tỉnh thức giữa dòng cuồng loạn thế gian. 

01.26.2026

Lê Diễm Chi Huệ

In Quán Chiếu, Văn Hóa Tags Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi, Lê Diễm Chi Huệ
Comment

NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE"

January 20, 2026 Ninh Tran

NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE”

hay CHUYỆN TIẾP THEO Ở MỸ 50 NĂM SAU “NGƯỜI Ở LẠI CHARLIE” (1972-2022)

Ngày 5 tháng 7, 2022 tại toà Bạch Ốc, Tổng thống Joe Biden đã trao tặng Huân chương Danh Dự (Medal of Honor)-Huân chương cao nhất của Quân đội cho 4 chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu ở VN trước 1975, trong đó có cựu Thiếu tá John J. Duffy, từng là Cố vấn Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù (TĐ11ND) Quân đội VNCH vào thời điểm “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972.

Lần trao tặng huân chương hôm đó, có sự hiện diện của cựu Trung tá Lê Văn Mễ, nguyên Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND, đơn vị đã tử chiến với một lực lượng quân đội Bắc Việt đông hơn gấp bội trong trận chiến Mùa Hè 1972 tại cao điểm Charlie, thuộc tỉnh Kontum, Quân đoàn II, Quân khu 2. Cựu Thiếu tá Duffy là cố vấn của TĐ11ND và là một trong những nhân vật chính của trận chiến đi vào quân sử ở đồi Charlie, mà Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã sáng tác bản nhạc “Người Ở Lại Charlie” nổi tiếng cho đến tận bây giờ. Bản nhạc ngợi ca Cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, nguyên là Trung tá Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND (được mệnh danh là Song Kiếm Trấn Ải). Ngày 12 tháng 4 năm 1972, Trung tá Nguyễn Đình Bảo đã nằm yên trên đỉnh đồi Charlie. Ông ra đi ở tuổi 35 và được truy thăng Đại tá sau khi hy sinh.

Sau khi Trung tá Bảo tử trận, Tiểu đoàn phó TĐ11ND là Thiếu tá Lê Văn Mễ nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn, nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy đơn vị trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.

Ngày tiếp theo, địch quân pháo kích và tấn công dồn dập. TĐ11ND bị thiệt hại nặng nề, lại lâm vào tình cảnh thiếu thốn mọi thứ do tiếp liệu khó khăn: lương thực, thuốc men, kể cả đạn dược cạn dần. Hãy nghe Bác sĩ Tô Phạm Liệu nói với Thiếu tá Mễ: "Hôm nay là ngày 13, con số không lành, thế nào chúng cũng pháo và tấn công mình nữa. Tôi lo cho thương binh quá. Nếu không có thuốc và di tản kịp thì chắc sẽ không qua khỏi… Tôi hết thuốc men rồi…” (Trích “Máu Lửa Charlie” của Đoàn Phương Hải). Cuối cùng, Thiếu tá Mễ, Thiếu tá Duffy và Đại uý Hải quyết định rút khỏi Charlie vào chiều hôm đó. Cố vấn Duffy đã xin được mấy phi vụ B-52 thả xuống ngăn chặn địch quân để cho tiểu đoàn di tản.

Trong những giây phút cuối cùng, những thành viên còn lại của TĐ11ND hầu hết đều đã kiệt lực vì đa số là thương binh, kể cả Thiếu tá Mễ và Thiếu tá Duffy. Mấy chục người còn sống sót được chia thành nhiều toán, và chuyến trực thăng di tản chở những người cuối cùng lại xảy ra một tình cảnh “thập tử nhất sinh" với Đại uý Hải, Trưởng ban 3/TĐ11ND, là người sau cùng leo lên trực thăng. Hãy nghe nhà văn Phan Nhật Nam mô tả tình huống đó trong bài viết “Mặt sau tấm huy chương cấp muộn, gắn trễ!” đăng trên saigonweeklyonline.com mà tôi xin trích đăng: “… Hải lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, Hải trúng đạn ở chân phải, rớt từ trực thăng xuống đất, chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên. Thảng thốt Hải ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn 5 cây số, nhưng là năm cây sốđồi cao vực thẳm, năm cây số đường rừng và lại đang bị thương ở chân thì làm sao có thể đi được?! Anh sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bầy kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương, sẽ rữa nát hình hài! Tiếng trực thăng trên đầu làm Hải vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Anh đưa cao tay vẫy, miệng hét lớn. Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giang tay nắm chặt giây đạn và một tay của Hải kéo mạnh. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên xong bay thẳng. Máu phun có vòi từ anh xạ thủ đại liên người Mỹ làm ướt mặt Hải và Duffy. Duffy chồm tới bịt chặt vết thương trên ngực người xạ thủ đại liên. Mễ kéo Hải vào nằm lên sàn tàu. Hải không thể tin mình còn sống do tình chiến hữu cao cả của hai người lính ở hai đất nước khác nhau. Duffy ôm lấy Hải. Nghẹn ngào trong mắt. Vì vết thương quá nặng, anh xạ thủ đại liên Mỹ qua đời, phi công phụ gục đầu bên cửa máy bay với vết thương ở tay…”

Xin kết thúc bài viết này bằng những lời tâm sự của Mủ Đỏ Đoàn Phương Hải trong “Ký Sự Chiến Trường: Máu Lửa Charlie” viết vào năm 1998 để“Tưởng nhớ Anh Năm Nguyễn Ðình Bảo, Khóa 14 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH”:

“…Anh đã ra đi hơn một phần tư thế kỷ, 26 năm biết bao vật đổi sao rời. Ðểtôi làm lại nhiệm vụ ngày xưa kể lại anh nghe...

"Mễ, Liệu và tôi, những người gần gũi Anh nhất trong trận chiến Charlie đã không còn ở quê nhà và chúng tôi đã nhấp nhô theo vận nước nổi trôi. Ðàn em của Anh đã bỏ quê hương đi về "quê hương mới?!" Mặc dù Anh đã đi thật lâu, con trai của Anh đã là một y sỹ, chiến hữu của Anh kẻ ở người đi, nhưng những người còn lại vẫn nhớ Anh, họ vẫn nhắc đến tên Anh qua bài hát mà Nhật Trường viết tặng riêng Anh, viết cho "Người Ở Lại Charlie."

"Mấy chục năm sau, vượt đại dương muôn trùng sông nước, theo gió bay ngang dọc địa cầu, dù ở nơi đâu, chân trời góc biển, nơi đâu có người Việt thì nơi đó họ hát bài ca bất hủ để nhớ Anh. Ngay cả ở quê nhà, kẻ thù của Anh cũng vẫn nghe dân chúng hát bài ca để nhắc đến tên Anh…”

Mời các bạn xem video về buổi lễ gắn Huân chương Danh Dự tại toà Bạch Ốc và phóng sự về tình bạn cao quý giữa 2 sĩ quan Việt-Mỹ của đài ABC (tôi đã chuyển ngữ từ Anh qua Việt ngữ) theo đường link: https://www.youtub

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Thời Sự, Văn Hóa Tags NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE"
Comment

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường (Trịnh Bình An)

January 1, 2026 Ninh Tran

Nguyễn Mạnh Tường là một người có những khả năng kỳ lạ, một trong những khả năng ấy là ông có thể tự tách mình ra khỏi chính mình để quay lại nhìn mình. Trong ông là 2 con người: một người bình thường biết sợ, biết đau, biết đói, nhưng người kia lại rất bình thản, ung dung để có thể ngắm nghía và ghi nhận mọi sự kiện, ngay cả nỗi đau đớn của chính mình……

Nguyễn Mạnh Tường là một người nổi tiếng trong giới luật sư nói riêng, giới trí thức Việt Nam nói chung; nhưng vẫn có rất nhiều người không biết đến ông, trong đó có tôi. Và tôi đang có trong tay quyển sách “Kẻ bị khai trừ”(i) của Nguyễn Mạnh Tường do Tủ Sách Tiếng Quê Hương mới xuất bản, vậy mà tôi thấy mình rất ngần ngừ, rất ì ạch, không muốn giở ra đọc. Tôi không muốn mình phải đau lòng và bực tức thêm vì thấy một người học vị đầy mình lại đi theo cộng sản để rồi bị chính cộng sản đầy đọa.

Read more
In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường, Trịnh Bình An
Comment

Trại ‘Cải Tạo Ái Tử’ và Mùa Xuân Người Tù (Phạm Văn Tiền)

December 15, 2025 Ninh Tran

Chúng ta đang bước vào những ngày tháng cuối cùng của một năm cũ. Mọi người đang chuẩn bị đón Xuân sang, thêm một mùa Xuân tha hương mà đường về còn xa tít. Ðón Xuân nầy ta lại nhớ Xuân xưa. Mùa Xuân thường là mùa hy vọng, của tuổi trẻ vươn lên và mầm sống đâm chồi. Nhưng không phải chúa Xuân bao giờ cũng bình đẳng với mọi người.

Có mùa Xuân sum họp đầy tiếng cười hạnh phúc bên bếp lửa bập bùng của tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhưng cũng có mùa Xuân khóc hận khổ đau nghẹn ngào bao nước mắt của Mậu Thân 1968, với những cái chết đầy rẫy tình cờ của Ất Mão 1975 mất nước, lưu lạc tù đày. Bao ngày tháng cùng cực khổ đau cho người ở lại quê hương “thiên đường” CS. Riêng Tần vẫn nhớ mãi những ngày tháng bị cùm trong xà lim phân trại 3, vào những ngày Tết Xuân Ðinh Tỵ năm 1977.

Thượng đế hỡi trên trời cao có thấu!

Thân đọa đày của một kiếp tù binh

Chịu khổ đau cùng bao nỗi cực hình

Trong “cũi sắt” của những loài dã thú

Mang con đến một nơi nào ẩn trú

Có mây hồng và nắng ấm rọi ban mai

Có đàn chim tung cánh hót bay dài

Nhưng không được quanh con đường bít lối

Con đang sống trong căn hầm tăm tối

Bao đêm nằm trăn trối nghĩ không ra

Suốt đời con bỗng chốc đã tiêu ma

Giờ còn lại thân tàn trong ngục lạnh

Các câu thơ nầy đã được cảm tác trong những giờ phút đau khổ tuyệt vọng nhất. Tần và một số bạn tù khác đã bị bắt còng tay dẫn đi vào một đêm mưa gió lạnh, cùng với nhiều trận đòn đau. Lòng hoang mang chẳng biết số phận mình sẽ ra sao khi bị lùa lên những chuyến xe đêm bão táp.

Một buổi chiều cuối năm, mọi người đang cố gắng vun thêm những luống khoai lang còn lại cuối cùng để chuẩn bị ăn Tết. Không như thường lệ, các hồi kẻng báo động liên hồi giục giã được người tù gióng lên toàn phân trại. Bao giờ cũng vậy, theo thói quen đây là điềm chẳng lành cho cuộc đời tù tội. Vài tên vệ binh dẫn tù vội vã la hét gom dụng cụ nhanh gọn tập họp trở về. Trại là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ, do công sức người tù làm ra, trải dài trên ngọn đồi nhỏ, bao bọc bởi dòng suối quanh co, nằm gọn giữa nhiều tầng thép gai dầy đặc.

Tần cẩn thận kín đáo xem lại chiếc nhẫn vàng 24 kara, 2 chỉ mà chính vợ Tần đã cẩn thận nhét sâu vào thẩu ruốc trong chuyến thăm gặp kỳ rồi, nói là để hộ thân vì có tin tất cả tù nhân sẽ bị áp tải ra miền Bắc, được ngụy trang nằm gọn trên đỉnh chiếc mũ cối rách nát.

Lệnh tập họp bày hàng khám xét khẩn cấp được công bố toàn phân trại, chỉ có 10 phút chuẩn bị bên các họng súng AK đen ngòm. Ai cũng hồi hộp lo âu làm bổn phận của mình, thôi thì đủ thứ lọ chai, bao cát, bao bố, khoai khô, sắn độn được bày ra đầy sân, những thứ thật tầm thường nhưng không thể thiếu cho sinh hoạt tù mỗi ngày. Các tên quản giáo, vệ binh chia nhau lục soát thật tỉ mỉ từ trong nhà cho đến mỗi một cá nhân, không từ chỗ nào kể cả lai quần, bâu áo. Có lệnh vất bỏ tất cả những thứ không cần thiết, thu giữ lương thực có tính dự trữ lâu dài, chuẩn bị hành trang sẵn sàng di chuyển. Ngay từ giờ phút nầy đến khi có lệnh mới, không ai được quyền ra khỏi lán của mình, ngay cả tiếp xúc với người cùng trại.

Sở dĩ có chuyển biến đột xuất nầy là vì sau khi Thiếu Tá Nguyễn Ngọc An, trưởng Phòng An Ninh Sư Ðoàn 1 BB, đã tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi những trận đòn đau sau nhiều ngày bị thẩm cung liên tục và đồng thời để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Thiếu Tá Bửu Kế đã tự sát trong conex biệt giam vì không chấp nhận sự đày đọa nhục mạ người chiến sĩ Quốc Gia, cùng toán vượt trại đầu tiên của Châu Ðức Thảo, Trần Văn Loan, Mai Ðức Hòa, Lê Văn Cang, Hồ Văn Liệu đã lên đường đêm hôm trước sau nhiều tháng chuẩn bị. Trưởng Toán là Châu Ðức Thảo, người niên trưởng tốt bụng, tốt nghiệp khóa 19 VBQG Ðà Lạt. Thảo ít nói, sống hòa nhã và hay giúp đỡ mọi người. Vợ Thảo lên thăm rất thường nhờ khéo léo quà cáp cho các tên vệ binh trực trại. Chị phát đạt nhờ một nghề mới, nghề buôn lậu thuốc tây. Thức ăn anh bao giờ cũng nhiều và thường hay giúp đỡ kẻ khác. Anh sống rất cương trực hào phóng, mọi vật chất đều tầm thường đối với anh chẳng có gì quan trọng. Chính chị Thảo là người cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men cho chuyến vượt trại nầy.

Hành trình của các anh là vượt dãy Trường Sơn bằng địa bàn và bản đồ, xuyên qua lãnh thổ Lào đến Thái Lan. Ðiều nầy chính Loan K-23 Võ Bị Ðà Lạt, người cùng đơn vị đã nhiều lần gợi ý với Tần. Nghĩ mình sức khỏe kém, không kham nổi đoạn đường dài, thôi thì đành chịu vậy. Cơn suyễn hay lên bất chợt buổi chiều, thêm vào chứng sưng khớp xương hành hạ. Nơi dự trữ lương thực là các hố bí mật dưới chân căn cứ Phượng Hoàng, chỗ mà đơn vị TQLC của Tần, lần đầu tiên dùng hỏa tiễn tầm ngắn M72 hạ nhiều chiến xa địch.

Ðêm vượt trại loay quay sao đó mà Liệu bị lạc toán phải trở về, chỉ còn lại 4 người lên đường giữa cơn mưa bão trong sự mến phục bùi ngùi của bao người còn lại. Tối hôm đó tên quản giáo xuống lán điểm danh sớm hơn thường lệ, kèm theo một danh sách chia phiên nhau gác đêm, ai cũng có tên, ngọai trừ Thức và Tần. Thức cũng như Thảo sống rất ngang tàng, là người miền Bắc di cư 1975 nên anh rất căm thù CS. Anh là Trung Tá Tham Mưu Phó Không Ðoàn 4 đóng tại Cần Thơ, vào những ngày cuối cùng của tháng tư 1975, sẵn phương tiện trong tay nhưng ra đi chẳng đành, tìm về Sài Gòn với gia đình, nhưng vợ và các con anh đã theo người chú họ di tản vào mấy hôm trước.

Thế là tốt, anh cùng người em trai giả dạng bộ đội CS, đi xe đến Ðông Hà, Quảng Trị, men theo quốc lộ 9 đến tận miền Savanakhet Hạ Lào. Việc bại lộ cả hai người đều bị bắt tại đồn biên giới Khe Sanh. Còn Tần, là đơn vị trưởng của một đơn vị tác chiến bị thượng cấp bỏ rơi lại tại miền giới tuyến khi đại bộ phận xuôi Nam, vất vả ngược xuôi tại bãi biển Thuận An vào những ngày cuối cùng của tháng ba sầu thảm, đau lòng phải vứt bỏ súng xuống biển sâu, khi những chiếc T54 của địch bắt đầu tràn vào tuyến. Tần bắt đầu cuộc đời tù đày khi toàn thể miền Nam chưa thất thủ.

Tần thuộc dạng lao động cầm chừng qua loa lấy lệ, hay phát biểu linh tinh, đơn vị TQLC của Tần đã có nhiều nợ máu với “nhân dân” nên bị liệt kê vào danh sách cần quan tâm theo dõi đặc biệt. Có lần đi củi tận rừng sâu, vì đói quá sẵn tiền thu giấu, Tần có lén mua vài lon gạo của dân tại vùng kinh tế mới. Khi ra điểm tập trung, bị tên vệ binh phát giác liền bị kiểm điểm và kết tội “liên hệ” với dân với ý đồ trốn trại, biệt giam Conex nửa tháng trời.

Ðêm ấy là đêm 29 Tết Ðinh Tỵ, trong cơn mưa dai dẳng đáng sợ của miền Trung “khô cằn sỏi đá, của trời hành cơn lụt mỗi năm” ở một quê hương nghèo khó, “mùa Ðông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn” nầy. Cái lạnh tê tái làm buốt lòng người, bão rồi lại bão, hết cơn số 10, rồi 11. Gió thì giật cấp 8, cấp 9. Chiều hôm trước Tần và Liễn cùng nhau lén lút nấu lon gạo còn lại tại nhà bếp, ăn với nhau mặc dầu có lệnh cấm “liên hệ.” Tần đã bị các ăng ten báo cáo, và chắc là họ cho đây là ăn bữa cơm chia tay người bạn cùng khóa, cùng binh chủng với mình.

Không thấy tên mình trong danh sách trực đêm, Tần đoán biết rồi thế nào cũng có điều chẳng lành đến với mình. Trong giấc ngủ chập chờn lo âu chờ đợi, Tần nghe có tiếng xe rì rầm đang đổ dốc hướng về trại. Linh tính cho biết rồi ra sẽ có điềm chẳng lành sẽ xảy đến. Tần vội bật dậy, bấy giờ là khoảng nửa đêm, người bạn tù vừa bàn giao phiên trực. Có nhiều tiếng người và ánh đèn pin soi vào lán, ra lệnh cho Thức và Tần thu gọn hành trang di chuyển. Bố Chi người đội trưởng già tốt bụng, len lén nhét vào túi Tần hai bánh đường và những giọt nước mắt chia ly!

Sống là phải thẳng lưng và chấp nhận, đợi chờ mọi gian nan thử thách kể cả hiểm nguy đang chực sẵn trước mặt, cố gắng mà ngoi lên từ vũng bùn đen, hãy vùng thoát ra cái bóng đêm quái ác đáng nguyền rủa, cho một tương lai tươi sáng hơn. Sân tập họp là bãi đất trống trước nhà kho, nơi lãnh dụng cụ lao động hàng ngày, đã có nhiều tiếng la than khóc của trò “bề hội đồng” đê tiện bỉ ổi. Thêm hàng chục người nữa cũng bị còng tay dẫn đi trong cơn rên rỉ đau nhức. Tần cũng vậy, đây không phải là lần đầu tiên chàng bị hành hạ đánh đập, mà đã có nhiều lần lắm rồi, khổ sở mãi rồi cũng quen, chẳng gì lạ đối với con người sống trong thiên đường Cộng Sản. Chiếc xe Molotova cũ kỷ ráng sức ì ạch, rú lên con dốc ngược, nặng nề uể oải như cuộc đời sầu thảm của hàng chục người tù bị còng tay, mặt mày bị đánh sưng húp đầy máu me, mang đi trong màn đêm u tối.

Bỗng nhiên Tần cảm thấy nhớ nhà, nhớ ba mẹ Tần hiện già yếu đang mòn mỏi trông chờ, nhớ vợ và các con thân yêu trong cơn tuyệt vọng, như những lần đơn vị tan hàng tại Hạ Lào, hay bị bao vây tại mặt trận Cửa Việt. Cảm giác hối tiếc mất mát đã làm Tần lạnh cả người. Lần cuối cùng vợ ra thăm sau thời gian dài chắt chiu dành dụm, một lần bị đuổi trở về khi chúng biệt giam Tần tại nhà “kỷ luật,” và một lần khác đến Quy Nhơn thì bị cướp giật sạch đồ đạc, nhờ một hành khách tốt bụng cho tiền trở về. Từ những biến cố đau thương dồn dập, trong thư mới nhận được vợ Tần bị bệnh lao phổi nặng, cần được chữa trị lâu dài.

Nước mắt Tần đã chảy tự bao giờ, lăn trên đôi gò má gầy làm đôi môi mằn mặn, Tần đã khóc thật sự cho những hối tiếc muộn màng. Phải chi biết sống một chút, biết nhân nhượng cố gắng mà nín thở qua sông, hầu sớm tìm được tờ giấy phóng thích hay ít ra cũng có được những ưu đãi nào đó như các “tên trật tự thi đua.” Phải biết giả khóc như tên Th.. đội trưởng đội mộc, khi ôm ảnh thương tiếc Bác Hồ, hay các tên Trần văn S.. sẵn sàng chỉ điểm anh em, khi tổ chức ăn mừng tròn một năm miền “Nam được giải phóng.” Ôi! Những trò đời bỉ ổi, rẻ tiền của những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc.

Rồi chuyến xe bảo táp đêm nay sẽ đưa chàng về đâu? Có thể thật xa tít nơi miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, tiếp tục cuộc sống đọa đày, hay kết thúc ở một hang hóc nào đó bằng các loạt đạn của những tên đồ tể, sát nhân. Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng còn gì để mà hy vọng. Vài người được lệnh xuống xe, riêng Tần, Thức, Tr.. còn lê lết cho đến trạm cuối cùng. Có tiếng nước chảy rì rào và cơn gió dữ gào thét điên cuồng. Tần bị đạp xuống xe tay bị còng nằm lăn như con vật. Nơi giam chàng là căn hầm kín được đào sâu dưới lòng đất, toàn mùi hôi thối ẩm mốc. Thức và Tr.. bị nhốt ở một nơi khác, gần đó. Có tiếng chửi thề thô tục của tên vệ binh, cùng âm thanh rỗn rẽng của chiếc xích ổ khóa oan nghiệt, trước khi trả lại màn đêm sự cô độc, im lặng hoàn toàn.

Làm sao có thể thản nhiên được trong niềm lo lắng tột cùng nầy, chiếc đũa đã bị tách ra thế nào rồi cũng bị bẻ gãy, bằng cách nầy hay cách khác. Minh và Sang chẳng đã bị xử bắn tận núi rừng Cự Tài khi có lệnh dẫn đi vào buổi sáng đang lao động tại đập Trấm Quảng Trị như vậy đấy sao! Ðối với Tần, cái chết chẳng bao giờ đến dễ dàng, bao năm xuôi ngược hành quân, chàng vẫn còn nguyên vẹn. Làm người ai cũng một lần chết, vậy thì cái chết chỉ có ý nghĩa khi ta hãy làm kẻ thù chết với mình càng nhiều càng tốt. Tần ước mơ về những chuyến vượt ngục của người tù Papillion thuở nào.

Gà đã gáy sáng và các hồi kẻng báo thức liên hồi vang lên sau một đêm dài trăn trở, lo âu. Mặt trời đã ló dạng bao giờ ở phương Ðông, cố gắng mang đến một vài tia sáng yếu ớt xuyên qua kẽ hở của căn hầm tăm tối. Có tiếng mở cửa lách cách và tên vệ binh dẫn người tù mang thức ăn đến, Tần mới biết đây là phần ăn trưa của ngày đầu năm Tết. Nỗi lo sợ đã tan biến khi xác nhận được mình đang ở phân trại 3 và người mang thức ăn cho mình là Trung Úy Ðiểu thuộc đơn vị của Tần. Ðiểu đã ứa lệ khi thấy “ông thầy mình” quá thê thảm trong tình cảnh quá đau lòng nầy.

Thường thì con người hay thương tiếc, thèm khát những gì quý báu nhất mà mình đã đánh mất đi khi chạm trán với thực tế phũ phàng. Tần cũng vậy, cố gắng mà nhớ lại những giờ phút thiêng liêng tuyệt vời với những ngày Xuân nơi đơn vị thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Những ngày Xuân đoàn tụ quay quần cùng với gia đình, có pháo nổ đầy hoa và bao lời chúc tụng ngọt ngào. Ðêm hôm qua súng đã nổ giòn giã khắp nơi của bọn vô lại, mừng chiến thắng trong giờ phút giao thừa, họ đang ca khúc khải hoàn cho một sự ăn cướp trắng trợn. Chiến tranh là thế, cái vẻ vang của phe nầy là sự đại bại của nhóm khác, điều chẳng may lần nầy lại xảy đến với tổ quốc thân yêu của chàng.

Sau cơn mưa trời lại sáng, một ngày mới bình minh lại ló dạng, xua tan những đám mây mờ và những cơn bão quái ác. Giờ chỉ còn lại những nhầy nhụa tang thương, đau khổ tận cùng cho biết bao người dân vô tội. Qua cơn gió thoảng chiều nay, Tần được tin có người chết cùng nhiều nhà cửa bị cuốn sạch vì cơn Sóng Thần dữ dội tràn qua từ một chiếc loa phóng thanh đâu đó trong trại. Lại thêm một đại họa nữa đến cho dân tộc nầy sau cái xiềng xích Cộng Sản. Chàng cảm thấy an tâm hơn vì ít ra mình cũng còn cái hầm để trồi lên, trụt xuống, che nắng đụt mưa, một bữa cơm đói cho sự thèm khát mỗi ngày.

Lệnh cho Tần lên cơ quan làm việc những ngày sau Tết, đây là lần đầu tiên họ điều tra thẩm cung chàng từ cái đêm khủng khiếp đó. Dùng đủ mọi hình thức tra tấn để buộc chàng vào tôi âm mưu tổ chức vượt trại, Tần quả quyết với họ rằng chàng chẳng bao giờ có ý nghĩ đó. Biết chẳng có bằng cớ gì để buộc tội chàng, họ quay sang buộc tội Tần cứng đầu không chịu “học tập cải tạo.” Bằng những lời lẽ thật dịu ngọt, họ khuyên chàng hãy an tâm cải tạo để hưởng được chính sách “khoan hồng của Ðảng và Nhà nước.” Thì ra kẻ giết người cũng biết mặc áo thầy tu khi cần thiết, họ nhân danh nhân đạo để làm chuyện vô nhân đạo, đạo đức của họ là “đạo đức cách mạng bác Hồ,” của nền chuyên chính vô sản, của đấu tố dã man và các hầm chôn sống tập thể! Người Cộng Sản hô hào “không gì quý hơn độc lập tự do” để tròng lên cổ người dân thêm cái còng nô lệ, đem địa ngục trần gian để hứa hẹn một thiên đường!

Bộ Chỉ Huy Ðoàn 76 nằm trên dãy đồi cao có cờ đỏ sao vàng và đầy những băng rôn khẩu hiệu. Thức và Tr.. cũng có mặt tại đây từ lúc nào trong phòng chờ đợi, chỉ có Thức và Tần bị còng tay, còn Tr.. trông có vẻ thản nhiên thoãi mái. Thức bơ phờ mệt mỏi, mặt bị đánh sưng húp bầm tím, còn Tr.. vẫn khỏe mạnh bình thường. Mỗi người được cấp phát giấy viết để làm bản tự kiểm điểm sau khi đón nhận biết bao lời lẽ ngọt mật chết ruồi của tên chính trị viên đoàn.

Thời gian kế tiếp là thời gian thê thảm nhất của Thức và Tần. Bị dẫn độ đi hỏi cung nhiều nơi kể cả đánh đập, xỉ vả. Chiêu bài “thành thật khai báo” để sớm được hưởng lượng khoan hồng không bịp được ai, vì đối với kẻ thù “tự thú là tự sát.” Có tin Thức đã mắc bẫy Tr.. khi cùng anh ta đào hầm trốn về Huế và bị bắt tại nhà Tr.. Thức đã bắt đầu một cuộc đời mới, vất vả khốn đốn hơn trong nhiều xà lim với hình phạt biệt giam vĩnh viễn. Còn Tr.. thản nhiên thênh thang với tờ giấy phép 7 ngày rong chơi khắp thành phố Huế, trước khi nhận được giấy ra trại sau khi trại đã chuyển về cho công an Bình Ðiền. Tr.. đã thành công một cách xuất sắc nhiệm vụ của một tên ăng ten cò mồi. Còn Tần vẫn sống khổ sai đọa đày từ trại nầy sang trại khác với chiếc bánh vẽ “tập trung cải tạo.”

Tên trung tá chính ủy đoàn 76 tuyên bố “Các anh giải phóng lòng Hồ sông Mực thì lòng Hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh.” Cả vùng đất trũng bao la hàng chục hecta rừng được khai phá cho công trình dẫn thủy nhập điền tại huyện Ðô Lương, Thanh Hóa. Rất nhiều người tù đã ngã bệnh vì sốt rét rừng, hay bị chết vì đói. Nhưng lời nói đó đã bị phản bội sau ba tháng hoàn thành xong công tác, để rồi tất cả cùng bị lùa lên toa xe bịt bùng hạng bét của chuyến tàu hỏa xuôi Nam về một vùng đất mới xa lạ khủng khiếp hơn. Ở đó có sự canh giữ, kềm kẹp hàng ngày của bọn công an mật vụ. Trại tù “cải tạo Bình Ðiền” với biến cố ngày 20 Tháng Tư 1979 lịch sử, chúng thẳng tay đánh đập người tù mà không cần biết phải trái luật lệ là gì. Những cái chết thật bất khuất của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Thuận Cát, Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Sơn,… đã minh chứng một cách hùng hồn ý chí bất khuất của lớp người sĩ quan trẻ dưới áp lực bạo quyền.

Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm dễ làm phôi phai mọi chuyện. Những đau đớn về thể xác rồi sẽ qua đi dễ dàng, nhưng còn nhiều thứ khác mãi mãi vẫn hằn sâu vào tâm trí không thể nào quên được. Ðó là sự thù hận, lòng ích kỷ, đê tiện gian ác của con người.

Người Cộng Sản vinh danh chiến thắng mùa Xuân 1975 bằng sức mạnh và chủ thuyết ngoại lai, họ chẳng làm gì được sau hơn 32 năm cầm quyền. Có chăng là một đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo đói, lạc hậu, bưng bít thông tin với thế giới bên ngoài. Chúng thẳng tay chà đạp quyền sống con người, các nhà đấu tranh vẫn còn trong vòng lao lý. Bán đất dâng biển triều cống ngoại bang, mua bán phẩm giá người phụ nữ, kể cả trẻ em. Các phong trào khiếu kiện của dân oan đang nổi dậy đòi công lý khắp nơi. Liệu họ, những người Cộng Sản Việt Nam, yêu chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, có thể tồn tại được bao lâu, khi mà lòng dân đã đến lúc căm phẫn tột độ và sự tan rã của chủ thuyết Cộng Sản toàn cầu.

Hãy hướng về Việt Nam, tổ quốc thân yêu nhất của chúng ta với lời tâm nguyện đẹp nhất, hy vọng một mùa Xuân đoàn tụ sẽ không còn xa nữa.

Mùa Xuân nào là ta về

Về quê hương yêu dấu sống bên mẹ cha

Về sống cạnh giòng sông hiền

Về nghe giọng hò ba miền

Về thăm đôi má, lúm sâu đồng tiền

Sài Gòn ơi!… Bao giờ là ta về?!

Phạm Văn Tiền

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Trại ‘Cải Tạo Ái Tử’ và Mùa Xuân Người Tù, Phạm Văn Tiền
Comment

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI (Kieuanh Tran)

December 14, 2025 Ninh Tran

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI ( Kieuanh Tran)

Các bạn thân mến, 

Watson Bay cách thành phố Sydney độ 11 km.Canh rất đẹp,, có một đoạn gọi The Gap, rất hữu tình với các cặp tình nhân, nhưng cũng là nơi mà nhiều người , khi họ tuyệt vọng, thương đến đo để kết liễu cuộc đời.

Mới các bạn thường thức bài nay.

 

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI

 

Câu chuyện của Don Ritchie – người đứng giữa sự sống và vực sâu

Ở rìa Watsons Bay – nơi gió biển thổi đến mức tưởng như muốn xé toạc bầu trời, nơi những con sóng từ Thái Bình Dương ngày đêm đập vào vách đá The Gap – có một người đàn ông già đứng đó, lặng lẽ như thể ông sinh ra để canh giữ rìa thế giới.

Tên ông là Don Ritchie.

Ngôi nhà của ông nằm ngay bên con đường dẫn đến The Gap – nơi suốt nhiều thập kỷ là điểm đến cuối cùng của quá nhiều tâm hồn tuyệt vọng.

Từ cửa sổ phòng khách, Don có thể nhìn thấy từng bóng người chậm rãi bước đến sát mép đá. Và mỗi lần như vậy, một nghi thức thầm lặng lại bắt đầu

Ông mở cửa.

Ông bước ra.

Không tiếng chân dồn dập.

Không lời la hét.

Chỉ có sự bình tĩnh hiền hòa của một con người sẵn sàng tiến về phía một con người khác.

Khi đến gần, Don luôn mỉm cười.

Ông nghiêng nhẹ người, tránh tạo cảm giác bị ép buộc, rồi nói bằng giọng dịu đến mức ngay cả gió biển cũng như dừng lại để nghe:

“Can I help you in some way?”

“Tôi có thể giúp bạn bằng cách nào đó không?”

Ông không hỏi “vì sao”.

Không hỏi “có nghĩ lại không?”.

Không giảng giải đạo đức, không phân tích đúng sai.

Ông chỉ mời: “Bạn có muốn vào nhà uống một tách trà không?”

Và bằng một điều kỳ lạ nào đó, rất nhiều người đã bước theo ông – không phải vì bị thuyết phục, mà vì lần đầu tiên sau một thời gian dài, có người thật sự nhìn họ như một con người.

Vì sao ông làm vậy?

Ít ai biết rằng Don từng là lính hải quân trong Thế chiến II. Trên boong tàu HMAS Hobart, ông đã chứng kiến nhiều người rơi vào biển cả trước khi kịp được cứu. Những hình ảnh ấy dường như ăn sâu vào ông – để rồi khi chiến tranh kết thúc, ông chọn dành phần đời còn lại để cứu những người đứng bên một “mép vực” khác.

Ông nói: “You just can’t sit there and watch them”.

“Bạn không thể chỉ ngồi đó và nhìn họ như vậy”.

Hơn nửa thế kỷ, người ta thấy hình ảnh quen thuộc ở The Gap. Khi một người tiến gần mép vực, Don từ trong nhà cũng tiến ra.

Khi người ấy run rẩy giữa gió biển, Don mở lòng.

Ông đưa họ về nhà.

Nấu một bình nước.

Rót trà.

Lắng nghe họ nói.

Và nếu họ không nói được – ông lặng yên ngồi cùng họ.

Ánh mắt của Don không xét đoán.

Giọng nói của ông không cố “sửa chữa” ai.

Ông chỉ tạo một khoảng nghỉ nhỏ cho người tuyệt vọng – một khoảng nghỉ đủ để họ lùi lại khỏi bờ vực.

Chính quyền xác nhận ông cứu được ít nhất 160 - 180 người.

Gia đình ông tin con số thật có thể lên đến 400 - 500 người.

Một kỷ lục mà Don chưa từng nhắc đến.

Khi được hỏi ông có thấy mình là anh hùng không, Don chỉ cười: “No, I just offered them a cup of tea”

“Không, tôi chỉ mời họ một tách trà thôi”.

Năm 2011, Don được vinh danh là “Local Hero” trong giải thưởng Người Úc của năm.

Nhưng sự vinh danh lớn nhất không phải huân chương hay báo chí viết về ông.

Sự vinh danh lớn nhất nằm trong sự thật này: Thế giới này vẫn tồn tại được là nhờ những người bình thường làm những điều phi thường bằng sự tử tế nhỏ bé.

Don Ritchie không thay đổi thế gian bằng tiếng vang lớn nào đó.

Ông thay đổi nó bằng những hành động lặp đi lặp lại, bền bỉ như nhịp sóng vỗ vào vách đá - ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.

Ông cho thế giới thấy rằng, đôi khi một người tiến đến gần, một lời hỏi han tử tế, một tách trà nóng… cũng đủ để giữ một mạng người ở lại.

Chúng ta thường nghĩ cứu người là việc lớn.

Nhưng Don đã chỉ ra rằng, cứu người đôi khi chỉ là lùi lại một nhịp, mở cửa, và hỏi bằng trái tim: “Bạn có cần tôi không?”

Nếu ai cũng dám hỏi câu ấy một lần trong đời…

Có lẽ thế giới này đã bớt đi rất nhiều vực sâu.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Kieuanh Tran, ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI
Comment
Older Posts →
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories