• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

MỘT NÉN HƯƠNG THƠM VÀ MỘT LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG (Nguyễn Doãn Đôn- một nguời VNCS/BK)) 

April 27, 2026 Ninh Tran

MỘT NÉN HƯƠNG THƠM VÀ MỘT LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG (Nguyễn Doãn Đôn) 

 

Hôm nay ngày 25.04.2026 tại Thủ đô Berlin, Liên hội người Việt tỵ nạn tại Cộng hòa Liên bang Đức đã tổ chức ngày Việt Nam Cộng Hòa mất nước. Tức là mất Miền Nam, mà họ gọi là ngày "Quốc hận".

Tôi là người Bắc, từng vào Nam xung trận và là Đảng viên đảng lao động VN, ngay nay là Đảng CS VN. Vì tò mò nên tôi cũng đi tham gia xem người Miền Nam họ tổ chức về ngày này ra sao. Tôi để ý thấy họ đi biểu tình không ồn ào, huyên náo, khuân mặt ai cũng vui vẻ, hiền hòa, êm ả.

Nụ cười nhẹ, lời nói êm như từ tâm phát ra. Rất nhiều người biết tôi, nhưng tôi lại không biết họ. Vì họ vào đọc Facebook của tôi. Xin cảm ơn.

 Tôi quan sát khi họ biểu tình thì Ban tổ chức hướng dẫn thế nào là họ tôn trọng nghe và làm theo như thế, chứ họ không cãi lộn hay chạy nhảy lăng xăng, rồi gào la, to tiếng đóng góp ý kiến, rằng là phải thế này, rằng là phải thế kia, để cố thể hiện ta đây nói có lý hơn người khác, như dân Bắc mình.

 Họ tổ chức rất khoan thai, bình tĩnh, bài bản, lịch sự và văn minh. Tôi thấy có hai xe ô tô của cảnh sát Đức và một số nhân viên của họ đi bộ với đoàn diễu hành để bảo vệ khâu an ninh. 

 Họ hô vang những khẩu hiệu bằng cả tiếng Đức lẫn tiếng Việt với Nội dung như là ; Đả đảo CS, Đả đảo Tô Lâm, Tự do cho VN, Dân chủ cho VN. Nhiều bài phát biểu của các vị trong Ban tổ chức bằng tiếng Đức và tiếng Việt rất đanh thép tại sân nhà Quốc hội và tại Cổng thành Brandenburger Tor đòi tự do, dân chủ, nhân quyền, xóa bỏ CS và yêu cầu thả tù nhân Chính trị đã vang lên và được nhiều khách Đức và khách du lịch đi qua giơ tay chào đón và ủng hộ.

 Có lẽ họ cũng cho rằng những đòi hỏi đó là chính đáng.

Tôi nghe thấy họ Đả đảo CS mà buồn thiu, vì tôi là Đảng viên, lại từng đã vào Nam xâm lược Đất nước của họ. Một Đất nước có chủ quyền, có cờ, có Quốc ca và có một Thể chế dân chủ văn minh. 

Vâng tôi phải đau lòng nhận lấy câu đả đảo của họ. Vì họ đả đảo đúng. Không đời thủa nào một Đất nước tối tăm lạc hậu, đói rách triền miên, phi dân chủ, trọng bạo lực lại đi giải phóng một Dân tộc văn minh hơn mình, giàu có hơn mình để "giúp" cho họ trở thành khổ và ngu ngốc như mình. 

Tôi thương họ và buồn cho họ vì để mất Tổ quốc. Tôi trách họ, vì đã để chúng tôi thắng; để rồi cả nước thua. Nên hôm nay họ kỷ niệm ngày đen tối của họ, thì cũng là ngày đen tối trong trái tim tôi-Một người từng bên kia chiến tuyến, khi nhận ra bộ mặt thật của CS Bắc Kỳ.

 Vâng, thưa bà con, thế hệ chúng tôi đã bồng súng lên đường đi giải phóng ngược! Lẽ ra Bắc tiến mới thực là giải phóng. 

Thật cảm động và xót xa khi thấy bà con người Miền Nam họ cúi mặt mặc niệm những người lính của họ, người dân của họ đã ngã xuống do chúng tôi vượt suối băng rừng ngày xưa từ ngoài Bắc vào gây ra . Họ cũng tưởng nhớ tới hàng ngàn người chết vì vượt biển làm mồi cho cá sau này.

 Những người đứng giữa 3 lựa chọn ngày đó; mà một phần không nhỏ đã ra đi nằm dưới đại dương...

"Nhất con nuôi má 

Nhì má nuôi con 

Ba con nuôi cá."

 

Có nghĩa là nếu vượt biên thoát được con sẽ gửi tiền về nuôi má; nhưng chẳng may con bị CS bắt thì má phải mang cơm vào nhà tu nuôi con. Còn cuối cùng rất có thể con sẽ phải làm mồi nuôi cá ngoài biển khơi mênh mông...

 Tôi thật buồn rằng chúng ta hô hào hòa giải, hòa hợp mà 51 năm rồi vẫn chỉ là "võ miệng". Người Bắc chúng ta đã không nhận ra hay cố tình không muốn nhận ra là chúng ta đã bị CS lừa. Chúng ta không như Dân Ukraine ngày nay là họ đánh độc tài, để bảo vệ nền Dân chủ; còn chúng ta u minh lại đi đánh Dân chủ để bảo vệ độc tài. Muốn hòa giải hòa hợp được chúng ta phải nhận ra rằng đó là một cuộc chiến vô nghĩa và ngu xuẩn. 

Giải phóng ngược như thế, thà rằng không thống nhất còn hơn. Thì chúng ta còn vớt vát được một nửa nước như Nam Hàn và hơn Nam Hàn . Ai ngờ giờ đây mất cả nước rơi vào tay CS. do Ngoại bang chỉ đạo, giật dây. 

Bà con yêu quý ơi, không có bên thắng cuộc đâu. Mà chúng ta ở cả hai miền đều thua cuộc mốt cách đau đớn xót xa! 

Ngày này chúng ta hãy thắp một nén hương lòng không chỉ cho đồng bào và Chiến sỹ VN Cộng hòa; mà cả cho những người dân chết vì Chiến tranh ở ngoài Bắc của tôi. Và không thể nào được phép quên là hãy thắp cả cho những người đồng đội của tôi. Các anh đã ra đi trên mảnh đất Cha ông mà không được may mắn như tôi, để sống, để biết rằng, chúng ta đã sai lầm.

 Trước khi nhắm mắt xuôi tay chắc các anh vẫn cứ đinh ninh rằng các anh hy sinh vì Dân vì Nước; chứ không ngờ: 

 "Cả cuộc đời ta hy sinh cuồng nhiệt  

Lại dựng nên chính cỗ máy này" (Thơ Bùi Minh Quốc)

 

Xin chia buồn cùng với bà con Miền Nam thương đau trong tháng 4 u sầu và đen tối này. 

 

Nhân đây tôi cũng cúi đầu xin lỗi bà con, vì tôi đã từng nghe Đảng và Bác xui dại mà vào xâm lược Tổ quốc, Quê hương yêu dấu của bà con. Để giờ đây tôi và bà con từ hai chiến tuyến đều trở thành kẻ chiến bại bi hùng...

 

Cầu Chúa ban phước lành cho tất cả chúng ta.

 

Thủ đô Berlin, 25.04.2026

Nguyễn Doãn Đôn

 

In Giáo Dục, Quán Chiếu Tags MỘT NÉN HƯƠNG THƠM VÀ MỘT LỜI XIN LỖI MUỘN MÀNG., Nguyễn Doãn Đôn- một nguời VNCS/BK))
Comment

Ảo Tưởng Giải Phóng Miền Nam (Nguyễn Tường Tâm⁩)

April 22, 2026 Ninh Tran

Bài tặng các người miền Bắc trước 1975 và các người trưởng thành trong môi trường giáo dục XHCN

 

Sau khi đất nước thống nhất (năm 1975), có dịp tìm hiểu tinh thần chiến đấu của bộ đội miền Bắc, người ta dễ dàng nhận thấy, mặc dù không phải người bộ đội nào cũng có tinh thần hăng say khi được/bị gửi vào chiến trường miền Nam đầy hiểm nguy, nhưng cũng rõ ràng đại đa số những bộ đội đi Nam chiến đấu đều tin tưởng rằng nhân dân miền Nam đói khổ vì bị Mỹ Ngụy kềm kẹp; và họ có tinh thần cao đẹp của những người chiến sĩ đi giải phóng quê hương thực sự. Nhà văn Dương Thu Hương, trong lần trả lời phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái, đã cho biết “khi tham dự cuộc chiến chống Mỹ, tôi nghĩ rằng đây là cuộc chiến chống xâm lược, tôi đã từ bỏ cuộc sống ở hậu phương mà tôi cho là hèn hạ, hoặc đi ra nước ngoài là hèn hạ, để rồi tôi dấn thân vào chốn chông gai như thế.”

Nhưng ngay sau khi chiếm được miền Nam, không hiếm người “chiến sĩ giải phóng” đã thất vọng, và cảm thấy họ bị đảng lừa gạt khi nhìn thấy đường xá to rộng, nhà cao cửa rộng, đời sống sung túc, phong phú và thoải mái của người dân miền Nam. Chỉ vài tuần sau chiến thắng miền Nam, nhà văn Dương Thu Hương khi vào Nam đã nhận định, “Theo tôi, cái mô hình xã hội của cái miền đất bại trận mới chính là mô hình của nền văn minh, và chúng tôi là người trong đội ngũ chiến thắng thì thực ra chúng tôi đã chiến đấu cho một mô hình xã hội man rợ. Và điều đó khiến tôi hết sức cay đắng.” DTH kể tiếp, “xã hội chủ nghĩa hồi đó mỗi năm họ bán cho 5 mét vải. Khi tôi còn thiếu nữ thì cái tuổi thiếu nữ của tôi chỉ được diện toàn cái đồ rách của mẹ tôi. Tại vì có 5 mét vải thì làm sao mà đủ cho một người được. Nhất là trẻ con thì lại chỉ được 4 mét thôi cơ. Mẹ tôi mới được 5 mét. Thì tôi nhớ lúc đó 16, 17 tuổi tôi vẫn còn mặc quần vá bởi vì những cái quần nào mà, mẹ tôi đi dậy học thì phải mặc tử tế rồi, thì tất nhiên chúng tôi thì quần áo chữa đi chữa lại. Tôi cũng không nhớ hình dung là giải phóng tôi vào nhà bác tôi tôi mặc gì. Tôi chỉ biết là mọi người, chắc chắn trước mắt mọi người tôi là một con nhà quê, đen đủi, gầy gò, đại loại là không ra người; đại loại là, nhiều năm đói khổ, nhiều năm ở trong rừng ăn những thứ, nói thật là thức ăn của súc vật. Bởi vì lúc đó chính phủ Việt Nam có bán một thứ sữa mà sau này tất cả mọi người ăn đều bị kiết lỵ; sữa đấy là sữa cho trâu của Ấn độ; trước khi trâu đẻ người ta cho ăn. Thì sau này cả thế hệ của tôi đã bị rất nhiều bệnh là vì ăn những thứ đồ ăn của súc vật. Mà lúc đấy nó là quí lắm vì ít ra nó còn là thực phẩm. Còn bình thường thì rau là rau dại. Còn gạo trong chiến trường thì là gạo chuyển ra gạo tốt. Còn gạo bán cho cán bộ là gạo để lâu rồi. Tóm lại, đó là một thời rất khổ… Nhưng điều mà tôi thấy một cái sự mà không thể nào chấp nhận được là ở miền Nam lúc đó sách bán tứ tung, tất cả mọi nhà đều có television (truyền hình), và có radio, người ta có thể tự do để mà tiếp xúc với tất cả mọi nền văn minh khác. Người ta có thể tự do nghe tất cả các đài báo khác. Và do đó mà trí óc con người, ít nhất, dù là người Việt Nam, tức là cái nền rất thấp, là cái nền xuất phát từ chế độ phong kiến nô lệ, vẫn có thể có điều kiện tiếp xúc với ánh sáng, là các nền văn minh, kiến thức. Trong khi đó thì ở miền Bắc chỉ có một thứ đài được phát ong ỏng trên cái loa công cộng thôi, là được nghe. Còn dân chúng như chúng tôi thì không bao giờ được phép nghe đài nước ngoài.” DTH kể tiếp, “Sách báo cũng vậy. Khi tôi vào miền Nam, tôi mua đến hàng bao nhiêu tạ sách…và tôi đọc như điên và tôi hiểu rằng đây chính là nền văn minh, nơi con người có tự do tiếp xúc với ánh sáng, tiếp xúc mọi thứ thông tin; đó là nền văn minh. Còn xã hội miền Bắc là sao? Là cấm tiệt tất cả những nền văn minh, những nền thông tin khác, để dìm dân chúng trong sự tối tăm và ngu dốt; đó là địa ngục, và đó là một chế độ man rợ… Trong khi đó thì ở miền Bắc, với cái chế độ cộng sản trại lính, người ta phân phối cho mỗi người, ví dụ như học sinh như tôi ấy, một tháng được 1 lạng đường, 1 lạng thịt; mẹ tôi thì 250 gram, hay 2 lạng rưỡi thịt. Tôi nhớ là với cái chế độ ấy con người biến thành súc vật; vì sao? Tất cả tuổi thơ của tôi, ngày nào tôi cũng phải ra đồng. Bởi vì nếu tôi không ra đồng kiếm tôm, kiếm cá, mò cua bắt ốc thì bản thân tôi cũng còi xương. Còn những đứa em tôi và bà ngoại cũng không có gì ăn cả. Bởi vì là một lần mua thịt trong một tháng thôi. Mẹ tôi được 2 lạng rưỡi, trong nhà mỗi người 1 lạng nữa thì tôi phải dậy xếp hàng từ 3 giờ sáng. Rồi số thịt ấy bố tôi bảo mẹ tôi yếu cho nên là phải để mẹ tôi ăn. Thế còn tất cả các bà cháu chỉ trông vào rỏ cua rỏ cá ngoài đồng thôi. Cho nên là khi mà người ta bị đánh vật với miếng ăn thì người ta biến thành con vật. Cho nên nhà nước điều khiển con người bằng sự tối tăm, ngu dốt và sự đói khổ. Và đó là cái vòng luẩn quẩn… Và lúc đó tôi đã bảo rằng chế độ này cần phải bị lật đổ; đấy là ý nghĩ khởi đầu của tôi. Tôi bảo là đây là chế độ lừa đảo, gian manh và cần phải bị lật đổ.”

Trong cuốn hồi ký “Để Gió Cuốn Đi”, nữ ca sĩ xinh đẹp Ái Vân, một người được sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, vào Sài Gòn lần đầu tiên vào đúng dịp 30/04/1975. Thời điểm 1975, Ái Vân mới 19 tuổi, đang là sinh viên năm 2 khoa Thanh Nhạc của Nhạc Viện Hà Nội. Cô kể lại: “Được vào Nam, lại được làm xướng ngôn viên (Miền Bắc gọi là phát thanh viên) cho Đài Truyền Hình Sài Gòn những ngày đầu tiên của hòa bình, còn vinh dự nào hơn. Trước đây cứ nghe nói đồng bào Miền Nam “bị Mỹ ngụy kìm kẹp” khổ lắm, rất cần sự giúp đỡ từ Miền Bắc, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi ni lông đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc. Theo địa chỉ ba cho từ ngoài Bắc, tôi tìm đến nhà cô Hà Thị Tuyết, ở nhà gọi là cô Cả, là chị lớn của ba. Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Con dâu trưởng của cô Cả hỏi: “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?”  Tôi trịnh trọng vừa mở bọc ni lông vừa nói: “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần.” Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả: “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em.” Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có bất kỳ nhà nào ở Miền Bắc tại thời điểm đấy, dù là nhà ông Thủ Tướng.”

Ở trên là nhận xét, so sánh giữa hai miền Nam-Bắc trong thời chiến của hai nữ nghệ sĩ nổi tiếng nhất miền Bắc thời đó. Nhà văn Nguyễn Quang Lập thì kể, sau 30-4, gia đình ông vào Nam thăm ông bác, được ông bác cho bố ông 20 cây vàng, “hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kì.”

Tác giả Trần Hiếu, trong bài “Cảm Ơn Từ Đáy Lòng” viết, “Nhờ có Giải Phóng mới biết được gói bột gặt VISO hòa vào nước để ngâm cho dễ giặt chứ không phải luộc quả bồ hòn để lấy nước giặt hay dùng bánh xà phòng 72% của Liên Xô thâm-xì cứng-ngắc đáp chết chó mèo. Mới biết được dân miền Nam đi xe máy và ô tô nhiều hơn xe đạp. Mới có được những đồ chơi bằng nhựa như búp bê nhắm mở mắt, ô tô, máy bay, chú ếch xanh chạy cót tinh xảo cho trẻ em. Và đặc biệt hơn là mới biết được có cái nhà xí rất hay có thể làm chung cùng nhà tắm và chỉ cần xả nước một cái là sạch sẽ không mùi, chứ không như cái nhà xí lộ thiên đầy ruồi nhặng mà mỗi lần đi đại tiện xong lại phải ra đầu gió đứng 15 phút để gió thổi bớt mùi đi rồi mới dám vào nhà, không thì mọi người lại tưởng mình vừa đi ăn lẩu thập cẩm đó là chưa nói tới cái khoản phải có kỹ năng vò nát tờ giấy vở để nó tơi và mềm ra thì mới có cái mà chùi các bác ạ ! Vì làm chó gì có giấy chuyên dùng cho vấn đề này. Trước 30/4 /1975 ngồi nhà đèn dầu nghe loa phát thanh tuyên truyền các bác miền Nam khổ lắm bị chính quyền dồn vào ấp chiến lược khống chế quyền tự do đi lại rồi bị áp bức đói khổ mà chúng tôi đau lòng và cứ thương các bác miền Nam quá! Té ra chúng tôi ăn khoai sắn nằm ổ rơm hút thuốc lào nghe loa công cộng tối ngủ nóng hết cả bụng lẫn cổ họng lại đi thương các bác ăn cơm thịt bò, cá kho tộ, nằm đệm mút, máy lạnh, xem ti vi, nghe nhạc trữ tình.”
Người ta không thể giải phóng một thành phần dân chúng giầu có sung túc gấp trăm lần mình. Người ta cũng không thể giải phóng thành phần dân chúng có trình độ văn hóa cao gấp chục lần minh. Nhiều thành phần dân chúng sinh sau 1975, nhìn hình ảnh thành phố hiện nay đã tưởng rằng trước 1975, miền Bắc cũng có hình ảnh gần tương tự như vậy và việc giải phóng miền Nam là chính đáng. Không phải đâu, miền Bắc trong chiến tranh chỉ là những căn nhà ổ chuột, sống chen chúc chục hộ gia đình, mỗi người được chỉ tiêu 4 mét vuông, không bếp, không cầu tiêu, nhà tắm riêng. Hai hình ảnh dưới đây do nhà báo quốc tế chụp hình hai anh bộ đội mang về miền Bắc sau chiến tranh những chiến lợi phẩm không giá trị của miền Nam thời đó nhưng đối với miền Bắc là những món quà quí giá chứng tỏ sự chênh lệch giầu nghèo giữa hai miền Nam Bắc, chứng tỏ lý tưởng “chiến tranh giải phóng miền Nam” là điều đảng bịa đặt để thúc đẩy người dân miền Bắc đi vào cuộc chiến vô nghĩa, nếu không muốn nói là phi nghĩa, làm thiệt mạng mấy triệu người dân hai miền trong 20 năm huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt.

Error! Filename not specified.

Nguồn: Soldier on the road, back from Saigon, 1976 – Photo by Marc Riboud by manhhai, on Flickr) Anh bộ đội miền Bắc từ Saigon trở về nhà sau chiến tranh, 1976 mang theo các chiến lợi phẩm chứa trong hòm và con búp bê cầm ở tay.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Ảo Tưởng Giải Phóng Miền Nam, Nguyễn Tường Tâm
Comment

Có Những Lời Thật Không Nói Ra, ChChết Cũng Không Nhắm Mắt: Lời Thật Của Một Thầy Phong Thủy Sau 40 Năm Hành Nghề. (Vô Danh)

April 17, 2026 Ninh Tran

Tôi năm nay năm mươi lăm tuổi. Mười lăm tuổi theo sư phụ mù nhập nghề, học xem la bàn, quan sát thế núi dòng nước, tìm long mạch điểm huyệt. Suốt bốn mươi năm lăn lộn trong nghề, quan lớn tôi từng gặp, người buôn gánh bán bưng tôi cũng từng quen; biệt thự sang trọng tôi từng bố cục, núi hoang mộ lạnh tôi cũng từng đặt chân.

Trong giới, người ta gọi tôi là “Trần bán tiên”, nói tôi đoán việc như đinh đóng cột, có thể đổi vận cải mệnh. 

Nhưng hôm nay, tôi muốn đâm thủng lớp giấy cửa sổ đã lừa người đời, cũng trói buộc chính mình suốt cả đời. 

Bốn mươi năm qua, tôi đã thấy quá nhiều chuyện hoang đường. Nếu hôm nay không nói ra những lời thật này, e rằng đến ngày chết, mắt tôi cũng không thể nhắm lại.

 

1. Phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi lòng người

Người tìm đến thầy phong thủy, đa phần chỉ cầu thăng quan phát tài, gia đình bình an. Họ nghĩ rằng đặt một con tỳ hưu trong nhà, đặt bể cá ở vị trí tài lộc, hoặc dời mộ tổ tiên đến nơi “tựa núi nhìn sông” là có thể đổi vận đổi đời.

Thật là chuyện nực cười. 

Nếu chỉ cần đặt vài món đồ là có thể phát tài, thì những người làm phong thủy như chúng tôi đã là người giàu nhất thế giới rồi, đâu cần dầm mưa dãi nắng kiếm tiền của các vị? 

Hai mươi năm trước, tôi nhận một vụ lớn. Người mời tôi là một ông trùm bất động sản họ Lâm. Việc làm ăn của ông rất lớn, nhưng lúc đó dòng tiền gặp trục trặc. Ông tin rằng phong thủy mộ tổ bị hỏng nên cầu tôi tìm “chân long kết huyệt” để cải vận.

Sau nửa tháng trèo đèo lội suối, tôi tìm được một thế đất tuyệt đẹp: lưng tựa núi xanh, trước có dòng nước uốn quanh, minh đường rộng mở theo phong thủy là đất sinh đại phú. 

Ông Lâm vui mừng khôn xiết, bỏ tiền lớn mua đất, tổ chức lễ cải táng cực kỳ long trọng. 

Sau nghi lễ, tôi đến nhà ông làm khách. Biệt thự xa hoa bậc nhất thành phố, mọi thứ lộng lẫy đến chói mắt. Nhưng khi đi nhầm vào một căn phòng nhỏ ở góc tầng một, tôi chết lặng.

 

Căn phòng ẩm thấp, không cửa sổ, đầy mùi mốc và mùi thuốc. Trên chiếc giường cũ nằm một bà lão gầy yếu, tóc bạc trắng, đó chính là mẹ ruột của ông Lâm.

Vì bà bị liệt, vệ sinh khó khăn nên vợ ông chê bẩn, chuyển bà từ phòng lớn đầy nắng xuống căn phòng chứa đồ này. Và ông Lâm, người sở hữu hàng trăm triệu tài sản đã mặc nhiên chấp nhận. 

Khoảnh khắc đó, tôi thấy lạnh từ trong xương.

Tôi không nhận nửa khoản tiền còn lại, chỉ nói một câu:

“Phong thủy tốt nhất không ở trên núi, mà ở ngay trong nhà ông. Ông bỏ ‘vị Bồ Tát sống’ vào góc tối không ánh sáng, thì người chết ngoài núi dù nằm trên long mạch cũng không giữ nổi tài khí cho ông.” 

Ba năm sau, công ty ông phá sản, tài sản bị phong tỏa, vợ mang tiền bỏ trốn. Cuối cùng, trong một đêm mùa đông gió lạnh, ông nhảy lầu tự tử. 

Người ta nói tôi chọn nhầm huyệt xấu. Tôi không giải thích. Bởi tôi hiểu: phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi nhân tâm xấu.

Người bất hiếu, lòng như nước chết, la bàn nào cũng không định nổi hướng đời họ. Cha mẹ là gốc, con cháu là cành lá. Gốc đã chặt, sao mong cây kết trái vàng? 

Đây là lời thật thứ nhất: Người không hiếu thuận, cầu thần bái Phật hay xem phong thủy đều vô ích.

 2. Người thật sự đổi mệnh không cần đổi phong thủy

Mười lăm năm trước, tôi gặp một người phụ nữ tên Vương Quế Hoa ở một ngôi làng nghèo.

Nhà bà nằm đúng thế “Bạch Hổ thò đầu” lại thêm “kéo cắt”, phong thủy cực xấu, chủ suy bại, cô độc, tai họa. Bà góa chồng, nuôi con trai tàn tật, sống cực khổ. Nhưng trên mặt bà không có oán hận, chỉ có nụ cười hiền. 

Tôi đề nghị giúp bà cải phong thủy, dựng đá trấn trạch.

Bà chỉ cười nhẹ: “Dựng đá chắc tốn tiền lắm. Tôi để dành tiền đưa con đi chữa bệnh. Chỉ cần mẹ con tôi sống ngay thẳng, trời chắc không dồn chúng tôi vào đường cùng.”

Câu nói ấy như cái tát làm tôi tỉnh ngộ.

Mười năm sau quay lại, nơi giao lộ “hung hiểm” ấy đã được mở rộng thành khu chợ. Nhà bà thành cửa hàng tạp hóa, con trai trở thành nghệ nhân điêu khắc nổi tiếng, có gia đình hạnh phúc. 

Bà không đổi phong thủy, bà đổi chính mình. 

Đây là lời thật thứ hai:

Phong thủy tốt nhất không phải hướng nhà hay mộ tổ, mà là nhân phẩm và tu dưỡng của bạn.

Tâm rộng, đi đâu cũng là đường sáng. Tâm hẹp, sống trong cung điện cũng thấy ngõ cụt. 

3. Phong thủy lớn nhất của một gia đình

Bốn mươi năm hành nghề, tôi thấy vô số cặp vợ chồng cãi nhau chỉ vì vị trí sofa hay cửa bếp.

Họ hỏi tôi: “Nhà tôi có phạm xung không?”

Tôi chỉ muốn nói: Nhà có xung hay không tôi không chắc, nhưng tính khí hai người thì chắc chắn đang xung rồi.

Trong một gia đình: Sát khí lớn nhất không phải dầm đè hay xuyên đường, mà là cãi vã, lạnh nhạt và tính toán lẫn nhau. 

Người phụ nữ là con mắt phong thủy của gia đình. Tầm nhìn của người đàn ông là bức tường chịu lực của ngôi nhà. Gia đình hòa thuận, dù ở nhà thuê nhỏ vẫn là đất lành. Gia đình bất hòa, biệt thự cũng thành hung trạch.

4. Phong thủy rốt cuộc là gì? 

Trong Kinh Dịch có câu: “Nhà tích thiện ắt có dư phúc, nhà tích ác ắt có dư họa.” 

Tổ tiên đã nói rõ chân lý phong thủy từ lâu. Chỉ là con người quá tham, luôn muốn đi đường tắt, nghĩ rằng trả tiền cho thầy phong thủy là có thể trốn nhân quả, đổi số nghịch trời. 

Tôi hiểu ra một điều: TÔI CÓ THỂ TÌM ĐẤT TỐT, NHƯNG KHÔNG TÌM ĐƯỢC LƯƠNG TÂM CHO NGƯỜI KHÁC. TÔI CÓ THỂ HOÁ GIẢI SÁT KHÍ TRONG NHÀ, NHƯNG KHÔNG HOÁ GIẢI ĐƯỢC OÁN KHÍ TRONG LÒNG NGƯỜI.

Tôi đã rửa tay gác nghề. Sắp rời thành phố, về quê trồng vài mẫu ruộng, nuôi gà vịt. Tiền tích góp ngoài phần dưỡng già, tôi sẽ quyên góp cho trường học vùng núi. 

Nếu giờ đây bạn đang lo bố trí căn nhà mới, hay đang vì làm ăn thất bại mà cầu khấn khắp nơi, hoặc đang ở đáy cuộc đời và cảm thấy vận xui bủa vây, hãy nghe tôi một câu:

Đừng vội đi xem bói hay xem phong thủy nữa. HÃY NHÌN CHA MẸ, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA NẤU CHO HỌ MỘT BỬA CƠM? NHÌN NGƯỜI BẠN ĐỜI, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA ÔM HỌ THẬT ẤM? NHÌN CHÍNH MÌNH, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA GIÚP AI ĐÓ VÔ ĐIỀU KIỆN? 

Nuôi dưỡng tính khí cho tốt. Chăm sóc thân tâm cho lành. Giữ gìn các mối quan hệ cho tử tế. Bớt tính toán, thêm chân thành. Bớt oán trách, thêm biết ơn.Khi tâm bạn đổi, từ trường quanh bạn cũng đổi. Vận mệnh cũng theo đó mà đổi. 

Bởi vì, chính bạn mới là thầy phong thủy mạnh mẽ nhất của cuộc đời mình. 

Bốn mươi năm phong ba, tôi đã nhìn thấu sự hư ảo của nghề này, cũng nhìn rõ chân tình nơi nhân gian. Hôm nay viết ra những lời từ đáy lòng, chỉ mong có thể đánh thức vài người hữu duyên.

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Lời Thật Của Một Thầy Phong Thủy Sau 40 Năm Hành Nghề.
Comment

Bữa Cơm Gia Đình Ngày Nay ...! ( Vô Danh)

April 13, 2026 Ninh Tran

Hồi nhỏ, tôi đã từng nghĩ mâm cơm gia đình là một điều hiển nhiên, một nghi lễ bất biến. Chiều nào cũng vậy, cứ tầm năm sáu giờ, cả nhà chúng tôi lại quây quần bên chiếc bàn gỗ cũ. Mùi cá kho tộ của mẹ thơm lừng gian bếp. Ba tôi, sau một ngày làm việc, sẽ kể vài câu chuyện vui. Chị Hai thì líu lo về những chuyện ở trường.
----
Bữa cơm không chỉ để no bụng, nó là một cái hẹn, một điểm dừng sau một ngày dài, nơi mọi người trút bỏ những lo toan và kết nối với nhau. Ngọn lửa trong bếp của mẹ không chỉ làm chín thức ăn, nó còn giữ ấm cho cả gia đình.
Tôi không rõ sự rạn nứt bắt đầu từ khi nào. Có lẽ, nó bắt đầu từ chiếc điện thoại.

 Đầu tiên, chị Hai mang điện thoại lên bàn ăn. Chị vừa ăn vừa cắm mặt vào màn hình, cười một mình với những tin nhắn. Những câu chuyện của chị về trường lớp thưa dần, thay vào đó là sự im lặng và những câu trả lời nhát gừng.
Rồi đến ba tôi, ông cũng bắt đầu xem tin tức, trả lời email công việc ngay trong bữa ăn. Không khí trên bàn ăn loãng dần. Những cuộc trò chuyện bị cắt vụn.
Rồi những chiếc ghế bắt đầu trống
"Tối nay con không ăn cơm nhà, con đi học thêm."
"Ba có hẹn tiếp khách, cả nhà cứ ăn trước đi."
Những lý do nghe có vẻ rất chính đáng. Cuộc sống hiện đại mà, ai cũng bận rộn. Nhưng tần suất lời từ chối ngày một dày hơn. Mâm cơm cứ vơi dần, không phải vì nhà thiếu thốn, mà vì thiếu người ăn.
Mẹ tôi vẫn nấu, nhưng bà bắt đầu nấu ít lại. Những món cầu kỳ ngày xưa được thay bằng các món đơn giản hơn. Bà nói cho đỡ mất công, nhưng tôi biết, trong lòng bà có một nỗi buồn không nói thành lời. Ngọn lửa trong bếp dường như cũng bớt nồng nhiệt hơn trước.
Mâm cơm từ một nơi sum vầy, dần trở thành một nghĩa vụ. Khi có đủ người, không khí cũng không còn như xưa. Ba tôi, mệt mỏi vì công việc, dễ cáu gắt vì những chuyện nhỏ nhặt.
Chị Hai thì chê món này mặn, món kia nhạt, chị nói trên mạng thấy người ta nấu ngon mà sao mẹ mình nấu không ra gì.
Sự im lặng bao trùm, nặng nề đến mức có thể nghe rõ tiếng nhai, tiếng bát đũa va vào nhau. Mọi người ăn thật nhanh, như để trốn thoát khỏi chính bữa cơm của gia đình mình.
-----
Đỉnh điểm là vào ngày sinh nhật của Mẹ
Tối tôi thấy mẹ nằm trằn trọc suy nghĩ gì đó. Tôi không hiểu chuyện gì.
Hôm sau, tôi thấy mẹ đi chợ từ rất sớm, nấu một bàn đầy những món mà cả nhà đều thích, hy vọng sẽ có một bữa tối ấm cúng như xưa.
Mẹ không báo trước để cho cả nhà bất ngờ, tôi thì thấy nghi nghi. Ngồi nhớ lại thì biết hôm nay sinh nhật mẹ. Mà nghĩ lại, ba với chị tệ thật, sinh nhật mẹ cũng không nhớ.


Buổi chiều hôm đó, chị Hai gọi điện báo có hẹn đi sinh nhật bạn thân đột xuất. Gần tối, ba cũng báo bận một cuộc họp quan trọng không về kịp.
Chỉ còn lại tôi và mẹ, ngồi trước một bàn đồ ăn thịnh soạn đang nguội dần. Mẹ không nói gì, chỉ lẳng lặng xới cho tôi một chén cơm. Nhưng khi mẹ quay đi, tôi thấy bờ vai gầy của mẹ rung lên. Bà đang khóc.
Bà gạt vội nước mắt, nhìn tôi cười gượng: "Mẹ không sợ cực, mẹ chỉ sợ nấu ra không có ai ăn... Cái nhà này, đến nỗi ăn với nhau một bữa cũng khó vậy sao?"
Câu hỏi của mẹ như một nhát dao cứa vào lòng tôi. Tôi chợt nhận ra, chúng tôi đã để mọi thứ đi quá xa. Chúng tôi đã xem sự hiện diện của nhau, sự chăm sóc của mẹ là điều hiển nhiên, để rồi mải miết chạy theo mối bận tâm của riêng mình.
-----
Sự tan vỡ của một gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu từ những xung đột lớn lao, từ những lời chì chiết, mắng nhiếc.
Đôi khi, nó lại bắt đầu từ chính mâm cơm, khi người ta không còn muốn ăn cùng nhau nữa. Người ta xem đó là một thói quen cứng nhắc, một nghĩa vụ, chứ họ không nghĩ rằng đó là sự tự nguyện, sự trân quý, sự yêu thương mà mỗi người cần có để kết nối với người thân trong nhà mình.
Bởi vì khi họ từ chối một bữa ăn, thực ra là họ đang từ chối dành thời gian, sự quan tâm và lắng nghe cho những người thân nhất.
Tối hôm đó, tôi không nói gì nhiều. Tôi chỉ ngồi xuống, ăn hết phần cơm của mình, và khen đồ ăn mẹ nấu rất ngon. Tôi nói chuyện với mẹ nhiều hơn, về những điều nhỏ nhặt nhất, điều mà đã lâu rồi tôi không làm.
Tôi thấy mẹ cười nhiều hơn, tôi cũng vui hơn.
Hóa ra, để hàn gắn một gia đình, đôi khi chẳng cần điều gì lớn lao. Nó bắt đầu đơn giản bằng việc, chúng ta đặt điện thoại xuống, nhìn vào mắt nhau, và cùng nhau ăn bữa cơm. Thường xuyên. Hỏi han. Quan tâm. Thế là đủ!
(Xa cách bắt đầu từ những bữa cơm, mà người ta không muốn ăn cùng nhau)

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Bữa Cơm Gia Đình Ngày Nay ...! ( Vô Danh)
Comment

CHUYỆN TRÚ MƯA - Tuổi Trẻ VNCS Ngày Nay !) (Loc Duong)

April 5, 2026 Ninh Tran

CHUYỆN TRÚ MƯA(Tuoi Tre VNCS Ngày Nay !)

 Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.

Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :

-Có phải cháu đây không?

Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :

-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.

-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?

-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?

-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?

-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.

 -Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?

 -Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.

 -Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?

 Cô bé vui vẻ hẳn lên :

-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.

 -Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?

 -Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?

Hắn cứng họng. Không phải vì đuối l‎ý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.

 Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :

“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh

Anh không biết làm sao em biết được

Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước

Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”

 

Loc Duong

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Tuổi Trẻ VNCS Ngày Nay !, CHUYỆN TRÚ MƯA, Loc Duong
Comment

Bạn Già (Đông Vân Nguyễn Văn Dõng)

April 4, 2026 Ninh Tran

Thấy vợ con người ta mà ham!

- Ê, nói năng cẩn thận tí nghe bố, không phải ỷ già rồi muốn nói sao thì nói, lạng quạng bọn trẻ nó nghe được nó bảo mình già dịch.

- Ừ, thì mình cũng có “dịch” thật, dù dịch ít hơn xưa. Nhưng nói thật mầy nghe, dạo sau nầy bà nhà tao đổi tánh ghê quá, đôi khi tao phải bỏ nhà đi vòng vòng ngoài vườn, ngoài phố cho nó thoáng cái đầu.

- Mầy làm như có một mình bả đổi, còn mầy thì lúc nào cũng trơ trơ cùng tuế nguyệt!

- Không phải vậy, bả tự nhiên trở nên kỳ cục, hồi nào tới giờ có khi nào bả ghen tương gì đâu, dù bóng gió, mấy mươi năm rồi lúc nào cũng hoà hợp hòa giải hết sức vui vẻ, mầy cũng biết tính tao. Tao muốn đi đâu, lúc nào thì cứ đi, bây giờ gần đất xa trời tự dưng bả lại kiếm chuyện. Mỗi lần tao ra Connexion xem máy móc là bả cằn nhằn cử nhử “Đi đâu đi hoài, ở nhà một chút có được không...” Bực cả cái mình.

- Bực mình rồi mầy có cự bả không?

- Lúc đầu thì không, nhưng thét rồi phải cự.

- Tội nghiệp bà già.

- Tội cái quái gì, mầy chưa lâm cảnh chưa biết...

- Tại mầy không hay, không biết chớ bà nhà tao cũng như bà nhà mầy, và bà nhà mầy thì cũng như thiên hạ thôi. Chả có gì mới lạ dưới ánh mặt trời, chỉ có tao là không như mầy, chẳng bao giờ tao cự nự cả. Không phải tao không “nhạy cảm”, mà cũng bực mình lắm chớ, đôi khi “muốn kêu một tiếng cho dài kẻo câm”, nhưng tao hiểu rằng là mấy bà thuộc giai cấp “cổ lai hy” đều mắc phải cái bịnh lo, bịnh sợ. Họ sợ những bất trắc đang rình rập họ, nào tai nạn, nào bịnh tật, nào chết chóc... Họ sợ có chuyện gì không ai giúp đỡ, tóm lại họ sợ cô đơn. Mầy cũng còn may là bả chưa nuôi chó, nuôi mèo để thế mầy hủ hỉ cho đỡ buồn.

- Thì đồng ý, nhưng đi một chút cũng không xong thì chẳng lẽ tao phải ngồi ở đầu giường canh bả hay sao? Tao vẫn phục cái tài tỉnh bơ của mầy, tao thì rất dễ xì-nẹt.

- Thì ai lại chẳng xì-nẹt, nhưng phải biết “làm chủ” mấy sợi dây thần kinh của mình, thế thôi. Thú thật với mầy tao không bao giờ lên giọng với bà xã, cũng chẳng khi nào cằn nhằn cử nhử gì hết. Khi có chuyện không bằng lòng làm tao xì-nẹt thì tao đi chỗ khác chơi, cắn chặt hai hàm răng lại, không cho cái “lưỡi rắn” nó thò lò ra lải nhải gì hết. Khi nào trời yên biển lặng tao sẽ đi đường lưỡi sau. Vậy là vui vẻ cả nhà và vui vẻ dài dài, có gì khó đâu. La hét ngay tại chỗ chỉ mất hòa khí, chẳng ích lợi gì. Những cái sứt mẻ tí ti đó lâu ngày tụ lại thành bể nát.
- Biết vậy nhưng không nhịn được...
- Mầy nói chuyện ngộ thiệt, biết vậy mà không chịu nhịn là sao?
- Không phải ai cũng làm như mầy được. Tụi tao đều biết mầy không giống ai. Mấy thằng chưa biết mầy, nghe nói vợ chồng mầy không bao giờ cãi nhau, tụi nó đếch tin và cho là mầy “pas normal”.
- Tụi nó nói có khi đúng, ở đời cái gì mà có nhiều người nghe, nhiều người làm thì cái đó đúng “tiêu chuẩn” của một sự việc “bình thường”. Còn cái thật sự phải là chuyện bình thường nhưng vì chẳng có mấy người “chấp nhận được” thì nó trở thành chuyện không bình thường. Đó cũng chính là cái cốt lõi của thể chế dân chủ: đa số có lý, đa số thắng. Nhờ vậy nên cái đám “ái nam ái nữ” mới được công nhận “cưới hỏi” ăn ở với nhau như những kẻ bình thường. Văn minh thời đại có những chuyện nghịch thiên không ngửi được. Đúng là cái lưỡi không xương, đến cả tình ái, cái dài cái vuông mà nó cũng vo tròn bớp méo được.
- Sẵn đây tao hỏi mầy luôn, mầy làm sao mà nhịn hay vậy?
- Chẳng có gì khó hết, tao đặt mọi việc trên căn bản tình yêu, nếu mầy thật tâm thương yêu bà xã thì phải luôn nhớ điều đó để không bao giờ nói lời xúc phạm đến tình yêu kia. Trong tình yêu còn có sự kính trọng nhau, nếu mầy ý thức đúng mức điều nầy thì mầy sẽ chẳng bao giờ xài xể người mầy đã từng quì gối ôm chân bắt giò, thở dài thườn thượt, xuống sáu câu ai oán ỉ ôi nào là “đài gương soi đến dấu bèo cho chăng”..., theo đuổi trong hồi hộp, lo âu, sầu khổ, ăn không ngon, ngủ không nhắm mắt... Có thằng bạn bảo tao là nó thương vợ lắm, xem bả như, hoặc hơn cả bản thân... Có lẽ chính vì xem bả như thế, nó quên rằng bả là một người bạn đường xa, nên nó rầy rà, nạt nộ vợ nó như kẻ ăn người ở trong nhà! Thương vợ kiểu vô ý thức bất bình đẳng đó thì tao xin can mầy nhé.
- Nghe mầy nói sao dễ quá...
- Thật ra thì chẳng dễ cũng chẳng khó, chỉ có chịu khó suy nghĩ và luyện tập. Chí công mài sắt có ngày nên kim. Tao đã suy nghĩ từ thuở vừa lớn khôn, và tao cũng đã sớm hiểu câu văn ôn võ luyện. Không có gì mà ngày trước ngày sau là đạt được. Đặc biệt cái hạnh phúc gia đình, hay cái hạnh phúc tout court, nó đòi hỏi biết mình, hiểu đời, phải biết cách thương vợ, thương con. Ừ, đến việc yêu thương ngoài những “kiểu”, còn phải biết “cách” nữa, chớ không phải muốn yêu thế nào thì yêu. Mà muốn biết được cái “kiểu cách” đó mầy phải hiểu “đối tượng”, tức phải “biết người biết ta”. Cũng như bất cứ chuyện gì, muốn biết thì phải chịu khó bỏ công quan sát, suy nghĩ. Chỉ có vậy thôi, có gì rắc rối đâu. Cái rắc rối chính là chuyện “đối tượng” không chịu biết, không chịu hiểu như mình. Mà ở đời khi bánh ít đi mà bánh qui không lại thì chuyện cơm không lành canh không ngọt gần như là hậu quả đương nhiên, khó lòng tránh khỏi, bởi vì sức người có hạn, nhường nhịn nhau cũng chỉ tới chừng mực nào đó thôi. Nghĩ cho cùng thì “vạn sự khởi đầu nan”, thưở ban đầu chỉ biết có cái đẹp... sau đó đa số đều gặp phải lắm vấn đề đôi khi nan giải phải đi tới tan vỡ. Họ không nghĩ rằng thường tình những người trời cho đẹp lại hay nông cạn chỉ vì phải lo chăm sóc cái đẹp bên ngoài nhiều hơn cái tâm của họ.
- Mầy triết lý kinh bỏ mẹ! Làm thế quái nào mà biết được ai châm lo cái tâm? Châm lo cái sắc thì lộ liễu dễ biết và dễ lôi cuốn hơn. Một người không đẹp mầy lấy gì bảo đảm tâm họ đẹp, và ngược lại?
- Ai bảo đảm được chuyện đó cho mầy? Chỉ có mầy ráng mở to mắt ra mà quan sát, suy nghĩ. Mầy quên câu “xấu đẹp tùy người đối diện” rồi à? Mầy nên nhớ rằng cái tâm không dễ gì bị tàn phá, chớ cái đẹp nó như sương như khói vậy. Chẳng lẽ mầy không hiểu chuyện đó? Mầy cũng phải biết rằng muốn hiểu được cái tâm của đối tượng thì phải dày công theo dõi. Cái trò quen nhau trong thời gian ngắn, mê tít thò lò rồi lo cưới hỏi ngay kẻo trể thường rất dễ chết. Vả lại ông bà đã dặn “dạy vợ từ thưở ban sơ mới về”. Chờ đến lúc cổ lai hi thì chẳng còn gì để nói nữa.
- Vậy bây giờ mầy bảo tao phải chịu trận cho tới chết à?
- Bộ mầy tính bỏ bả vô viện dưỡng lão cho rảnh nợ hay sao?
- Đôi khi bực quá tao cũng có ý nghĩ đó. Không thì chính tao vô...
- Nầy, tao nói cho mầy biết, làm như vậy là bất nhân, bất nghĩa đó nghe.
- Tại sao vậy?
- Không những bất nhân bất nghĩa mà còn bất xứng nữa. Mầy đã cưới bả chớ bả có cưới mầy đâu! Nhờ bả mầy mới có một quãng thời gian sướng đời, hạnh phúc. Những lúc mầy xa nhà vì chiến cuộc, rồi vì học tập cải tạo, ai lo cho đàn con? Ai lo thăm nuôi mầy đói khổ trong lao tù? Ai sầu ai khổ trong cô đơn? Bây giờ mầy định phủi tay quên hết tình nghĩa ấy ư? Tao nói cho mầy nghe, đây chính là lúc mầy đền ơn đáp nghĩa người mầy từng yêu thương và cũng từng, cũng vẫn yêu thương mầy dù nay có chút khó tánh vì tuổi tác. Tao thấy cũng cần nhắc mầy một chuyện, ngoài tình yêu lứa đôi, mầy nên “đính kèm” tình thương thân phận làm người, rồi mầy sẽ hiểu ra mọi việc dễ dàng hơn. Tao có cảm tưởng đã đòi hỏi mầy quá nhiều. Giờ chỉ cần khuyên mầy ăn ở sao cho đáng mặt “anh hùng”, thế thôi.
Ngồi nghe hai ông bạn già “già mồm” với nhau cũng học được vài điều hay hay.
Có những bạn già nghĩ cũng đáng thương. Già rồi nên sinh ra lẩm cẩm, lại dễ xì nẹt. Có bạn già bực bội vì thế sự đã làm lỡ mất công danh sự nghiệp, đã đến cuối cuộc đời mà vẫn trắng tay, rồi sinh ra cáu kỉnh với vợ con, làm gia đình mất vui vì chuyện không đâu, chỉ vì họ thiếu suy nghĩ chín chắn. Bá nhân bá tánh, biết sao.
Thật ra thì có mấy ai chịu hiểu rằng hạnh phúc gia đình trên hết mọi công danh. Trên tiên cảnh, thiên đàng chỉ có hạnh phúc chớ đâu có công danh. Danh lợi như củ cà-rốt ông phu xe treo trước đầu lừa. Tội nghiệp con lừa bị lừa ra sức kéo xe chạy suốt khoảng đường dài, đôi mắt dán chặt vào mục tiêu, há hốc mồm nước dãi chảy ròng ròng, quên cả thiên nhiên đẹp quanh mình, đưa lão phu xe tới đích rồi mà mục tiêu vẫn còn trong gang tấc.
Những kẻ phàm phu tục tử chỉ thấy hạnh phúc khi họ được công danh. Trong gia đình chẳng ai trọng ai, họ chẳng cần. Con cái có lêu lổng cũng mặc, khôn nhờ, dại chịu, họ chỉ biết lo cho bản thân họ, họ chẳng biết trách nhiệm là cái chi, sẵn sàng hạ mình, dù có phải “đội quần”, để được công danh.

 Ba mươi năm sống giữa khu bình dân gồm trên ba mươi sắc dân tứ xứ, quan sát họ quanh năm, đâm ra ngán ngẩm. Tuyệt đại đa số là dân tha phương cầu thực. Nay có chút tiền, nên cũng lên xe (cũ) bóng loáng, cũng ăn diện (áo quần Babou) lòe loẹt như ai, nhưng cung cách thật là khiếp đảm, ngôn ngữ thì nghe điếc ráy luôn. Để quên đi cái quá khứ nghèo hèn, họ chọn lấy một cung cách trái ngược: tự cao, phách lối. Trong môi trường đó làm sao tìm được hai chữ hạnh phúc? Họa chăng chỉ có những thoả mãn nhứt thời, thế thôi. Đúng là đời sống của sinh vật. Nghĩ cho cùng thấy họ thật đáng thương, không được dạy dỗ, học hành họ làm sao hiểu được gì hơn ngoài manh áo miếng cơm.
Nói vậy chứ ngay cả trong số khoa bảng có lắm kẻ cũng chẳng khá hơn bao nhiêu, họ sẵn sàng khom lưng, cúi mặt trước cường địch ngày nào chỉ để được ăn ngon mặc đẹp. Muốn cho con cái họ sau nầy thoát ra khỏi cảnh sống sinh vật đó chỉ có cách giúp chúng nó học hành để chúng nó biết suy nghĩ, nhận ra con đường nào phải theo. Không làm được chuyện đó thì mầm mống loạn lạc vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng khổ nỗi, khi nhìn bộ giáo dục xứ Phú Lang Sa nầy, cũng như nhiều xứ văn minh khác, chỉ chú trọng việc đào tạo chuyên viên, hoàn toàn bỏ ngoài chuyện dạy luân thường, đạo lý.
Vừa mới đây nhân vụ ông lớn của FMI, có nhà báo hỏi một nhân vật trong chính phủ rằng có nên “đạo đức hóa” chính trị hay không, thì ông ta nhanh nhẩu trả lời: “La morale limite notre liberté”. Luân thường đạo lý giới hạn quyền tự do của chúng ta! Còn gì để nói nữa không? Những chuyện nhiễu nhương, trộm cướp, đốt phá... khắp các khu “nhà lá” từ Paris xuống Marseille là hậu quả tất yếu của một nền giáo dục phi luân lý nhưng nhuộm màu sắc chính trị mị dân.
Ai cũng nhìn thấy và ca ngợi tư cách của người dân Nhựt trong lần động đất vừa qua, nhưng không một ai đủ can đảm nghĩ đến chuyện theo gương. Ông kia nói đâu có sai: “luân thường đạo lý cấm đoán chúng ta không được tự do làm điều xằng bậy... Không làm được điều xằng bậy đời sẽ mất vui! Chuyện ông lớn FMI làm bậy ở Nữu Ước, và ở nhiều nơi trên đất Pháp, chỉ là một trong nhiều chuyện hấp dẫn mà chưa ai biết hết đó thôi. Vừa mới đây, cựu Tổng Thống J. Chirac ra tòa lãnh án 2 năm tù treo về tội “lường gạt, biển thủ công quỹ, lạm dụng quyền thế” !... Toàn là những chuyện vô tiền khoáng hậu. Những bậc “cha mẹ dân” của một quốc gia văn minh như Pháp mà còn ăn ở như vậy thì trách ai khác bây giờ?
Đời chỉ vui khi ta được quyền làm bậy!
Hình như đó là một phần định nghĩa của hai chữ tự do ở Châu Âu. Có nhiều chuyện nghĩ tức cười, cởi truồng trên baãi biển cho mọi người ngắm, dù rằng đôi khi cặp vú muớp dài tới rún, da nhăn nheo, nhưng đó là tự do, là văn minh, ở truồng trong rừng rậm là... rừng rú, man ri mọi rợ!
Có một ông bạn già làm thơ nhớ thời son trẻ, nay đã về chiều hối hả ôn lại ngày qua, tìm đường vào cõi tịnh, chuẩn bị cho một ngày “hồn phi phách tán” vào cõi thần tiên...
Nghe chim hót tang bồng rũ áo
Chút bụi trần gạt nốt, chân như...
Rừng phong lặng gió như chờ đón
Lạc bước thinh không hết bụi trần.
(Một Cõi Hư Vô)
Thâm tâm, hảo ý là vậy mà hình thức lại không phải vậy, vì khi nhìn kỹ những gì bạn già làm thì phần muốn “siêu thoát” bị phần muốn “ghi danh hậu thế” lấn át mất. Khi nhìn tấm ảnh của bạn già lại càng thấy bạn không có vẻ gì muốn lánh mặt cuộc đời nầy cả, trái lại bạn vẫn còn tràn đầy nhựa sống, rất phong độ, rất hợp thời trang từ xiêm y đến đầu tóc. Niềm yêu đời vẫn còn rành rành trên khóe mắt, nụ cười, dù chỉ một bước nữa là đạt thành bát thập tướng quân. Mục tiêu của người tìm vào cõi tịnh có khác chi mấy với mục đích của kẻ tu hành: thoát tục? Muốn thoát tục phải diệt dục, nếu vẫn cứ dính dấp với dục, loanh quanh trong những cái tục thì mần răng mà thoát trần được. Thiên hạ đã chẳng gọi là “trần tục” hay sao? Khi tâm chưa tịnh thì chưa thể vào thiền. Ví như con ruồi mắc lưới nhện, càng cựa quậy càng bị siết chặt và cuối cùng bị “nhền nhện làm thịt”. Được vậy cũng sướng đời - như lão Trư Bác Gíái xưa kia cả ngày cứ trốn Thầy đi tìm “ổ nhện”. Nhưng thôi, chuyện muốn thật hay muốn giả vờ của những nghệ sĩ khó ai biết được, bởi vì mấy ông thi sĩ, nghệ sĩ nổi hứng bất tử để rồi ngay sau đó chẳng còn nhớ tới những cuộc tình tục lãng mạn của họ nữa; dù sao thì mấy ổng cũng để lại cho đời những dòng thơ, tiếng nhạc hay. Không thành công thoát tục thì cũng thành danh, chẳng mất mát gì cả. Nói nhỏ mà nghe: thành danh vẫn hơn thoát tục. Thường tình thì ai cũng muốn vừa thoát tục vừa để lại chút danh gì với núi sông.
Tuy nhiên, khi đặt mấy vần thơ ướt át vào bối cảnh của một người vong quốc đã từng có trọng trách trong xã hội, khi tình dân tộc, nợ nước non vẫn còn mê mê ra đó chờ đợi mọi người, thì mấy vần thơ của bạn già nghe ra có cái gì lạc vận, hư vị đăng đắng đúng như cụ Nguyễn Du đã than:
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.
Có khi còn bị hiểu là “thi sĩ bất tri vong quốc hận”. Bạn già đã nhịn nhục trở về thăm lại chốn xưa, những chốn xưa, nhưng chỉ để “nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa”, mơ màng những hình ảnh thân thương của thời son trẻ yêu đương mùi mẫn, chỉ để tìm lại những cảm xúc của một thời hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay, tất cả chỉ nhằm tìm cảm hứng cho nguồn thơ để đời...
Chốn xưa tìm lại tàn hương cũ
Gói ghém thương vào một tứ thơ...
(Hà Nội Thành Đô)
Bạn già đáng được một lời khen: làm sao lại có thể không thấy được - dù có nhắm mắt - những cảnh đau lòng mà cả dân tộc đang chịu đựng để đủ hứng viết thơ tình? Phải chi bên cạnh những dòng thơ chứa chan tình cảm đó, bạn già cũng có (hay sẽ có, mong thay!) mấy vần cảm xúc trước cảnh khốn cùng của muôn dân để đời sau biết đến thì thật vẹn toàn, hay biết mấy. Hay là bạn già nghĩ rằng như thế sẽ làm “ô nhiễm” tập thơ tình, làm rối rấm tâm tư đang cần yên tĩnh tìm vào cõi tịnh?
Kể cũng lạ ông bạn già của tôi muốn tìm vào thiền, vào tịnh mà cứ tiếp tục quanh quẩn trong cõi tình thì mần răng mà thấy đường vào cõi tịnh. Đức Phật đã dạy rồi, tình là bể khổ, con người chỉ có trầm luân trong đó thôi, chẳng khác nào thuyền nhân bị chìm xuồng giữa Thái Bình dương biết đâu là bến bờ để bơi vào; vả lại một khi đã trầm mình vào đó rồi thì còn hơi sức đâu nữa mà bơi với lội. Tôi cũng rất thích thơ với thẩn, nhưng khi nghĩ đến người xưa, lại nhớ tới quê nhà, thế là hình ảnh của Bác lấn át hết cả, nàng thơ hoảng sợ nắm tay người xưa chạy mất, làm cụt hứng ngay, chẳng còn thơ văn đâu nữa, chỉ còn cái cốt nhà binh của một “cọp biển”: chỉ muốn xé xác lũ tam vô buôn dân bán nước. Bạn bè trách tôi thù dai.
Đúng, tôi thù VC rất dai, đầu thai luôn mấy kiếp vẫn cứ thù, không bỏ được. Chúa Phật có vì thế mà phạt tôi vào địa ngục cũng chả sao, đã từng “kinh” qua trường cải tạo rồi, cũng vậy thôi, không ngán. Không làm sao tôi có thể “hòa hợp” được với lũ yêu ma đó; thật ra trong hoàn cảnh hôm nay, nói tới hoà hợp hòa giải với việt cộng thì chỉ có hai hạng người: hạng ngu như bò và hạng ngu hơn bò. Gia đình anh em con cháu đều kẹt lại quê nhà, nhưng tôi nhứt định không về thăm. Bà chị tôi lúc hấp hối thì thào trong điện thoại lời vĩnh biệt và có ý muốn tôi về thăm, tôi cố giữ bình tĩnh trả lời chị rằng tôi rất đau lòng nhưng tôi không làm sao có thể “hạ mình”, nhịn “nhục” xin chúng nó cho phép tôi trở về nhà của tôi thăm chị một lần cuối. Xin chị hiểu cho và miễn chấp. 

Những chuyện tình cảm không thiếu đề tài phù hợp với tình cảnh của chúng ta, như chuyện “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, đọc rơi nước mắt và đời sau sẽ thấu hiểu tình cảnh mà cả dân tộc đã hứng chịu dưới sự tàn bạo dã man của cộng phỉ Bắc Việt. Ba thập niên hay ba thế kỷ nào phải là thời gian đủ để chúng ta cho mọi tội lỗi của cộng phỉ, của những kẻ phản bội... đi vào quá khứ để yên tâm an hưởng, phủi tay rảnh nợ nước non và để yên cho những tên phản bội bán nước mỉm cười nơi chín suối? Nghĩa tử nghĩa tận chỉ áp dụng vào trường hợp người dân thường. Đối với những kẻ đã “ghi danh sử sách” thì không có nghĩa tận được, ngàn đời sau thế gian vẫn nhắc nhở, phán xét họ. Bảo rằng nên tôn trọng một xác chết không còn biện bạch được là... dốt, là ngụy biện. Ngày nào lũ buôn dân bán nước còn đó, dân tộc còn thống khổ, ngày đó người “trí thức” vẫn còn món nợ nặng nề trên hai vai không thể chối bỏ, lo thân. Tôi chẳng trách bạn già viết thơ tình cảm riêng tư, mà trách bạn già sao chỉ viết có thế.

Ngòi bút cũng là một vũ khí lợi hại để đánh đổ chế độ phi nhân. Đâu phải ai cầm bút là cũng viết lách được; những ai có biệt tài mà không có tí trách nhiệm thì thật là phí biết bao. Trên trận tuyến hải ngoại chống cộng sản Bắc Việt, những trí thức, những nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo... là những chiến sĩ hàng đầu duy nhứt có khả năng đánh những đòn chí tử vào yếu huyệt của cường địch dù nghìn trùng xa cách, nở nào lại chỉ có làm thơ ca ngợi hay luyến tiếc những cuộc tình riêng tư không thôi sao?

Ngoài trọng trách chứng tỏ cho hậu thế thấy rằng văn học lưu vong vẫn hơn xa văn chương của lũ cộng phỉ dốt nát, dối trá trong nước, trí thức, nghệ sĩ hải ngoại còn phải ghi lại những mẩu chuyện nghịch lý, những mảnh đời tan vỡ đau thương vì bọn cộng nô Bắc Việt như là những chứng tích để hậu thế biết rõ tội ác của chúng và hiểu thế nào là cộng sản để không bao giờ tái phạm lỗi lầm hôm nay. Ghi lại những chiến tích oai hùng của quân dân miền Nam đã từng đánh đuổi lũ “chó cắn trộm” cộng nô tả tơi manh giáp trong ngày Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ lửa để hậu thế không bị tuyên truyền đầu độc của bọn phản chiến rằng chỉ có “Mỹ đánh giặc” ở Việt Nam...

Nói vậy chứ cũng còn có những kẻ đã từng ở trong hàng ngũ chúng ta, từng bị thân bại danh liệt, tàn gia bại sản, nay thoát được ra ngoài tưởng đã hồi sinh sáng mắt; thế nhưng sau mấy thập niên ăn no ngủ kỹ một số bỗng dưng nổi hứng lớn tiếng ồn ào rằng họ biết ơn cộng phỉ có công thống nhứt đất nước (Trời đất!? Phải kêu trời mới được), hay rêu rao hòa hợp với lũ cướp của giết người! Lại còn lớn tiếng chê bai thiên hạ chống cộng “thấp” chỉ vì những người nầy đã lấy lá cờ máu của cộng phỉ bịt khu, che mông!

Vậy là khi muốn chống cộng “ cao” phải đội lá cờ máu trên đầu sau đó muốn chống gì mặc tình? Tôi chẳng biết có cách chống cộng nào gọi là “cao”? Có thể như thế nầy: các nhà trí thức đó họ chỉ chống cộng bằng ngòi bút, bằng mồm nhưng trong cung cách “cao”, nghĩa là chỉ nói xa nói gần, né tránh trực tiếp kể tội ác đích danh lũ buôn dân bán nước. Họ chỉ trích nhẹ nhàng đến độ người bị chỉ trích cũng không biết mình bị xài xể; và thiên hạ cũng chẳng biết là họ chống cộng, phải chờ họ giải thích rằng khi họ viết thế nầy, nói thế kia là họ có “ẩn ý” chống cộng. Hay là họ cung kính dâng kiến nghị lên giặc cộng yêu cầu chúng tự sát để cho dân sống? Vậy là vui vẻ cả đôi bên, khi cần về nước du hí người chống cộng “cao” không sợ bị các đồng chí làm khó dễ. Họ chỉ có bổn phận không theo giặc cộng, chứ có ai buộc họ phải chống cộng đâu. Họ cứ yên tâm viết văn, làm thơ, nghiên cứu bất cứ gì họ thich.

Chuyện gì phải mặc cảm. Nếu có mặc cảm chăng là vì trước 75 họ cũng đã từng chống cộng “cao” như thế: họ tìm đủ mọi cách để phục vụ ở hậu phương, nếu “trốn lính” được càng hay. Thế mới biết cái ngu si, hèn hạ của con người nó vô biên như vũ trụ. Thật ra thì dân trí của phe ta, dù ở cấp nào đi chăng nữa, cũng chưa cao. Dù biết thượng cấp, anh em phe ta làm bậy, nhưng cũng cứ đứng sau lưng ủng hộ! Phe ta xem tự ái to hơn Thái sơn nhiều. Trái lại hai tiếng phục thiện nhỏ tí xíu. Vả lại vào thời đại nguyên tử, lằn ranh thiện-ác đã mờ mịt: gian ác như Hồ tặc vẫn có lắm kẻ tôn thờ, Thiên Chúa vẫn bị người xỉ vả...

Từ kế kỷ 19, 20 những Marx, Engels, Lénine, Martov, Troski, Plekhanov... đều bị lưu đày hay di tản ra hải ngoại, nhưng họ đã không ngớt dùng ngòi bút và tâm trí để khơi động cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Marx chẳng biết làm thơ như Sosso (tục danh của Staline, một bút hiệu thường dùng trong nhiều bút hiệu của Djougachvili), chỉ biết triết lý và cách mạng; trong lúc Engels vừa là triết gia vừa là một nhà tư bản chủ nhân một xưởng dệt đồ sộ trên đất Anh. Nhờ giàu có nên Engels gần như cấp dưởng Marx và vợ con suốt đời để cuối cùng cả hai gầy dựng nên thuyết mát-xít làm phương châm chỉ đường cho giới công nhân thế giới làm loạn.

Đầu năm 1848, thợ thuyền nổi dậy ở Paris; vua Louis Philippe phải từ bỏ ngai vàng. Phe làm loạn buộc chính phủ phải bỏ hai màu xanh trắng của quốc kỳ, chỉ giữ lại một màu đỏ, nhưng ngoại trưởng Lamartine dứt khoát không chấp nhận lá cờ màu máu, ông bảo đó là cờ của đảng phái, không thể là quốc kỳ. Nhà thi sĩ lại cũng đã phán một câu rằng “vô sản là tiếng nguyền rủa vô luân, hạ cấp, gớm ghiếc cần được xóa bỏ khỏi ngôn ngữ, và trong xã hội cũng phải dần dần làm cho không còn có một người vô sản nào nữa”. Engels tức mình gọi Lamartine là “tên phản tặc văn hay”. Engels là cha đẻ của chủ trương “đấu tranh giai cấp”, tuy là đại tư bản nhưng mang trong người dòng máu cách mạng... vô sản! Cái mới lạ. Phần Staline, y có một giọng hát như ca sĩ, có biệt tài làm thơ như thi sĩ, chỉ với hai tài đó y phải là một nghệ nhân; nhưng trong y, cái bản chất tàn ác lạ thường hoàn toàn lấn át bản chất của người nghệ sĩ và Staline đã trở thành một tên đồ tể khét tiếng: mới 18 tuổi đã rời bỏ chủng viện, nơi mẹ ông gởi gắm để học hành thành cố đạo, và tổ chức đánh cướp ngân hàng, sát hại binh sĩ, lấy tiền để làm... cách mạng.

Đã sinh ra tên đồ tể Staline, trời lại sinh thêm Lénine với bản chất thô bạo cũng khác thường, và cặp bài trùng đó đã gây nên bao nhiêu tan tóc cho dân Nga và nhân loại. Lénine, Staline và các đồng chí ở Nga nổi lên lật đổ Nga hoàng trong một cuộc cách mạng đầy máu lửa lan tràn trên khắp thế gian. Cũng chỉ vì Nicolas II mù tịt về tình trạng của xã hội, của dân Nga nên đã phạm một lỗi lầm tài trời vào ngày Chủ Nhật 9/1/1905 khi đông đảo dân Nga kéo nhau đến trình “thỉnh nguyện thư” yêu cầu Nga hoàng cải tổ chính trị trong tinh thần “hòa hợp hoà giải” không một mải may nào có ý làm loạn. Thế nhưng Nga hoàng, vì mặc cảm do nhiều cuộc đình công rối ren trước đó, lại ra lịnh cho binh lính “giải tán biểu tình” bằng súng đạn, gây nên một cuộc thảm sát có đến hàng chục thương vong! Chỉ vài tháng sau,5/1905, giới thợ thuyền thành lập tổ chức mang tên Sô Viết đầu tiên.

Trong Sô Viết của thành phố Pétersbourg, Troski và Nosar cho phát hành tờ tuần san Izvestia sovieta. (Tờ báo nầy vẫn còn sống sau khi Liên bang sô-viết sụp đổ). Thế mới biết trí thức bao giờ cũng dùng ngòi bút để mở đường đấu tranh. Khi Troski bị bắt, thì một nhóm khác với Gorki, Bogdanov, Minski cho ra một tờ báo mà chủ bút là bà vợ thứ hai của Gorki, kịch sĩ Maria Andreeva. Đến cuối năm đó Lénine mới trở về Pétersbourg và lập tức lăn xả vào viết báo liên tục với những tờ Luồng Sóng (Volna), Tiếng vang (Ekho), Vô sản (Proletarii)... Chính Lénine đã đặt mục tiêu sau cùng là chuyên chính vô sản, không có một đồng chí nào đủ sức lèo lái y ra khỏi 4 tiếng đó, mục tiêu đó.

Chỉ với mấy chữ vàng đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của vài ba “tư tưởng gia” từ hai thế kỷ trước mà đến nay dân Việt vẫn còn hứng chịu hậu quả khóc liệt chưa biết đến bao giờ mới hết. Trí thức không thể thiếu vắng trong bất cứ một cuộc đấu tranh nào, dù gây họa hay tạo phúc cho muôn dân. Nhưng không phải trí thức nào cũng có khả năng làm được việc đó; dân ta còn quá chậm tiến, nhút nhát, cầu an, nhứt là sợ sệt... Người dân Bắc Phi đã không sợ, chấp nhận hy sinh, cùng nhau hàng trăm ngàn ngày ngày, tháng tháng xuống đường cho đến khi nào bạo quyền phải lui bước mới thôi. Dân ta có lẽ không bao giờ dám xuống đường như vậy, nên chuyện đấu tranh giai cấp của Engels và chế độ vô sản nhập cản của Lénine sẽ có triển vọng tồn tại lâu dài trên quê hương...

Nhưng thôi, chuyện nước non cũng như chuyện văn thơ, không phải ai cũng biết nghĩ, biết làm. Mỗi người có đóng góp một chút gì đó là quí lắm rồi. Từng tuổi bát thập mà còn viết lách như ông bạn già của tôi đã là đáng khen. Thường tình khi vào lứa “cổ lai hi”, nếu không ra sức già cố quơ quào hưởng thụ một “cú đẹt”, thì đa số chỉ còn biết chăm sóc lấy thân già, của mình và của người bạn đường từ nửa thế kỷ trước. Luẩn quẩn có bấy nhiêu đó việc mà có khi còn làm chưa ổn, mong gì chuyện lớn. Mỗi sáng tỉnh giấc, chống tay ngồi dậy, bước xuống giường đi tới nhà tiêu được và “ể” được là mừng cho ngày đó máy còn tốt. Chưa bị Alzheimer hay “đột quị” nằm liệt giường, xụi lơ cán cuốc là vui lắm rồi.

Đông Vân Nguyễn Văn Dõng 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Bạn Già, Đông Vân Nguyễn Văn Dõng
Comment

Tình Yêu Thương Chính Là Dưỡng Chất Tốt Nhất Cho Tâm Hồn ( An Nhiên)

March 29, 2026 Ninh Tran

Tình yêu thương chính là dưỡng chất tốt nhất cho tâm hồn

Có một cậu bé bị liệt hai chân luôn tự coi mình là người bất hạnh nhất trên thế giới này. Vì mặc cảm tự ti, cậu rất ít khi chơi đùa với bạn bè. Khi thầy giáo gọi lên bảng trả lời câu hỏi, cậu chỉ cúi đầu mà không nói một lời nào.

Vào một ngày mùa xuân, cha cậu mang về một vài cây non để trồng trước nhà, bởi vậy ông đã gọi các con đến và yêu cầu mỗi đứa trẻ trồng một cây. Ông nói, nếu cây của ai lớn nhanh nhất thì sẽ được thưởng một món quà mà mình yêu thích.

Cậu bé cũng mong muốn nhận được món quà của cha. Nhưng khi nhìn thấy các anh chị em đều ra sức chăm bón cho cây của họ, bỗng cậu cảm thấy nản chí và muốn bỏ cuộc. Do vậy chỉ sau một, hai lần tưới nước, cậu hoàn toàn bỏ bẵng, không để ý quan tâm tới cái cây của mình nữa.

Vài ngày sau đó khi đi xe lăn ngang qua khu vườn, cậu bé sửng sốt thấy cái cây non của mình không những không bị khô héo tàn lụi mà còn nảy thêm nhiều lá non. Những chiếc lá nhỏ li ti nhưng xanh tươi mỡ màng, vươn lên đầy sức sống. Và khi nhìn sang những chậu cây của các anh chị em mình, cậu bé không khỏi ngạc nhiên khi nó thậm chí còn xanh tốt và có sức sống hơn nhiều.

Khi nhìn thấy cây non đang vươn mình mạnh mẽ, hẳn cậu bé đã nghĩ rằng: “Mầm non bé nhỏ à, vì sao mình bỏ bê như vậy mà cậu vẫn không hề bỏ cuộc? Cậu thật là mầm non dũng cảm! Nếu cậu làm được, mình cũng sẽ làm được, phải không?”

Và cha thật sự giữ lời hứa, ông đã mua cho cậu một món quà mà cậu bé luôn ao ước. Ông còn nói: “Nhìn cái cây này, chắc chắn sau này con sẽ là một nhà sinh vật học xuất sắc!” Nhờ câu nói ấy, cậu bé không còn tự ti vào bản thân nữa. Cậu đã nhìn thấy những lộc non rực sáng dưới ánh nắng ban mai. Và nhất định rồi, từ giờ cậu có thêm niềm tin vào tương lai phía trước, đôi chân tật nguyền vẫn khiến cậu chật vật tồn tại nhưng cậu vui vì ít nhất thì mình cũng không kém anh chị em trong nhà.

Một buổi tối nọ, cậu bé nằm trên giường ngắm trăng sáng ngoài cửa sổ. Hình như có lần thầy giáo dạy sinh vật đã nói rằng, thực vật thường sinh trưởng và phát triển vào ban đêm. Cậu bé liền nghĩ: “Sao mình không tự đi kiểm tra cái cây của mình xem có phải như vậy không nhỉ?”

Thế là cậu bé bước xuống giường, rồi nhẹ nhàng mở cửa ra tới ngoài vườn. Dưới ánh trăng vằng vặc, cậu bỗng nhìn thấy cha đang cẩn thận tưới nước cho cái cây của mình. Đến lúc này cậu bé mới hiểu ra tất cả mọi chuyện, hóa ra là cha luôn âm thầm chăm sóc cho cái cây cậu trồng. Cậu bé trở về phòng, ôm chặt gối mặc kệ cho nước mắt không ngừng tuôn rơi.

Nhiều năm qua đi, cậu bé tàn tật đó mặc dù không bước vào con đường của một nhà sinh vật học, nhưng lại trở thành chủ doanh nghiệp kinh doanh cây cảnh hết sức thành công. Ông chọn nghề kinh doanh và làm đẹp cho không gian sống bằng cây cối bởi vì bất cứ khi nào khó khăn hay va vấp trên đường đời gian khó, hình ảnh người cha tưới cái cây trong đêm lại hiện lên trong tâm tưởng giúp ông có thêm can đảm, nghị lực vượt qua khó nạn.

Cái cây cha trồng lớn lên như hình ảnh về sức mạnh của tình yêu nuôi dưỡng tâm hồn và thắp lên niềm tin trong lòng con trẻ. Với đôi chân tàn tật, ông vẫn đi khắp nơi trên thế giới để truyền cảm hứng cho những em nhỏ tật nguyền, ông luôn mang theo bên mình một cái cây nhỏ trồng trong chậu bé xíu, và bắt đầu bài diễn thuyết của mình bằng việc kể về câu chuyện người cha trong đêm…

…Dù bạn không phải là người cha hay bạn không có một đứa con nhỏ như cậu bé, đừng quên trao đi yêu thương và sự khích lê với những người xung quanh mình, ngay cả khi họ không tật nguyền về thân thể, thì ai cũng đều có những nỗi đau trong tâm hồn. Nhưng tại sao ta không thể như người cha kia, lấy sự yêu thương tự đáy lòng trao cho ai đó, cần đến nó, như gieo một mầm xanh của sự chia sẻ, đồng cảm, một chút nỗ lực bé nhỏ ấy có thể thay đổi thậm chí có thể mang lại cho họ cả một cuộc đời… khác.

 

An Nhiên

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa Tags Tình Yêu Thương Chính Là Dưỡng Chất Tốt Nhất Cho Tâm Hồn, An Nhiên
Comment

Một Ngày Không Thể Quên (MX Dr Đông Vân)

March 29, 2026 Ninh Tran

Một Ngày Không Thể Quên.

                                                                                           MX Dr Đông Vân.

Đã có bao nhiêu tháng tư đến rồi đi, nhưng tôi chưa bao giờ viết về ngày tháng đen tối đó của dân tộc. Nay có người hỏi tôi:

-Tại sao phải nhớ ngày quốc hận?  

Biết trả lời sao cho ngắn ngọn và tạm đủ để người bạn không hiểu lầm ngày đó với Ngày đi tìm tự do v.v...của những người tị nạn CS nhưng nay, họ lại muốn xóa tội cho VC để hy vọng chúng nó cho chút cháo cầm hơi.

Trong đời sống, ai cũng có bao nhiêu là “ngày tháng không quên”, từ ngày vào đời của bản thân, đến ngày “hui nhị tì” của thân thuộc, và những ngày liên quan đến những đổi thay trong cuộc sống riêng tư cũng như của quốc gia... Riêng ngày 30-4-75 lại liên quan đến cuộc “đổi đời” của cả dân tộc thì làm sao ta có thể quên được. Không phải chỉ ngày hôm nay mà cho đến trăm năm sau con cháu vẫn phải ghi nhớ. Không phải chỉ nhớ “công lao xâm lược” của Baác và Đảng, mà còn phải nhớ bao nhiêu tội ác “vĩ đại” của loài súc sinh đã gây ra cho dân tộc. Những đau thương sâu đậm của bao nhiêu bạn bè tôi cảm nhận như của chính mình, mối hận đó kiếp nầy không trả được thì chết mang theo chứ khó lòng quên được, khác chi mối tình của nàng Kiều, của Trương Chi :

“Thù nhà” chưa trả cho ai

“Hận nước”mang xuống tuyền đài chưa tan.

Ngày nào bao nhiêu trai hùng hiên ngang khắp 4 vùng chiến thuật chống xâm lăng giữ yên bờ cỏi để rồi vì “tội ác” đó mà phải lâm cảnh khổ sai! Ngày nay, bao nhiêu tài năng của dân tộc buộc lòng ruồng bỏ quê hương ngục tù tan tác khắp 5 châu. Còn nỗi đau nào lớn hơn? 

Nhớ để đừng bao giờ dẫm lại vết xe cũ: ngây ngô, khờ khạo tin lời đường mật của CS. Tinh thần của ngày 30-4 chính là lời nhắc nhở, kêu gọi những người còn chút lương tri bổn phận giải cứu quốc gia dân tộc khỏi gông cùm của CSBV.

Cái khổ tâm chúng ta gặp phải là người lương tri ít mà kẻ lươn lẹo thì như cát ngoài sa mạc. Người có lương tri thường rất bền gan, kẻ lươn lẹo chuyên nghề nương gió bẻ măng. Hằng năm vào dịp Tết cứ nhìn cảnh tấp nập ở phi trường Tân Sơn Nhứt đủ để...chán cái mớ đời. Ngày ngày có biết bao nhiêu hình ảnh quảng cáo các chuyến bay thẳng từ Mỹ, Pháp, Úc...về VN. Đối với “những du khách” nầy, VN là một quốc gia như bao nhiêu nước khác: không có vấn đề gì đối với họ cả. Chuyện Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa...đối với họ là chuyện xưa rồi, không can dự gì đến họ, hơi đâu nhớ chuyện “tào lao” chi cho mệt.

Họ về ăn Tết, về du hí, về dưởng lão - để trâu già còn có dịp gặm cỏ non cho đỡ thèm. Những cái “đầu tôm” nầy không còn nhớ, còn biết họ là ai thì làm gì còn nghĩ đến chuyện nước non. Họ không đủ trí để hiểu rằng cúi đầu xin VC cho phép nhập cảnh là một điều nhục nhã. Khi tôi có dịp đề cập chuyện nầy với một ông đồng nghiệp, ông ta chỉ cười rằng ông đâu có xin xỏ ai, vì đã có tổ chức lo hết. Một người tốt nghiệp đại học mà hèn ngu như thế thì dân còn biết trông cậy vào ai? Tôi bỗng nhớ văn hào Chateaubriand đã từng than rằng:

-Il y a des temps où l’on ne doit dépenser le mépris qu’avec économie, à cause du grand nombre de nécessiteux. 

(Có lúc phải tiện tặn khi dùng tiếng khinh bỉ vì có quá nhiều người cần).

Mỗi năm việt kiều mang về hàng chục tỉ USD giúp VC xây dựng “bằng mười lần trước”, trường tồn trong gian trá, cướp bóc, bạo ngược...Làm sao diệt cộng được đây? Chưa kể đến những nhà hảo tâm – tâm tốt nhưng dạ tối om - về xây cầu xi măng thay cho cầu khỉ, chữa bịnh cho dân thay cho nhà nước XHCN. Cai trị một lũ dân đa số vừa hèn nhát, vừa ngốc nghếch kể ra sướng thiệt: chỉ cần lên giọng, trợn mắt là nói gì cũng nghe, đút cho chút cháo là bảo gì cũng làm!

Quên ngày quốc hận chỉ có những kẻ tiểu nhân, khéo che giấu trọng tội phản bội dân tộc dưới những mỹ từ “quên đi quá khứ đấu tranh để hướng về tương lai an bình, dân tộc hòa hợp”. VC vẫn ngu ngơ tưởng rằng dân Nam dốt nát chưa hiểu rằng dầu không bao giờ hòa hợp được với nước. Ai còn lên tiếng kêu gọi hoà hợp hòa giải với VC chắc chắn kẻ đó nếu không là VC cũng là người đệ nhứt ngu trong thiên hạ. 

Thứ đến là những kẻ tự xưng yêu chuộng hoà bình - họ làm như thiên hạ đều thích chiến tranh. Vì yêu hoà bình nên họ sẵn sàng chui dưới trướng của lũ cộng nô để được yên thân, điển hình là những việt kiều về “thăm nhà”. Quả thật chẳng có cái dại nào giống cái dại nào! Muốn yên thân trong chế độ CS cũng không khó lắm, chỉ cần biết làm người đui- điếc- câm và nhứt là biết sợ. Đại khái là sống như một loại súc vật, mất dần khả năng suy nghĩ, khả năng sáng tạo, và sẽ không còn biết thế nào là tự do, bản chất đặc thù của loài người. Nôm na là sống như loải vô tri, vô giác...Tôi lại nhớ đến văn hào E. Hemingway,trong chuyện For whom the bell tolls ông viết rằng :

      It’s better to die on your feet than to live on your knees.

                 (Tốt nhứt, nên chết đứng hơn là sống quì)

Ước gì tất cả chúng ta và nhứt là những việt kiều thường xuyên về thăm nhà biết, hiểu và nhớ câu nói nầy.

                                                                 MX Nguyễn Văn Dõng.

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Một Ngày Không Thể Quên., MX Dr Đông Vân
Comment

HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI MỸ VỀ CẤP CHỈ HUY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4.1975 (Phạm Phong Dinh)

March 29, 2026 Ninh Tran

Tướng Trần Văn Hai

Đa số sách báo Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam không tường thuật nhiều về những ngày, những giờ phút cuối cùng của Miền Nam một cách chính xác. Điều dễ hiểu là, những người Mỹ làm việc tại Miền Nam đã được di tản nhiều ngày trước khi quân đội Bắc Việt vào Sài Gòn, nên những chi tiết về giờ thứ 25 rất ít được ghi nhận. Tuy nhiên, cũng có vài tác phẩm viết lại những sự việc xảy ra những ngày cuối tháng Tư, như cuốn Goodnight Saigon của Charles Henderson, Decent Interval của Frank Snepp, hay cuốn Last Man Out của James E. Parker.

 Tác phẩm Goodnight Saigon (Giã Biệt Saigon) nghiêng nhiều về tường thuật những diễn biến quân sự từ những thảm họa trên cao nguyên và ngoài Quân Khu 1, đến những ngày hấp hối của Sài gòn, những xao động của dân chúng. Một vài câu chuyện về những nhân vật dân sự như nhà văn Mai Thảo, diễn viên Kiều Chinh.

 Trong cuốn Decent Interval (Khoảng Thời Gian Coi Được), tác giả Frank Snepp chú trọng nhiều về những diễn biến và xáo trộn chánh trị ở Hoa Kỳ và Miền Nam. Đặc biệt ông tường thuật cuộc ra đi trong đêm 25.4.1975 của Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm. Cái tựa đề đã nói thay cho chánh sách của chánh quyền Hoa Kỳ, hay nói chính xác, là công việc để đời của ông Henry Kissinger, khi ông này tiên liệu sau Hiệp Định Ba Lê thì Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn sống sót được chừng một năm rưỡi nữa là cùng. Đó là khoảng thời gian coi được cho một cái chết từ từ, nếu chết nhanh quá thì coi cũng… kỳ.

 Tuần lễ cuối của tháng Tư, khi Tổng Thống Thiệu đã ra đi, thì ông Henry đã sốt ruột hỏi nhau với những cộng sự, rằng không biết giờ này VNCH đã chết chưa.

 Ở con người Kissinger tương phản hai thái cực kỳ dị. Khi còn trong cuộc hòa đàm thì ông ta nhũn nhặn chìu chuộng Hà Nội đủ mọi thứ, đến đỗi Tổng Thống Thiệu đã bực tức hỏi thẳng ông Phó Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn khi ông ta nài nỉ Tổng Thống Thiệu chịu ký Hiệp Định: “Các ông đại diện cho người Mỹ hay đại diện cho Bắc Việt”.

 Bằng mọi giá, ông Kissinger phải ký cho được Hiệp Định Ngừng Bắn Ba Lê, đưa tù binh Mỹ về nước, và chấm hết. Nhưng khi Bắc Việt ngổ ngáo vi phạm hiệp định, tái phát chiến tranh, thì ông lại bênh vực VNCH và đòi trừng phạt Hà Nội. Chẳng biết là ông diễn tuồng, điều mà ông gọi là lương tâm của nước Mỹ, hay là thật lòng. Những dẫu sao thì quốc hội Mỹ cũng đã quyết định thay giùm ông, rằng VNCH phải chết.

 Tác phẩm Last Man Out (Người Cuối Cùng Ra Đi) của James E. Parker là hồi ức về những ngày công tác tại Việt Nam trong cương vị của một nhân viên CIA có trách nhiệm liên lạc và thu thập tin tức quân sự với những cấp chỉ huy của QLVNCH, rồi tổng hợp làm phúc trình cho cơ quan CIA tại Sài Gòn. Ông Parker đang làm việc ở chi nhánh CIA Cần Thơ, thì ông nhận lịnh thuyên chuyển về Vị Thanh, tỉnh lỵ của tỉnh Chương Thiện. Đối với người Việt Nam, thì Chương Thiện là một địa danh ít người muốn đến, còn theo Parker thì bên ngoài tỉnh lỵ bước ra mấy bước là đã ngửi thấy mùi Việt Cộng. Nên bất cứ người Mỹ nào về làm việc ở đấy đều được đồng nghiệp gọi tên giễu (nickname) là Dead Man (Người Chết).

 Tuy vậy khi về Vị Thanh, Parker nhận ra rằng Việt Cộng chẳng bao giờ muốn làm phiền ông ta, ông được an toàn. Từ đấy Parker suy luận rằng, chúng chẳng muốn khiêu khích Hoa Kỳ bằng cách giết một CIA Mỹ trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc chiến, chẳng có lợi gì mà có khi còn làm cho anh Mỹ nổi giận quay trở lại thì khốn. Cứ để cho những người Mỹ tà tà làm việc cho đến ngày họ cuốn gói ra khỏi Việt Nam, bởi ngày ấy chẳng còn lâu la gì.

 Công tác ở Miền Tây, là nhân viên đại diện cho CIA Cần Thơ, Parker có dịp tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của vùng châu thổ Cửu Long, những nhân vật đầy giai thoại: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Đặc biệt, trong những ngày cuối cùng của tháng Tư, chiếc trực thăng của Parker gần như hàng ngày đáp xuống Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Hai để nghe ông trình bày quân tình, dân tình lúc ấy, rồi sau này nhiều người đã ngỡ rằng người Mỹ đến mời Chuẩn Tướng Hai ra đi.

 Nhưng nếu người Mỹ thực sự có ý định đưa Chuẩn Tướng Hai đi, thì ông cũng sẽ khảng khái từ chối, như Tổng Thống Trần Văn Hương từ chối các ông Đại Sứ Mỹ Martin và Đại Sứ Pháp Mérillon, thề ở lại chia xẻ hoạn nạn với chiến sĩ và đồng bào của ông. Hay Thiếu Tướng Lê Minh Đảo từ chối sự mời mọc của người Mỹ, ông thề ở lại cùng sống chết với chiến hữu của ông.

 James Parker đã dành nhiều trang kể lại những cuộc tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của quân đội Việt Nam, cuộc gặp đầu tiên là với Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, lúc ấy ông đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, bản doanh sư đoàn đặt tại Vị Thanh, kính mời quý độc giả cùng theo dõi (chú thích trong ngoặc là của chúng tôi):

 Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tiếp đón chúng tôi rất niềm nở. Ông Tướng nói Anh ngữ hơi chậm nhưng phát âm rõ ràng, cho biết sư đoàn của ông có trách nhiệm bảo vệ vùng hạ châu thổ. Sư Đoàn trong thế bị áp đảo về quân số nhưng ông đã làm tất cả những gì có thể, ông chọn lựa mục tiêu. Ông không muốn tấn công vào những điểm kiên cố của quân cộng, bởi ông nghĩ rằng ông sẽ bị tổn thất nhân mạng nhanh chóng. Vì ông đang ở trong một cuộc chiến quá lâu dài, ông phải bảo vệ nhân lực và nguồn tiếp liệu của ông. Ông nói với tôi rằng ông không thể xoay chuyển cục diện ở đây, nếu ông muốn tạo một chiến thắng thì quân Bắc Việt chắc chắn sẽ đưa nhiều quân đến nữa. Tôi hỏi ông:

- Tại sao chiến đấu một cuộc chiến đang thấy thua rõ?

Ông Tướng hỏi vặn lại, rồi mỉm cười:

- Tôi còn có sự chọn lựa gì nữa không? Nhưng đây là đất nước của chúng tôi.

 Vị Thanh là nơi hiểm nghèo nhứt ở Miền Nam, không có lý lẽ nào để nuôi hy vọng ở đây. Quân địch đầy dẫy chung quanh thành phố. Tại sao lại mạo hiểm để cho những người Mỹ bị địch cầm giữ trong giờ thứ mười một này. Những tháng sau, tôi làm việc nhiều thời gian trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21, thu thập tin tức trong vùng hạ châu thổ, cuối cùng tôi được cho phép thường xuyên tiếp xúc với Phòng 2 và Phòng 3 Sư Đoàn.

 Trong lúc đó thì Tướng Hưng có mặt hầu hết ngoài mặt trận. Chiếc trực thăng chỉ huy của ông cất cánh mỗi buổi sáng sớm đưa ông đến những địa điểm xa xôi nhứt để ông có thể thăm hỏi những cấp chỉ huy. Tôi chỉ gặp ông hầu như vào lúc ban đêm, lúc thì dùng bữa tối, lúc thì uống với nhau. Thỉnh thoảng thì tôi cũng gặp ông Tướng vào lúc ban ngày trong văn phòng của ông. Thời gian dần trôi, thì cuộc gặp gỡ của chúng tôi trở nên thoải mái nhiều, chúng tôi thích thú sự hiện diện của nhau.

 Terry (nhân viên CIA mà Parker đến thay thế) giới thiệu tôi với vị Tỉnh Trưởng, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông Đại Tá được tuyên dương là Chiến Sĩ Xuất Sắc Của Năm (1972), trước khi ông đến nhậm chức ở Chương Thiện, một vinh dự gặt hái được từ chiến công anh hùng của ông chống quân Bắc Việt ở An Lộc. Ông đã bị thương rất nặng, mất một phần mặt của ông. Khi tôi gặp ông, thì phần bị mất ấy đã được chữa trị bằng phẫu thuật, từ cái nhìn đầu tiên thì tôi đã có thể nhận ra một vết thẹo dài chạy dọc theo bên hàm. Đại Tá Cẩn có một quan niệm rất lạc quan về chiến tranh, dù cảnh quan buồn tẻ ở Vị Thanh. Ông đúng là người lính của những người lính, dũng cảm và thanh liêm. Ban đêm ông thường đi xuồng đến những đồn bót xa xôi nhứt để phát lương cho binh sĩ. Ông nói rằng ông có dưới tay nhiều chiến sĩ giỏi mà có thể chiến đấu chống cộng sản đến khi họ chết hoặc là đất nước được thanh bình.

 Những buổi tối của tôi với Chuẩn Tướng Hưng càng lúc càng thân tình. Ông thường hỏi thăm về gia đình tôi, về Hoa Kỳ cùng những gì đang xảy ra bên ấy. Ông rất quan tâm đến văn học Mỹ nên tôi thường có dịp nói về các tác giả Hoa Kỳ và tác phẩm của họ. Mặc dù tôi thường đọc hai, ba cuốn sách mỗi tuần ở Vị Thanh, nhưng tôi lại chưa đọc những cuốn mà Tướng Hưng hỏi tôi. Về phần ông, thì ông nói về lịch sử và chuyện chiến tranh ở Đông Dương. Ông thường nói chuyện một cách có cân nhắc và chậm rãi, hay mỉm cười dù đang đề cập đến những sự việc nghiêm trọng. Từ ông toát ra một vẻ rất tự tin và ánh lên sự trầm tĩnh.

 Trong tháng 2 (1975), cấp chỉ huy ở Cần Thơ và Sài Gòn thúc giục, Tướng Hưng cho quân tấn công một đơn vị lớn Bắc Việt về phía Đông Chương Thiện thuộc rừng U Minh, là một khu vực cộng quân chiếm đóng từ lâu. Cuộc tấn công này là chiến dịch lớn nhứt từ lúc tôi về tỉnh Chương Thiện. Ông Tướng áp dụng tất cả nguồn yểm trợ của Không Quân mà ông có. Mặc dù ông sở hữu nhiều khẩu đại bác do quân đội Mỹ để lại, ông lại có khó khăn khi di chuyển chúng vì sự hạn chế phi vụ chuyển vận. Ông cũng thiếu thốn những tiếp liệu cần thiết và đầy đủ để trang bị cho lực lượng tấn công. Thí dụ, ông có rất nhiều mìn claymore nhưng thiếu ngòi nổ, đạn pháo binh cũng thế, có nhiều nhưng rỉ sét. Do vậy, sư đoàn chịu nhiều thiệt hại. Chiến sĩ của ông chiến đấu rất dũng cảm. Tôi hiểu nỗi đau đớn của ông Tướng, và tôi hiểu niềm hãnh diện của ông đối với những người lính ấy, dù bị thương vong rất nhiều nhưng họ vẫn tiếp tục tiến tới.

 Khi trận chiến tàn, quân Bắc Việt bị đẩy lùi vào rừng U Minh, Tướng Hưng vẫn không chắc rằng ông đã thực sự chiếm thượng phong. Ông đã dùng quá nhiều nguồn tiếp liệu mà ông có. Cho cái gì mới được? Mấy ngày sau, một thứ mùi kinh khủng tuôn vào chỗ tôi cư ngụ. Tôi đã từng ngửi thấy mùi này, đó là mùi của thịt thúi, của người chết. Một thông dịch viên cho tôi biết nhà xác sư đoàn nằm giữa khu tôi ở và cô nhi viện tỉnh. Những xác tử sĩ nằm chờ được chở đi. Phương tiện chuyên chở đã hiếm hoi mà phòng lạnh cũng không. Một số xác được lấy về từ khu vực chiếm đóng của cộng quân. Dẫu sao thì khi tôi muốn chạy xa khỏi khu nhà ở, thì ông Tướng đã xoay sở phương tiện đưa xác tử sĩ đi trong tuần.

 Tháng sau (10.3.1975), Ban Mê Thuột thất thủ, Bộ Tư Lệnh Tối Cao ở Sài Gòn tái phối trí lực lượng để bảo vệ phần còn lại của Miền Nam. Sư Đoàn của Chuẩn Tướng Hưng di chuyển về bảo vệ khu vực phía Bắc Cần Thơ, ông Tướng được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó khu vực phía Nam Sài Gòn (Quân Khu 4).

Ngày 20.3.1975, Huế thất thủ.

Ngày 30.3.1975, Đà Nẵng mất.

 Ở Cần Thơ, Tướng Hưng làm việc với Jim D. (Sếp CIA Cần Thơ) và những sĩ quan liên lạc quân sự, nhưng ông tỏ ra thích làm việc với tôi ngay lần đầu gặp gỡ hơn là với những người sĩ quan này. Jim D. bảo tôi lên Cần Thơ thường xuyên hơn để làm việc với ông Tướng. Tôi có kế hoạch trở lại Vị Thanh mỗi tuần hay mỗi hai tuần để coi lại khu vực trú ngụ và nghe thuyết trình quân tình từ Đại Tá Mạch Văn Trường, Tân Tư Lệnh Sư Đoàn 21 đang chỉ huy những đơn vị còn lại ở đấy (Một ngày trước khi ra đi, ngày 24.4.1975, Tổng Thống Thiệu ký nghị định đặc cách thăng Chuẩn Tướng cho Đại Tá Trường. Ông là vị Tướng được thăng chức sau cùng nhứt của cuộc chiến).

 Khu vực càng lúc càng thu hút sự quan tâm là con đường Quốc Lộ 4 chạy dài theo hướng Tây và Tây Nam từ Sài Gòn, phía Bắc sông Bassac (tức sông Hậu Giang), rồi đổ vào vùng châu thổ. Các đơn vị của Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm bảo vệ quốc lộ, Chuẩn Tướng Hưng sắp xếp cho tôi được nghe thuyết trình từ Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Tướng Hưng cho biết ông từng phục vụ trong sư đoàn lúc còn trẻ. Ông cố vấn sư đoàn lúc đó là con người đầy giai thoại Trung Tá John Paul Vann, một nhân vật đầy quyền lực đối với quân đội Nam Việt Nam. Cuối cùng thì ông đã chết (trong một tai nạn trực thăng ở Kontum, tháng 6.1972).

 Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và diện kiến Chuẩn Tướng Hai trong văn phòng của ông. Ông Tướng đúng là một bản sao của một sĩ quan Mỹ với bộ quân phục sạch thẳng nếp, tay áo xắn lên quá khuỷu tay. Ông Tướng nói Anh ngữ rất lưu loát (khi còn là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, người ta luôn thấy trong tay Chuẩn Tướng Hai nếu không là một cuốn kinh Phật, thì cũng là một cuốn sách tự học Anh Văn. Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông cũng đã từng được gửi đi thụ huấn khóa tham mưu ở Hoa Kỳ). Đôi mắt trên khuôn mặt đầy đặn của ông ánh vẻ nghiêm khắc và ông chẳng tỏ ra thân thiện. Tôi hỏi ông Tướng về tình hình.

- Anh muốn biết tin tức, anh nhân viên chánh phủ Hoa Kỳ, tôi muốn cơ phận cho trực thăng, tôi muốn đạn dược.

- Ngài đang nói chuyện với lầm người rồi, điều ấy chẳng phải là công việc của tôi.

- Anh chính là chánh phủ Hoa Kỳ. Chánh phủ Mỹ hứa luôn cung cấp tiếp liệu cho chúng tôi để chúng tôi có thể chiến đấu. Chúng tôi có thể làm được chuyện ấy, chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, nếu chúng tôi có đạn và phi cơ. Hãy nói lại với chánh phủ của anh điều đó rồi tôi sẽ nói anh nghe những gì đang xảy ra ở đây.

- Vâng, tôi sẽ báo cáo rằng quân đội đang thiếu hụt tiếp liệu.

Ông Tướng chằm chằm nhìn tôi một lúc lâu, cuối cùng ông nói:

- Người Mỹ các anh không thường giữ lời hứa với người Việt chúng tôi.

 Ông Tướng tiếp tục nhìn tôi qua làn khói thuốc, chờ đợi phản ứng của tôi. Khi tôi không tỏ thái độ gì, ông nhún vai và bắt đầu thuyết trình. Ông cho biết binh sĩ của ông chiếm giữ những vị trí trên Quốc Lộ 4 và hành quân đến biên giới Kampuchea để bảo vệ vùng lãnh thổ dưới Sài Gòn. Khu vực này phần lớn là những cánh đồng ruộng trồng lúa. Tinh thần binh sĩ rất cao, ông có thể ngăn chống lực lượng địch cấp sư đoàn của Bắc Việt trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên tinh thần binh sĩ có thể suy sụp nếu sư đoàn đối đầu với lực lượng địch lớn hơn và nếu đạn dược hao hụt. Ông tiên đoán rằng quân Bắc Việt sẽ tấn công sớm, mà ông thì không có tái tiếp tế. Sư đoàn ông đang trực diện với Sư Đoàn 9 Bắc Việt do Tướng Di Thiên Tích chỉ huy, mà đã chiến đấu trong khu vực này từ trước năm 1965.

- Tướng Tích có thể là tướng chỉ huy xuất sắc nhứt mà Bắc Việt có. Anh có biết chiến hiệu (slogan) của sư đoàn ấy là gì không? Là “Quét Sạch Kẻ Thù”. Kẻ thù ấy là tôi.

Có nọc độc trong giọng nói của ông. Quân Lực VNCH đang sụp đổ ở phía Bắc, ông buồn phiền và cay đắng. Không giống như Tướng Hưng, Tướng Hai không triết lý cho tương lai. Ông giận dữ. Tôi đưa ý kiến rằng có thể có cuộc thương thuyết ngừng bắn mà từ đó bảo vệ được chủ quyền của chánh phủ Miền Nam. Ông Tướng nhìn tôi không nói, tôi không rõ ông đang nghĩ gì. Khi tôi trở về Cần Thơ, tôi báo cáo với Jim D. buổi gặp mặt ở Sư Đoàn 7 Bộ Binh, rồi kết thúc bằng sự việc ông Tướng muốn đạn dược và cơ phận. Jim D. nhíu mày nhìn tội

- Đưa chuyện ấy vào báo cáo gởi cho Washington, và đứng nói với tôi nữa.

 Tôi thường xuyên đến thăm Chuẩn Tướng Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Ông hiếm khi cười. Ông Tướng thường ngồi trên một cái ghế gỗ đằng sau bàn làm việc, ẩn đằng sau khói thuốc khi tôi đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương gần biên giới Miên. Mỗi lần nói chuyện với nhau, thì ông Tướng thường gợi lại những điều mà ông cho là “Sự Can Thiệp Đầy May Rủi” của Quân Đội Hoa Kỳ. Những điều ông nói, đại khái như:

- Giữa hai nền văn hóa có một sự khác biệt lớn lao, người Mỹ các anh luôn muốn chúng tôi suy nghĩ và hành động y hệt như các anh. Thực ra thì chúng tôi đâu có thích các anh hay chánh sách của các anh… Anh có nghe tôi không? Chúng tôi không thích các anh bảo chúng tôi phải làm gì. Nhưng chúng tôi cần sự giúp đỡ để tồn tại, và chúng tôi biết các anh có lợi thế nhìn chúng tôi sinh tồn. Nhưng không có nghĩa là các anh có quyền xía vào công việc và nền văn hóa của chúng tôi.

Tại sao các anh không đưa quân vô Kampuchea. Quân Bắc Việt đang ở đấy đấy, tại sao các anh thì không? Nếu các anh vượt đường xa đến đây để chận đứng chủ nghĩa cộng sản, tại sao các anh không tiến vào đất Miên nơi có những căn cứ của cộng quân rồi đánh cho chúng tiêu tùng. Tại sao các anh không vào Lào? Tại sao các anh không dùng cơ giới nặng ủi sạch con đường Hồ Chí Minh ở đó. Tình hình quân sự ở đây rất đơn giản. Tại sao các anh hành động như những thằng khùng? Người Việt chúng tôi cho là các anh khùng. Anh nói gì về điều đó, anh CIA? Các anh ngáo làm việc cho một tổ chức ngáo.

 Sau khi ông Tướng đã giảng thế nào là cách điều khiển chiến tranh, sau khi gọi tôi bằng đủ thứ danh xưng, lập đi lập những chuyện ấy, nổi giận lên, thì ông mới nói tới chuyện quân tình trong khu vực. Trong những lần tiếp xúc tại Bộ Tư Lệnh, dần dà giữa ông Tướng và tôi cảm thấy thoải mái với nhau hơn. Không thân thiết, nhưng thoải mái, chúng tôi biết vị trí của nhau. Có thể là do thời gian hai năm ở Lào tôi có nhiều bạn bản xứ, nhưng cũng có thể ông Tướng nhận biết được sự cảm thông và kính trọng của tôi đối với cảm niệm của ông về Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm ở thời điểm mà rất nhiều cấp chỉ huy khác chỉ nghĩ đến bản thân họ. Cũng có thể khi chúng tôi cảm thấy thoải mái vì tôi là người khách thường xuyên của sư đoàn.

 Thượng Nghị Sĩ Frank Church phát biểu trong cuộc họp Thượng Viện ngày 10.4.1975, nói rằng thế là đủ rồi (enough is enough), Quân Đội Nam Việt Nam tự lo liệu lấy. Trong khi đó thì Hạ Viện cũng đã bác bỏ yêu cầu quân viện khẩn cấp 722 triệu mỹ kim và 250 triệu cho kinh tế của Tổng Thống Ford (con số này là do Tướng Weyand lập ra và đệ trình sau khi đi quan sát tình hình quân sự ở Việt Nam về. Còn con số 700 triệu cho tài khóa 1974-1975, rồi bị cắt xuống 300 triệu đã bị cắt bỏ tàn bạo từ lâu). Quốc Hội chỉ đồng ý cấp ngân khoản dùng cho việc di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.

 Ngày hôm sau, trực thăng của Air America (có hợp đồng chuyên chở cho CIA) đưa tôi đến gặp Tướng Hai. Ông Tướng không đứng dậy chào khi tôi bước vào văn phòng. Rất bất ngờ như bước ra từ cõi sương mù, ông nói chậm rãi, hành động của chánh phủ tôi giống như cục phân, nghị sĩ Church xấu xa hơn Hitler, nước Mỹ không còn danh dự, quân đội nước tôi đã vi phạm quy luật hành xử chung của chiến sĩ khi quay lưng với chiến hữu và bỏ rơi họ trên chiến địa.

 Ông Tướng đứng dậy và tiến đến gần tôi, đôi mắt ông đỏ hoe, bàn tay ông sờ vào báng súng lục, chằm chằm nhìn tôi không che dấu sự giận dữ từ thái độ của ông. Trong trạng thái căng thẳng đến điểm khó kiềm chế, những ngón tay của ông nắm chặt lấy báng súng. Khoảnh khắc ấy qua đi, ông thở dài:

- Tôi có thể giết anh nhân danh những con người dũng cảm đã hy sinh trong cuộc chiến này. Tôi có thể giết anh vì chánh phủ của anh đã không cố gắng chiến thắng.

Tôi đứng lặng thinh, run rẩy. Tôi nhỏ nhẹ nói:

- Chiến tranh đang tàn lụi, cuộc chiến đấu đã hoàn thành. Ngài phải chấp nhận những gì đã xảy ra, ngài phải chấp nhận số phận.

Chuẩn Tướng Hai hỏi lại:

- Tôi nghe ông Kissinger của anh ngày kia nói rằng Việt Nam đã chết. Ông ta có biết là chúng tôi vẫn còn sống ở đây không?

 Tôi không thể trả lời. Cuối cùng thì ông Tướng nhún vai, giọng khàn đục không còn hơi. Ông nói cho tôi nghe tin tức mới nhứt về cuộc điều quân của quân địch mà ông quan sát từ trên phi cơ trên vùng biên giới Việt-Miên. Ngày hôm sau, 15.4.1975, tôi bay đến Sư Đoàn 7 từ sáng sớm. Như thường lệ, ông Tướng rầy rà tôi về hành động của Hoa Kỳ:

- Đâu là người bạn của Miền Nam khi Miền Nam cần? Tôi có thể gọi ai đây? Quân giặc đã đến ngưỡng cửa của chúng tôi rồi, đất nước tôi trong cơn nguy khốn tận cùng. Ai sẽ tới tiếp cứu chúng tôi?

Phía bên kia biên giới Miên, ông đã quan sát thấy quân cộng tập trung lên con số đông đảo, cơ giới và chiến cụ liên tục di chuyển đến hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày.

- Phi cơ bỏ bom của các anh đâu? Chúng ta đã trông thấy địch lộ diện, đúng là thời điểm dội lên đầu chúng. Chúng chuyển quân rầm rộ trước chiến sĩ của tôi, tôi cần giúp. Hãy giúp tôi, anh bạn CIA.

Như thường lệ, ông ngồi trên chiếc ghế gỗ nhìn tôi sau màn khói thuốc.

 Ngày 17.4.1975, Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ. Tôi khởi sự đến gặp Chuẩn Tướng Hai mỗi ngày. Ông Tướng cho biết quân Bắc Việt tiếp tục tập kết ngay phía bên kia biên giới, chúng đưa đến chiến xa, cầu nổi và pháo binh. Bộ đội mới, tươi rói đã đến mà ông suy đoán sẽ là nỗ lực chánh tiến đánh Sài Gòn. Đó là mục tiêu thực sự của cộng quân. Cộng quân tập trung đông đảo như vậy không phải là để tấn công Sư Đoàn 7 Bộ Binh hay chiếm lấy QL4. Thỉnh thoảng tôi đến thăm Chuẩn Tướng Hưng ở Cần Thơ. Ông biết rõ tình hình quân sự toàn quốc, nhưng ông vẫn bình tĩnh và vẫn thư thả đợi cái gì tới sẽ tới . Mười sáu tỉnh của vùng châu thổ chưa có thành phố nào rơi vào tay cộng quân, với một nửa dân số của Miền Nam vẫn được an toàn.

 

Trong cuộc gặp ngày 19.4.1975, Tướng Hai cho tôi biết có vẻ như là không có thêm quân cộng tập kết ở vùng biên giới nữa, chúng đang điều động đến các vị trí. Ông nghĩ rằng khi chúng bắt đầu đội hình với bộ đội mới vào ở gần biên giới, phía sau những đội công binh bắt cầu, với đoàn chiến xa nặng húc về phía Sài Gòn, cuộc tấn công sẽ nổ ra. Cộng quân sẽ mất bảy ngày để xuất phát từ đất Miên vượt qua vùng Đồng Tháp Mười và tiến về Sài Gòn. Sư Đoàn 7 của ông Tướng chỉ có thể làm chậm tốc độ tiến quân của chúng mà thôi. Tướng Hai nói:

- Chúng tôi không thể chận đứng chúng, quân địch quá đông mà quân chúng tôi quá ít.

 

Ngày 21.4.1975, Xuân Lộc, một trong những cứ điểm cuối cùng của QLVNCH ở phía Bắc Sài Gòn thất thủ (thiệt ra chỉ di tản theo lịnh của Trung Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III&Quân Khu 3 về bảo vệ Sài Gòn), sau khi đã anh dũng chận đứng đà tiến của một lực lượng lớn quân Bắc Việt. Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từ chức trong ngày ấy.

 

Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh SĐ7BB trong ngày 22.4.1975. Phòng làm việc của ông Tướng tối quá, ông đang ngồi trên chiếc ghế quen thuộc và hút thuốc.

- Những chiến xa nặng của Bắc Việt đang vào đội hình, bộ binh dàn trận phía sau. Chúng sắp sửa xuất phát, Sài Gòn sẽ rơi vào tay Bắc Việt trong vòng bảy ngày, 29.4.1975.

 

Ông Tướng đưa cao chiếc tách cà phê nóng lên, làm một cử chỉ vinh danh những người lính đã hy sinh và chào đón tương lai, nhưng ông không cười. Ý định của quân cộng thiệt rõ ràng đối với Chuẩn Tướng Hai. Chúng sẽ đánh lấy, chiếm được Sài Gòn trong bảy ngày nữa, mà Sư Đoàn 7 thì không thể chận chúng lại được. Tôi đến gặp Chuẩn Tướng Hưng buổi chiều cùng ngày. Ông cho hay từ buổi sáng sớm quân Bắc Việt đã vượt biên giới ở khu vực gần các đơn vị của Chuẩn Tướng Hai và tiến về hướng Sài Gòn. Tướng Hưng đã lệnh cho lực lượng ít ỏi Không Quân và Pháo Binh chuẩn bị chống lại cuộc tiến quân của quân địch, nhưng có lẽ cũng không làm chúng khựng lại được. Ông Tướng vẫn vẻ bình tĩnh và giữ gia đình gần bên.

 James E. Parker cùng các đồng sự CIA giúp được nhiều nhân viên Việt Nam và thân nhân ở Cần Thơ thoát được ra biển trong những ngày cuối cùng và được vớt lên chiếc tàu buôn Pioneer Contender.

 Đứng trên cầu tàu, tôi quay nhìn về hướng Việt Nam, bất giác tôi chợt nghĩ trong một thoáng thiệt rõ ràng, rằng dù chúng tôi đã thua trận, nhưng chúng tôi đã hành động đúng khi tới đó và chiến đấu. Lịch sử sẽ rộng lượng phán xét ý định tốt của chúng tôi đến giúp cứu một đất nước bị xâm lấn. Chúng tôi đã không thắng vì những chánh trị gia, những nhà hoạch định chánh sách Hoa Kỳ đã đưa ra những quyết định xấu xa đầy tội lỗi, từ lúc khởi đầu cho tới lúc tàn cuộc.

 Đối với tôi, cái di sản bất tử của cuộc chiến là những người lính đã đáp lời gọi của đất nước, hy sinh thân sống ở Việt Nam. Trong thời điểm của những giá trị chao đảo, họ đã khẳng định những nguyên tắc trường cửu của Trách Nhiệm.Vì Tổ Quốc họ đã tự dấn mình trong những truyền thống Mỹ đẹp đẽ nhứt của những người lính chiến Mỹ. Họ đã chết trẻ rất Danh Dự trong chiến tranh. Mỗi người lính đều là những anh hùng.

 Hướng về phía bờ biển, tôi đứng nghiêm chào đúng quân cách, chậm rãi. Tôi đứng lặng thinh trong một khoảnh khắc, rồi quay người đi xuống bên dưới. Cuộc chiến đã chấm dứt.

Trắc trở hàng ngàn người tỵ nạn Việt Nam, con tàu Pionneer Contender nhổ neo buổi sáng sớm hôm sau hướng mũi tàu tiến về hướng Đông. Việt Nam mờ nhạt dần từ phía sau.

 

PHẠM PHONG DINH

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI MỸ VỀ CẤP CHỈ HUY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4.1975, Phạm Phong Dinh
Comment

Đóa HOA QUỲNH MÙA ĐÔNG (T. Nguyen)

March 14, 2026 Ninh Tran

Cô đến Canada khi còn là một thiếu nữ 18 tuổi, mang theo trong vali vài bộ quần áo, một cuốn sổ tay, và một trái tim còn nguyên vẹn niềm tin rằng cuộc đời sẽ mở ra như một cánh đồng lúa chín. Nhưng đời sống ở xứ người không phải cánh đồng, mà là một khu rừng rộng, đẹp nhưng lạnh, và đôi khi khiến người ta lạc lối.

        Năm 18 cô được học bổng du học. Năm 22 tuổi cô xong đại học ngành toán tại đại học Western, London. Cô được ở lại, đi dạy đã 20 năm tại một trường trung học nhỏ. Thành phố cô sống không lớn, đủ yên bình để nghe tiếng gió lùa qua hàng thông mỗi sáng, nhưng cũng đủ cô quạnh để mỗi tối, khi đóng cửa căn hộ, cô nghe rõ tiếng thở dài của chính mình.

       Cô sống xa cộng đồng người Việt. Không hẳn là không có, chỉ là quá thưa, quá rời rạc, và ai cũng bận mưu sinh. Nhiều lúc cô cũng muốn kết nối với cộng đồng nhưng có một khoảng cách vô hình của người đi trước và sau. Cô từng thử hẹn hò với vài người bản xứ. Họ tử tế, lịch sự, đúng giờ, chia tiền rạch ròi. Không phải vì họ không tốt mà vì cô không tìm thấy cái cảm giác “được thuộc về”, thứ cảm giác mà người Việt hay gọi bằng những từ rất mộc: thương nhau, lo cho nhau, cậy nhờ nhau khi nghèo khó.

Read more
In Văn Hóa, Giáo Dục Tags T. Nguyen, Đóa HOA QUỲNH MÙA ĐÔNG
Comment

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

March 13, 2026 Ninh Tran

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG

 Cũng như nhiều người trong chúng ta, trong những ngày tĩnh lặng của tuổi vào thu, tôi mong còn dịp trang trải những điều giữ trong tâm qua bao năm tháng dài của cuộc đời, để tìm thanh tịnh cho tâm thần.

Một trong những hoài vọng này là được gởi lời cảm tạ đến những người đã đi qua đời tôi và đã ít nhiều cho tôi diễm phúc được yêu, dù tôi có biết hay không, dù tôi có nhớ những phút giây hạnh phúc này không, và nhứt là tôi có hình dung họ là ai hay không.

Lý do tôi hơi dài giòng nơi đây vì từ tuổi trưởng thành và đi xây cuộc đời mới trên quê hương thứ hai sau khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn một ngày đất thảm trời sầu tháng tư đen, tôi không còn nhớ nhiều về quãng đời trước đó. Không nhớ không phải vì tôi không muốn nhớ, nhưng trong tâm tưởng của tôi, một phần rất lớn của dĩ vãng chỉ là một tờ giấy trắng, không hình ảnh, không ký ức. Tôi không buồn lắm vì quanh tôi còn có người thân, gia quyến đôi khi nhắc nhở hay đem lại cho tôi vài khoảng của dĩ vàng mà tôi đã quên.

 

Một người bạn y khoa biết tôi như thế, có nhã ý giúp tôi nhìn lại những vùng dĩ vãng đã mất bằng y thuật hypnosis nhưng sau khi cân nhắc kỹ càng tôi cảm ơn lòng thành của người bạn này nhưng đành khước từ nhã ý ấy. Theo tôi nghĩ, nếu tiềm thức của tôi đã khiến tôi quên những khoảng thời gian đó chắc nó có lý do rất chính đáng.Trong cuộc sống nhiều cam go này có những trường hợp quá bi lụy khiến con người phải cố mà bỏ qua cho được để còn tiếp tục sống và thích nghi với đời sống mới. Vì thế tôi chấp nhận một đời sống với đầy khoảng trống trong ký ức.

Nhưng có những lúc tôi buồn vì với thích ứng đó tôi đành phải chấp nhận mất đi những khoảnh an vui của thời dĩ vãng vì hình như ký ức tâm tư không lúc nào cũng phân biệt và chọn được phần nào nên quên, phần nào phải giữ lại, nên quên phứt tất cả. Tôi không quá buồn vì không giữ được những kỷ niệm vui nhưng điều tôi buồn nhất là tôi đã không nhớ được nhiều người đã thương tôi, yêu tôi trong dòng đời dĩ vãng, bạn bè, thân quyến gần xa, người yêu, người tình. Nên hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn những người đó đã có thạnh tình với tôi và cũng xin lỗi họ nếu ngày xưa đó họ nghỉ tôi không quan tâm hay trọng tình ý của người chung quanh mình nhứt là nếu tôi, vì lý do nào tôi không nhớ, đã phụ chân tình của họ.

Hôm nay tôi viết bài này vì tháng qua trong một cuộc họp gia đình của chị em chúng tôi lâu năm sống phân tán nhiều nơi trên xứ Mỹ và châu Âu, tình cờ một người em tôi hỏi về một người yêu cũ của tôi ngày vừa mới lớn. Tôi ngẩn ngơ không biết người đó là ai và cô em của tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu làm sao mà tôi không nhớ người đó,

Yến bào tôi rằng

“Chị thật tình không nhớ sao. Ngày xưa đó chị khóc cả tuần vì cha chúng mình muốn gả chị đi lấy chồng nhưng chị không chịu vì người yêu của chị vừa ngỏ ý với chị”. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, tôi phải vâng lời nghiêm đường mà tiến tới cuộc hôn nhân với một người chưa từng quen biết. Đó là một trong những chuyện não lòng mà tôi đã không còn ý thức.

  Lại một lần nữa, cũng trong một cuộc họp mặt gia đình khác, có một người đến, tự giới thiệu là cháu của tôi. Phượng nói "ba cháu mất rồi nhưng mẹ cháu vẫn hằng nhắc đến cô, mẹ mến cô lắm vì ngày xưa khi mẹ về với cha cháu, cô đã đón mẹ cháu vào gia đình rất  nồng hậu, mẹ cháu gởi lời thăm cô". Lại một lần nữa tôi ngần ngơ và khó lòng, khó xử không biết nói gì hơn là lí nhí lời cám ơn, vì tôi không nhớ họ là ai cà. Thật buồn cho những mất mác đó.

Ngày nay tôi tự hỏi nhữngchuyện quan trọng như thế mà tôi không nhớ thì còn những chuyện gì khác mà tôi đã quên. Nhưng thôi, những gì đã qua thì nên cho đi qua, buông xả trên dòng tâm linh.

Đời người là thoáng trăm năm, thoáng đến, thoáng đi trong chốn phù vân. Ai biết ngày mai sẽ ra sao, và biết ai còn ai mất.

Nên hôm nay tôi xin viết lời tạ từ cám ơn về những người đã đi qua đời tôi, đã cho tôi ít nhiều hạnh phúc. Và cùng lúc tôi xin gởi lời chân thành tạ lỗi với những người mà tôi vô ý hay không cố ý làm họ buồn.

Về người yêu mà em tôi vừa nhắc, tôi xin chân thành gởi lời xin lỗi muộn màng vì tôi không vẹn tình nghĩa với anh.

Và những người khác mà tôi không nhớ cũng xin cho tôi gởi lời từ tạ và cám ơn.

   Nhưng, viết để mà viết chứ trên thực tế những lời cảm tạ và xin lỗi này chỉ là làn gió thoảng trong mênh mông không trung hay dải Ngân Hà nhiều tinh tú, vỉ làm sao mà đến được người nhận khi tôi không còn biết họ là ai, những người của dĩ vãng mịt mờ sương khói.

Thành ngữ Pháp có câu “L’homme propose mais Dieu díspose”. Tôi không muốn dịch sát nghĩa nhưng tương tự tiếng mình cùng ý nghĩa “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”phải đồng có cùng lúc thì mới đủ căn duyên cho sự hữu hình của sự việc. Vì thế, dù bao mong muốn nhưng lời cảm tạ và xin lỗi, tôi có cơ duyên được viết nhưng người có nhận được hay không còn tùy duyên nợ của họ đối với tôi.

Dù sao tôi cũng mong rằng những lời chân thành muộn màng này giải tỏa được phần nào nợ duyên của tôi trong dòng đời dâu bể và cho tôi giấc ngủ bình an trong mùa thu đông của cuộc đời.

 Hôm nay, ngồi viết bài này bên giòng liên hoa trên sóng, tôi nghe lòng thanh thản, không buồn không vui, những ước mơ như cánh chim trời hay nước xuôi về biển cả, với lời cầu nguyện thầm lặng, tôi xin buông xả những điều sân si của cuộc sống, để tâm lắngđọng trên dòng thiên nhiên.

Tôi cũng xin cảm tạ ân trời, tình đất mẹ thiên nhiên luôn ban cho ta nguồn tĩnh lặng, những vẻ đẹp đất trời tuyệt mỹ, cho ta được lắng dịu tâm trần lao chao và tìm nguồn chân như trong bể dâu đời sống.

 THƠ: TRÊN SÓNG LIÊN ĐÀI

Đây vùng trời nước rạng vầng dương,

Lững thững thuyền mây cánh buồm trương,

Đôi cánh hạc ngàn đùa mây sóng,

Dịu dàng làn gió vén màn sương,

 

Ríu rít rộn ràng tiếng gọi đàn,

Lành lót trong sương liệng én vàng,

Du dương trên gió trầm bỗng sóng,

Văng vẳng trời xa khúc tiêu ngàn.

 

Trên sóng liên đài sương ngọc ngời,

Áo hoa phơn phớt ánh vàng trời,

Dìu dịu khúc trong vờn đá cuội,

Sơn tuyền trầm mặc tiếng sương rơi.

 

Tĩnh lặng hư không trời bâng khuâng,

Đạt thành ai quảng chốn phù vân,

Ngộ giác duyên phần trong tĩnh mịch,

Chân như huyền ào rạng tâm trần.

 

Trên sóng liên hoa bùn chằng đọng,

Sơn tuyền lờ lững cánh bè rong,

Hồn thiên nghệ sĩ hòa thi nhạc,

Tuyệt mỹ an nhiên vẽ non bồng.

 

Bồng lai tiên cảnh chằng đâu xa,

Chẳng vùng phố thị, chốn phồn hoa,

Dù ai vằng tiếng lời phù ảo,

Chằng chao thanh tịnh tâm an hòa.

 

Sơn lâm đồi núi tiếng quê nhà,

Văng vẳng trong sương lời sơn hà,

Năm châu bốn bể đường vinh nhục,

Giữ rạng vào hồn tiếng mặn mà.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG
Comment

Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa,....(Nguyễn Quỳnh Hoa )

March 10, 2026 Ninh Tran

 Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa, Cư Xử; Hậu Quả của Chế Độ Chính Trị Từ Cả Thế Kỷ Nay!

 Người miền Nam, dù đã sống trong chế độ CS hơn 50 năm, vẫn còn bảo lưu được nếp văn hóa đẹp do chế độ Cộng Hòa vun đắp từ truyền thống của tổ tiên.

Đầu tuần, xin mời quí vị đọc một bài viết khá hay của một nữ văn sĩ gốc Hà Nội.Ít ra, Hà nội vẫn còn những người công chính như nhà văn Nguyễn Quỳnh Hoa., có lẽ là hậu duệ của giới tư sản Hà thành còn sót lại.

Bài viết của nhà văn Nguyễn Quỳnh Hoa - một người Hà Nội chánh gốc.

Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng vẫn sẵn sàng để bị lay động.

Chuyến bay từ Nội Bài vào một tối cuối năm khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn thường lệ. Tôi tình cờ đứng gần hai gia đình trẻ - một nói giọng Bắc, một nói giọng Nam. Không rõ là ngẫu nhiên hay do trí nhớ chọn lọc, nhưng trong nhiều chuyến bay quay lại Nhật, tôi thường bắt gặp những tình huống tương tự. Chúng dần trở thành một thứ định kiến trong tôi, và tôi xin thú thật như vậy, dù rõ ràng nó thật phiến diện.

Tôi muốn nói trước điều này, dù có phần buồn: Trong những lần tiếp xúc ngắn ngủi với người miền Nam trên các chuyến bay ấy, tôi thường mang về những ấn tượng tốt. Từ tác phong đến cách giao tiếp, mọi thứ đều nhẹ nhàng và có chừng mực. Cách họ xếp hàng, quan sát lối đi, để ý người khác dường như luôn chừa ra một khoảng vừa đủ cho sự lịch thiệp. Trong nhà vệ sinh sân bay, giữa dòng người mệt mỏi, tôi đã nhiều lần nghe thấy một giọng miền Nam rất khẽ:

“Dạ, xin lỗi cho em qua.”

Một câu nói nhỏ thôi, nhưng đủ khiến lòng người dịu lại.

Rồi tôi quay về với chuyến bay gần đây nhất. Trong khu vực nhập cảnh khai báo hành lý, tôi đứng sau hai gia đình Việt, lại là một Bắc, một Nam và cả hai đều có con nhỏ. Ở gia đình miền Bắc, người chồng liên tục càu nhàu vợ vì con khóc, vì con đòi đồ chơi, vì chiếc bánh mang theo có chứa chà bông. Giọng nói gắt gỏng vang lên giữa không gian vốn đã căng thẳng, khiến tôi có phần e ngại. Người vợ thì cúi gằm mặt, lặng lẽ và ngại ngùng.

Ở phía bên kia, gia đình miền Nam hoàn toàn trái ngược. Người chồng bế con suốt quá trình làm thủ tục, thỉnh thoảng quay sang hỏi vợ có mệt không, lặng lẽ xử lý mọi giấy tờ mà không một lời than phiền.

Tôi khó gọi tên cảm giác của mình lúc ấy. Chỉ biết rằng đó không phải lần đầu tôi chứng kiến những cảnh tương tự, từ cách xếp hàng, cách nói chuyện trong gia đình, cho đến thái độ với người xa lạ. Tôi không muốn và cũng không tin vào việc phân biệt vùng miền. Tôi luôn phản đối điều đó. Nhưng ít nhất, trong những khoảnh khắc rất đời và rất ngắn ấy, tôi buộc phải thừa nhận, trong tôi nảy sinh một sự ngưỡng mộ. Không phải vì họ đến từ đâu, mà vì cách họ đối xử với nhau và với thế giới xung quanh, đủ tử tế để được nhìn nhận một cách xứng đáng.

Và chính ở đó, tôi bắt đầu thấy niềm kiêu hãnh của mình không còn đứng vững như trước.

Tôi chợt nhận ra, niềm kiêu hãnh mà tôi mang theo, thứ tôi từng nghĩ là bản sắc Hà Nội, đôi khi đã bị tôi nhầm lẫn với quyền được khó chịu. Quyền được cáu kỉnh khi mệt, được lớn tiếng khi không vừa ý, được tin rằng sự thẳng thắn của mình là trung thực, còn sự dịu dàng của người khác chỉ là tính cách. Tôi đã sống đủ lâu trong những con phố hẹp, những căn nhà chật, những buổi sáng chen chúc để tin rằng gắt gỏng là điều có thể thông cảm. Nhưng có lẽ, thông cảm quá lâu, người ta sẽ quên mất cách giữ gìn.

Đứng giữa sân bay, nơi không ai thực sự thuộc về, tôi thấy rõ sự khác biệt giữa chịu đựng và chăm sóc. Hai đứa trẻ khóc như nhau, cùng mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Nhưng cách người lớn phản ứng đã tạo ra hai thế giới khác hẳn. Ở một bên, mệt mỏi được trút xuống người gần nhất. Ở bên kia, mệt mỏi được gánh lên vai một người, rồi vì thế, nhẹ đi cho cả gia đình.

Tôi tự hỏi, phải chăng điều tôi ngưỡng mộ không nằm ở vùng miền mà nằm ở một thứ văn hóa ứng xử đã được rèn giũa qua nhiều thế hệ? Một văn hóa coi sự nhỏ nhẹ không phải là yếu đuối mà là lựa chọn. Coi việc giữ giọng thấp xuống là một cách giữ gìn nhân phẩm cho cả mình và người đối diện. Trong cái cách nói “dạ” rất khẽ ấy, tôi nghe thấy không phải sự nhún nhường. Đó là sự tự tin, tự tin rằng mình không cần lớn tiếng để được tôn trọng.

Tôi nghĩ về Hà Nội của tôi, thành phố mà tôi yêu bằng một tình yêu vừa kiêu kì vừa mệt mỏi. Hà Nội từng rất chậm, rất ý tứ. Người ta từng biết hạ giọng trong bữa ăn, biết tránh làm phiền người khác, biết giữ thể diện cho nhau bằng im lặng. Nhưng rồi nhịp sống gấp gáp, những va chạm dồn nén và cảm giác luôn phải giành phần hơn đã khiến chúng tôi quên mất rằng lịch sự cũng là một dạng sức mạnh.

Có lẽ vì thế mà tôi tò mò. Không phải tò mò về miền Nam như một đối cực, mà có lẽ tôi tò mò về khả năng lựa chọn của con người. Là lựa chọn nói nhẹ hay nói nặng, lựa chọn bế con hay trách vợ, lựa chọn làm dịu một không gian hay làm nó căng thêm. Những lựa chọn rất nhỏ nhưng tích tụ lại thành khí hậu tinh thần của một cộng đồng.

Khi chuyến bay kết thúc, tôi kéo vali đi giữa dòng người nhập cảnh. Tôi vẫn là người Hà Nội, với niềm kiêu hãnh của mình. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy, sau những chuyến đi, đã bắt đầu đổi hình dạng. Nó không còn là cảm giác mình đến từ đâu, giờ đây nó đã là câu hỏi mình đã đối xử với người khác như thế nào.

Có những lúc, người ta lớn tiếng không phải vì mạnh mẽ, có lẽ phần nhiều vì đã kiệt sức. Kiệt sức vì phải gồng lên suốt một quãng đời dài, vì phải chứng minh mình đúng, mình hơn, mình không thua kém. Tôi đã quen với thứ mệt mỏi ấy đến mức tưởng nó là bản lĩnh. Cho đến khi đứng giữa sân bay xa lạ, nhìn một người đàn ông lặng lẽ bế con, tôi mới thấy, hóa ra bản lĩnh có thể im lặng và im lặng ấy không hề yếu ớt.

Tôi chợt nghĩ về những người đàn ông Hà Nội quanh mình, những người cha, người chồng, người anh. Phần nhiều đều yêu gia đình nhưng lại hiếm khi được dạy cách thể hiện tình yêu mà không làm đau người khác. Yêu, trong nhiều trường hợp, đồng nghĩa với lo lắng; lo lắng kéo theo kiểm soát; kiểm soát sinh ra cáu gắt. Và rồi, sự quan tâm biến thành áp lực, lúc nào không hay. Có lẽ, chúng tôi đã học cách gánh trách nhiệm nhưng chưa học đủ cách chia sẻ gánh nặng.

Sân bay lúc ấy đông hơn. Tiếng loa thông báo, tiếng bánh xe vali, tiếng trẻ con khóc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh mệt mỏi rất người. Tôi đứng giữa đó, bỗng thấy mình không còn muốn quan sát để so sánh nữa. Thay vào đó, tôi muốn quan sát để hiểu. Hiểu rằng mỗi vùng đất sinh ra con người với những cách chịu đựng khác nhau. Có nơi dạy người ta phải cứng, có nơi dạy người ta nên mềm. Và cả hai, suy cho cùng, đều là cách để sống sót.

Nhưng sống sót khác với sống đẹp. Và sống đẹp, có lẽ, bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức dễ bị coi thường - một câu xin lỗi, một cái hỏi han, một cánh tay chìa ra đúng lúc. Sự tử tế không cần hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại.

Khi tôi bước ra khỏi sân bay, không khí lạnh tràn vào phổi. Thành phố mới đón tôi bằng sự im lặng quen thuộc của một nơi tôi đã chọn để sống. Tôi kéo cổ áo lên, đi chậm lại. Trong đầu tôi, niềm kiêu hãnh Hà Nội không còn đứng ở vị trí đối đầu với sự ngưỡng mộ miền khác. Nó đứng cạnh, khiêm tốn hơn, lắng nghe hơn, lặng lẽ hơn.

Có lẽ, trưởng thành không phải là thôi kiêu hãnh, mà là học cách đặt niềm kiêu hãnh ấy xuống thấp hơn người khác một chút. Thấp đến mức mình có thể cúi đầu xin lỗi. Thấp đến mức mình có thể bế con thay vì trách móc. Thấp đến mức, giữa một sân bay đông người, giọng nói của mình không lấn át giọng ai khác, chỉ đủ để giữ lại một chút ấm áp cho những người đang rất mệt.

Tôi chợt hiểu vì sao những câu nói nhỏ nhẹ lại có sức bền đến thế. Chúng không gây ấn tượng mạnh tức thì, nhưng thấm vào lòng rất sâu. Như mưa phùn Hà Nội, không ồn ào, không dữ dội, chỉ đủ để làm ướt áo ai đó đi rất xa. Có điều, mưa phùn mà kéo dài quá, cũng khiến người ta lạnh. Có lẽ, điều chúng tôi thiếu không phải là sự dịu dàng mà là sự dịu dàng đúng lúc, không biến thành nhẫn nhịn.

Tôi không còn muốn biện minh cho vùng đất mình sinh ra, cũng không muốn lý tưởng hóa vùng đất khác. Mỗi miền đều có những vết xước riêng, những nỗi mệt riêng. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, sau những chuyến bay dài và những lần đứng giữa đám đông vô danh, là khả năng tự hỏi mình. Trong khoảnh khắc này, mình có thể làm gì để không khiến người khác nặng thêm?

Tôi vẫn là người Hà Nội. Tôi vẫn yêu thành phố ấy với tất cả những mâu thuẫn của nó. Nhưng giờ đây, tình yêu ấy không còn đi kèm với sự bảo vệ mù quáng. Nó đi kèm với mong muốn sửa mình, chậm rãi, vụng về, nhưng thành thật. Và có lẽ, đó là cách duy nhất để niềm kiêu hãnh không trở thành gánh nặng, chỉ là trở thành một thứ ánh sáng đủ dịu, để soi đường cho chính tôi và cho những người đi ngang qua đời mình.

Nguyễn Quỳnh Hoa

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Nguyễn Quỳnh Hoa, Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa, .
Comment

Hồi Ký Của Một Bác Sĩ ( Võ Tam Anh)

March 8, 2026 Ninh Tran

Một bác-sĩ “cách-mạng” từ Bắc vào, hăm-hở đến tiếp-thu bệnh-viện Vĩnh-long sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã thốt ra câu nói đầu tiên với chúng tôi : "Các anh là kẽ thù của nhân-dân, đáng tội chết..." Tuy mới mấy ngày sau khi "giải-phóng" nhưng tai chúng tôi cũng đã quen với câu nói đó, chỉ có khác là lần này được phát ra từ miệng một bác-sĩ mà chúng tôi chờ đợi để hy-vọng thấy được một nụ cười hay một chút thông-cảm trong tình đồng-nghiệp. Chẳng khác gì những cán-bộ khác, bác-sĩ cũng tuông ra câu học thuộc lòng: "Nhưng Đảng và Nhà-nước khoan-hồng tha tội chết cho các anh..."

May thay, chúng tôi được tha tội chết, nhưng thay vào đó, phải lảnh cái án "dở sống dở chết " kéo dài năm này qua năm nọ trong các nhà tù, nhường sự-nghiệp lại cho các đồng-nghiệp mới, huênh-hoang trong cái độc-quyền nhân-đạo với các bảng hiệu « Lương Y như Từ-mẫu » treo nhan nhản khắp xó xỉnh trong bệnh-viện.

Có lẽ Cụ Hippocrate ở dưới suối vàng cũng không khỏi phẫn-nộ khi các môn-đệ ở Miền Bắc không chịu học lời thề Cụ dạy trước khi ra trường:

"Tôi thề sẽ giúp đở các đồng- nghiệp và gia-đình họ trong cơn ngặt nghèo, tôi sẽ mất hết danh-dự và bị khinh-bỉ nếu tôi không giữ lời thề đó".

Trước mặt thì đồng-nghiệp gọi chúng tôi bằng "anh", nhưng quay lưng lại là "thằng", là "chúng nó" ngay, không hiểu là vì thói quen, vì văn-hóa, vì mặc-cảm hay vì chính-sách.

Ngày đầu tiên mới đặt chân lên đất Bắc trên con đường lưu đày, khi mà tầm mắt đang còn ngỡ-ngàng với rừng sâu núi thẳm, khi mà thể xác và tinh-thần chưa lai tỉnh qua cuộc hành trình định-mệnh kinh-hoàng, thì chúng tôi được đón tiếp vồn-vã bởi một đồng-nghiệp. Vồn-vã không phải để thăm hỏi sức khỏe hoặc để an-ủi một lời nào, mà để tịch-thu thuốc men và dung cụ y-khoa mà chúng tôi mang theo, nhất là để tò mò tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống "phồn-vinh giã-tạo" ở trong Nam.

Câu nói đầu tiên và gần như là câu chào hỏi ở cửa miệng mỗi khi gặp nhau: "Anh ăn mấy lạng ?" (gạo mỗi ngày), làm chúng tôi bở ngở không biết đâu mà trả lời. Thì ra cái quan-tâm hàng đầu của nền y-khoa miền Bắc là cái bao-tử, và xã-hội được chia ra làm nhiều loại bao-tử khác nhau tùy theo đẳng-cấp và sự trung-thành với Đảng: 120 lạng ,150 lạng, 170 lạng.... cái hàn-thử-biểu để đo vị-trí mình trong xã-hội. Kế đó là thắc mắc về những phần thịt đươc bồi-dưỡng trong những ngày lể, ngày Tết…

Thấy chúng tôi không ở cùng một tần-số trong cái hội-chứng đường ruột đó, bác-sĩ bèn lên mặt chỉ-đạo: "Chớ có trốn trại nghe, không thoát đâu ". Quả-nhiên lời khuyên có chấp-chứa ít nhiều tình thật đó lại là không sai. Chỉ có vài ngày sau khi đặt chân đến cái nơi núi rừng chằng chịt mang tên Sơn La đó, khi chưa xác định được vị-trí trong cái bản-đồ mênh-mông của miền Thượng-du Bắc Việt, thì một số anh em đã lần lượt trốn trại rồi lần lượt bị bắt lại để gánh chịu những hình phạt ghê gớm đang chờ sẵn. Trong số đó phải kể đến hai đồng-nghiệp, một Thiếu-tá Y-sĩ- trưởng Trung-tâm Hồi-lực ở Sài-gòn và một Y-sĩ Đại-úy Thủy-quân Lục-chiến, đã thoát khỏi lao tù vì đã trốn qua "bên kia thế -giới" sau khi không thành-công trong cuộc tổ-chức trốn qua "bên kia biên-giới".

Sau một thời gian xáo trộn, chúng tôi gồm có 8 bác-sĩ, 1 nha-sĩ, 2 dược-sĩ được tập-trung lại để thành-lập một "trạm-xá " có nhiệm-vu săn sóc sức khỏe cho anh em tù trong vùng. Bằng những phương-tiện của thời-đại đồ...tre, với kỹ thuật từ thời Hoa-đà, chúng tôi cũng được an-ủi bằng một số thành-công trong nhiệm-vụ chửa trị, và đã lưu lại cho chúng tôi nhiều kỹ niệm khó quên. Anh T. bị bệnh phung cùi, bọn cai tù ghê sợ, biệt giam trong một cái chòi giữa rừng, thường ngày chúng tôi đến thăm viếng, theo dỏi bệnh tình, chia nhau từng củ sắn củ khoai, khích lệ cho nhau cho đến ngày về. Anh H. bị mất trí vì trúng độc khi ăn phải trái cây rừng, suốt ngày la hét, phải cách ly trong một túp lều ở giữa rừng, chúng tôi chia phiên nhau túc trực ngày đêm bên cạnh để canh chừng, nhưng cuối cùng anh cũng qua đời.

Phải kể đến những trường hợp giải-phẩu theo kiểu...rừng, với tất cả liều lỉnh rủi may. Trang-bị bằng một bộ trung-phẩu dã-chiến của Trung quốc và một lò hấp ướt (autoclave), với mấy bình ê-te (ether) và cái masque Ombredane là dụng cụ đánh thuốc mê hở (circuit ouvert) cổ lổ sĩ dùng trước thế chiến 1914-1918. Trong những "bloc" được ngăn cách bởi những tấm phên tre và tấm vải mùng, muổi mòng tha hồ bay lượn, dưới ngọn đèn dầu và đèn pin, mà nhờ trời chúng tôi cũng thành-công được trong nhiều trường hợp, những chấn-thương vì tai-nạn lao-động, hay trường hợp anh N. bị tắc nghẻn ruột, phải giải-phẩu để tái tạo một hậu-môn tạm thời, phải theo dỏi và săn sóc từ A đến Z trong nhiều tháng với sự tận-tình của mọi người nên kết quả rất khả-quan, vân vân và vân vân.

Chúng tôi đã đóng tất cả các vai trò trong việc điều trị, từ lao-công, y-tá, phụ mổ, gây mê, cầm dao, rồi hậu-phẩu, vệ-sinh, giặt giủ v...v...bù lại khỏi phải đi lao-động đốn vầu, đốn nứa, đẩy xe trong những lúc đó.

Một sự tình cờ khiến chúng tôi phải giải-phẩu cấp cứu thành-công cho một tên cán bộ bị viêm ruột thừa cấp-tính mà không biết chở đi đâu. Mấy tháng sau, nhân dịp Tết Nguyên-đán 1978, có mấy cán-bộ trong ban chỉ-huy trại đến cám ơn chúng tôi, và tưởng-thưởng bằng một tấm hình chụp chung mấy anh em chuyên-môn trong bệnh-xá, một kỹ-niệm độc nhất vô nhị của những ngày tù ở Sơn La. Tiếng đồn lên tới Bộ chỉ huy Đoàn. Một số cán-bộ có thiện tâm muốn mở tầm hoạt động của chúng tôi cho dân chúng trong vùng Mường Thải, huyện Phù-yên, nơi mà xưa nay dân chúng chưa hề thấy đươc cục xà bông chớ đùng nói chi đến viên thuốc tây. Thế rồi dân chúng đến xin chửa trị mỗi ngày một đông, tuy thuốc men chẳng có gì nhiều nhưng cũng giúp ích được một số lớn trường hợp và ít ra cũng giúp họ làm quen với y-khoa ngày nay thay vì phải uống lá rừng suốt đời. Khi đặt ống nghe vào ngực, có người đã huênh-hoang khoe rằng là được... rọi điện.

Đông nhất là phần chửa răng. Ngậm một cái răng sâu năm này qua tháng nọ như một cái đinh đóng vào óc, nay được nha-sĩ nhẹ nhàng xoi xỉa với một cái máy quay đạp bằng chân, hoặc nhổ đi mà không đau đớn gì, thật là một điều mà dân Mường ở đó không bao giờ mơ tới.

Một đêm nọ, đang lúc giữa khuya, một cán bộ VC cầm cây đèn bảo xăm xăm bước vào phòng giam chúng tôi, bảo rằng một người đàn bà trong bảng Mường đang nguy kịch vì đẻ không ra đã hai ngày nay. Anh Thức, chuyên môn về phụ-khoa được cử đi cấp-cứu. Trong môt gian nhà sàn rộng rải không có vách ngăn, ở giữa là cái bếp lửa cháy suốt ngày đêm, dăm ba người đàn ông ngồi quanh nói chuyện ồn ào tỏ vẻ lo lắng, ở trong góc một người đàn bà đang quằn quại rên la một cách tuyệt-vọng. Trong khi mọi người bu quanh chăm chú và nghiêm-nghị nhìn anh Thức khám bệnh như nhìn một phù thủy đang làm phép, anh Thức bình tỉnh khám thấy rằng đó là một trường hợp song thai, hai đứa bé ôm quàng lấy nhau mà lại nằm ngang, không đẻ ra bằng đường tự-nhiên được. Phải chở đi bệnh-viện để mổ lấy con ra, nhưng anh Thức quên rằng chuyện đó không thể có được ở đây. Không làm gì hơn được, anh bèn tạm thời dẹp sách vở qua một bên mà cố gắng xoay một đứa cho cái đầu ở vị trí thuận-lợi để ra trước, rồi đến đứa kia, cuối cùng được mẹ tròn con vuông, trong sự rối rít cám ơn của mọi người mà trước đó đã được học tập để coi chúng tôi như những kẽ ác ôn, lúc nào cũng sẳn sàng "cho một mũi tên độc".

Từ đó các cô gái Mường trong bản cũng tự -nhiên hơn, cưới đùa mỗi khi tắm suối mà có chúng tôi đi lao động ngang qua, có khi còn chọc ghẹo nửa. Có anh trong phút chốc bốc đồng đã quên mình là tù đang đói rách, cũng gồng mình nhảy xuống tắm theo, chỉ tiếc là không có sẵn cục xà bông để tặng mấy cô Mường, lúc đó hẳn là muôn phần quý giá hơn cả viên kim cương đem tặng đào ở Sài–gòn nửa. Về sau mỗi cô gái Mường lại đươc đặt cho cái tên của một ca sĩ nổi tiếng, nào là Mai-Lệ-Huyền, Phương-Dung, Giao-linh, Phương-Hồng-Quế v…v…, để rồi lúc chiều về, trong khi ngậm-ngùi nhai từng hột bo bo, thường kể cho nhau nghe rằng hôm nay đi rừng gặp được ca-sĩ nào, ai nghe tưởng như mới đi phòng trà về mà tạm quên trong giây lát cái cảnh nước sông công tù mình đang sống.

Một hôm, một cô giáo hớt ha hớt hãi tìm tới chúng tôi, vì chồng cô, một bộ đội công-tác ở trong Nam được về nghỉ phép, bổng nhiên thấy mình mẩy nổi mề-đay lên đỏ rần, ngứa khắp cả người. Chúng tôi đoán là bị dị-ứng với trứng gà, vì thường ngày đi lao-động ngang qua trường học, thấy cô giáo cứ o bế mấy con gà để chờ ngày chàng về mà bồi-dưởng. Chúng tôi bèn lục lạo đươc mấy viên thuốc Phénergan đưa hết cho cô.

Mấy hôm sau đi lao-động gặp lại, chúng tôi hỏi : "Sao ? Anh nhà đã đở chưa ?" Cô vui vẻ trả lời : "Thuốc các anh cho hay quá, khỏi ngay". Chưa kịp hỏi thêm thì bổng thấy cô cúi mặt e thẹn, ấp úng nói thêm như không muốn cho chúng tôi nghe: " Nhưng ngủ li bì, về phép có năm ngày mà ngủ như chết suốt cả năm ngày" .Chúng tôi hối hận vì đã cho thuốc ngủ mà không dặn trước, làm cho cô phải bỏ lở một cơ-hội bằng vàng !

Thế rồi trạm-xá càng ngày càng đông khách, dân chúng từ xa cũng nghe đồn kéo lại để cho trạm-xá được hoạt-động đúng với danh-nghĩa y tế của nó. Thiện-cảm và uy -tín càng tăng thì, ngược đời thay, cấp chỉ-huy Trại càng lo lắng. Cuối cùng, Uỷ-viên Chính-trị trên Đoàn lập tức ra lệnh không được khám bệnh cho dân nửa, vì trái với chính-sách, và ný-nuận rằng từ mấy ngàn năm nay họ đã chửa trị bằng lá rừng thì đã sao đâu !

Chúng tôi trở lại lao-động, cũng đốn vầu đốn nứa như những anh khác.

Phải cái tội cao giò, tôi thường được chọn đi công tác gánh hàng ở xa, để gánh luôn tất cả tủi nhục của kiếp làm… tôi mọi. Buổi sáng ra đi thì còn dể chịu, trời mát, gánh nhẹ. Nhưng buổi trưa lúc trở về, trời nắng gắt miền núi như đốt cháy da, lại phải leo đèo, mồ hôi chảy giọt, bụng đói cồn cào, cái đầu nặng trỉu, chiếc đòn gánh đè nặng trên vai đang nghiền nát da thịt như những con dao. Người cán-bộ đi theo cũng không quên máng thêm vào chiếc nón cối, cái áo trấn-thủ mà hồi sáng mang trong người vì trời lạnh, nay không cần nửa thì tội gì mà không để cho rảnh tay, vì tay đang bận cầm cây roi, một thứ thời trang của cán-bộ quản-giáo khi đi bên cạnh tù. Đã thế mà khi gặp một bạn đồng-hành, cán-bộ cũng không quên niềm-nỡ mời :"Đồng-chí có mang gì không, đưa cho nó gánh luôn". Tôi nghe mà rụng-rời, mắt hoa lên mà không dám nhắm lại vì sợ ngả sẽ không bao giờ dậy lại được, cũng không dám nhìn xa hơn mấy đầu ngón chân vì sợ không đủ can-đảm để bước thêm...

Một hôm vì nhu-cầu cấp-cứu một bệnh-nhân tù đang nguy kịch, tôi được cử theo một cán-bộ đến bệnh-viện Phù-yên để xin mấy chai nước biển. Đã lâu bị giam hãm giữa bốn bức tường núi, nay được dịp thấy lại làng mạc với cảnh sinh-hoạt của nhân-dân, lòng cũng không khỏi thích-thú vì tầm mắt đươc hé rộng ra một chút và thỏa -mãn thêm tánh tò mò nghề-nghiệp muốn biết tổ-chức y-tế miền Bắc ra sao mà các "đồng-nghiệp " đề cao như là đúng hàng đầu trên thế-giới.

Huyện Phù-yên thuộc tỉnh Sơn La, nằm giữa một thung-lũng nhỏ, bốn bề là núi nhưng rất nên thơ. Từ trại tới huyện phải đi qua ngọn đèo Bang xinh xinh, có con đường mòn uốn quanh, có hoa rừng thơm ngát. Từ trên nhìn xuống gần giống như một bức tranh Tàu, mờ mờ ảo ảo., rải rát nơi nơi là nhũng túp lều lụp xụp bám theo sườn núi.. Bước vào huyện phải qua một con suối lớn, mùa khô thì chỉ là một suối đá hiền-hòa thơ-mộng, nhưng khi mưa xuống thì trở nên một thác lũ kinh-hoàng. Bắt ngang qua suối là một cây cầu treo, gió thổỉ đu đưa, mà lại được anh em tù gán cho cái tên rất hấp-dẩn để cho trí tưởng-tượng được nâng cao là cầu Golden Gate. Mỗi khi gánh hàng qua Golden Gate, tôi có cảm-tưởng như mình đang là một nghệ-sĩ đu giây trong một đoàn xiệc mà có thể hụt tay bất cứ lúc nào..

Bên kia cầu là một túp lều không vách, gió lộng bốn phía, đó là trường học với dăm bảy em bé ốm tong teo, bụng ỏng thề lề, mỗi đứa cầm một que củi đang cháy quơ qua quơ lại trước người cho đở lạnh trong những bộ áo Mường mỏng manh. Trong khi các em nghêu ngao hát bài "Hôm qua em mơ thấy Bác Hồ...." thì cô giáo đang chăm chú ngồi vá áo, mắt đăm chiêu, hình như cũng đang mơ thấy những chuyện mà dĩ-nhiên khác hơn là thấy Bác Hồ. Hình ảnh đó làm cho tôi có cảm tưởng rằng Cụ Cao-Bá-Quát đã đi ngang qua đây để cảm-hứng mấy câu thơ:"Một thầy một cô một chó cái, Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi."

Bên cạnh trường là một cái "cối giả gạo" có lẽ đã được sáng chế từ đời vua Thần Nông. Nước từ con suối nhỏ đươc dẩn qua một máng xối đục từ một thân cây, chảy xuống một thân cây dài khác, một đầu là cái chày, đầu kia đục thành một máng chứa nước. Hể máng đầy nước thì cái chày tự -động ngóc lên, rồi nước bị đổ ra ngoài để cho chày giả xuống cái cối ở đằng trước. Cứ thế mà tiếp-tục, cối cứ giả ngày giả đêm, tạo nên một tiếng đập nhịp nhàng khô khan để đánh thức cô giáo và lủ học trò khỏi ngủ gật.. Năm thì mười họa, một năm vài lần cối mới có gạo để giả, vì dân phải đóng cho nhà nước hết ba phần tư số thu hoạch, vốn đã nghèo nàn trên những mãnh ruộng bằng bàn tay xếp thành từng tầng trên sườn núi.

Khi đến cổng bệnh-viện, tôi được chứng-kiến một cảnh tấp-nập khác thường, nghỉ bụng rằng chương-trình y-tế ở đây đã thành-công vì được dân-chúng hưởng-ứng đông đảo. Mọi người bu quanh một tấm bảng, hình như để theo dỏi một thông-báo gì quan-trọng của bệnh-viện về một biện-pháp y-tế nào đó chăng. Lại gần, tôi thấy rõ thông-báo như sau "Hôm nay bệnh-viện có mổ lợn, bán theo giá chính-thức. Đồng-bào nào muốn mua xin ghi tên ở phòng ngoại-chẩn". Tôi suýt té ngửa vì sau bao nhiêu năm hoạt động trong ngành y- tế tôi vẫn chưa biết được rằng cung-cấp thực-phẩm cho dân chúng cũng là một khía cạnh trong chương-trình y-tế.

Trái với cảnh xôn-xao ngoài cổng, trong bệnh viện lại vắng tanh. Tìm cho ra người thủ-kho để xin thuốc thì được biết cô gái Mường này bận đi hái bông lau về làm nệm để tặng một cô bạn gái sắp về nhà chồng, một tục-lệ không thể bỏ được của người Mường. Lân la mãi mới gặp được bác-sĩ trực, vị này không mấy niềm-nỡ vì đang bận cải-hoạt (có nghĩa là cải-tiến sinh-hoạt để cho đời sống vui tươi hơn) bằng cách ngốn nghiến mấy củ khoai. Bác-sĩ trực cho biết "Chỉ có bác-sĩ thủ-trưởng mới có quyền quyết-định, nhưng bác-sĩ đang bận mổ."

Tôi thất-vọng chán chường, nghỉ đến bệnh-nhân ở trại đang hấp-hối mong chờ mấy giọt nước hồi-sinh, nghỉ đến con đường về vừa nắng gắt vừa phải leo giốc, nghỉ đến cái dạ-dày đang cồn-cào vì sáng nay không may đọc được mấy chữ "thịt lợn" trên bảng thông-cáo mà nước bọt cứ chảy dài (chẳng lẽ tôi lại biến thành con chó của Pavlov, hể nghe tiếng chuông là dịch tiêu -hóa cứ tuôn chảy, rồi hay sao?) Tôi buồn rầu thất vọng, không biết bao giờ bác-sĩ trưởng mới mổ xong, vã lại áo quần lem-luốc thế này làm sao gặp được bác-sĩ ở khu giải -phẩu. Tôi đánh bạo tìm đến bác-sĩ trực hỏi : "Thế tôi có thể gặp bác-sĩ thủ -trưởng được không ?"

Lần này vị y-sĩ trực vui vẻ trả lời (vì đã ngốn xong mấy củ khoai): " Được chứ, có gì đâu, anh ấy đang bận mổ lợn dưới ao đấy mà". Tôi như từ cung trăng rơi xuống !

Quả nhiên, cách đó không xa, cạnh bờ ao, năm ba người đang bao quanh một con lợn đã cạo lông trắng nõn nằm trên một tấm thớt lớn. Trong khi đó, bác-sĩ thủ-trưởng bệnh-viện, mình trần, quần xắn tới bẹn, áo bờ-lu vắt ở hàng rào, đang nhanh nhẹn ra tay mổ bộ đồ lòng với tất cả sự nhanh nhẹn và khéo léo của một...đại giải -phẩu gia. Lẽ tất nhiên tôi phải chờ cho ông bạn đồng-nghiệp thanh toán xong con lợn để giải -quyết cho mấy chai nước biển rồi mới hân-hoan ra về. Ra tới cổng, tôi gặp lại đám dân-chúng cũng đang hân hoan thở phào nhẹ nhõm như tôi khi được tin bác-sĩ đã mổ xong.... lợn.

Trên đường về, lần này chiếc đòn gánh đè nặng lên vai không còn cho tôi cảm-giác đau đớn như trước nửa, vì đầu óc tôi đang bị ám-ảnh bởi một ý-tưởng muôn phần nặng-nề hơn, vì tôi đã nhìn thấy được sự thật, đã chứng-kiến tận mắt một hiện-tượng sinh-hoạt phản-ảnh lối sống của những "đồng-nghiêp" bên kia bức màn tư-tưởng.

Phương-vũ VÕ Tam-Anh.

In Văn Hóa, Quán Chiếu, Giáo Dục Tags Hồi Ký Của Một Bác Sĩ, Võ Tam Anh
Comment

Ngựa (BÁT SÁCH)

March 2, 2026 Ninh Tran

Ngựa


Một kỷ có 12 con giáp. Mỗi độ xuân về, các báo thi nhau viết về con giáp của năm sắp tới, và Tập San Y Sĩ cũng không tránh khỏi thông lệ đó.


Bát Sách đã viết hai bài về con dê và con trâu; Năm Mùi Bát Sách cà kê dê ngỗng đủ thứ để chọc cười thiên hạ. Năm Sửu, Bát Sách tản mạn về mấy câu ca dao tục ngữ có liên quan tới con trâu. Sang năm Ngọ, Bát Sách vừa đủ một giáp, lên lão, nên lại viết một chút về con giáp mà mình cầm tinh. Bát Sách không nhắc tới ca dao tục ngữ, không nói đến các giống ngựa hay như ngựa Đại Uyển, ngựa Mông Cổ, mà viết về những con ngựa nổi tiếng trong lịch sử và tiểu thuyết.


Trong thần thoại Hy Lạp, người ta kể chuyện con ngựa thành TROIE. Hồi đó, đế quốc Hy Lạp vây thành TROIE đã 10 năm mà không hạ nổi. Sau, Ulysse dùng mưu, làm một con ngựa thật lớn, rỗng bụng, để các dũng sĩ núp ở bên trong, rồi giả thua, cho Hector chiếm ngựa đem vào thành. Đêm đến, Ulysse cùng các chiến hữu chui ra, giết quân canh, mở cổng thành để quân Hy Lạp tràn vào. Thành TROIE bị chiếm, và người đẹp Hélène qua tay người khác.


Ở Việt Nam, ai cũng biết con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên Vương, người anh hùng đã đánh đuổi giặc Ân, cứu nước. Phù Đổng Thiên Vương được quân lực Việt Nam Cộng Hòa tôn vinh làm Thánh tổ của ngành thiết giáp, binh chủng xung kích mũ đen rất hào hùng mà Bát Sách đã hãnh diện phục vụ trong 2 năm đầu của đời quân ngũ.


Đời Trần, sau khi oanh liệt đánh bại quân Mông Cổ lần thứ hai, Thánh Tông và Nhân Tông trở về đế đô hoang tàn, thấy những con ngựa đá ở hoàng thành cũng tang thương, vương đầy bùn đất, tưởng tượng rằng ngựa đá cũng vì dân vì nước mà tham chiến chống ngoại xâm; Thượng hoàng Thánh Tông đã cảm tác 2 câu thơ:


Xã tắc lưỡng bồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.


Xã tắc hai phen bon ngựa đá

Non song muôn thủa vững âu vàng.


Trung Hoa, xứ của những huyền thoại, có rất nhiều con ngựa nổi tiếng. Trong Anh hùng xạ điêu, Quách Tĩnh cưỡi Hãn huyết bảo câu - Bát Sách nghĩ phải gọi là Huyết hãn bảo câu mới đúng, vì con ngựa nầy có mồ hội đỏ như máu. Hình như đó là một loại ngựa Mông Cổ đặc biệt, vóc nhỏ nhưng khỏe và chạy rất nhanh, nên tuy chở cả 2 vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung mà các ngựa khác không theo kịp. Cặp vợ chồng này sát cánh nhau, len lỏi trong chốn giang hồ, nhờ Huyết hãn bảo câu mà nhiều phen thoát hiểm.


Thuyết Đường là một bộ tiểu thuyết, nửa lịch sử, nửa hoang đường, trong đó có nói tới 2 con ngựa rất đặc biệt:


Hô lôi báo là ngựa của Thượng Sư Đồ, tướng nhà Tùy. Con ngựa này đuôi sư tử, lông loang lổ như lông báo, cái bướu trên đầu có chùm lông trắng. Khi giao tranh, nếu bất lợi, Thượng Sư Đồ nhổ một sợi lông trên bướu, Hô lôi báo sẽ gầm lên như sấm, phun khói đen mù mịt, làm ngựa của đối phương ngã lăn ra. Tần Thúc Bảo, tướng nhà Đường, nhiều lần dùng mưu mới cướp được Hô lôi báo- Trình Giảo Kim, bạn Tần Thúc Bảo, vì thù Hô lôi báo làm mình ngã ngựa, đã lén nhổ hết chùm lông trắng nên nó hầu như bị câm, cả đời chỉ gầm thêm được có 3 lần.


Mộc vĩ câu là ngựa của Tả Hùng, đại tướng Cao Ly. Ngựa nầy không có đuôi- khi chủ vỗ mông thì nó thét lên một tiếng, và lòi cái đuôi cứng như gỗ, dài hơn một trượng, bất thần quật vào đối phương. Trong trận tranh võ trạng ở Dương Châu, Ngữ Vân Thiệu là anh hùng thứ 5 đời Tùy Đường, bị đuôi của Mộc vĩ câu đập chết. Khi đó, Tần Thúc Bảo cưỡi Hô lôi báo ra đấu với Tả Hùng. Anh này cũng dùng miếng cũ định giết đối phương, nhưng Thúc Bảo, vì đã đề phòng nên tránh thoát. Đuôi của Mộc vĩ câu đánh trúng đầu Hô lôi báo. Hô lôi báo đau quá, gầm lên một tiếng, Mộc vĩ câu ngã lăn ra, quăng Tả Hùng xuống đất : chủ và ngựa đều bị Thúc Bảo đảm chết.


Thời Hán Sở tranh hùng, nổi tiếng nhất là ngựa Ô Truy của Hạng Vũ. Con ngựa này liên quan đến một thiên tình sử tuyệt đẹp, vừa hào hùng, vừa bi thảm. Ngày đó Hạng Vũ còn trẻ tuổi, chưa có tiếng tăm gì, nhân đi qua thôn Nam-Phụ, đã giúp dân trừ một con quái vật thường đến giết người và phá hoại mùa màng. Thật ra, quái vật đó chỉ là một con thần mã rất cao lớn, hùng dũng, lông đen tuyền mà Hạng Vũ đặt tên là Ô Truy. Vì tướng mạo oai phong, vì tài nghệ siêu quần, vì có công với dân làng mà Hạng Vũ lọt vào mắt xanh của người đẹp Ngu Cơ, và hai người nên duyên cầm sắt. Trong suốt thời gian chinh chiến, tranh hùng với Lưu Bang, Hạng Vũ với Ngu Cơ lúc nào cũng sát cánh như hình với bóng.


Tại Cai Hạ, Hạng Vũ bị quân Hán vây khổn, nhưng binh lực chưa đến nỗi kiệt quệ. Với tài vũ dũng của mình, Hạng Vũ vẫn có thể phá vòng vây, trốn thoát để chờ ngày phục hận. Đêm đó, trời thu buồn man mác, sương lạnh mịt mờ, chợt có tiếng tiêu của Trương Lương (tướng Hán) văng vẳng từ xa vọng lại, tiếng còn, tiếng mất rất bi ai não nùng, toàn những điệu ca buồn của nước Sở. Quân của Hạng Vũ, vốn người Sở, nghe tiếng tiêu động tình hoài hương từ từ bỏ trốn hết... Lúc gần sáng, Hạng Vũ chỉ còn hai tướng Chu Lan, Hoàn Sở và 800 đệ tử ở bên mình.


Hạng Vũ sai bầy tiệc, cùng Ngu Cơ đối ẩm. Lúc đó, Hạng Vũ dường như nản chí, tuyệt vọng, than thở cùng Ngu Cơ:


Lực bạt sơn hề ! khí cái thế.

Thời bất lợi hề ! Truy bất thệ,

Truy bất thệ hề ! khả nại bà ? Ngu hề !

Ngu hề ! nại nhược hà ?


Cụ Tản Đà dịch như sau:

Sức nhổ núi chừ! Hùng khí đời ai bì

Thời không lợi chữ! Con ngựa Truy không đi.

Ngựa Truy không đi chừ! Biết làm sao ?

Ngu Cơ chứ! Ngu Cơ. Tính làm sao?


Ngu Cơ họa lại trong tiếng nấc nghẹn ngào:

Hán binh dĩ lược địa,

Tứ diện Sở ca thanh.

Đại vương chí khí tận.

Tiện thiếp bà tiêu sinh ?


Bài này, Bát Sách mạn phép dịch thoát theo thể lục bát:

Hán binh làm chủ chiến trường

Điệu ca nước Sở bốn phương não nùng

Đại vương chí khí đã cùng

Thiếp xin liều thác tạ lòng tri âm.


Sau đó Ngu Cơ tự sát bằng chính thanh gươm của Hạng Vũ. Hạng Vũ đau đớn phẫn hận, nhảy lên Ô Truy, phá 8 vòng vây quân Hán mà không ai địch nổi. Hai tướng thân cận bị vây khổn, đã liều mình, các đệ tử cũng lần lượt gục ngã. Chiều tối, khi chạy đến một ngôi chùa hoang, Hạng Vũ chỉ còn 9, 10 đệ tử. Để Ô Truy nghỉ ngơi, Hạng Vũ cặm cụi mài gươm, chuẩn bị cho cuộc chiến mất còn sắp tới. Sáng ra, quân Hán trùng trùng điệp điệp reo hò đuổi theo. Hạng Vũ vừa chiến đấu vừa chạy đến Ô Giang. Có người đình trưởng đậu thuyền đợi Hạng Vũ, khuyên Hạng qua sông. Thấy tình hình đã tuyệt vọng, nhưng với tinh thần bất khuất, Hạng quyết định ở lại tử chiến, đem ngựa Ô Truy tặng đình trưởng. Ô Truy nhìn chủ, mắt buồn vời vợi... Khi thuyền đến giữa sông, nó nhẩy xuống nước trầm mình, Hạng Vũ sau đó cũng tuẫn tiết. Bên bờ Ô giang, còn ma kiếm thạch là nơi Hạng Vũ mài gươm. Nơi phần mộ của Ngu Cơ, mọc lên một loại cỏ xanh tuyệt đẹp, gọi là Ngu mỹ nhân thảo. Người sau gọi mộ Ngu Cơ là Thanh trủng, vì ở đó cỏ màu xanh, trong khi ở chung quanh toàn là cỏ màu vàng.


Đời Tam Quốc, có Đích Lư và Xích Thố


ĐÍCH LƯ là con ngựa cao lớn, vạm vỡ, cực kỳ hùng dũng của Trương Vũ. Trương bại trận, Triệu Vân cướp được ngựa, dâng cho Lưu Bị là chủ tướng của mình. Lưu Bị lúc đó còn hàn vi, nương nhờ Lưu Biểu nên lại đem ngựa dâng Biểu. Biểu thích lắm đi đâu cũng cưỡi. Có người xem tướng ngựa giỏi là Khoái Việt tâu với Biểu:


Con ngựa này, dưới mắt có vũng chứa lệ, trán có điểm trắng, chính là giống Đích lư hại chủ, chúa công không nên cưỡi.

Biểu nghe vậy, sợ lắm, đem Đích lư trả lại Lưu Bị. Có người đem lời Khoái Việt mách với Lưu Bị, Bị khẳng khái trả lời:

Tiên sinh yêu mà dạy cho, Bị xin thâm cảm tấm lòng; nhưng nghĩ người ta sống chết có số mạng, há một con ngựa có thể hại nổi.


Bị tuy được Biểu tín cẩn, nhưng vợ Biểu và các tướng chỉ muốn giết Bị để trừ hậu hoạn, vì họ biết Bị là tay anh hùng, có chí lớn. Một lần, các tướng của Biểu đuổi gấp, Bị một mình một ngựa chạy tới Đàn Khê thì đường cùng. Bị giục ngựa xuống khe, tính lội qua thì ngựa sa lầy, Bị đã than:


Mày thật là giống hại chủ. Đích lư, Đích lư hôm nay hại ta rồi !

Ngựa bỗng vọt lên, nhảy qua khỏi Đàn Khê. Bị thoát nạn và gặp Tư Mã Huy, người đã giới thiệu cho Bị sau này tìm được Phục Long Gia Cát Lượng và Phượng Sồ Bàng Thống là hai quân sư đại tài. Tiếc rằng truyện không nói Đích lư về sau ra sao. Khi vào chiếm Tây Thục, Bị đã đổi ngựa cho Bàng Thống lúc xuất quân, Thống và ngựa đều bị loạn tên mà thác ở Lạc Phượng Ba. Chả hiểu con ngựa chết đó có phải Đích lư hay không?


XÍCH THỐ: Là con ngựa toàn thân đỏ như lửa, không một sợi lông tạp màu, dài một trượng, cao 8 thước, oai dũng như rồng như hổ, ngày đi ngàn dăm. Xích Thố vốn của Đổng Trác, chức Thái sư nhà Hán. Lúc đó, Đổng Trác đang kình địch với Đinh Nguyên, cha nuôi của Lã Bố. Bố là người rất khỏe, nhưng hữu dũng vô mưu, lại bất nhân bất nghĩa nên Lý Túc, bộ hạ của Trác, khuyên Trác đem Xích Thố tặng Bố để dụ hàng. Quả nhiên, Bố giết Đinh Nguyên, theo Trác, và lại nhận Trác làm cha nuôi. Sau Tư Đồ Vương Doãn dùng mỹ nhân kế, cho Điêu Thuyền quyến rũ cả Trác lẫn Bố để hai tên này ghen mà giết nhau. Kẻ bất nghĩa Lã Bố, một lần nữa, lại giết cha nuôi là Đổng Trác. Sau đó loạn lạc lung tung. Khi Lã Bố bị Tào Tháo, lúc đó là Thừa tướng nhà Hán, giết chết, Xích Thố về tay Tháo.


Quan Công, em kết nghĩa của Lưu Bị, khi bị Tháo vây khốn ở Thổ Sơn, thế cùng lực kiệt phải đầu hàng. (Quan Công tên Vũ, trước khi kết nghĩa với Lưu Bị làm nghề bán đậu hũ, được dân Tàu kính trọng, kiêng tên nên gọi như vậy). Tháo vốn yêu tài Quan Công nên rất hậu đãi, 3 ngày một tiệc nhỏ, 5 ngày một tiệc lớn và đem tặng con ngựa Xích Thố. Lúc đó, Lưu Bị thất lạc, Quan Công phải bảo vệ gia đình nghĩa huynh, phò nhị tẩu, vợ của Bị là Cam và My phu nhân. Tháo vốn là tay thâm hiểm, để Quan Công ở chung nhà với chị dâu, tạo dịp cho xẩy ra việc loạn luân. Theo truyền thuyết, đêm đêm, Quan Công chẻ cây nến làm hai, một nửa để phòng nhị tẩu, một nửa để phòng mình, đọc sách. Khi Quan Công dò được tin Lưu Bị, ông treo ấn “Hán Thọ Đình Hầu” ở giữa nhà, quá ngũ quan, trảm lục tướng, vạn dặm tìm nghĩa huynh.


Khi thế chân vạc đã thành 3 nước là Ngụy (Tào Tháo), Ngô (Tôn Quyền), Thục (Lưu Bị) chia 3 nước Tàu, sử gọi là thời Tam quốc. Quan Công trấn thủ Kinh Châu 20 năm, sau bị tướng Ngô là Lã Mông, Lục Tốn dùng mưu, cướp Kinh Châu, Quan Công thua, chạy về Mạch Thành. Trên đường vào Thục, Quan Công bị phục kích. Quân Ngô dùng thừng và mác móc chân Xích Thố, Quan Công ngã ngựa bị Mã Trung bắt được. Xích Thố lúc đó về tay Mã Trung, nhưng ngựa thương chủ bỏ ăn mà chết.


Quan Công với xích thố, và Quan Bình, Chu Xương có rất nhiều huyền thoại. Dân Trung Hoa thờ ông khắp nơi. Đôi câu đối nói về ông rất được truyền tụng:

XÍCH diện bỉnh XÍCH tâm, kỵ XÍCH thố truy phong, trì khu thời vô vong XÍCH đế.

THANH đăng quan THANH sử, trượng THANH long yểm nguyệt, ẩn vi xứ bất quý THANH thiên.

(mặt đỏ như lòng son, cưỡi ngựa xích thố truy phong, rong ruổi nơi đâu cũng không quên xích đế (vua Hán). Bên đèn xanh, đọc sử xanh, cầm đao rồng xanh vành nguyệt, dù ở nơi vắng vẻ nào cũng không thẹn với trời xanh).


Viết đến đây, Bát Sách nghe lòng bùi ngùi. Đọc lại sách vở, người ta có khi buồn man mác, có khi phẫn hận, có khi thương cảm, có khi băn khoăn tự hỏi tại sao định mệnh trớ trêu để dòng lịch sử có trăm điều ngang trái.


Hạng Vũ với Lưu Bang chẳng hạn. Các sử gia thường cho rằng, Hạng Vũ vì bất nhân, tàn bạo nên thất bại, Lưu Bang vì nhân nghĩa mà thành công. Sự thật chưa hẳn đã đúng như vậy. Người ta trách Hạng Vũ đã chém Tống Nghĩa và giết Nghĩa đế. Tống Nghĩa là đại tướng, có nhiệm vụ cứu nước Triệu, nhưng chần chờ không chịu tiến quân, Hạng Vũ chém Tống đem quân cứu được nước Triệu. Chém một người mà cứu được cả nghìn người khỏi bị chết oan vì chiến bại, đó chính là quyết định hợp thời của một đại tướng có tài. Nghĩa đế là một đứa trẻ, dòng dõi vua Sở, được Hạng Lương, chú của Hạng Vũ, tôn lên làm vua. Trong khi Hạng Vũ xông pha trận mạc, trăm chết một sống, để cướp đất chiếm thành thì Nghĩa đế ngồi hưởng phú quý, lại còn lên mặt tác oai tác phúc thì nếu ở địa vị Hạng Vũ, mọi người bình thường có lẽ cũng sẽ làm như vậy. Vũ giết Nghĩa đế cũng như vua Lê Thái Tổ của ta giết Trần Cao mà thôi. Sự thể nó phải như vậy, có chỉ mà gọi là ác.


Nếu Hạng Vũ bất nhân thì đã giết chết Lưu Thái Công và Lã hậu, là cha và vợ của Lưu Bang, khi hai người này lọt vào tay Hạng, và chính Lưu Bang cũng không toàn mạng khi hội yến ở Hồng Môn. Lưu Bang nhân ở chỗ nào ? Khóc Nghĩa đế, khóc Hạng Vũ, chỉ là nước mắt cá sấu. Nếu Bang có nhân có nghĩa, thì đã không giết Hàn Tín là người có công lớn trong việc tranh bá đồ vương của mình. Lưu Bang cũng như cộng sản ngày nay, toàn lên giọng giả nhân giả nghĩa, vì nước vì dân để lừa thiên hạ. Hạng Vũ thua chỉ vì không có mưu thần phò tá. Lưu Bang thắng nhờ công sức của Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà.


Giờ đến truyện Quan Công. Ông là bố nuôi của Bát Sách. Số là ngày xưa, song thân của Bát Sách sinh được 2 gái rồi bằng đi 5 năm, không sinh nở gì nữa. Các cụ thường nói “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” nghĩa là bất hiếu có 3 không con nối dõi là tội lớn nhất. Song thân Bát Sách lúc đó rất lo buồn. Nhờ một bác sĩ Pháp là Paterson điều trị, thân mẫu Bát Sách khỏi bệnh nên mới có người viết bài ngày nay ! Song thân của Bát Sách đâu biết rằng, sau Bát Sách còn mấy thằng em trai nữa, nên khi Bát Sách ra đời, hai cụ bèn đem Bát Sách lên đền Quan Thánh, tức là đền thờ Quan Công, bán Bát Sách cho ông để ông bảo vệ. Tuy là con nuôi Quan Công, nhưng đọc Tam Quốc Chí thấy họ khen Quan Công quá mức, những chỗ khen nhiều khi gượng gạo làm Bát Sách cũng thấy khó chịu. Họ khen ông trung nghĩa, nhưng khi thất trận ở Thổ Sơn, ông đã hàng Tào Tháo. Một trong những điều kiện ông đưa ra là “Hàng Hán chẳng hàng Tào”. Lúc đó, ông đang phò Lưu Bị, còn Tào Tháo là Thừa tướng nhà Hán. Dù Tào Tháo lộng hành, ép chế vua Hán, điều kiện của ông vẫn có vẻ ấu trĩ và hoạt kê. Họ khen ông là quang minh chính đại, phò nhị tẩu mà không làm điều ám muội. Thời gian ông thất lạc với Lưu Bị, cùng nhị tẩu ở Hứa Xương là 12 năm ! Thời gian này quá dài, liệu ông có giữ được cho mình trong trắng?


Bát Sách hỏi như vậy là có lý do. Theo “Tam Quốc ngoại truyện” La Quán Trung, tác giả Tam Quốc, khi viết đến đoạn Quan Công phò nhị tẩu, đã viết không giống với truyện ta đọc ngày nay. Một đêm, họ La mơ thấy Quan Công hiện về khẩn khoản “xin tiên sinh nhẹ tay nên họ La mới xé hết đoạn đã viết và viết lại. Có thể Quan Công là một tướng tài (trấn thủ Kinh Châu 20 năm), rất can đảm (để Hoa Đà mổ tay, nạo xương mà không cần thuốc tê) nhưng ông tự cao tự đại một cách quá đáng. Chẳng hạn, khi Tôn Quyền cho người sang cầu thân, xin cưới con gái Quan Công cho con trai mình, Quan Quân đã mắng sứ giả:


Con gái ta là giống hùm, ai gả cho giống chó.

Mà lúc đó, Tôn Quyền làm vua nước Ngô, còn Quan Công tuy trấn thủ Kinh Châu, nhưng xuất thân chỉ là người bán đậu hũ. Lại nữa, lúc thua trận, chạy thất điên bát đảo tới Mạch Thành, tìm đường về Thục, các tướng khuyên đi đường nhỏ để tránh phục binh, Quan Công còn nói: dẫu có phục binh, ta há sợ gì ?


Sơ sơ thế thôi, Bát Sách không dám viết nhiều, sợ mang tội bất hiếu với nghĩa phụ.


Đang nói về ngựa mà lại xoay qua tản mạn về người và việc thì quả nhiên Bát Sách vẫn còn...bát sách.


Trở lại chuyện ngựa. Hết ngựa hay thì đến phiên 3 con ngựa hèn là Bát Văn, Bát Vạn và Bát Sách. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã nên 3 con ngựa này mới gắn bó với nhau. Hồi ở Việt Nam cả 3 tung vó từ Bắc vào Nam, chạy cùng trời đất. Sau ngày quốc hận, lại vượt biển tới Mỹ châu. Đang là ngựa hoang, tự do phơi phới, giang hồ quen thói vẫy vùng, nhất đán bị đeo hàm thiếc, tròng dây cương, bịt mắt. Ngựa hoang bèn thành ngựa kéo xe ! Ngựa Bát Văn còn đỡ, được chủ khéo nuôi, có da có thịt. Ngựa Bát Vạn và Bát Sách thì than ôi, gầy trơ xương, ngày ngày khập khễnh kéo xe thổ mộ. Mỗi khi nhìn bức tranh “Thiên mã hành không” con ngựa què về già không khỏi ngậm ngùi nhớ về dĩ vãng.


Nhưng thôi, năm ngựa tới rồi, xin chúc quý vị khỏi phải làm thân trâu ngựa, và chúc cho các ngựa khác đỡ phải kéo xe: mà ví dầu có phải kéo xe đi nữa thì đừng có ai nhè bánh xe mà thọc gậy.


BÁT SÁCH

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Ngựa, Bát Sách
Comment

CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ (VŨ THẾ THÀNH)

March 2, 2026 Ninh Tran

  1. Tôi không hiểu sao, tiếng Việt mình gọi là tình mẫu tử, tình phụ tử - chữ tình bao hàm bản năng trong đó, không thể tách rời. Nhưng hiếu thảo lại là - "lòng" hiếu thảo. Chữ "lòng" mang tính tự nguyện, nên hiếu thảo là lựa chọn của tâm, không phải nghĩa vụ. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học. Tôi chỉ cảm nhận như thế.

   Lòng hiếu thảo có tính phổ quát, dù là tự nguyện, thì hiếu thảo ở đâu, phương Đông hay phương Tây gì cũng thế. Chỉ có điều thể hiện khác nhau.

   Câu chuyện ấy khiến tôi nghĩ, có lẽ mỗi nền văn hóa có một cách riêng để thể hiện lòng hiếu thảo. Tôi đọc được status của một phụ nữ Mỹ chia sẻ chuyện cô đến thăm mẹ ở viện dưỡng lão. Cả tuần cô mới sắp xếp được một ngày đến thăm, tuần nào cũng thế. Khi cô đến, bà cụ đã ngồi chờ sẵn ở sân viện. Hai mẹ con chuyện trò đủ thứ. Khi cô về, bà cụ cũng ngồi ở sân viện, dõi mắt trông theo. Cô lên xe, ngoái lại, vẫn thấy cụ đang nhìn theo. Cô chia sẻ điều này trên Facebook, bằng giọng văn viết vội, không đầu không đuôi, lại sai chính tả. Cô bị ám ảnh bởi đôi mắt "trông theo" của mẹ.

   Tôi cũng bị ám ảnh khi đọc những dòng chia sẻ của cô. Tôi nhớ lại đôi mắt của mẹ tôi, cũng dõi nhìn tôi như thế, khi tôi phải đi công tác xa vài ngày, trong những ngày tháng bà bệnh nặng. Bà sợ không kịp nhìn thấy tôi lần cuối trước khi qua đời.

   Với phương Tây, lòng hiếu thảo không đồng nghĩa với "ở cạnh và tự tay chăm sóc". Bác sĩ và điều dưỡng có chuyên môn chăm sóc tốt hơn. Điều này rất thực tế. Đi làm cả ngày, có khi đi công tác xa, chăm sóc thể nào được, khi tuổi già mong manh.

   Hiếu thảo là làm thế nào để cha mẹ được chăm sóc đúng cách, tự quyết định mà không lệ thuộc con cái. Con cái chỉ cần thỉnh thoảng tới thăm. Và nếu cần, hỗ trợ viện phí cho nhà dưỡng lão.

  Ở ta, ảnh hưởng văn hóa Nho giáo, lòng hiếu thảo bị ràng buộc nặng nề bởi đạo lý và xã hội, và cả sự kỳ vọng của cộng đồng. Chút tiền trợ cấp, theo pháp luật, không nói lên điều gì về hiếu thảo. Chăm sóc cha mẹ già mới là vấn đề.

2.   Thế hệ con cái bây giờ sống trong đô thị, dù làm việc gần hay xa, đều muốn ở riêng. Mô hình gia đình, tam tứ đại đồng đường hầu như biến mất, may ra còn sót lại đâu đó ở nông thôn.

   Cha mẹ sống chung với một đứa con nào đó cũng đang dần thu hẹp. Lập gia đình là ra ở riêng. Vẫn thỉnh thoảng về thăm nom cha mẹ, vẫn hỏi han qua điện thoại hằng ngày. Nếu ở chung, con cái sẽ chăm sóc cha mẹ theo cách riêng của chúng. Áp lực xã hội còn quá nặng nề, chưa đủ để con cái nghĩ đến đưa cha mẹ già vào viện dưỡng lão, dù là đóng phí không rẻ, tùy dịch vụ.

   Bọn già tụi mình cũng thế. Căn nhà không chỉ là căn nhà, mà đó còn là tài sản chắt chiu, chất chứa biết bao ký ức một thời vất vả, vì bổn phận gia đình. Căn phòng ở viện dưỡng lão dù tiện nghi đến đâu cũng chỉ là nhà thuê, không phải là "home", mà là "house".

   Sự xung đột nửa tây nửa ta như thế quả là một thách thức để thích nghi. Thách thức không chỉ với con cái, mà còn với tuổi già. Con cái chăm sóc chúng ta theo kiểu hiện đại. Còn tuổi già bọn mình mong muốn những gì ở tuổi xế chiều? Khi mà đầu óc lãng đãng, chuyện xưa thì nhớ, chuyện nay thì quên.

   Chúng ta chưa đủ tinh thần để tách rời khỏi căn nhà. Hầu hết người già muốn được sống gần con cháu, không chỉ vì cần giúp đỡ vật chất, mà vì là mong muốn được hiện diện, được nghe tiếng người, được thấy đời sống tiếp nối. Mong muốn đó không phải là "lệ thuộc" vào con cái, mà là một cách níu kéo sợi dây với đời.

   Đôi lúc chúng mang con cái về nhà gửi cả ngày, vợ chồng chúng đi chơi. Vừa là nhờ vả, vừa là ân huệ với tuổi già - mà chắc là ân huệ thiệt. Tuổi già thèm thủ thỉ với trẻ thơ. Chẳng phải chúng ta đã mua bánh kẹo sẵn, chờ đợi bọn trẻ đến đấy sao? Vừa chăm sóc, vừa chiều chuộng, vừa hỏi han. Chỉ có già mới kiên nhẫn lắng nghe, những câu hỏi thật nhanh, và quên thật nhanh của trẻ con. Dù sao, đó cũng là chút chứng tỏ mình còn có ích, con cái mới nhờ vả, chứ chưa vô dụng.

   Có khi mình trông con cho chúng, không đúng như chúng dặn, là bị cằn nhằn. Nghĩ cũng buồn!

   Dù sao, con cái còn quan tâm, chăm sóc đến mình là điều đáng mừng. Dù là quan tâm cho có lệ, hay thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi cũng là điều đáng mừng rồi.

   Nếu có đứa nào tới lui chăm sóc là điều vượt quá mong đợi của tuổi già. Hãnh diện chứ! Nhưng mọi chăm sóc của chúng thường theo xu hướng hiện đại. Có điều gì đó mà đôi khi tuổi già miễn cưỡng nghe theo để khỏi phụ lòng.

   Miễn cưỡng nghe như là chịu đựng… Có cách quan tâm, chăm sóc nào khác không?

 3.  Thỉnh thoảng, con cái đặt "món ngon mẹ nấu", ship về tận nhà cho mình, nhưng chẳng bao giờ chúng đãi người già "món ngon con nấu".

   Con nấu thế này, có ngon như hồi xưa mẹ nấu không? Khẩu vị người già dù đã thay đổi ít nhiều, nhưng trong khoảnh khắc sẽ hồi tỉnh lại. Tuổi già sẽ chỉ bảo, phải làm thế này, thêm thứ nọ mới đúng. Già rồi, đi đứng hết nổi, nhưng cũng cảm thấy mình còn có ích đôi chút, còn "truyền nghề" cho chúng. Niềm vui tuổi già chỉ giản dị thế thôi.

   Nhưng có đứa nào chịu làm "món ngon con nấu" đâu. Chúng đặt hàng vài phút là có "món ngon mẹ nấu". Ký ức ẩm thực tuổi già bị lãng quên!

Người già thèm những món ăn quen thuộc. Thèm để nhớ một thời gian khổ, mà sao hồi đó ngon lạ thường. Món phá lấu, chẳng hạn. Hồi trước, ngày nào rủng rỉnh chút đỉnh, tôi mua đĩa phá lấu. Phần chúng nhiều gấp ba bốn phần mình. Nhìn chúng ăn ngon lành, ăn xong còn thòm thèm. Cha mẹ nào nuốt nổi phần mình nữa.

   Bây giờ thèm, mình mua món phá lấu. Chúng cằn nhằn, chê món phá lấu mất vệ sinh. Ăn nội tạng heo bò làm tăng mỡ máu, có hại cho sức khỏe. Chúng ép mình phải ăn "món ngon mẹ nấu" mà chúng đặt hàng. Có đứa còn ép mình ăn kiêng, chỉ toàn món chay hảo hạng. Không ăn đúng như thế lại cằn nhằn.

   Hồi đó mình thèm món phá lấu, nó cũng thèm. Mình nhường hết cho nó. Bây giờ mình thèm phá lấu, chúng lại bắt mình ăn "nem công chả phượng" như cách chúng nó. Món ăn dĩ vãng của tuổi già đã bị bỏ rơi!

   Tôi làm ở phòng lab, điều chỉnh chính xác từng giọt dung dịch từ burette để định lượng. Bây giờ tay chân vụng về, rót nước từ bình đun vào chai, rơi vãi. Con cái cằn nhằn, nói để chúng làm. Không, tôi muốn tự làm những gì có thể làm được. Các bạn già cũng thế, phải không?

   Thế hệ chúng ta làm cật lực, bất kể ngày đêm chỉ để trang trải gánh nặng gia đình. Bây giờ ngồi không, như kẻ vô dụng. Thật khó chịu!

   Không ít bạn già, theo chân các đoàn thể tôn giáo, đóng góp và giúp đỡ những nơi bị thiên tai, những vùng đói kém. Cũng làm được chút gì đó có ích cho đời.

   Tôi cũng vậy. Tôi vẫn viết lai rai về an toàn thực phẩm, chỉ muốn chia sẻ lại chút kiến thức, không chỉ lý thuyết, mà cả những kinh nghiệm tích lũy suốt mấy chục năm. Có được một người nghe, và làm theo cũng là niềm vui.         Không làm được chuyện lớn cho đời thì làm chuyện nhỏ, dù là rất nhỏ. Còn hơn ngồi than thở và phẫn nộ những chuyện chướng mắt ở đời.

   Gần hết cả đời, chúng ta đã cho đi. Già rồi, có cần gì nữa đâu, mà chỉ sợ mình thành gánh nặng hoặc bị lãng quên. Nếu sợ, đó là sợ tình thương pha lẫn lòng thương hại.

   Các bạn trẻ, xin đừng tước đi niềm kiêu hãnh cuối cùng của tuổi già. Đừng "xả láng" báo hiếu, để rồi chăm sóc quá đáng - Hãy để chúng tôi tự làm. Đừng khuấy động mặc cảm vô dụng tuổi già.

 4.  Quê mẹ tôi không trồng lúa được, vì nước sông dâng cao cả vài tháng, chỉ có thể trồng bắp, khoai, vài loại rau ngắn ngày. Năm 1945, quê mẹ tôi chết đói nhiều lắm, tứ tán cả. Ngay từ hồi tôi 4 tuổi, bà đã dạy tôi phải biết quý hạt gạo. Hạt cơm rơi xuống phải nhặt lên.

   Khi mẹ tôi mất, tôi bỏ lên Đà Lạt. Đêm giao thừa đầu tiên, không có bà bên cạnh. Tôi nâng ly rượu, chợt nhớ "hạt cơm rơi". Tôi ngước nhìn bàn thờ, và tự hỏi - Đời bà gian truân thế nào? Nước sông dâng cao như vậy, khi nước rút, làm sao nhận ra mồ mả ông bà? Bà bỏ lên Hà Nội kiếm sống thế nào? Vào Sài Gòn, bà bán xôi. Tôi chưa bao giờ hỏi bà cách đồ xôi thế nào, chọn nếp ra sao? Còn nhiều câu hỏi trong đầu, nhiều điều tôi muốn biết nữa, nhưng không thể…

   Những năm cuối đời, nếu ai hỏi chuyện xưa, mẹ tôi nói cả giờ. Tôi chỉ miễn cưỡng nghe vài phút, rồi lên lầu. Còn nhiều công việc mưu sinh phải làm. Tôi nghĩ, chỉ cần chăm sóc bà đầy đủ là được.

 

   Thế hệ chúng ta lớn lên trong chiến tranh - Khổ! Tàn cuộc chiến - Khổ. Khổ đủ kiểu, tùy môi trường xuất thân. Ở cái thời "rau muống bổ hơn thịt bò" - Thật xấu hổ! Có lẽ mấy bà khổ nhất - Cái khổ ngấm ngầm mà dai dẳng. Đó là cầm giỏ ra chợ với chút xíu tiền. Làm sao thu vén cho bữa ăn gia đình. Những năm tháng đó, làm sao ai biết? Mà có ai muốn biết đâu!

   Tuổi già ở nhà là một thế giới khép kín, cô đơn giữa mọi tiện nghi, giữa những "món ngon mẹ nấu", và những cú điện thoại "chăm sóc" quá kỹ lưỡng của con cái. Muốn được chia sẻ, nhưng có ai lắng nghe để chia sẻ? Con cái ư?

   Tôi chỉ nín lặng chấp nhận "quả báo", không dám cưỡng cầu. Nhưng mấy bà thì tâm tư chất chứa đủ thứ. Về nhà dồn nén, dồn nén… Các bạn marketing rất tinh quái, nếu biết số phone, sẽ gọi lại tỉ tê đủ thứ, và chào bán thực phẩm chức năng. Sa bẫy là điều dễ hiểu. Đừng trách tuổi già! Marketing biết lắng nghe họ hơn con cái.

   Già rồi, cổ lỗ sĩ mọi thứ. Dĩ vãng cũng cổ lỗ sĩ. Nhu cầu lắng nghe nhiều nhất, nhưng cũng mong manh nhất. Tôi thì quá muộn rồi! Ai còn cơ hội thì chớ bỏ lỡ.

   Tuổi già muốn được chăm sóc. Muốn chỉ vì gìn giữ sự kết nối, không phải muốn để lệ thuộc. Muốn được làm theo ý nguyện, muốn được tôn trọng, và muốn được lắng nghe, nhưng bất khả.

   Sự lạc nhịp giữa hai thế hệ, những mong muốn chăm sóc tuổi già chỉ là giấc mơ. Tôi biết - Chỉ là giấc mơ thôi. 

Vũ Thế Thành

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ, VŨ THẾ THÀNH
Comment

NÉT ĐẸP THIÊN THẦN (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

February 28, 2026 Ninh Tran

NÉT ĐẸP THIÊN THẦN

Vâng, nàng đẹp lắm, vẽ đẹp dịu dàng, đoan trang, thùy mị của tâm hồn không hào nhoáng, không phô trương.

Nàng không đẹp mê hồn như bóng liêu trai đêm trăng lạnh hay kiêu sa đài các như Mỵ Nương trên vọng nguyệt lầu làm se sắt tâm chàng Trương Chi.

Nàng đẹp như làn gió thoảng mặt hồ gương, như lời san hô hòa âm trùng dương gió nhẹ, thanh thoát như cánh thiên thần trong ngày gió bão che chở chàng chiến sĩ giữa làn súng đạn gian nguy.

Tôi gặp nàng trong một chiều chinh chiến. Má nàng hồng như ráng chiều hôm, mắt nàng rưng rưng lệ, tay cầm cuộn băng chặn dòng máu trên tay của một người thương binh trẻ. Tôi quen nàng trong phút giây đó, thầm lặng, u buồn, vì cùng lo cho người thương binh, nàng là nữ cứu thương, tôi là y sĩ dã chiến cho trung đoàn thủy quân lục chiến vùng Trung Lương mịt mờ hỏa tuyến. Sau khi băng bó cho anh, và chuyển anh về lều thương binh, chúng tôi ngồi uống chén trà giải lao. Tôi hỏi nàng; “Sao cô khóc, chắc cô quen người này?”

Nàng ngước nhìn tôi, ánh mắt thật buồn và bảo khẻ:

"Thưa bác sĩ, tôi không quen anh nhưng gương mặt phong trần của anh sao giống như anh của tôi còn đang mất tích trên chiến trường Hạ Lào nên tôi không ngăn được dòng nước mắt thương anh và thương anh của tôi cùng mẹ tôi vẫn mỏi mòn trông chờ tin của anh tôi. Không tìm được lời an ủi thỏa đáng, tôi chỉ nhìn nàng mắt còn rươm rướm lệ mà nghe lòng chùng xuống, thương cho mọi người trong cuộc chiến điêu tàn trên quê hương thân yêu.

Như đọc được ý nghỉ của tôi, nàng khè bào;

"Cám ơn bác sĩ hỏi nhưng chuyện riêng của gia đình tôi cũng chỉ là một giọt muối trên biển đau thương của dân mình".

Im lặng trùm xuống hai người mang nỗi buồn chất ngất. Chiến tranh là thế. Không ai biết ngày mai sẽ ra sao và ai còn ai mất, người ở lại tâm hồn rách nát với mất mát và thương tiếc. Hận thù chủ nghĩa vô nhân không xóa được gì trong nỗi khổ đau tràn lan. Mong muốn hòa bình chỉ thực hiện được với xương máu hy sinh để đổi thay vận nước. Bao nhiêu máu xương sầu khổ mới đủ cho nắng lại về với đường quê hương và tâm hồn người hoạn nạn?

Trong chiều dần tắt, ánh đèn lói của căn lều cấp cứu, chúng tôi ngồi trầm lặng với những ý nghĩ miên man buồn.

Khói trên tách trà vừa tàn thì tiếng người hạ sĩ theo bước anh đến với chúng tôi:

“Xin bác sĩ và cô trở lại ngay phòng cấp cứu, trực thăng vừa đáp xuống với một số thương binh từ phòng tuyến”.

Chúng tôi hối hả trở lại việc làm và đêm nay lại như mọi đêm khác, thương binh đến, thương binh đi, người còn, người mất. Chúng tôi vẫn miệt mài với sứ mệnh của mình.

Sau đêm đó, tôi theo trung đoàn về phòng tuyến khác và bặt tin người nữ cứu thương đáng thương này. Tôi mong anh nàng trở về bình yên, cho mẹ nàng thôi lau dòng lệ, cho gia đình nàng đầu không quấn vầng tang trắng, cho nàng còn được nở một nụ cười xinh mà tôi chưa có dịp thấy. Chắc nụ cười này sẽ tăng vẻ đẹp mặn mà của nàng. Riêng tôi vẫn luôn giữ hình ảnh một thiên thần tuyệt mỹ trên chiến trường quê hương, mang theo từng bước trong cuộc đời rày đây mai đó, mong một nhiệm mầu một ngày còn được gặp lại nàng và nhìn nụ cười trên khuôn mặt thùy mị và tâm hồn thanh cao của nàng.

Ai biết ngày sau sẽ ra sao?

 

Vâng, mầu nhiệm ước mơ đã đến với tôi nhưng rất khác với ý tưởng của tôi.

Mười năm sau, tôi gặp lại nàng trong một ngày cứu trợ bão lụt miền Trung xứ quê.

Tôi về lại xứ dân nghèo đất cằn sỏi đá cùng phái đoàn cứu trợ Việt Kiều từ Cali xứ Mỹ, nơi tôi đã định cư nhiều năm qua.

Trên chiếc ghe nhỏ tấp vào bờ mang chồng chất quần áo, chăn chiếu và gạo, muối, thực phẩm khô, tôi hoang mang nhìn hàng người nhỏ bé thầm lặng đợi chờ cứu trợ.

Sau một ngày chuyền tay những món quả nhỏ nhoi cho dân làng bị bão lụt hoành hành, một bóng người mành khành bước đến trước chúng tôi trong màu áo lam như sương khói và giọng thanh thoát trên khuôn mặt hiền hòa, ánh mắt dịu dàng, chuyển lời cảm ơn của dân làng.

Trong ngỡ ngàng tôi nhận ra khuôn mặt trong mơ của mình. Nàng vẫn đẹp dịu dàng, và trên nét đoan trang thùy mị còn thêm phảng phất nét thanh tịnh của tâm hồn không còn vướng bận nỗi sầu riêng tư.

Người sư nữ trong màu áo nâu sòng đẹp huyền diệu nét vị tha của khoảng vô thường tâm linh là người trong mộng tưởng của tôi suốt cuộc đời lãng bạt phong trần từ quê hương binh biến cho đến vùng quê thứ hai của đời người, giờ đây tôi đã được gặp lại.

Đường trần hai nẻo cuộc đời,

Thăng hoa một chuyện tình thời chiến chinh,

Tôi giờ trút áo nhà binh,

Giữ tâm lưu luyến ngày mình tương giao,

Ngắn giây phút tâm ao dào,

Ngắn giờ an ủi đổi trao dưới đèn.

Nàng giờ tâm nguyện tòa sen

Phật đài, thanh tinh bon chen sóng trần.

Riêng tôi lòng lắng si sân,

Thảo vầng thi tứ, vịnh lần sơ giao.

Thôi thì tâm chằng ao dào,

Ngắn duyên tao ngộ, thanh màu nghĩa nhân.

Ước duyên gặp nẻo phủ vân,

Nhiệm mầu tao ngộ trong lần mai sau.

Kiếp sau chẳng nặng thương đau,

Chẳng mùi bom đạn, đẹp màu yêu thương.

Tình là thanh thản miên trường,

Cõi chân thánh thiện, thiên đường tâm giao.

 Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, NÉT ĐẸP THIÊN THẦN
Comment

Có Một Tình Yêu

February 27, 2026 Ninh Tran

Có Một Tình Yêu

 Hiên chủ nhà mời Phượng ra sau nhà uống chút rượu trong khi hai bà vợ của hai ông đang rủ nhau đi shopping. Đàn bà hầu như ai cũng thích shopping kể cả lúc đi du lịch hay đi chơi đâu đó họ cũng không chịu ngồi yên ở nhà.

Khi Phượng bước ra cái deck đã thấy Hiên bày xong chai rượu cùng 2 cái ly, đĩa sausage vừa hâm nóng và đĩa dưa leo muối chua trên chiếc bàn tròn có bộ ghế xinh đẹp.

Trời mùa Xuân buổi trưa mát mẻ với nhiệt độ khoảng 70 độ F. thật thú vị khi được ngồi ngoài trời nhâm nhi ly rượu ngon cùng với bạn hiền và thiên nhiên tươi đẹp.

Bây giờ Phượng mới ngắm kỹ cảnh trí cái deck nhà Hiên hơn. Hôm qua hai vợ chồng Phượng đến nhà bạn sau khi được sắp xếp chỗ ở trong căn phòng lịch sự vợ chồng Phượng chỉ thoáng nhìn cái deck sau nhà qua khung cửa kính nơi phòng ăn chứ chưa có dịp ra ngoài.

Phượng nhìn những chậu hoa bày trang trí nơi sát hàng rào deck làm bằng gỗ sơn màu trắng nổi bật những đóa hoa hồng đỏ thắm và nơi góc hàng rào một cái chuông gió lửng lơ đang nằm đợi gió. Phượng bật thốt lên:

– Hoa hồng và chuông gió …

Hiên bình thản:

– Hoa hồng và chuông gió có gì lạ đâu.

Phượng khẽ đáp:

– Tôi thích ngắm hoa hồng và nghe chuông gió trong gió.

– Ừ thì đẹp đấy, nhưng chiều nay tôi và anh ngồi đây để uống lai rai chứ chẳng phải ngắm hoa suông.

Hai người ngồi đối diện nhau mỗi người tay cầm ly rượu của mình và nói chuyện đời, nhưng những hoa hồng màu đỏ kia bất chợt làm lòng Phượng xao động. Có phải vì hơi men làm cho tâm hồn chàng lênh đênh? Có phải vì cảnh Xuân nắng đẹp gió êm và hoa xinh đã làm tâm hồn chàng thức dậy một kỷ niệm cũ?

Hình bóng nào vừa thoáng qua và chưa chịu bay đi…

 

Uống cạn mấy ly rượu thì Hiên rủ Phượng vào nhà nghỉ ngơi nhưng Phượng nói:

– Anh Hiên cứ vào nhà nghỉ trưa đi tôi thích ngồi đây thêm một lát, không gian này đẹp quá.

Phượng ngả người ra ghế phóng tầm mắt nhìn ra những chậu hoa hồng có những hoa màu đỏ thắm xinh đẹp, lòng Phượng nhói lên một niềm thương nhớ, một niềm đau. Nàng đã đến và nàng đi đã bao năm..

Phượng rời vợ con đi vượt biên đến Mỹ định cư năm 1985, sau một thời gian ổn định cuộc sống độc thân tại chỗ nơi xứ người thì Phượng gặp Thương, từ lần gặp gỡ ban đầu hai người đã cảm thấy quyến luyến nhau và tình yêu đến nhanh như cơn mưa bất chợt đổ xuống mảnh đất khô cằn hai tâm hồn cô đơn khao khát …

Cha mẹ Thương đã mất trong chiến tranh, gia đình người chú họ thương tình đứa cháu bơ vơ đã cho nàng đi cùng chuyến tàu vượt biên và đến Mỹ sớm hơn Phượng vài năm.

Yêu nhau tưởng như không thể nào xa nhau nhưng một khoảng cách vô hình đã chia cách hai người.

Phượng kể cho Thương nghe về hoàn cảnh mình, chàng còn vợ và hai đứa con nơi quê nhà đang chờ mong và sẽ bảo lãnh họ sang Mỹ đoàn tụ.

Thương chấp nhận làm người vợ không bao giờ cưới của Phượng, nàng yêu chàng, được sống bên chàng ngày nào là vui ngày ấy.

Họ sống với nhau như đôi vợ chồng son trong một căn phòng apartment rẻ tiền nhưng có bàn tay khéo léo của Thương tổ ấm trở nên sạch đẹp và ấm cúng. Một chiếc giường rộng, một bàn ăn nhỏ, một khung bếp hẹp mà biết bao hạnh phúc đi qua từng ngày, từng mùa, từng lúc thời tiết ấm lạnh nắng mưa.

Căn phòng ở tầng trệt có một khỏang đất nhỏ sân sau đủ cho nàng trồng vài cây hoa hồng đỏ và treo bên hiên nhà một cái chuông gió. Hai thứ này nàng và Phượng cùng yêu thích.

Mỗi chiều đi làm về Phượng thường vào bằng lối cửa sau nghe tiếng chuông gió reo và lướt mắt qua những đoá hoa hồng đỏ để quên đi những mệt nhọc của một ngày làm việc. Hoa hồng nở kéo dài từ mùa Xuân đến mùa Thu và chớm vào Đông, chỉ thực sự héo hon tàn tạ trong gió Đông lạnh. Nhưng tình yêu của họ dài đủ bốn mùa và hết năm này qua năm khác.

Thương nhiều lần thì thầm bên chàng:

– Hoa Hồng đỏ biểu tượng của tình yêu, điều đơn giản này cũng là tình em yêu anh.

Ngày xưa chàng và Yến yêu nhau cũng hẹn thề cũng quấn quýt nhưng không đủ lửa đam mê như tình yêu của chàng và Thương.

Chàng và Yến đi đến hôn nhân, tình yêu và tình vợ chồng vẫn êm đềm. Yến đã thu vén tiền bạc để chàng đi vượt biên tìm tự do, chàng là cột trụ của gia đình, Phượng sẽ bảo lãnh vợ con sang Mỹ tìm cuộc sống mới mẻ và tương lai cho hai con, đó là mộng ước hai vợ chồng chàng đã xây đắp.

Hơn 6 năm kể từ ngày Phượng đến Mỹ mới được tin vợ con sắp sang Mỹ đoàn tụ.

Phượng đau đớn bị giằng co giữa tình vợ chồng và tình yêu với Thương, chàng không thể bỏ vợ con nhưng cũng không muốn chia lìa người mình yêu.

Có những ngã ba đường người ta không thể cất bước về một phía nào.

Phượng chỉ biết an ủi nàng và cả chính mình:

– Dù muốn dù không em phải quên anh, em sẽ lập gia đình và có những đứa con. Cố lên nhé Thương.

– Em chỉ có một tình yêu là anh.

Phượng nghĩ đó là lời nói lãng mạn trong phút giây đắm say, thời gian sẽ là liều thuốc nhiệm màu nhất để phôi pha những ân tình những kỷ niệm. Chàng luôn cầu nguyện cho người mình yêu sẽ có mối tình khác, sẽ trăm năm hạnh phúc.

Phượng đã thuê một căn nhà 3 phòng để đón vợ con sang.

Trước ngày vợ con Phượng đến Thương đã ra đi, ra đi biền biệt để Phượng không phải bận lòng.

Mối tình già nhân ngãi non vợ chồng khéo dài 3 năm bỗng chỉ là một giấc mơ…

Hôm Phượng ra phi trường đón vợ con vui ít buồn nhiều. Bên vợ con với bao trách nhiệm Phượng vẫn cảm thấy một nỗi trống vắng khó tả.

Chàng bắt đầu cuộc sống mới với vợ con cũ, Yến hội nhập vào cuộc sống ở Mỹ nhanh chóng, nàng càng ngày càng khác xưa, cô Yến hiền dịu khép nép bên chồng không còn nữa, nàng xông xáo lanh lợi và bon chen với người đời. Yến đã bĩu môi chê chồng:

– Anh qua Mỹ thời gian dài mà tài sản chẳng có gì, vợ con qua anh đón vào căn nhà cũ này, mà lại đi thuê nữa… Thảm quá!

Phượng bị tổn thương vì bao công sức làm việc, sống tiết kiệm gởi tiền về cho vợ con của chàng đã bị vợ đổ sông đổ biển.

Yến đi học nghề làm nails, thành thạo nghề nàng mua tiệm làm chủ, mọi sự việc đều may mắn với Yến. Kiếm tiền càng nhiều Yến càng coi thường chồng, Phượng bỗng lép vế vợ lúc nào không hay.

Lạc lõng trong tình yêu vợ chồng Phượng càng thương nhớ Thương, nàng đã yêu chàng không so sánh thiệt hơn, căn nhà thuê có 3 phòng là nơi Yến bất bình rẻ rúng nhưng căn phòng nhỏ bé apartment rẻ tiền đã là nơi hạnh phúc nhất của Thương.

Sau đó vợ chồng chàng đã mua một căn nhà mới rộng đẹp, mỗi khi có dịp đi qua khu apartment cũ Phượng thường dừng chân nhìn lại căn phòng của chàng và Thương ngày nào, tiếc nuối và bâng khuâng tự hỏi có ai trồng hoa hồng đỏ và treo chiếc chuông gió nơi góc vườn ấy không?. Có ai yêu nhau như chàng và Thương ngày ấy không?

Những năm qua Phượng vẫn nghĩ đến Thương dù chẳng thể thay đổi được cuộc đời nhau… Thì ra tình yêu chàng dành cho Thương chưa bao giờ nguôi.

Hôm nay nhìn những chậu hoa hồng đỏ nhà Hiên, Phượng lại chạnh lòng và nhớ Thương quá chừng. Hơn 10 năm xa nhau rồi có lẽ Thương đang bận bịu với cuộc sống bên chồng bên con, không biết có giây phút nào Thương nhớ đến chàng?…

Phượng đang lơ mơ ngủ thì tiếng Yến oang oang ngay bên cạnh:

– Trời ơi, hết chỗ ngủ sao mà anh nằm đây hả, hả?

Phượng mở choàng mắt, hình bóng Thương vụt biến mất khi trước mặt chàng là Yến đưa chàng trở về thực tế:

– Ngoài này mát mẻ anh uống tí rượu rồi ngủ quên…

Yến khó chịu

– Người gì mà chỗ nào cũng ngủ, tới nhà người ta anh phải lịch sự chứ

Phượng đã quen với những lời đanh đá của vợ. Khi không thể thay đổi được điều gì đó thì người ta đành chấp nhận sống với nó, như người bệnh sống với bệnh, như người đi biển đi sông sống cùng với sóng to, thác lũ…

Yến ngoe nguẩy đi vào trong nhà và ra lệnh:

– Anh vào mà sửa soạn, chúng ta đi ăn cùng với anh chị Hiên …

-oOo-

Ngày cuối cùng ở nhà bạn, vợ chồng Phượng mời vợ chồng Hiên đi ăn cơm chiều để tạm biệt.

Họ đến một nhà hàng Việt Nam ăn bữa cơm ngon, vui vẻ thân mật.

Ăn xong khi mọi người đứng lên sắp sửa ra về thì giữa những người khách đi lại qua bàn ăn chị Hiên đã nhận ra ai đó chị reo lên:

– Thương ơi… có phải em đó không?

Phượng giật mình vì cái tên đã từng vang vọng trong trái tim chàng từ quá khứ cho đến bây giờ…

Người phụ nữ trẻ đi bên cạnh đứa bé trai đã dừng chân lại bên chị Hiên và cũng mừng rỡ:

– Chị Hiên, em đây. Không hẹn mà gặp chị vui quá …

– Hai mẹ con em đi đâu mà lạc vào nhà hàng này?

– Hôm nay em có công việc qua đây…

Chị Hiên ríu rít quay ra giới thiệu:

– Coi như duyên hạnh ngộ, tôi đã gặp lại các bạn cũ cùng một lúc. Đây là vợ chồng anh Phượng chị Yến là bạn hàng xóm xưa ở Việt Nam, còn đây là mẹ con Thương cô bạn hàng xóm lâu nay của chúng tôi tại thành phố này, Thương đã dọn nhà đi nơi khác chỉ cách nhau một tiếng lái xe mà cả năm nay chúng tôi mới gặp lại nhau …

Phượng run người như đang lên cơn sốt và Thương cũng đang sững sờ nhìn chàng. Họ cũng là người xưa của nhau, họ đã nhận ra nhau.

Yến vô tình và xã giao:

– Vợ chồng tôi hân hạnh được biết chị Thương

– Vâng, Thương cũng hân hạnh được biết anh chị.

Hỏi thăm nhau vài câu xong chị Hiên nhanh nhẩu:

– Thôi hai mẹ con Thương vào bàn gọi bữa ăn đi rồi về nhà kẻo trời tối. Chị cũng đưa khách về sáng mai họ có chuyến bay sớm…

Mọi người chào nhau, Phượng vẫn bàng hoàng nhìn Thương, chàng thấy đôi mắt nàng nhìn chàng tuy cố tạo ra bình thản mà vẫn bối rối đượm buồn và hình như sắp sửa đẫm lệ.

Phượng là người bước đi chậm nhất, chàng chưa nói được với Thương một lời tao ngộ nên chân bước đi không đành, nhưng chàng yên lòng Thương cũng đã có gia đình con cái, có một bến bờ cuộc đời như chàng từng mong muốn.

Bất giác chàng quay đầu nhìn lại và thấy Thương vẫn đứng sững nơi đó đang dõi nhìn theo chàng, nàng cũng chưa nói được lời tao ngộ nào với Phượng. Hai người chỉ cách nhau một khoảng cách chục bước chân mà xa nhau vời vợi.

Vừa đi ra chỗ đậu xe chị Hiên vừa kể:

– Cô Thương này dễ thương như cái tên của cô ấy. Ngày Thương mới về đây thuê một căn nhà nhỏ cuối đường khu nhà tôi, chúng tôi đã là bạn bè hàng xóm khá thân, cô vừa dọn đi nơi khác cho gần chỗ làm việc mới.

Anh Hiên chợt nhớ ra vội xen vào nói với Phượng:

– Đấy, đấy là cô bạn đã tặng hoa và chuông gió cho cái deck của nhà tôi mà anh đã thích. Lúc nãy tôi quên không kể cho cô Thương món quà cô tặng đã thêm người thưởng ngoạn.

Ôi, một chút tri kỷ chẳng ai quên. Phượng bối rối tưởng như mọi người đã đọc được tâm trạng của chàng lúc này với Thương. Chàng gượng cười:

– Thế gian này cả vạn, cả triệu người thích hoa hồng và nghe chuông gió.

Yến thẳng thừng:

– Trồng hoa đẹp mắt thật đấy nhưng tôi vẫn thích những gì thực tế hơn, vì thời tiết không cho phép nên tôi trồng một cây chanh trong chậu mùa đông phải bê vào garage hay nhà kho vất vả lắm..

Chị Hiên ngạc nhiên:

– Chị Yến thích cây chanh đến thế!

– Chỉ vì tôi thích món thịt gà luộc ăn với lá chanh, lá mọc ra không kịp cho tôi hái nữa đó.

Mọi người cười ồ vui vẻ và dường như quên chuyện cô Thương. Phượng băn khoăn tìm cách để được nhắc đến tên nàng:

– Cô Thương tặng anh chị Hiên hoa và chuông gió để khi cô đi xa anh chị vẫn nhớ đến cô…

Chị Hiên gật gù:

– Ừ nhỉ… thỉnh thoảng ra deck nhìn hoa nhìn chuông gió tôi vẫn nghĩ đến Thương, đến hai mẹ con cô ấy…

Giọng chị Hiên chợt bùi ngùi:

– Ngày Thương về đây bụng mang dạ chửa, Tôi đoán cô có một chuyện tình dang dở chắc là rất đẹp nên cứ ở vậy nuôi con đến bây giờ, thằng bé mười tuổi rồi chứ ít gì, mấy lần tôi có ý định làm mai giới thiệu cho Thương một người đàn ông tốt nhưng cô ấy nói nửa đùa nửa thật em chỉ lấy người nào giống y như người cũ của em hoặc là không bao giờ. Thì ra có tình yêu bất diệt luôn đi cùng với thời gian.

Phượng từ bàng hoàng này đến bàng hoàng khác, mỗi lời nói của chị Hiên làm chàng ngạc nhiên và đau đớn thắt ruột thắt gan. Chàng nhớ những ngày cuối trước khi chàng đoàn tụ với vợ con, chàng và Thương càng quấn quýt bên nhau, linh tính cho chàng biết thằng bé là kết quả của những lần ái ân đầy nước mắt mà nồng nàn say đắm ấy. Vậy mà lúc nãy chàng chưa kịp nhìn kỹ thằng bé.

Yến tỏ vẻ ngưỡng mộ:

– Phải là một mối tình thắm thiết và tri kỷ lắm họ mới chung tình đến thế…

Phượng thẫn thờ lặp lại:

– Phải là một mối tình thắm thiết và tri kỷ lắm họ mới nhớ nhau đến thế.

Bốn người đã ra xe. Ngay lúc này Phượng bỗng thấy mình lại đứng ở ngã ba đường.

Chàng muốn chạy lao vào trong nhà hàng để đến bên Thương ôm gọn nàng trong vòng tay yêu thương, để thốt lên hàng vạn lời nhung nhớ và rồi Thương sẽ âu yếm cầm tay chàng chạm vào tay thằng bé kia để hai cha con nhận ra nhau.

Nhưng chiếc xe anh Hiên lái đã lăn bánh, vợ chồng Hiên và Yến lại vui vẻ nói về một đề tài nào đó.

Chiếc xe tăng tốc độ chạy nhanh về phía trước mà tâm hồn Phượng tràn ngập thương yêu lẫn khổ đau đang tuyệt vọng chạy ngược về phía sau nơi nhà hàng có hai mẹ con Thương còn ngồi trong đó.

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Có Một Tình Yêu
Comment

Mùa Xuân Thần Thoại (Nguyễn Thị Thêm)

February 26, 2026 Ninh Tran

Tôi bước xuống phi trường Narita mà tưởng mình còn mơ ngủ.

 Kéo chiếc vali nhỏ tôi cố chạy theo cho kịp mẹ nuôi. Mẹ dừng lại nhìn tôi mỉm cười từ ái.

      Thoáng chốc mẹ đã quên mình là lính đi nhanh. Còn tôi chân có vấn đề và là một đứa bé trong trại mồ côi lần đầu tiên ra khỏi Việt Nam. Mẹ đưa tay định kéo hành lý dùm tôi. Nhưng tôi giữ lại và cương quyết tự làm cho mình. Bề nào tôi cũng là một thanh niên ở độ tuổi đang lớn.

        Mẹ đi sát bên tôi. Hai mẹ con trình giấy tờ ở hải quan và xuống nhận hành lý. Qua khu vực kiểm soát hai mẹ con đẩy xe ra ngoài. Đây là lần đầu tiên tôi được đi máy bay và thật vô cùng tuyệt vời tôi được đến nước Nhật. Một đất nước mà tôi chỉ biết qua sách vở và trong những giấc  mơ.

       Tôi không biết làm sao để diễn tả tâm trạng tôi lúc này. Mọi thứ vượt ngoài tầm hiểu biết và tưởng tượng của tôi. Tôi nhắm mắt lại và thầm thì với chính mình:

-Đây là nước Nhật. Mình đang ở nước Nhật.

       Tôi không thể hình dung được đi máy bay là như thế này. Sự phục vụ của phi hành đoàn lịch sự nhã nhặn như vậy.  Máy bay có đủ những tiện nghi cần thiết cho hành khách. Thức ăn đựng trong những hộp nho nhỏ còn nóng hổi và ngon như thế.Tôi đã đặt chân đến nước Nhật với những con người và phương tiện tân tiến nhất nhì thế giới. Ơn trên đã mở cho tôi cánh cửa của thiên đàng. Tôi bước vào đó ngỡ ngàng với cái chân tàn tật với tâm hồn đầy sẹo của quá khứ.

       Mẹ không để tôi đẩy hành lý mà kêu tôi đi theo. Một người trung niên đã đợi sẵn bên ngoài. Mẹ giới thiệu đây là bạn cùng đơn vị của mẹ.   Tôi run run bắt tay sau lời chúc mừng của bác ấy. Bác đẩy xe và mẹ bấm thang máy để đi lên. Bãi đậu xe ở tầng lầu. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Tôi không thể hiểu họ nói những gì, chỉ biết họ rất thân tình, vui mừng gặp lại nhau.

        Để túi xách nhỏ vào xe. Tôi ngồi vào băng sau và thấy mình như say sóng. Mọi việc diễn tiến như chuyện cổ tích mà tôi giống như cô bé Lọ Lem được hoàng tử chọn để kết hôn.

*****

       Tôi là một đứa bé mồ côi từ lúc mới sinh ra đời. Không phải cha mẹ tôi chết mà họ đã vứt tôi trước cửa nhà một vị hảo tâm. Tôi chỉ nghe mẹ nuôi tôi nói như vậy. Người mẹ nuôi tôi không phải là người phụ nữ da trắng đang ngồi phía trước xe. Mà là một người phụ nữ VN đã bị mất con trong một lần sinh khó. Người chồng phản bội đã bỏ bà với cái thai trong bụng để đi theo một người đàn bà khác trẻ đẹp hơn.

       Đau khổ cùng cực vừa mất con lại mất chồng. Mẹ nuôi tôi gục ngã và trở nên loạn trí, lúc nào cũng đi tìm con. Bà nghĩ con mình còn sống và đang bị thất lạc ở một nơi nào đó. Ông Bà ngoại tôi đem con gái về chăm sóc. Với trái tim yêu thương con vô tận, ông bà đã đến bệnh viện xin một đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi đem về cho con gái, nói là đã tìm được đứa cháu ngoại bị thất lạc. 

       Đứa con đó cũng không phải là tôi, mà là người con nuôi lớn nhất của mẹ. Mẹ tôi lần hồi bình phục với đứa con còn đỏ hỏn mới đôi ba ngày tuổi. Ông bà ngoại coi đứa bé như ruột thịt. Thương yêu và hết lòng chăm sóc. Rồi tiếng lành đồn xa. Thêm một đứa trẻ mới sinh được vứt trước nhà ông bà ngoại. Rồi đứa thứ hai và tới tôi là đứa thứ ba.

       Mẹ tôi đã vứt tôi trước cửa nhà này và biến mất. Không biết bà có núp ở một góc nhà nào đó để theo dõi tiếng khóc của tôi. Hay rình xem mẹ nuôi tôi đã làm gì với đống vải nhăn nhúm quấn lấy tôi mới sinh được 3 ngày tuổi. Nói chung là bà ra đi không thương tiếc.

        Đương nhiên là tôi không biết gì hết. Tôi không biết cha mẹ mình là ai và vì sao họ bỏ rơi tôi. Tôi không biết lúc đó mình khóc nhiều hay ít? Tôi bú sữa bò hay nước cháo để sống còn.Tôi dễ nuôi hay èo uột, Bốn đứa con nít chỉ biết ăn biết bú khóc mãi không thôi. Hẳn chỉ có những người có trái tim thật nhân từ và nhẫn nại mới mở lòng ra cưu mang như vậy. Ông bà ngoại làm việc nhiều hơn để nuôi bầy cháu nhỏ không ruột thịt với mình. Mẹ nuôi tôi mất một đứa con, nhưng có đến 4 đứa khác để bù trừ. Mẹ quên cả bệnh, mẹ quên cả bản thân mình. Mẹ quần quật cả ngày để chỉ sống vì chúng tôi. Nhà không giàu có mấy, còn ít đất đai ông bà để lại, ông bà ngoại cắt bán dần để nuôi chúng tôi.

      Khi tôi lớn hơn một chút, tôi nhận thức được tôi khác hơn các anh chị của mình. Một cái chân tôi không đi được. Tôi đi từng bước khó nhọc mà người xung quanh gọi tôi là “Thằng thọt”. Tôi buồn lắm mỗi khi chạy chơi với các anh chị trong nhà. Tôi luôn bị thua thiệt vì sự không nguyên vẹn của mình. Trong tôi là sự mặc cảm về thân phận tật nguyền.

      Mẹ nuôi tôi không gì vậy mà hất hủi tôi. Bà yêu thương tôi hơn các anh chị khác. Bà thường gọi đùa tôi là “Con trai đích tôn” Lúc đầu tôi không hiểu gì cả vì trước tôi đã có anh Ba. Sau này trong một lần trò chuyện tôi đã hiểu và thương yêu ông bà ngoại và mẹ hơn bao giờ hết.

       Nguyên do là lúc nhỏ tôi bị sốt tê liệt. Ông bà ngoại đã bán nốt miếng đất hương quả ông bà cố để lại cho cháu đích tôn mà chạy chữa cho tôi.   Tôi thoát chết, nhưng một chân đã bị rút teo lại.Tội nghiệp mẹ tôi đã cố gắng tập cho tôi đi lại, bao nhiêu thuốc thang để cái chân tôi được như bây giờ. Tôi mang một cái chân bất toàn và mang nghĩa tình bất tận của ông bà và mẹ tôi. Những người không hề có dính dáng với máu mủ, ruột thịt.

       Tôi lớn lên trong căn nhà tình nghĩa đó. Ông bà ngoại ngày một già, tiền bạc cũng không còn. Mẹ tôi bôn ba buôn bán không đủ nuôi mấy miệng ăn đang độ tuổi lớn. Chúng tôi không thể đến trường đều đặn mà phải cùng nhau đi làm để phụ kiếm sống. Các anh chị tôi thay nhau vừa bán vé số vừa đi học. Tôi cũng vậy, la lết ở các bến xe, nhà hàng để kiếm cơm .

       Ông ngoại bệnh nặng,  mẹ tôi phải ở nhà chăm sóc. Tôi 8 tuổi ôm tập vé số len lỏi chốn chợ đời. Trái tim nhân hậu của con người dường như bị đánh mất trong xã hội lừa đảo. Tôi thường xuyên bị đánh vì giành mối.   Có lúc về nhà trắng tay, cả xấp vé số lẫn tiền bị trấn lột. Có những cạm bẫy mà xã hội đã đưa anh em chúng tôi lạc bước. Đồng tiền của người nghèo đổi bằng nhiều thứ trong đó có sự gian xảo lọc lừa. Đồng tiền nhàu nát và bẩn thỉu, có khi đổi bằng nước mắt và cả chính máu và mạng sống của mình.

       Bụi đời cũng có lắm phe nhóm, băng đảng, tốt và xấu. Ngoại và mẹ dạy chúng tôi phải lương thiện và nhịn nhục. Lương thiện chỉ từ chết đến bị thương. Bản năng sinh tồn không cho phép con người khoanh tay khi bị đàn áp và ức hiếp. Anh Ba tôi đã không nhịn nổi phải  chống cự và đánh lộn để bênh vực em. Một lần gây ra ẩu đả đổ máu đụng đến công an can thiệp.

       Cuối cùng của bi kịch đời người là tất cả anh em chúng tôi bị lôi ra khỏi vòng tay mẹ nuôi và bị đưa vào trại mồ côi. ( trừ chị Hai tôi có giấy tờ xin nuôi chính thức. )

       Tôi rời xa căn nhà thân yêu đã cưu mang tôi khôn lớn là ngày giỗ đầu ông ngoại. Năm đó tôi vừa 12 tuổi. Một đứa bé tàn tật, mồ côi lăn lóc chợ trời mưu sinh thì thiên hạ nhìn tôi không mấy mỹ cảm. Còn tôi, tôi đã biết mái nhà xiêu vẹo thiếu thốn mọi thứ có tình thương yêu thật sự.   Còn trại mồ côi nơi tiếp nhận những đứa bé bụi đời chỉ là giải quyết vấn nạn của xã hội. Tôi không muốn đi vì mẹ nuôi tôi bây giờ hay đau yếu. Bà ngoại tôi già rồi cần người chăm sóc đỡ đần. Đã đến lúc chúng tôi giúp đỡ họ phần nào, nhưng chúng tôi bị buộc phải xa lìa trong nước mắt. Tôi tự nhủ với lòng sẽ có ngày trở về phụng dưỡng trả ơn.

       Tất cả chúng tôi bị đưa lên xe và bước vào một cuộc sống mới. Nơi đây giống như là nơi tập trung cải tạo, giáo dục thiếu nhi mồ côi lẫn bụi đời. Chúng tôi phải sống với rất nhiều bạn đồng trang lứa. Họ cũng lang thang để kiếm sống như chúng tôi. Tuy nhiên tôi có phước hơn họ là đã từng có một mái nhà, có ông bà và mẹ. Có gia đình ấm cúng thương yêu dù chẳng ruột rà. Còn họ đủ mọi thành phần bị gom bắt đưa về đây . Có bạn hút xì ke lên cơn nghiện la hét cả đêm. Có bạn người đầy những vết sẹo vì đâm thuê chém mướn. Có bạn chuyên nghề móc túi hay dẫn gái ăn sương. Họ thích sống bụi đời. Họ tự do quậy phá quen rồi. Họ không muốn cuộc sống tù túng bó buộc nơi này. Tâm lý của họ là phó cho định mệnh. Họ tin đời họ chẳng bao giờ có tương lai tươi sáng. Họ không hề muốn thay đổi làm lại cuộc đời.

       Nghe lời dặn dò của mẹ nuôi trước lúc ra đi. Tôi siêng năng học chữ, học nghề. Tôi không trốn trại ra ngoài. Tôi chấp hành kỷ luật dù khó đến đâu. Tôi nhịn nhục dù bị bức hiếp rất nhiều của những người bạn chung phòng. Tôi tự nhủ:” Không thể chống trả được, thì đây là cơ hội  để học và thay đổi ” Tôi nhớ lời ông ngoại đã nói” Dù chân con có tàn tật, nhưng đầu óc con minh mẫn. Hãy cố gắng.” Đêm đêm tôi úp mặt xuống gối khóc vì nhớ mẹ nhớ ông bà. Tôi nhớ quá chừng căn nhà nghèo nàn dột nát mà ấm cúng thâm tình. Họ tuy không giàu có, nhưng trái tim và lòng nhân ái của họ thật bao la.

       Một ngày tôi được gọi lên văn phòng. Trước mặt tôi là một người phụ nữ da trắng trung niên. Đây là người đã làm thủ tục để xin con nuôi tại Việt Nam và được giới thiệu tới nơi này. Không hiểu vì lý do gì  mà tôi được chọn ra đây với hai người bạn khác. Những người đạt đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu của hai bên. 

       Tôi lặng người đi vì hồi hộp. Tôi có được chọn không? nếu chọn tôi sẽ đi đâu?. Cuộc sống thế nào? Tôi còn có cơ hội để thăm viếng và giúp đỡ mẹ nuôi tôi  không? Tôi run run cúi mặt lo lắng. Người phụ nữ có mái tóc vàng thật đẹp, gương mặt phúc hậu bước lại gần tôi. Bà nắm bàn tay tôi ấm áp. Bà nhìn tôi trìu mến. Có lẽ thành tích của tôi ở trường khiến bà hài lòng. Bà không hề kỳ thị với cái chân tật nguyền của tôi. Trong mắt bà tôi nhìn thấy sự cảm thông, chia sẻ và yêu thương.

       Tôi được mời lên văn phòng nhiều lần để làm thủ tục giấy tờ. Tôi bằng lòng làm con nuôi người phụ nữ có gương mặt phúc hậu ấy. Tôi sẽ có thêm một bà mẹ. Sẽ bước qua một bước ngoặt mới. Tôi sẽ cố gắng học tập và làm tốt bản thân. Còn những gì kế tiếp thật tình tôi không dám nghĩ đến.

        Người nhận nuôi tôi là một người phụ nữ Mỹ độc thân. Bà là nữ Đại Úy không quân trong quân lực Hoa Kỳ. Bà là một người tham gia nhiều chương trình từ thiện tại VN. Hiện tại bà đang công tác tại một căn cứ không quân của Mỹ tại Nhật Bản.

Sau bao nhiêu lần mẹ nuôi tôi đi đi về về, tốn rất nhiều tiền để hoàn tất giấy tờ thủ tục. Tôi chính thức được công nhận làm con nuôi của mẹ Lisa theo đúng luật định. Bà là một người phụ nữ có lòng hảo tâm. Khi nghe tôi kể về quá khứ của mình, bà đã đến nhà mẹ nuôi tôi và giúp đỡ cho họ. Bà cho tôi đi học thêm sinh ngữ và chỉ dạy tôi rất nhiều về cuộc sống ở Mỹ để dễ hội nhập

*****

       Tôi đến nơi này, một căn cứ không quân Hoa Kỳ trong lòng nước Nhật. Hai mẹ con tôi sống trong một căn hộ được chính phủ cấp khang trang. Tôi được giới thiệu với các bạn bè của mẹ. Ban đầu tôi rất mặc cảm vì thân thế của mình. Nhưng dần dà tôi mới thấy rõ những tư tưởng phóng khoáng của người Mỹ. Họ tôn trọng giá trị và tự do của mỗi con người không phân biệt xuất thân. Những người lính nơi đây cho tôi một cảm giác ấm áp tình thân như người trong một gia đình.

       Tôi thấy mình thật hạnh phúc và may mắn có thêm một bà mẹ nuôi hết sức tốt bụng. Bà đã coi tôi như con đẻ, chăm sóc tôi chu đáo, chuẩn bị cho tôi tất cả để tôi không thiếu thốn thứ gì. Bà đã bỏ tất cả thời gian sau giờ công tác để dạy tiếng Anh cho tôi. Trong nhà mọi nơi, mọi chỗ đều có gắn những mẩu giấy nhỏ ghi rõ tên bằng Anh ngữ của đồ vật đó. Bà lấy ngày nghỉ để dẫn tôi đi chơi. Chỉ cho tôi và dạy tôi nói cho đúng. Bà mời cô giáo đến tận nhà dạy tôi học thêm để theo kịp bạn bè khi tới lớp.

       Mỗi ngày bà nấu cho tôi những món ăn Mỹ lẫn Việt Nam mà bà học được trên Internet. Có khi ngon, có khi dở nhưng tôi rất thích vì mẹ đã nấu bằng cả trái tim. Bà đã cho tôi một tấm gương về cuộc sống tự lập và sự tốt đẹp của người quân nhân Hoa Kỳ.

       Tôi đã đến trường và có nhiều bạn. Mỗi sáng tôi ra đón xe bus trước nhà để đến trường trong căn cứ . Tuy hơi khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ nhưng tôi cố gắng nghe và cố gắng rèn luyện. Tôi là một thanh niên đầy đủ sức khỏe. Một học sinh trung học có triển vọng. Tôi có một người mẹ tốt bụng xinh đẹp và tài ba. Tôi sẽ đi lên bằng chính đôi chân không được nguyên vẹn của mình. Bằng nghị lực và niềm tin vào ngày mai tôi tin tôi sẽ thành công.

       Con người không ai có thể chọn xuất thân của mình. Tôi đã không may mắn được mẹ ruột thương yêu, đùm bọc. Mẹ bỏ rơi tôi có lẽ vì mẹ có nỗi khổ riêng tư. Tôi cám ơn mẹ không vất tôi ở thùng rác hay bên vệ đường mà đặt tôi vào tay một gia đình nhân đức. Hai người mẹ nuôi cho tôi thấy tình mẫu tử tuyệt vời trong trái tim người phụ nữ. Tôi không trách mẹ ruột và càng yêu kính mẹ nuôi. Trong đời tôi may mắn có đến 3 bà mẹ. Xin ơn trên cho tất cả các bà mẹ của tôi đều được bình an.

       Tôi cũng không mặc cảm mình là người Việt nam nói không rành tiếng Mỹ.Rồi ngày qua ngày tôi sẽ nói rành rọt như họ. Tôi cũng không vì cái chân không được nguyên vẹn mà bỏ rơi ý chí và ước mơ của mình. Tôi sẽ học giỏi và sẽ là một bác sĩ quân y tương lai như mẹ nuôi. Tôi sẽ giúp đỡ những trẻ em khuyết tật, những đứa bé mồ côi từng khổ sở như tôi.

       “Không có gì là không thể thực hiện nếu mình quyết tâm.” Mẹ nuôi tôi đã nói với tôi như vậy. Tôi tin tưởng bà sẽ bên cạnh giúp tôi thực hiện ước mơ của mình. Nơi căn cứ cũng có vài gia đình sĩ quan người Việt. Tôi đã đến đó, đã được cùng họ trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Tôi đã nhận những thân tình và những lời dặn dò khuyên bảo. Đây là đồng hương, là những người cùng chung ngôn ngữ và màu da. Tôi đến với họ thường xuyên mỗi khi rảnh rang. Tôi nghe họ kể chuyện đời họ, chuyện về người cha Sĩ quan đi tù Cộng Sản. Chuyện người mẹ bán hết đồ đạc để thăm nuôi. Chuyện những người anh, người chị vượt biên trên biển cả. Chuyện những ngày đầu đến Mỹ và lý do tại sao họ có mặt ở đây.     Những câu chuyện thật bi thương và cảm động mà những ngày ở VN tôi không hề nghe hay biết. Tôi đã được thấy một lá cờ khác lá quốc kỳ mà tôi được biết. Lá cờ vàng với ba sọc đỏ mà con trai người cựu Sĩ quan VNCH trân trọng cất giữ.

       Tôi đã được ăn những thức ăn VN thật ngon và có những đứa em rất dễ thương để vui đùa và yêu thương. Đất nước Mỹ, quê hương Việt Nam của tôi nằm trong căn cứ này. Một căn cứ ấm áp tình người, tình đồng đội và tình gia đình.

       Tôi không hề cô đơn hay cảm thấy lẻ loi mà tôi thấy mình rất hạnh phúc. Ơn trên đã không bạc đãi mà đã cho tôi rất nhiều ân sủng và phước lành. Tôi phải nắm lấy những may mắn đó mà bước tới bằng tấm lòng biết tri ân và báo đáp. Tôi đã nhờ mẹ Lisa nối đường dây để tôi liên lạc với mẹ và bà ngoại. Vài tháng tôi dành dụm tiền quà để gửi về VN giúp đỡ Mẹ Có lần mẹ Lisa đã gửi số tiền khá lớn để trang trải tiền bệnh viện cho ngoại tôi. Một ngày nào đó trong tương lai tôi sẽ về lại VN. Bằng chính đồng lương của mình kiếm được, tôi sẽ xây nhà cho mẹ nuôi và bà ngoại. Tôi sẽ cho mẹ tôi sống cuối đời no ấm, đầy đủ và hạnh phúc. Đứa con mẹ nhặt trước cửa nhà sẽ không bao giờ quên công ơn của mẹ.

       Tôi đã ở đây một thời gian khá dài. Tôi đã được Mẹ Lisa cho đi thăm viếng những thắng cảnh ở Nhật. Tôi đã thấy hoa Anh Đào rực rỡ trên đất nước Phù Tang. Đã thấy mùa thu tuyệt đẹp trong căn cứ, trong công viên lẫn khắp nẻo đường Nhật Bản. Tôi đã chạm được với tuyết và nhìn tuyết rơi trắng xóa mùa Đông. Tôi đã có bạn học, tôi đã có tất cả những gì tôi từng mơ ước.

Mẹ Lisa lại nói với tôi:

-Mẹ là quân nhân, là lính Mỹ phục vụ nước ngoài, mẹ không được ở một nơi cố định. Chỉ còn hơn một năm nữa chúng ta sẽ đổi đến một nơi khác mà mẹ không biết ở đâu. Cho nên con phải ráng học, chấp nhận và thích ứng khi con sẽ phải đến học một trường khác, quốc gia khác. Mỗi nơi chúng ta đến cho ta một bài học về xứ sở và con người, ngôn ngữ và đời sống nơi đó. Nó sẽ giúp cho con kiến thức và tầm nhìn xa hơn. Hãy thưởng thức và ghi nhận những gì con biết. Không ai dễ có được sự trải nghiệm đó đâu con. 

        Mùa Xuân đã về trong căn cứ. Tôi cùng mẹ tham dự những buổi liên hoan dành cho gia đình binh sĩ. Tôi hãnh diện làm con của mẹ, tôi hãnh diện là con trai một người lính Mỹ.Tôi cố gắng học tập, giúp mẹ những việc nặng nhọc, tôi phụ mẹ cắt cỏ, quét lá, dọn dẹp nhà cửa và nấu cho mẹ những món ăn VN mẹ thích. Tôi sẽ cho mẹ niềm vui để mẹ xóa đi nỗi buồn cô đơn của một người phụ nữ độc thân. Tôi sẽ cho mẹ một tình cảm mẹ con ấm áp. 

       Gia đình chúng tôi lấp lánh ánh đèn trên cây thông Giáng Sinh. Hạnh phúc bao trùm hai mẹ con tôi trong đêm giá lạnh. Tình yêu thương không phân biệt màu da và chủng tộc. Mẹ con tôi hai con người thiếu thốn tình mẫu tử. Chúng tôi sẽ bù đắp cho nhau và xây dựng mái ấm gia đình. 

        Ngày tết Nguyên Đán năm nay rơi vào ngày cuối tuần. Mẹ tôi cũng trang trí trong nhà vài hình ảnh ngày tết mà mẹ mua ở Việt Nam. Ngày mồng một, gia đình thiếu tá Nguyễn mời chúng tôi tới nhà. Năm nay mẹ bác ấy đến thăm và ở lại ăn Tết cùng con. Tôi mặc áo quần lịch sự. Mẹ Lisa mặc áo dài VN màu kem in những cánh mai vàng thật đẹp. Mẹ nói mẹ đã mua khi về VN làm giấy tờ mà chưa bao giờ được mặc.

       Nhà bác Nguyễn mời thêm nhà bác Hiến cũng ở trong căn cứ. Ba gia đình VN vui Tết quê hương. Mẹ bác Nguyễn cũng mặc áo dài, bà khen mẹ Lisa mặc áo dài quá đẹp. Bà vui vẻ nhận những lời chúc của các con cháu và mọi người. Bà chúc mọi người sức khỏe và thành công, chúc tôi học giỏi. Bà tặng chúng tôi những bao lì xì màu đỏ, màu vàng có in hình lá cờ VN hoặc trống đồng rất đẹp. Thú thật lần đầu tiên tôi cầm trên tay phong bao có hình lá cờ vàng với ba sọc đỏ. Thật lạ và đẹp. Một biểu tượng của lịch sử mà tôi cần phải học hỏi. Hôm đó tôi được ăn Tết VN thật sự. Bà đã cho chúng tôi thưởng thức thịt kho tàu, canh khổ qua, nem, chả giò và phở bò thật ngon. Bà nói ở đây không có điều kiện nên bà không thể gói bánh tét hay bánh chưng, bà chỉ gói ít bánh tét chuối ăn cho vui để nhớ. 

       Đây là cái Tết đầu tiên mà tôi đón nhận với tất cả niềm vui hạnh phúc và hy vọng. Đêm nay tôi sẽ ngủ thật ngon với nhiều mộng đẹp tương lai.  Mùa Xuân nơi đây, trong căn cứ này  sẽ là mùa Xuân thần thoại của riêng tôi.

Nguyễn thị Thêm.

(Viết thay cho cháu Tuấn khi gặp cháu trong căn cứ Yokota Nhật Bản)

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Mùa Xuân Thần Thoại, Nguyễn Thị Thêm
Comment

Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ ( Từ Thức)

February 26, 2026 Ninh Tran

“Vào năm giảm tô, ông nội bị bắt giam. Ông bị treo lên, đầu dọng xuống đất. Sao lại dọng đầu ông xuống đất, sau này tôi hỏi mẹ. Mẹ bảo, để cho ông có nuốt vàng vào trong bụng thì nhả ra. Họ dọng đầu ông như thế từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối. Cho đến lúc không tra khảo gì nữa thì tống vào tù”.

Đó là một cảnh đấu tố trong cuốn “GIA ĐÌNH” của Phan Thúy Hà (Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam) ra mắt năm 2020. Tác giả đi gặp, ghi lại lời kể của những nhân chứng còn sống sót thời Cải Cách Ruộng Đất kinh hoàng, đẫm máu ở miền Bắc, từ 1953 tới 1956.

“ĐOẠN ĐỜI NIÊN THIẾU” là cuốn thứ hai, cùng một đề tài, vừa được Hội Nhà Văn xuất bản ở Hà Nội (2023). Người đọc, dù đã biết, đã đọc những chuyện tàn khốc, man rợ về những cuộc đấu tố, sẽ sững sờ trước những sự kiện, những kỷ niệm sống, vượt xa sức tưởng tượng của những nhà văn giầu tưởng tượng nhất. Hơn cả cái tàn ác, cái làm cho người đọc kinh hoàng là sự hủy hoại tình người, mà Tô Thùy Yên gọi là cái “thương tổn nặng nề cho nhân phẩm.”

Gấp sách lại, người đọc tự hỏi: Tại sao con người có thể độc ác, tàn tệ với nhau đến như vậy? Nhất là đây không phải là nghĩa vụ “uống máu quân thù”. Đối tượng không phải là giặc Pháp, cũng chưa có “Mỹ Ngụy”.

Đối tượng là những người láng giềng, cha mẹ, anh em, chiến hữu đã cùng nhau vào sinh ra tử, những người cùng đổ máu để xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa, hôm trước là chiến sĩ gương mẫu, hôm sau bị quy là địa chủ bóc lột, vì có vài sào ruộng, một con trâu, một đàn gà. Hay chỉ vì một chút hận thù, ganh ghét cá nhân.

39 GIA ĐÌNH TAN NÁT

“Mẹ tôi nói: cha đấy con. Cha con là người vừa bị bịt mắt dải khăn đen kia. Cha giật dải khăn đen ra: Tôi không có tội gì cả. Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm. Chủ tịch HCM muôn năm (…) Buổi chiều trước ngày cha bị bắn, mẹ đưa cơm cho cha. Cha ăn cơm xong, người ta trả cái giỏ đựng nồi cơm cho mẹ. Mẹ thấy ở dưới đáy nồi mẩu giấy nhắn của cha: Ai ngờ vô tội mà chết oan. Âu cũng là số kiếp. Gắng mà nuôi con. Sau này Đảng có hỏi thì trình bày tới nơi tới chốn (Gia Đình; trang 171)

Đây không phải là một cuốn sách hư cấu. Dưới hai cái tựa hiền lành, gần như lạnh lùng, tác giả ghi lại lời kể của các nhân chứng, không một lời bình luận. Những dữ kiện trần truồng, không gói ghém, càng khiến cái man rợ man rợ hơn. Sự thực, cũng chẳng cần bình luận. Sự kiện, tự nó nó nói. Khi cái man rợ lên tới tột độ, lời bình luận trở thành thừa thãi.

Gia Đình (274 trang) là chuyện của 19 người; Đoạn Đời Niên Thiếu (250 trang), 20 người, tổng cộng 39 gia đình tan nát. Mỗi trang là một thảm kịch. Mỗi câu chuyện trong hai cuốn sách có cái tựa mang tên người kể chuyện: Lê Xuân Đài, Đặng Thị Dung, Đặng Văn Chương v.v…

Đoạn trích trên đầu bài là lời kể của nhân chứng Võ Tá Tạo (Gia Đình; trang 49-53).

Ngoài ông nội, bị treo ngược đầu, sau đó chết vì bệnh, “bác Võ Tá Cảnh, con trai cả của ông bà, chết trong trại giam. Có người nói bác tự vẫn (…). Anh chết, em phải thế mạng. Cha tôi, Võ Tá Tân, phải đền tội thay Võ Tá Cảnh. Cha về làng để nhận án tử hình thay thế bác Cảnh (…).

Trên quả đồi trọc, những bó đuốc giơ lên. ‘Cho mi nói một lời cuối cùng với bà con nông dân’. Cha nói: Con thưa bà con nông dân, con là một thằng phản dân, phản đảng, phản nước, con xin ông bà nông dân tha tội bắn cho con… Ba phát súng. Ở nhà chúng tôi nghe rõ. Cha tôi gục xuống.”

Trước khi xử tử, người ta quy tội. Có người bị hành hạ vì tội đã học tiếng Pháp, chắc chắn là để làm mật thám cho Tây. Có người bị kết án vì lý do ngớ ngẩn: Thằng Bản (địa chủ bị gọi là thằng, xưng con, bất chấp tuổi tác) chặt cây ngụy trang chỉ điểm cho giặc. Bởi vì có lần bà ta đi ngang ngõ thấy cha tôi bắc thang trèo cây, tỉa bớt cành lá (Gia Đình; trang 27).

Tội trạng như vậy, đủ để bị trói, bị quỳ trên sỏi đá, cho dân làng nhục mạ. “Buổi chiều, tôi gấp một chiếc giẻ may vào phần đầu gối chiếc quần cho cha quỳ đỡ đau buốt. Đứa nào may thêm vải này cho mày? Dạ thưa, con tự may. Lớp giẻ độn sau chiếc quần bị tháo ra. Đêm đó cha bị quỳ lâu hơn, đá nhọn dồn lên đầu gối sắc hơn hôm qua (Gia Đình; trang 28).

Cái đói, cái dã man hơn cả thú vật giữa người với người, cái nhục mạ, hành hạ thân xác, tinh thần những nạn nhân vô tội, và cái chết bi thảm, rùng rợn, của những người bị đạp ra khỏi xã hội hiện diện trên mỗi trang giấy. Một xã hội chỉ có nhu cầu ăn cho no, sẵn sàng đạp lên xác người khác để có bát gạo. Trò giải trí duy nhất là đi coi, hay tham dự đấu tố, cái vui duy nhất là nhục mạ, giết người trước đó là anh em, láng giềng hay ruột thịt.

CÁI TÀN ÁC MAN RỢ

Con đi bộ đội, một bà mẹ bị ép buộc hiến đất, hiến của cho cách mạng:

“Chum, vại, đàn trâu bò mẹ bán hết để mua công trái quốc gia, đóng thuế nông nghiệp (…). Mẹ được tặng bằng “Gia đình vẻ vang”. Con nhà người ta bị bắt đi tù, bị mang ra bắn, con mình được bằng khen. Mẹ bảo tôi tìm cho mẹ một cái ống tre khô, cuộn tròn tấm bằng khen, cất vào ống tre, để lên đầu giường. Một đêm, mẹ đang ngủ, dân quân gọi ra hội quán. Hôm sau tôi mang cho mẹ mấy củ khoai, thấy hai chân mẹ bị cùm, mẹ khóc. Hơn tháng sau, dân quân giải mẹ về, gọi tôi ra quỳ cùng với mẹ. Họ ra lệnh gì mẹ tôi cũng dạ (Đoạn Đời Niên Thiếu).

Ngoài sân như hội trường. Tiếng quát tháo, tiếng giành nhau đồ đạc. Cờ quạt dựng lên từ ngõ vào. Mẹ và bà nội bị bắt đi đâu không ai biết (…). Em tôi đói. Tôi cũng đói. Em lả dần và chết bên cạnh tôi. Người đấm đá vào lưng, vào gáy mẹ. Người ta lấy báng súng tọng lên lưng mẹ (Gia Đình; trang 39).

CÁI CƯỚP GIỰT

Đó là một xã hội cướp bóc, từ trên xuống dưới, công khai.

Nhà nước cướp: “Lúa chưa kịp phơi khô. Phải nộp hết. Gọi là thuế nông nghiệp’’ (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18). Thuế nông nghiệp, thuế khả năng và hàng chục thứ thuế khác. Nhiều người bị kết án tử hình sau khi đã cống hiến tất cả, nhưng vẫn chưa đủ.

“Cha bị bắt đi quản huấn. Ở nhà, thỉnh thoảng mẹ tôi bị bắt đến nhà một cố nông để khai báo còn cất bao nhiêu vàng bạc, lúa gạo. Còn gì mà khai báo. Vàng bạc đã cúng hiến cho kháng chiến trong “tuần lễ vàng”, lúa gạo đã cúng hiến cho chiến dịch ba tháng “góp gạo nuôi quân”, mùa lúa cuối cùng đã nộp hết cho thuế nông nghiệp” (Gia Đình; trang 55)

Mặc dầu vậy, “mẹ tôi bị trói cổ tay bằng sợi dây xỏ mũi trâu bò, treo lên cành cây bưởi ở mé sân, chân không chạm đất. Đàn con ngồi trước mặt mẹ, chứng kiến mẹ bị treo lơ lửng” (Gia Đình; trang 56)

Bị nhà nước cướp sách, dân đói, cướp lẫn nhau. Mang nhau ra sỉ vả, tra tấn, hành hạ hay chém giết chỉ để cướp một cái chiếu sạch, một cái nồi đồng.

-Mẹ dậy nhóm bếp, bẻ nửa nải chuối cho vào niêu luộc. Ánh lửa hất ra đường, cốt cán Hoe Năng đi tuần phát hiện, vào kiểm tra đang nấu gì. Chuối ở đâu ra (…). Tịch thu, của ni không phải của mi. Hoe Vinh bê niêu chuối trên bếp lẫn nửa nải chuối chưa luộc, mang đi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 34).

Cái cảnh cướp giựt, từ một miếng cơm, không biết nên cười hay nên khóc:

-Cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên. Đang ăn, dân quân đứng ngoài nhìn vào. Mẹ nhanh trí làm động tác như đang húp cháo. Nghĩ là ăn cháo, dân quân bỏ đi” (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 50)

-Trước khi đi ngủ, tôi xếp mười chiếc nón vào hai cái thúng. Sáng dậy gánh đi chợ hạ. Ra đầu ngõ bị dân quân tịch thu. Đây là âm mưu của địa chủ phân tán tài sản. Từng là chiến sĩ thi đua, được cả trường tôn trọng, nay gặp những chuyện vô lý như thế, tôi uất ức, khó chịu. Nhiều đêm không ngủ được, tôi nghĩ đến chuyện tự tử (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 70).

Một người cha đi tù, chuyển lời về nhà:

“Các con cứ để cho họ lấy hết. Một cái vung cũng không được giấu. Các con cố giữ lại thứ gì, tội cha to thêm thứ đó. Các con giữ thêm một đồ vật, cha bị kết tù thêm một năm” (Gia Đình; trang 34).

CÁI ĐÓI

Cái đói là một ám ảnh lớn. Trang sách nào cũng có chuyện ăn vỏ khoai, ăn lá cây, giành giựt nhau một nắm cơm, một bát cháo.

-Bán 10 viên (kẹo vừng), lời 4 viên. Các cháu đói quá, ăn vụng mất của o, đang lời thành lỗ. Chị dâu làm bánh tẻ, bánh ít đem ra chợ. Người ta xúm lại bóc bánh ăn rồi đi, không trả tiền (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18)

–Làm việc cả ngày, được nghỉ trưa một tiếng để ăn cháo. Chị nấu ăn hôm đó dùng thùng thuốc trừ sâu đựng cháo. Thùng chưa vệ sinh sạch. Mấy người ăn bị ngộ độc. Họ nghi tôi, con địa chủ, bỏ thuốc độc vào nồi cháo. Không ai ăn cùng mâm, không nói chuyện với tôi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 20).

Đôi khi người đọc mỉm cười: Mẹ bị tố, cả nhà đói, người anh đi bộ đội gởi về tặng em một… trái mìn, để đánh cá. Mìn nổ trên mặt nước, chỉ chết vài con cá mương (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 36).

CÁI SỢ

Cai trị bằng cái sợ là một chính sách, một lý thuyết chính trị của Lénine, được Staline, Mao, Pol Pot và những đệ tử Việt Nam trung thành áp dụng triệt để.

Sợ từ khi còn ngồi ghế nhà trường: “Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết sợ gì (Gia Đình; trang 42).

“Văn đệ tứ, phải chọn giữa 3 đề, đề 2: Bình luận một câu của Trường Chinh, đề 3: Phương pháp tả người của Nguyễn Du. Cả lớp làm đề 3. Dại chi làm đề kia, viết hớ hênh một câu mất lập trường là nguy (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 21).

Cái sợ bám vào nhân thân suốt đời, như một người cao tuổi, trong Gia Đình, tới nay vẫn không dám thắc mắc một chuyện gì:

“Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai, tôi vẫn là một ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một chuyện gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình, cầm bút lên tôi lại run”.

CÁI CHẾT

Hậu quả của sự tàn bạo là cái chết. Chết vì bị treo cổ, treo đầu ngón chân, bị đánh đập, tra tấn, vì đói, vì tự tử.

-Chị ngồi tựa lưng vào gốc cây dối, dải yếm trễ xuống, thằng con như con nhái bén vẫn đang nhai vú mẹ. Lúc đó chị đã chết rồi mà tôi không biết (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 41).

-Bà nội chết vì rét hay vì đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ, bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà, thấy hai chiếc xương sườn bị gẫy (Gia Đình).

HUẤN LUYỆN CĂM THÙ

Người ta tự hỏi: tại sao những người nông dân, vốn hiền lành, đã trở thành ác quỷ? Con người có thể trở thành thánh, hay thú vật, tùy môi trường sống, tùy giáo dục. Lịch sử đã chứng minh điều đó, với xã hội Đức dưới thời Hitler, Nga dưới Staline, Tàu dưới Mao, Cao Miên dưới Pol Pot. Việt Nam không phải là một ngoại lệ, nếu điều đó có thể an ủi người Việt.

Tất cả trò đấu tố đều học của Tàu, cố vấn Tàu sang dạy cách xử án, quy định tỷ số địa chủ phải mang ra làm thịt. Đó là một xã hội xây dựng trên sự căm thù, được dạy dỗ, tập luyện từ nhỏ, từ ghế nhà trường:

– “Thầy giáo nói hôm nay nghỉ học để tối đi đấu tố địa chủ… Xen vào những buổi đi học bình thường là những buổi nghỉ học để tối đi dự đấu tố. Học sinh đến trường tập trung. Mỗi em một bó đuốc, vừa đi vừa hô. Tôi cũng hô to không thua gì các bạn (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 64).

-Tấm biển “Địa chủ” dựng trước sân. Tôi hất đi thì hôm sau thằng bạn học cùng trường đến dựng lên. Trước đây nó cùng đội thiếu niên, tôi liên đội trưởng, nó liên đội phó (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 49).

Được dạy dỗ như vậy, bọn trẻ thơ ngây trở thành ác quỷ. Có lẽ cái giết sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ, nó còn ghê rợn hơn cả chuyện giết người.

-Bị đuổi dạy, thầy giáo Banh nấu nước chè xanh đi bán ở các làng khác, khi về đến đầu làng bị nhóm trẻ con xúm vào đập vỡ hết bát, ném xuống sông, thầy ngồi khóc trên cầu (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 87).

-Ê, con địa chủ, con địa chủ. Mấy đứa lao vào tôi. Bọn con gái không đánh được thì giật tóc, gõ đầu, cấu véo. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về đến nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này (Gia Đình; trang 41).

NHỤC MẠ

Giết người chưa đủ, đánh tan nát gia đình nạn nhân chưa đủ, chia nhau từng cái chổi cùn chưa đủ, còn phải nhục mạ người sống, người chết:

“Vườn của bác đã là vườn của nông dân. Không được chôn địa chủ trong vườn nông dân” (Gia Đình; trang 23).

Có lẽ cái nhục mạ nạn nhân, cái thú man rợ khi tước đoạt luôn nhân phẩm con người chỉ có dưới chế độ cộng sản, đặc biệt là cộng sản Tàu và đàn em. Dưới những chế độ độc tài khác, thường thường chỉ có cái ác.

SỬA SAI

Năm 1957, Đảng nhận lỗi, sửa sai. Nhưng lỗi là lỗi của những phần tử quá khích. Đảng không thể có lỗi. Tại trường học, những ông hiệu trưởng, giáo viên trước đây được khen ngợi đã thành công trong việc giúp học sinh đấu tố nhau, bị kết tội do địch gài vào để phá hoại.

Nhà nước xin lỗi, thế là xong, yên chuyện, ai về nhà nấy, như không có chuyện gì xẩy ra. Như có người vô tình chạm vào tôi ngoài đường, xin lỗi. Dạ, không có chi.

Dù sao, chuyện Đảng công khai xin lỗi cũng cho phép gia đình nạn nhân được khóc công khai những người đã bỏ mạng. Và cho phép rất nhiều tác phẩm về “Cải Cách Ruộng Đất” ra đời mà tác giả không đi tù hay mất mạng.

Mặc dù vậy, cái sợ hình như vẫn đâu đó.

Đại tá nhà văn Phan Kế Toại, đề tựa cho cuốn Gia Đình, đề cao việc làm của tác giả, coi trọng việc đi tìm sự thực, không quên thòong một câu, cho chắc ăn: “Mọi người cần chung tay cố gắng trân trọng sự đổi mới, gìn giữ thành quả dân chủ để đất nước không bao giờ trở lại thời kỳ ấu trĩ như thế nữa”.

“Thành quả dân chủ”! Câu kết luận politically correct không khỏi khiến người đọc mỉm cười, khi nghĩ đến thực trạng Việt Nam ngày nay về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng…

Trong cùng một bài tựa, ông Toại kể: “Trong gia đình tôi (…), nhiều người đã bị quy địa chủ, phú nông hoặc phản động. Người bị tịch thu tài sản, người tự vẫn, người bị bắt giam, bị cùm chân, người bị xử tử”. Dùng chữ “ấu trĩ” cho một xã hội lở lói khủng khiếp như vậy có lẽ hơi nhẹ.

Bao nhiêu người là nạn nhân của “cách mạng”? Theo BBC, nhà nghiên cứu Mông Cổ Balazs Szalontai khai thác các tài liệu Đông Âu và Liên Xô, đưa ra con số 7,7 triệu người dân và hàng trăm gia đình “buộc phải tham gia và chịu hệ lụy” chỉ trong đợt giảm tô. Trong đợt chính thức Cải Cách Ruộng Đất, 4 triệu người “chịu tác động”. Tác giả Hoàng Minh Chính đưa ra con số nửa triệu người (5% dân số miền Bắc) bị phỉ quyền Hà Nội giết hại.

Riêng “Cải Cách Ruộng Đất”, theo Bernard Fall, 50.000 bị xử tử, ít nhất gấp đôi bị đày đọa đi tù lao động khổ sai. (BBC 3/2/2022)

Le Livre Noir du Communisme (Sổ Đen của Chủ Nghĩa Cộng Sản) do sử gia Stéphane Courtois chủ biên, cũng đưa ra con số 50.000 người bị xử tử, từ 50.000 tới 100.000 người bị đưa đi tù lao động khổ sai. 

Le Livre Noir là một cuốn sách dày 662 trang, do các sử gia, ký giả, giáo sư Pháp biên soạn, tố cáo những tội ác man rợ của cộng sản quốc tế, với 100 triệu nạn nhân đã bỏ mạng để xây dựng “XHCN”.

Từ Thức

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ, Từ Thức
Comment

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH ̣̣ ̣Huỳnh Anh Trần-Schroeder

February 25, 2026 Ninh Tran

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH

Họ gặp nhau trong một buổi cắm trại hướng đạo vùng Lâm Đồng cao nguyên.

Sáng tinh sương, chàng vừa đưa tay vuốt mái tóc bồng trong gió rừng, ngắm cảnh nước cuốn trên dòng suối róc rách, bỗng nghe tiếng cười khúc khích tiếp theo là”thôi đẹp rồi, khỏi cần trau chuốt”.

Quay lưng lại, chàng thấy nàng cười tươi bên cụm lan rừng ven bờ suối.

Rồi tiếp theo là

Khỏi cần xưng tên, biết anh là Sói tốt tướng, thuộc tráng đoàn Bạch Mã Lam Sơn”

Chàng nheo mắt hỏi

“Giỏi lắm! Nhưng tốt tướng xin xét lại vì còn tùy nhãn quan người nhìn. Thế còn cô tên là gì?”

Chưa có tên rừng, nhưng nếu có chắc là én ranh mảnh, én tào lao hay én chọc quê, tùy người chọn.

Tôi xin chọn “yến mỹ miều”

“Ớ cái anh chàng vô duyên, chưa quen mà đã nịnh đầm rồi.

Én nầy là én lang thang.

Cuối rừng mượn gió trêu chàng tráng sinh,

Nắng lên đẹp lối bình minh,

Nhanh lời thơ mọn, chúc xinh tháng ngày,

Chúc ai thơ thẩn khoan thai,

Ngắm sen trong ánh sương mai ngọc ngà,

Chằng hẹn nhưng trót quen ta,

Xin lời tâm nguyện trên nhà bon chen,

Xa gần trước lạ sau quen,

Nhớ ngày tao ngộ, bờ sen ven rừng.”

 Thế là họ quen nhau một buồi đẹp trời rừng núi cao nguyên.

Thế rồi họ yêu nhau, cùng chung tâm tưởng giúp đời theo lời khuyên của Baden Powell và sau đó theo lời nguyền Hippocrates sau những năm dài học trình y khoa.

Ngày trên quê hương chiến tranh tăng tốc độ khắp quan hà núi sông, chàng vừa học xong năm cuối trường y, “mùa hè đỏ lửa” 1972 anh “xếp áo thư sinh theo tiếng gọi lên đường” vào quân y lăn lóc khắp các vùng hỏa tuyến quê mình. Nàng khoác áo trắng tình thương thêu chữ thập hồng ngược xuôi các trạm y tế hậu phương cùng tiền tuyến đem hành trang học trình đỡ đần chăm sóc thương binh cùng người dân họa hoằn trong những vùng khói lửa quê hương, ngày đêm cầu nguyện cho hòa bình trở lại, cho non nước lại xanh màu, dân tình thôi đau thương và người yêu trở về với mình, dù lành lặn hay mất mác vài khoảng thân hình nhưng vững niềm tin nơi loài người còn nhân tính và xứ quê hết vận mạt.

Họ xây dây cát đằng trong một buổi tinh sương bên bờ suối ở khu rừng họ gặp nhau ngày nào. Họ yêu nhau tha thiết, quên ngày xa cách những lúc chàng hành quân. Những ngày về phép tưng bừng vui nhộn. Cuộc đời rày đó mai đây, họ trân quý từng phút bên nhau, họ cho nhau những gì đẹp nhất trên đời, không bao giờ hờn giận nhau hay hận sầu quê hương vì biết sinh ra trong thời binh biến, chẳng biết ra sao ngày sau, một ngày có nhau là một ngày hạnh phúc vô biên. Họ cảm ơn đất trời, mỗi mùa sao sáng dưới chân Thánh Giá, mỗi buồi quỳ dưới tòa sen Phật Đài, nghe lòng lắng dịu nỗi sầu nhân thế.

Rồi năm tháng dần trôi. Gia đình lại thêm hồng phước với hai con, một trai, một gái, thêm tiếng cười ngày cha về phép.

Rồi tháng tư đen bỗng đến trong nghẹn ngào trên đất nước lầm than.

Rồi gia đình cùng qua cửa thần phù trên Thái Bình Dương khổ ải.

Nơi xứ lạ quê người thành quê hương thứ hai, cuộc sống đầy thử thách lại bắt đầu, tìm tình người trong nỗi sầu vong quốc, tìm ánh tương lai cho đàn con và ngày tĩnh lặng thu đông cuộc đời cho song đường hai bên người còn, người mất.

Bát ngát ruộng vườn ngô lúa mì mang nguồn sống mới, tuy khác lạ với ruộng vườn phù sa, cây trái xum xuê của miền nhiệt đới, nhưng đây là mảnh đất nhiệm mầu có chân tình thiên hạ, tâm hiền người dân làng quê xứ nhỏ của bao la xứ Mỹ. Nơi đây con của họ lớn lên, không nuôi dưỡng hận thù bất đắc dĩ, biết nhận thức nét đẹp thiên nhiên và cao cà lòng người với người dân nhiều hiểu biết văn hóa hơn dân xứ xưa của mình nhưng vẫn giữ lòng chất phác như người dân Việt của những ngày họ vừa lớn, vừa biết yêu thương.

Không như một số người y khoa đồng môn, đồng khóa đã đến bến bờ xứ Mỹ như họ mà vẫn đua đòi công hầu danh tướng sống nơi tụ tập dân Việt nhiều xa hoa như vùng Quận Cam Cali hay thủ đô Hoa Thịnh Đốn, vừa se sua thành tích, vừa nổ miệng khoe của, khoe thành tích con em chức cao đổ đạt, họ cần mẩn làm y sĩ làng quê, vui với sự giúp đỡ y tế cho dân làng và vui thú điền viên. Cuộc đời thật thanh bình, con cái hòa hợp, hòa đồng, trưởng thành với người bản xứ.

 Hôm nay là ngày kỷ niệm thứ  năm mươi  ngày họ gặp nhau.

Tay trong tay, hai bóng người lững thững dạo đường mòn ven núi, trong rạng đông sương gieo thánh thót trên chốn thiên nhiên âm thầm thanh tịnh.

Trên thảm cỏ xanh viền bờ suối vờn bọt sóng, họ ngồi cạnh nhánh cây nửa chìm nửa nổi trên dòng nước. Vuốt tóc nàng, chàng thầm thì trong gió rù rì qua rặng cây:

Cánh én yêu kiều, nhạn rừng hoang,

Hồn thơ lai láng, giấc mơ vàng,

Thương em qua dặm ngàn dâu bể,

Từ bình minh én dựng mùa xuân,

Đến độ thu đông, tuổi ân cần,

Tình sói miên man, dâu bể chẳng nề.

Sáng rạng đông hay cuối dương tà,

Tình ta tha thiết, tình mặn mà,

Thương em như lụa ngà trăng giăng,

Như bóng nguyệt lồng ngọn hải đăng,

Như đường tàu sóng hoa giăng trắng,

Trắng mơ màng người yêu dưới trăng.

Giờ đây sương khói mờ nhân ảnh,

Vẫn thương người em đẹp như tranh,

Bờ rừng ven suối lời ranh mành,

Trộm trái tim anh về chốn vườn thanh.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH
Comment
Older Posts →
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories