Tầm gửi sống lâu ngày có thể làm cho "cây chủ" suy yếu dần. Trong chính trị, một thể chế "tầm gửi" thường không chú trọng xây dựng nội lực, khoa học kỹ thuật hay sản xuất trong nước mà chỉ trông chờ bên ngoài. Quốc gia đó khó có tiếng nói bình đẳng trên trường quốc tế, dễ bị biến thành "quân cờ" hoặc là vùng đệm cho các nước lớn. Vì sự sống hoàn toàn gắn liền với cây chủ, nếu cây chủ bệnh tật, chặt bỏ hoặc thay đổi chính sách, thì quốc gia "tầm gửi" đó sẽ lập tức rơi vào khủng hoảng trầm trọng, sụp đổ hoặc bị thâu tóm.
Read morePhiếm luận hài hước – Chuyện giả tưởng, cười cho vui cuối tuần! (Bài trên NET)
Nghe nói tỷ phú Elon Musk đang có tham vọng đưa xe Tesla tự lái đi khắp thế giới, nhưng vào VNCS, thì…bó tay!
Xe chạy ngon lành trên xa lộ Mỹ, vượt đèo ở Thụy Sĩ, luồn lách giữa phố chật chội Paris, Tokyo, thậm chí còn biết tự động né chó, tránh mèo, nhường đường cho cụ già, xe bus học sinh và dừng lại trước đèn đỏ.
Elon Musk hãnh diện vỗ ngực tuyên bố:
– Trí tuệ nhân tạo của Tesla số một, có thể giải quyết bất cứ những tình huống giao thông phức tạp nhất hành tinh này!
Một kỹ sư người Việt nghe vậy, cười khẩy:
– Anh Elon ơi! Đừng có gáy sớm! Anh đã cho xe chạy thử ở Việt Nam chưa? Mà tuyên bố láo như vậy?
Musk ngạc nhiên:
– Việt Nam CS có gì đặc biệt?
– Có chứ! Bên Mỹ, xe phải tuân theo luật giao thông. Còn ở Việt Nam CS , muốn sống sót, trước hết phải biết… “bố thằng bên cạnh là ai!”
Read moreNhân Chuyến Viễn Du Cuối Cùng của Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần (Bác Sĩ Trần Xuân Ninh)
Đầu tháng 9/2026. Một ngày như mọi ngày?
Buổi sáng mùa thu nắng ấm. Tôi ngồi trước cái laptop mở trước mặt, theo thói quen đọc lướt qua tất cả các tin tức thư từ nhận được trong đêm hôm trước, đại loại như là:
*Những tường thuật, bình phẩm, thông báo… về Donald Trump từ mạ lỵ đến tâng bốc mà chẳng sao. Những vụ kiện tụng dính dấp đến ông ta kéo dài từ các tòa địa phương đến tối cao pháp viện với hàng đàn luật sư, bồi thẩm đoàn đẩy qua đẩy lại hết tiểu bang đến liên bang chẳng có gì được thi hành với đủ lý cớ. và nay vẫn trở thành lãnh đạo đệ nhất cường quốc thế giới.
*Những lời qua tiếng lại trên mạng giang hồ điện tử - để chứng tỏ mình trên cơ - giữa đám hậu duệ của bên thua cuộc cũng như thắng cuộc về những danh từ cách mạng tháng 8, về chào mừng quốc khánh mồng 2 tháng 9, về cướp chính quyền, về thế chính thống của đế quốc Việt nam với vua Bảo Đại (bù nhìn) không có sức nên sẵn sàng để bị đớp, và những trao đổi về tuổi già làm sao hưởng đời … làm tôi chợt thấy mình đã qua lâu rồi cái giai đoạn phải biết mũ ni che tai theo lối phân chia cuộc đời của Khổng Tử (1), mà còn để mất thêm thì giờ cho những chuyện tầm phào thì thật chẳng giống ai.
Quả thế, ngồi trước bàn viết nếu nhìn qua cái cửa số phía đông - bên tay phải, mở xuống cái sân nhỏ lát xi măng giới hạn về phía nam bởi cây lê hoa trắng sai quả mà những con sóc thi nhau vừa ăn vừa bỏ không kịp phá hết, về phía bắc bởi cây đào non tuổi hơn trĩu quả ngả rạp xuống đất làm đứa con trai tôi phải dùng mấy thanh gỗ 2’’x 4’’ chống cho khỏi gẫy. Gần cây đào là một cụm cúc nở vàng mùa thu. Trên cái khuỷnh sân nhỏ xi măng dẫn ra cổng sau nhà đó tôi hay rắc một ít cơm nguội vào những khi nắng ráo để dụ lũ chim sẻ từ đâu đó bay tới - mà lúc đông nhất đếm được 15 con nhẩy qua nhẩy lại nhặt ăn từng hạt và chọc ghẹo nhau. Thảng hoặc có một vũng nước đọng lại sau cơn mưa lớn nhiều giờ khi gặp điều kiện ánh sáng thuận lợi có thể phản chiếu cho thấy một khoảng trời xanh mây trắng thơ mộng. Cho tới nay sau mấy chục năm ở ngôi nhà này chưa bao giờ tôi thấy những cảnh như thế này mà khám phá ra một điều hiển nhiên, là có tìm thì có thấy. Tất cả những thứ này khiến tôi mỗi năm 4 mùa đều có điền kiện để tưởng tượng ra mà hưởng cái thú trong 4 câu thơ cổ chép trên một cái quạt giấy trắng kèm theo mấy cái hình thủy mạc đơn sơ của ông bạn thân phụ tôi: Xuân du phương thảo địa, Hạ thưởng lục hà trì, Thu ẩm hoàng hoa tửu, Đông ngâm bạch tuyết thi (mùa xuân đi chơi cỏ xanh non, mùa hạ ngắm ao hoa xúng xanh, mùa thu uống rượu cúc, mùa đông ngâm thơ tuyết trắng).
Xin mở ngoặc nói ở đây, để cho thấy những xu hướng xã hội chính trị quần chúng Việt Nam đa dạng đa diện, phi Cộng sản trong những vùng Pháp kiểm soát những năm 1947-1954 chứ không như Việt cộng dán nhãn “Việt gian theo Tây” và về sau này xấc láo gọi xách mé là “ngụy” và tưởng thế là hay - rằng ộng này là một đồng chí thân cận với Lý Đông A đảng trưởng Đại Việt Duy Dân. Khi đảng này bị Việt Minh vây đánh tiêu diệt năm 1947 (để giành độc quyền thống trị theo bản luận cương của Lenin như chính Hồ chí Minh viết ra năm 1921 trong giai đoạn thất cơ lơ vận sống ở Paris) ông này ở mật khu Nga Sơn Thanh Hóa thì lạc khỏi nhóm Lý đông A, trôi giạt dần ra Hà nội rồi được giới thiệu đến tá túc với gia đình tôi lúc đó ở phố Tô Hiến Thành(Wiélé). Sau một thời gian khoảng trên 1 năm, ông bị đau bệnh nặng, đưa vào nhà thương Bạch Mai vài hôm thì mất. Ông nội tôi dùng một khúc gỗ lim cưa cắt làm bia, khắc tên là Bùi Tiên Tiến tức Nguyễn thế Vinh.
Trong cái khuỷnh thanh thản sống với ký ức đó, tin Bác Sĩ Hà Ngọc Thuần từ trần đến với tôi từ một đồng nghiệp - Bác Sĩ Ngô Thế Vinh bằng một cái email ngắn ngủi. Thư còn nói anh Thuần là bạn thân của hai anh em tôi (Trần Xuân Dũng và tôi). Đồng thời gợi ý tôi viết vài giòng và xin tôi một cái ảnh anh Thuần. Tôi không có ảnh nhưng có một cái khác. Cái khác này anh Thuần đã tặng tôi hôm tôi sang ở Melbourne Úc châu 10 ngày khi Dũng mất cách đây 3 năm. Tôi đã ý thức lúc đó rằng có lẽ đó là chuyến cuối cùng của tôi sang Úc với tổng số đường dài từ thành phố gió(windy city) Chicago bên bờ hồ Michigan trong nhóm Ngũ đại hồ miền Trung Tây Hoa kỳ trên dưới một ngày bay. Thân già ngồi vé-máy-bay-hạng-tiết-kiệm-tối-đa (basic economic) khó mà chịu nổi sự ê càng xẩy đến: đau lưng nhức chân. Cho nên đã bỏ hai ngày bay lên Brisbane gặp thân hữu xa gần và bạn bè đồng nghiệp như Bác Sĩ Đặng vũ Thúy Doan, Bùi Trọng Cường (ít lâu sau thì mất), và Hà Ngọc Thuần mới ra đi…. Lúc đó anh Thuần đã có vẻ yếu và chậm chạp trông thấy. Tôi chỉ đơn giản nghĩ là vì tuổi già. Anh Thuần đưa cho tôi một tặng phẩm và nói nhỏ vài câu mà đôi tai già nghễnh ngãng của tôi nghe không rõ. Đó là bài thơ chữ Hán Nam Quốc Sơn Hà của đại danh tướng Lý Thường Kiệt đời Lý, với kỳ tích bắc phá quân Tầu (nhà Tống), nam bình giặc Chiêm Thành mà anh Thuần chép lại bằng lối chữ thảo. Tôi đã ôm về, thấp thỏm suốt chuyến bay lo lắng mặt kính bị vỡ, hay khung ảnh thiếp vàng trạm lá nguyệt quế (laurier) bị trầy trụa khi có người nặng tay sắp xếp đồ đạc cứng nặng trong hộc hành lý. Chụp lại gửi cho anh NTV kèm với thư này hôm nay xem cho biết. Và hiểu tâm sự người bạn thân của anh em tôi, Hà Ngọc Thuần, muốn nhắn gửi. Nói cho rõ, tôi chỉ có một bạn thân ở cấp trung học phổ thông Chu Văn An mới liên lạc được gần đây. Không có bạn thân nào từ khi lên đại học, vì tôi vốn quả giao. Nhưng những bạn thân của Dũng em tôi (con số chỉ vài ba) mà Thuần là một thì cũng là thân của tôi, vì tôi coi như người trong gia đình.
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Đại loại dịch ý ra chữ nôm là:
Sông núi nước Nam, vua nước Nam ở,
Phân chia vị trí rõ ràng đã ghi trong sách trời.
Cớ sao các ngươi ngỗ ngược đến xâm phạm,
Chúng bay rồi xem, sẽ chuốc lấy thất bại tan tành.
Theo tôi một chiếc ảnh cho thấy ngoại hình thể chất kể là đẹp nhất nhưng có thể không tự nhiên, do làm dáng làm vẻ lúc chụp. Còn một bài viết trải ra trên giấy phản ảnh trọn vẹn hơn tâm thức con người qua nét chữ và nội dung. Anh Vinh chắc cũng đồng ý và hẳn sẽ hài lòng.
Bài thơ Nam Quốc Sơn Hà (thủ bút bác sĩ Hà Ngọc Thuần)
Cũng ngạc nhiên vì nghe anh NTV làm tổng thư ký và chủ bút báo Tình Thương. Bởi vì tờ nguyệt san của sinh viên y khoa này ra đời là do tôi khởi động ở giảng đường M1 trường Y khoa đường Trần Quý Cáp trong không khí hưng phấn sau vụ lật đổ tổng thống Ngô đình Diệm (lúc đó được gọi là Cách mạng 1 tháng 11/1963). Sinh viên tham dự là do em tôi Trần xuân Dũng đang học năm thứ năm y khoa cùng với Hà ngọc Thuần là bạn thân từ hồi đệ ngũ trường Nguyễn Trãi Hà nội triệu tập vì lúc đó tôi đã ra trường. Cử tọa này tuyệt đại đa số là năm thứ ba y khoa, các lớp dưới thì học mờ người không có thì giờ mở mắt vì nếu thi 4 kỳ mà trượt là văng ra khỏi trường. Tôi nhớ không thấy có anh Ngô Thế Vinh. Khi tìm hỏi để viết bài này mới biết NTV ở lớp nhỏ hơn, không ở trong không khí cách mạng 1 tháng 11/1963. Anh phụ trách tờ Tình Thương khoảng năm 1966 (?)/1968 khi tình hình đất nước có nhiều sôi động và tâm thức con người phức tạp nên tờ Tình thương không tồn tại bao lâu sau đó nữa.
**
Đề nghị tên cho tờ báo tôi đưa ra ban đầu là Thông Xanh, cảm hứng từ đôi câu đối Hán Việt cổ xưa ý nghĩa tuyệt đẹp (đối với một thanh niên mới lớn là tôi): “Hàn khí tri tùng tiết / Lâm phong thức trúc can”, tạm diễn nghĩa là “Có khí lạnh mới biết cái tiết (hàm ý sức mạnh) của cây thông, Có gió rừng mới thấy gan (hàm ý sự gan lỳ dẻo dai) của cây trúc. Hay là “giữa trời vách đá cheo leo, ai mà chịu rét thì trèo với thông”. Tiếc rằng đám sinh viên chỉ nghĩ đến cái nghề chữa bệnh lấy tiền đúng mức - nghĩa là hành nghề theo những khuyến cáo của Hippocrate, được vẽ ra cụ thể qua nhân vật Angus Duer trong cuốn tiểu thuyết Dr Arrowsmith của Sinclair Lewis. Cũng nói thêm rằng năm 1970 khi tôi du học Chicago Hoa kỳ có đọc được một khuyến cáo (không nhớ nguyên văn) trong một tạp chí nhỏ y khoa cho sinh viên mới nhập học rằng y khoa là một thương nghiệp (business). Khuyến cáo này đã được thi hành trong thực tế. Bởi thế thống kê cho thấy chi phí cho ngành chăm sóc sức khỏe quần chúng ở Hoa kỳ cao hạng nhất thế giới nhưng kết quả thì ở dưới thấp, thua nhiều nước có chi phí y tế ít hơn.
Phải thú nhận rằng tôi đứng ra thúc đẩy sinh viên Y khoa thành lập tờ nguyệt san Thông Xanh mặc dầu là đã ra trường và học xong lớp huấn luyện quân sự một tháng ở trung tâm huấn luyện Quang Trung cho các bác sĩ trưng tập dân y, đeo lon trung úy chờ ngày đi nhận nhiệm sở ở Kontum, là vì nhiệt tình của một kẻ hăng say mới vào đời muốn duy trì tinh thần tranh đấu dài ngày cho gia đình sinh viên y khoa. Khác với sự làm đặc san của các trường khác là chuyện nhất thời để thỏa mãn nhu cầu viết lách cá nhân. Tôi nói gia đình vì đã thâm cảm những lời mở đầu bài cơ thể học thứ nhất của vị giáo sư tài danh Nguyễn Hữu mà tôi kính mến. Ông nói khi đã vào trường y khoa thì như trong một gia đình. Người đi trước là anh người đi sau là em nâng đỡ hướng dẫn nhau…
Nhiệt tình đã bùng lên vì bị kích thích bởi những luận cứ báo chí ngoại quốc - và truyền thông VN a tòng theo đó, loan đi rằng ông Ngô đình Diệm gia đình trị và tham nhũng thối nát, bà Ngô đình Nhu lộng quyền và đồi trụy, trấn áp Phật giáo. (Nghĩ cho cùng theo như truyền thống Việt Nam con người nếu không tin tưởng và dựa vào gia đình thì tin ai và dưa vão đâu). Bằng cớ trước mắt là thượng tọa Thích quảng Đức mà tôi cũng như quần chúng đa số chẳng biết là ai được xe hơi chở tới cho ngồi bất động giữa đường Thái lập Thành chỗ gần tòa đại sứ Cao mên. Rồi có người đến châm lửa vào áo vàng ướt đẫm săng bùng cháy. Truyền thông gọi là Sư “tự thiêu” phản đối đàn áp Phật giáo. Còn bà Nhu lúc đó đang công du ở Mỹ hồ đồ khinh miệt gọi chuyện đó là một vụ "barbecue". Mặt khác cũng hy vọng chuyện sinh viên ồn ào ủng hộ đảo chính sẽ có hệ quả (nhỏ thôi) là khiến giáo sư Trần đình Đệ giám đốc trường Nữ Hộ Sinh Quốc Gia kiêm Bộ Trưởng Y Tế bớt tác phong quan liêu khó chịu: Trong buổi khám bệnh hàng tuần thì ông khệnh khạng đi trước, vây quanh bởi mấy nữ hộ sinh cao cấp huấn luyện viên thân cận, rồi mới đến các bác sĩ phụ tá và nội trú với sinh viên. Không ngờ là chuyện hy vọng mơ hồ đó đã xẩy ra đúng như thế. Sau cuộc đảo chính giáo sư Đệ ngoài chuyện mất chức bộ trưởng là vì dính đến chính trị còn bị văng ra khỏi ban giảng huấn trường Y khoa sang tận Phi châu trú ngụ nhiều năm rồi mới âm thầm trở lại sống ở vùng Virginia/Maryland Hoa kỳ nơi nhiều người Việt trung lưu khá giả và các quan chức VNCH sau tháng 4/1975 cư ngụ, cho đến khi từ trần. Tôi chỉ còn biết chép miệng “đời có số”. Nhưng cũng thấm thía rằng còn có yếu tố nhân quả, với duyên: Trường Y Khoa không chỉ có một giáo sư Trần đình Đệ tham chính mà còn có các giáo sư khác làm bộ trưởng mà chẳng hề hấn gì trong những vụ đổi thay to lớn tương tự như 1 tháng 11/1963
**
Đúng ngày 1 tháng 11/1963 là ngày chấm dứt khóa học 1 tháng quân sự cho các bác sĩ dân y trưng tập trong đó có tôi ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung mà Chỉ Huy Trưởng là tướng Mai Hữu Xuân. Trung tâm mở một tiệc trà khoản đãi các học viên, có tướng Xuân tới tham dự lúc khoảng 11 giờ trưa. Sau ít phút, Tướng Xuân từ biệt. Đang cùng các bạn đồng nghiệp ăn bữa trưa cuối cùng của trung tâm dọn ra trước khi xuất trại thì tôi nghe thấy những tiếng súng nổ bất thường ở phía Sài gòn của cuộc Đảo Chánh (thứ hai) thành công lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng hòa đã dầy công 9 năm xây dựng được một Miền Nam ổn định thịnh vượng xóa bỏ mọi vết tích của thời Nam Kỳ Tự Trị thuộc Pháp.
Chứng kiến cuộc chấm dứt một chế độ 9 năm đã xây dựng nên một miền Nam ổn định bất giác tôi không khỏi nghĩ đến những ngày đầu ở tuổi đủ lớn khôn (18 tuổi) để nhớ rõ giai đoạn chông chênh chuyển tiếp từ vô cùng xáo trộn mọi loại đến yên bình thật sự của Miền Nam. Tôi đã lần đầu tiên được đi máy bay quân sự DC3 chở gia đình lực lượng Bảo An nho nhỏ độc nhất ủng hộ Thủ Tướng Diệm, từ phi trường Gia Lâm trời còn mờ tối một ngày hạ tuần tháng 7/1954. Phong phanh mặc áo sơ mi với quần short. Khi máy bay lên cao phải chịu lạnh hơn 4 tiếng đồng hồ trên trời để sau cùng đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhứt ấm áp như chưa từng thấy và được đưa tới một chỗ tạm trú ở Bình Đông (hay Bình Tây?), Miền Nam. Ngày tết đầu tiên khi tình hình Sài gòn Chợ Lớn thực sự ổn định khoảng 1955-1956, nhà sản xuất phim ảnh Mỹ Joseph Leo Mankiewicz đã đến Sài gòn, dùng công trường trước chợ Bến Thành làm hậu cảnh quay phim. Hai anh em, là Trần xuân Dũng và tôi đã đến xem để biết các tài tử nam nữ đóng phim như thế nào. Thất vọng, vì chỉ thấy máy quay phim và đèn rọi sáng choang. Trong cơn thất vọng đó thì hai ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu cũng đi xem chợ Bến Thành ngày tết, trong đám đông tình cờ đến ngay cạnh anh em tôi, chẳng thấy có hộ vệ súng ống gì cả. Từ bấy đến nay ở nước Mỹ phồn thịnh tự do tổng cộng trước sau hơn nửa thế kỷ, chưa bao giờ tôi có được ấn tượng yên bình thoải mái như thế. Nhưng quy luật trời đất vốn hữu hình thì hữu hoại: Sau cuộc đảo chính 1 tháng 11/1963 tôi đã nhìn thấy hình hai ông Diệm và Nhu nằm chết trên vũng máu trong chiếc xe M113 ngày 2 tháng 11/1963.
Về cái kết thúc bi thảm này, nhiều năm sau đã có những diễn giải khác nhau từ mọi phía, kể cả từ phía kẻ chủ chốt là Mỹ, với đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. Sang tới Việt Nam Lodge Jr. lập tức diễn tuồng đội khăn đóng mặc áo dài đi thăm dân các tỉnh mua lòng dân chúng. Bên cạnh đó là những sự kiện không mấy ai để ý trong đám tướng tá khác. Như Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa trong chi đội xe M113 đi bắt hai ông Diệm và Nhu dưới sự điều động của Tướng Mai Hữu Xuân, sau này sang Mỹ cư trú ở một tiểu bang nhỏ vắng vẻ, yên lặng xuất gia đi tu…
Đến đây thì tôi bật nhớ lại hồi học Chu Văn An Hà nội câu nói của giáo sư Nguyễn Ngọc Cư dậy Việt văn và triết (cụ có cái cục u to sau gáy gần bằng quả cam nên bọn học trò gọi là cụ Cư bướu): Người là chó sói cho người (l’homme, c’est le loup de l’homme).
Trần Xuân Ninh (ngày 29 tháng 9/2026)
(1)Theo Khổng Tử trong sách Luận Ngữ, cuộc đời con người được chia thành 6 giai đoạn phát triển gắn liền với sự trưởng thành:
15 tuổi (Thập hữu ngũ nhi chí vu học): Để hết tâm trí vào việc học tập, xác định chí hướng và tu dưỡng bản thân.
30 tuổi (Tam thập nhi lập): Vững vàng, tự lập và có chỗ đứng trong xã hội.
40 tuổi (Tứ thập nhi bất hoặc): Trí tuệ mở mang, thấu hiểu sự đời và không còn hoài nghi, mê hoặc trước mọi việc.
50 tuổi (Ngũ thập tri thiên mệnh): Hiểu rõ quy luật của tự nhiên và mệnh trời, biết rõ sứ mệnh của mình trong cuộc đời.
60 tuổi (Lục thập nhi nhĩ thuận): Nghe hiểu mọi chuyện, phán đoán sự việc thông suốt, lòng êm ái và không còn thấy khó chịu hay bực mình trước những lời trái tai.
70 tuổi (Thất thập nhi tòng tâm sở dục, bất du củ): Đạt đến cảnh giới tự do tâm tính, làm theo mong muốn của bản thân nhưng vẫn tự giác hòa hợp và không vượt quá khuôn phép đạo lý.
**++**
Đúng ngày đảo chánh là ngày tôi vừa cùng các bác sĩ dân y đồng khóa học xong một tháng quân sự ở Tung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Bế mạc huấn luyện là 11 giờ sáng 1 tháng 11/1963 có một tiệc trà mà ông Tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy trưởng trung tâm tới dự. Sau khi ông Xuân ra đi, lúc chúng tôi bắt đầu bữa ăn cơm trưa cuối cùng của khóa huấn luyện thì thấy có tiếng súng nổ phía Sàigon. Thế là cuộc đảo chánh (thứ hai) lật đổ ông Diệm mà dư luận lúc đó gọi là cuộc cách mạng 1 tháng 11 xẩy ra thành công chấm dứt chế độ đệ nhất VNCH sau 9 năm yên bình ổn định và miền Nam phát triển xóa hẳn những dấu tích một Sài gòn thuộc Pháp. Điều trớ trêu là tôi (tuy bị động, như ếch bị bỏ rọ) ở trong đơn vị của vị tướng quan trọng lúc xẩy ra đảo chính!
**++**
Lake America
Thống kê số trọng tội các nhà lãnh đạo chính trị thế giới vi phạm
"Thiên sứ" Donnie Trump và phóng viên Kristen Welker đài NBC
Trong cuộc phỏng vấn với chương trình Meet the Press của Kristen Welker đài NBC loan đi ngày Chủ nhật 7 tháng 6 tổng thống Donnie Trump đã bị hỏi về lời tuyên bố sai lạc của ông về kết quả cuộc bầu cử năm 2020. Trump trả lời “Cô hoặc là lưu manh hoặc là ngu xuẩn” Rồi gỡ bỏ microphone ra và đứng dậy bỏ đi.
Cuộc phỏng vấn đã được thu băng ngày 5 tháng Sáu trong một nông trại ở Wisconsin.
Trump đã giải thích với một đám quần chúng về thái độ bỏ ngang cuộc phỏng vấn rằng ông đã bực bội vì thời tiết xấu.
“Buổi đó trời mưa. Và cuộc phỏng vấn là với hãng tin giả NBC. Và vì trời mưa, tôi hơi bực bội với họ. Tôi không hài lòng với họ. Nhưng chúng tôi đã có một buổi thoải mái.”
https://www.youtube.com/watch?v=4EusZcKt5fs
Mối nối link trên là toàn bộ chương trình Meet the press của NBC. Nhưng xem từ phút 40mn trở đi sẽ cho thấy cảnh Trump đứng dậy bực bội bỏ đi vì bị hỏi bí.
D. Trump bực bội chống hai tay lên đùi phía trên đầu gối để lấy sức đứng lên cắt ngang cuộc phỏng vấn
Trump giận dữ bỏ đi
NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE"
NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE”
hay CHUYỆN TIẾP THEO Ở MỸ 50 NĂM SAU “NGƯỜI Ở LẠI CHARLIE” (1972-2022)
Ngày 5 tháng 7, 2022 tại toà Bạch Ốc, Tổng thống Joe Biden đã trao tặng Huân chương Danh Dự (Medal of Honor)-Huân chương cao nhất của Quân đội cho 4 chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu ở VN trước 1975, trong đó có cựu Thiếu tá John J. Duffy, từng là Cố vấn Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù (TĐ11ND) Quân đội VNCH vào thời điểm “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972.
Lần trao tặng huân chương hôm đó, có sự hiện diện của cựu Trung tá Lê Văn Mễ, nguyên Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND, đơn vị đã tử chiến với một lực lượng quân đội Bắc Việt đông hơn gấp bội trong trận chiến Mùa Hè 1972 tại cao điểm Charlie, thuộc tỉnh Kontum, Quân đoàn II, Quân khu 2. Cựu Thiếu tá Duffy là cố vấn của TĐ11ND và là một trong những nhân vật chính của trận chiến đi vào quân sử ở đồi Charlie, mà Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã sáng tác bản nhạc “Người Ở Lại Charlie” nổi tiếng cho đến tận bây giờ. Bản nhạc ngợi ca Cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, nguyên là Trung tá Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND (được mệnh danh là Song Kiếm Trấn Ải). Ngày 12 tháng 4 năm 1972, Trung tá Nguyễn Đình Bảo đã nằm yên trên đỉnh đồi Charlie. Ông ra đi ở tuổi 35 và được truy thăng Đại tá sau khi hy sinh.
Sau khi Trung tá Bảo tử trận, Tiểu đoàn phó TĐ11ND là Thiếu tá Lê Văn Mễ nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn, nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy đơn vị trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.
Ngày tiếp theo, địch quân pháo kích và tấn công dồn dập. TĐ11ND bị thiệt hại nặng nề, lại lâm vào tình cảnh thiếu thốn mọi thứ do tiếp liệu khó khăn: lương thực, thuốc men, kể cả đạn dược cạn dần. Hãy nghe Bác sĩ Tô Phạm Liệu nói với Thiếu tá Mễ: "Hôm nay là ngày 13, con số không lành, thế nào chúng cũng pháo và tấn công mình nữa. Tôi lo cho thương binh quá. Nếu không có thuốc và di tản kịp thì chắc sẽ không qua khỏi… Tôi hết thuốc men rồi…” (Trích “Máu Lửa Charlie” của Đoàn Phương Hải). Cuối cùng, Thiếu tá Mễ, Thiếu tá Duffy và Đại uý Hải quyết định rút khỏi Charlie vào chiều hôm đó. Cố vấn Duffy đã xin được mấy phi vụ B-52 thả xuống ngăn chặn địch quân để cho tiểu đoàn di tản.
Trong những giây phút cuối cùng, những thành viên còn lại của TĐ11ND hầu hết đều đã kiệt lực vì đa số là thương binh, kể cả Thiếu tá Mễ và Thiếu tá Duffy. Mấy chục người còn sống sót được chia thành nhiều toán, và chuyến trực thăng di tản chở những người cuối cùng lại xảy ra một tình cảnh “thập tử nhất sinh" với Đại uý Hải, Trưởng ban 3/TĐ11ND, là người sau cùng leo lên trực thăng. Hãy nghe nhà văn Phan Nhật Nam mô tả tình huống đó trong bài viết “Mặt sau tấm huy chương cấp muộn, gắn trễ!” đăng trên saigonweeklyonline.com mà tôi xin trích đăng: “… Hải lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, Hải trúng đạn ở chân phải, rớt từ trực thăng xuống đất, chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên. Thảng thốt Hải ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn 5 cây số, nhưng là năm cây sốđồi cao vực thẳm, năm cây số đường rừng và lại đang bị thương ở chân thì làm sao có thể đi được?! Anh sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bầy kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương, sẽ rữa nát hình hài! Tiếng trực thăng trên đầu làm Hải vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Anh đưa cao tay vẫy, miệng hét lớn. Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giang tay nắm chặt giây đạn và một tay của Hải kéo mạnh. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên xong bay thẳng. Máu phun có vòi từ anh xạ thủ đại liên người Mỹ làm ướt mặt Hải và Duffy. Duffy chồm tới bịt chặt vết thương trên ngực người xạ thủ đại liên. Mễ kéo Hải vào nằm lên sàn tàu. Hải không thể tin mình còn sống do tình chiến hữu cao cả của hai người lính ở hai đất nước khác nhau. Duffy ôm lấy Hải. Nghẹn ngào trong mắt. Vì vết thương quá nặng, anh xạ thủ đại liên Mỹ qua đời, phi công phụ gục đầu bên cửa máy bay với vết thương ở tay…”
Xin kết thúc bài viết này bằng những lời tâm sự của Mủ Đỏ Đoàn Phương Hải trong “Ký Sự Chiến Trường: Máu Lửa Charlie” viết vào năm 1998 để“Tưởng nhớ Anh Năm Nguyễn Ðình Bảo, Khóa 14 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH”:
“…Anh đã ra đi hơn một phần tư thế kỷ, 26 năm biết bao vật đổi sao rời. Ðểtôi làm lại nhiệm vụ ngày xưa kể lại anh nghe...
"Mễ, Liệu và tôi, những người gần gũi Anh nhất trong trận chiến Charlie đã không còn ở quê nhà và chúng tôi đã nhấp nhô theo vận nước nổi trôi. Ðàn em của Anh đã bỏ quê hương đi về "quê hương mới?!" Mặc dù Anh đã đi thật lâu, con trai của Anh đã là một y sỹ, chiến hữu của Anh kẻ ở người đi, nhưng những người còn lại vẫn nhớ Anh, họ vẫn nhắc đến tên Anh qua bài hát mà Nhật Trường viết tặng riêng Anh, viết cho "Người Ở Lại Charlie."
"Mấy chục năm sau, vượt đại dương muôn trùng sông nước, theo gió bay ngang dọc địa cầu, dù ở nơi đâu, chân trời góc biển, nơi đâu có người Việt thì nơi đó họ hát bài ca bất hủ để nhớ Anh. Ngay cả ở quê nhà, kẻ thù của Anh cũng vẫn nghe dân chúng hát bài ca để nhắc đến tên Anh…”
Mời các bạn xem video về buổi lễ gắn Huân chương Danh Dự tại toà Bạch Ốc và phóng sự về tình bạn cao quý giữa 2 sĩ quan Việt-Mỹ của đài ABC (tôi đã chuyển ngữ từ Anh qua Việt ngữ) theo đường link: https://www.youtub
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG XUNG ĐỘT BIÊN GIỚI THÁI LAN - CAM BỐT TRÊN TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG KÊNH ĐÀO FUNAN TECHO (Ngô Thế Vinh)
TIẾNG VIỆT “MỌI RỢ” (Benny Nguyen)
TIẾNG VIỆT “MỌI RỢ”: CỰC HOT, SIÊU NGON, NGON VÃI, NGON ĐỈNH, NGON HOÀNH TRÁNG
Con lừa thì ăn rau, củ, quả và chuyên chở đồ giúp ích cho chủ nó. Còn đảng viên lừa, giáo sư lừa, tiến sĩ lừa và sư hổ mang lừa thì ăn hối lộ, lãnh lương từ tiền thuế của dân, tham nhũng, mua bằng giả, rồi làm lễ khoe bằng giáo sư, tiến sĩ lố bịch, rất thích làm “bố thiên hạ”!
Đám lừa này làm chủ tịch, tổng bí thư, bộ trưởng bộ giáo dục, bộ y tế, bộ ngoại giao nhưng trình độ Việt văn và Anh văn ngang với người mù chữ, kẻ thất học.
Tôi rất thông cảm và tội nghiệp cho những người vì hoàn cảnh tài chánh gia đình khó khăn, không có cơ hội được đi học, nhưng tôi phải chỉ trích gay gắt những tên “giáo sư, tiến sĩ Việt cộng lừa”!
Thay vì nói “10 bí quyết nấu ăn ngon xuất sắc / ngon tuyệt / ngon độc đáo / ngon đặc biệt v.v. “ thì “đám lừa” dùng chữ “cực hot” lai căng không đúng chỗ.
Thay vì dùng chữ Hán Việt “Úc Đại Lợi” hay tiếng Anh “Australia” thì mấy ông bà “cán bộ ngoại giao lừa” dùng chữ phát âm của khỉ “Ô-Xtơ-Rây-Lia” làm tên quốc gia trong sổ thông hành. Thay vì giữ nguyên tên thành phố tiếng Anh “Houston” thì lại viết “Hiu-Xtơn”!
Thay vì dùng danh từ y khoa “vi khuẩn” thì đám “lừa” dùng chữ phát âm quái đản sai bét “vi rút” từ tiếng Anh “virus”!
KẾT LUẬN
Vì tự ti mặc cảm ngu dốt, nguồn gốc là đầu trộm đuôi cướp đi “cướp chính quyền“, người cộng sản Bắc Việt rất thích "nổ”, dùng chữ “dao to búa lớn" để khoe khoang và tự xưng ta là “đỉnh cao trí tuệ loài người, đảng quang vinh muôn năm”! Ở đời, ai càng nổ, càng khoe khoang mình tài giỏi hơn người khác thì càng lòi ra sự ngu dốt của mình và chỉ làm cho mọi người khinh bỉ, lánh xa
Benny Nguyen
MỘT ĐOÁ SEN THƯỢNG TỌA THÍCH THANH LONG Quyền G.Đ Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH (Phạm Gia Đại)
Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng.
Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố giỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung như đốt ấy trong cái cả nh nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam. Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.
Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng. Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.
Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến. Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm. Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa chứ đã tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.
Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày. Các buồng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam.
Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng buồng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già. Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay. Vị sư già đó chính là Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Thanh Long, một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể. Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái chăn đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.
Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.
Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy, nhất là khi biết hai tòa đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.
Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh Nguyệt và Thích Thiện Siêu. Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này. Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho Cộng Sản.
Thích Minh Nguyệt đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện Siêu thì thường được gọi là ông Từ Đàm vì tu ở chùa này ngoài Huế. Sau đó chính Thượng Tọa Thích Thanh Long là người đã đứng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích. Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.
Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:
“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.
Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.
Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.
Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày. Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.
Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh. Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu.
Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam.
Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà có được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng buồng. Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết. Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.
Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam. Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp. Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:
“Anh khai báo thế này hả? Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.
Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:
“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thể thôi!”.
Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng. Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã. Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Thầy ung dung trả lời rằng:
“Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.
Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy. Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng.
Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được. Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.
Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.
Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử. Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.
Chùa Vĩnh Nghiêm có vời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đó.
Phạm Gia Đại
Radio Lạc Việt ngày 4 tháng 10 năm 2025 và Bác sĩ Trần Xuân Ninh
1/ Bác sĩ Trần Ngọc Ninh, một giáo sư nổi tiếng của trường Y khoa đại học Sài gòn vừa từ trần ở tuổi 103. Các bác sĩ và các nhân viên y giới làm việc trực tiếp hay gián tiếp với giáo sư Ninh đều lên tiếng vinh danh ông. Ngoài ra còn có những bày tỏ hảo cảm ngoài y giới, từ những giao tiếp bên ngoài xã hội của giáo sư, qua những bài viết trong lãnh vực nhân văn của giáo sư mà người ta biết, rải rác trên các tạp chí đủ loại. Các tin tức còn cho biết rằng bác sĩ là “đệ tử ruột” của Giáo sư Ninh ở bệnh viện Nhi đồng Sài gòn đường Sư Vạn Hạnh. Và vì thế mới có những truyền miệng đi mấy chữ, là Ninh lớn, Ninh nhỏ. Điều này có đúng không? Bác sĩ có những nhận định gì thêm về chuyện này?
Read moreNgười Việt ( dưới chế độ Cộng Sản) đi nước ngoài (Người Buôn Gió)
Người Việt ( dưới chế độ Cộng Sản) đi nước ngoài .
Chuyện người Việt Nam ra nước ngoài định cư ngày càng nhiều... đủ mọi hình thức lách luật để được chính thức ở lại như những trường hợp mà tác giả "Người buôn gió" đã viết lên.
Cũng có trường hợp có xảy ra ở Bruxelles, nơi này hiện tại nhiều người Việt sang đây với nhiều hình thức khác nhau. Chuyện lấy vợ, gả chồng là chuyện bình thường và cũng nhiều người đã làm...lại còn chuyện hắn biết giống như trường hợp được hợp pháp hoá giấy tờ như tác giả viết "Một phụ nữ Việt Nam vào Đức lậu, có bầu và được một người có giấy tờ Đức nhận là bố đưa trẻ, cô và đứa bé được ở lại Đức và nhà nước chu cấp đầy đủ cho hai mẹ con. Kiểu hợp thức hóa giấy tờ như thế này đã có xảy ra ở Bruxelles, được hợp lệ ở lại như là được cấp thẻ xanh còn đến khi nào được quốc tịch thì tính sau vì điều kiện vào quốc tịch ở Bỉ khó khăn hơn lúc hắn xin vào có nghĩa là phải đi làm full time có khai báo đầy đủ trong vòng 5 năm liên tục mới được nộp đơn xin.
Ngày càng nhiều những người ra đi như "dạng hái khế" (không phải người nghèo đi trốn lậu), đi theo dạng hái khế là một cách nói ám chỉ việc chết một cách bất ngờ, đột ngột hoặc không lường trước, giống như một quả khế chín rụng xuống đất mà không báo trước. Thành ngữ này xuất phát từ đặc điểm của quả khế là một loại trái cây chín và rụng bất cứ lúc nào hoàn toàn thể hiện sự ra đi đột ngột, bất ngờ, không báo trước, tương tự như cách quả khế tự rụng xuống .
Đọc bài viết để có một cái nhìn về đất nước và con người Việt Nam ngày hôm nay.
Ara
Người Việt đi nước ngoài
Đất nào sinh ra tôi
Mẹ hiền nào nuôi thân tôi
Miền nào nuôi thân tôi
Mà giờ này tôi xa rồi
Quê Hương Bỏ Lại là nhạc phẩm mà các ca sĩ hải ngoại di tản theo dạng thuyền nhân sau năm 1975 thường trình bày gây xúc động kiều bào vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước.
Nội dung nhạc phẩm trải nỗi lòng của những người tị nạn rời xa quê hương, họ bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và không hẹn ngày trở lại.
Hơn 30 năm sau, nhiều người trong số họ đã trở về từ Khánh Ly, Chế Linh đến các ca sĩ trẻ hơn như Mạnh Quỳnh, Phi Nhung.
Nhưng làn sóng người Việt rời xứ sở ra đi ngày một nhiều hơn, sự ra đi của họ không bi tráng như những thuyền nhân trước kia, họ ra đi trên những chiếc máy bay với một lịch trình cho cuộc sống trước mắt ở xứ người đã được sắp xếp chu đáo bởi các công ty tư vấn, dịch vụ định cư.
Ngày nay trên đường phố quanh khu Bolsa của Nam Cali, thủ phủ của cộng đồng người Việt tị nạn nhan nhản những tấm biển quảng cáo cho dịch vụ định cư, du học, việc làm. Có rất nhiều gia đình quan chức cộng sản đã tìm đến Hoa Kỳ định cư theo diện đầu tư như gia đình Nguyễn Công Khế. Một nữ tổng biên tập một tờ báo ở Việt Nam là Hồ Thu Hồng với cái tên gọi là Beo Hồng cũng đã có mặt trên đất Mỹ từ lâu, tổng biên tập tờ báo Vietnamnet đình đám một thời là Nguyễn Anh Tuấn cũng như Beo Hồng, gia đình Tuấn hiện đã sinh sống tại Mỹ.
Trước mắt các bạn đã thấy ba tổng biên tập của ba tờ báo lớn Việt Nam, những tờ báo hàng ngày vẫn ca ngợi đảng và chính phủ Việt Nam đem lại tăng trưởng, đem lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân, họ đã đưa gia đình đến nơi mà tờ báo của họ từng miệt thị, chửi bới thậm tệ để sinh sống. Những người kế cận họ lại điệp khúc khen chế độ Việt Nam(việt cộng) , chửi Mỹ và đánh đấm kiếm tiền đưa gia đình sang Mỹ.
Vô vàn các nghệ sĩ, ca sĩ Việt Nam bằng cách nào đó như kết hôn, hợp đồng lao động đã kiếm cho mình được tấm thẻ xanh trên đất Mỹ.
Bây giờ tôi thường xuyên nhận được tin nhắn hỏi về việc định cư tại châu Âu. Một chủ nhà hàng lớn trong chuyến du lịch đến châu Âu, vốn là người quen cũ, ông ta hẹn tôi uống cà phê và bày tỏ ý định tìm cách định cư tại châu Âu. Dự định của ông là mua nhà bên Hy Lạp với giá khoảng 250 ngàn Euro, chính phủ Hy Lạp đang khủng hoảng về tài chính, họ có chính sách bán nhà và cấp giấy định cư cho những người nước ngoài đến mua nhà. Người mua nhà ở Hy Lạp có giấy tờ đi lại trong khối Schengen tức đi lại trong 27 nước Tây Âu, với giấy tờ này người ta có thể sống và làm việc tại bất kỳ nước nào, miễn có việc làm và nuôi được bản thân không xin trợ cấp.
Rẻ hơn nữa là Latvia, với khoảng 150 nghìn Euro mua nhà bạn có thể sở hữu được tấm giấy phép như vậy.
Còn ở Đức thì giá đắt hơn, một gia đình có thể phải mất đến vài trăm ngàn để làm một dự án kinh doanh, nhà hàng, công ty tạo việc làm để đưa cả một gia đình đi.
Đỗ Liên, đại sứ danh dự Việt Nam ở Châu Phi, chủ hãng bảo hiểm AAA khi xưa nay đang cùng chồng sau sở hữu một nhà hàng lớn ở ngay trung tâm Berlin. Liên cùng chồng sau là Toàn và các con cái đã sống ở đây vài năm, họ vẫn đi đi về về Việt Nam điều hành việc làm ăn ở nhà. Quán của vợ chồng Toàn Liên sau vài năm mở để đưa cả gia đình sang, hiện đã sang bớt cổ phần cho Quán Ngon. Số tiền vợ chồng Toàn Liên chuyển sang đầu tư đến hàng triệu Euro, riêng phần bếp đã vài trăm nghìn. Có đến hàng trăm, đó là con số tôi có thể biết về những người Việt Nam đầu tư sang Châu Âu để kiếm giấy tờ hợp pháp sinh sống ở châu Âu như vậy.
Ở Hung ngày càng nhiều người Việt hơn, với 60 nghìn euro cho gia đình 4 người và thêm khoảng 100 ngàn euro mua nhà, cả gia đình 4 người đã có giấy tờ. Trước đây Hung còn có chính sách nếu ai mua trái phiếu chính phủ khoảng 3-400 trăm ngàn euro gì đó sẽ được cấp thẻ xanh vĩnh viễn, chương trình này chấm dứt rất nhanh bởi người Trung Quốc nhanh chóng ùa đến. Sau ba năm trở lại Hung, trên con phố đi bộ đắt nhất của thủ đô Hung, bên dòng Đa Nuyp thơ mộng. Những con người từ xứ Tô Châu đã tìm đến đây để sống với một môi trường trong sạch, an toàn không ô nhiễm và đầy bạo lực như quê hương họ.
Đại sứ quán Hung ở Việt Nam không đủ người để giải quyết hàng đống hồ sơ xin mua nhà, xin tạm cư của người Việt.
Ở Hung mua nhà không bị hỏi tiền ở đâu ra, miễn là bạn mua nhà hay bất động sản ở Hung thì bạn có cầm vali tiền mặt đều được chấp nhận. Hình như sau bao nhiên năm gì đó bạn mới được bán đi.
Đấy là những người có tiền, những người ít tiền hơn họ chọn cách ra đi bằng đường du lịch sang Nga và trốn đường rừng vào Ba Lan, Lát Vi A rồi sang đến Đức, nơi có cộng đồng đông đảo người Việt đang sinh sống, những đồng bào cùng miền quê với họ sẽ giúp họ tìm việc làm và đợi thời gian tích luỹ số tiền sẽ hợp pháp hoá giấy tờ trên cơ sở điều luật nhân đạo của Đức như kết hôn, nhận bố, nhận con. Rất nhiều cô gái trẻ người Việt mặt non choẹt đẩy xe nôi trên đường phố Berlin. Một phụ nữ Việt Nam vào Đức lậu, có bầu và được một người có giấy tờ Đức nhận là bố đưa trẻ, cô và đứa bé được ở lại Đức và nhà nước chu cấp đầy đủ cho hai mẹ con. Năm sau cô sinh đứa thứ hai, một người đàn ông Việt chưa có giấy tờ nhận là bố đứa trẻ, anh ta sẽ được giấy tờ và trợ cấp. Với cách thức như thế, càng ngày càng nhiều nam nữ thanh niên Việt Nam tìm đến nước Đức qua con đường trốn từ Nga sang. Từ năm ngoái ở Ba Lan có kiểu những người Việt đi du lịch sang Châu Âu, sẽ đến Ba Lan tìm một công ty dịch vụ làm giấy tờ chứng nhận họ có hợp đồng lao động ở Ba Lan, giá chỉ 2 ngàn euro là có một giấy tạm cư 2 năm tại Ba Lan. Đây là những nghèo khổ, ở quê hương họ không có việc làm, không có tương lai. Họ phải vay mượn, cầm cố đất đai cho những đường dây đưa người lậu để mong đến được nước Đức đổi đời.
Canada và Úc là những nước dễ nhập cư nếu như bạn có hợp đồng lao động. Một phụ nữ có hai đứa con nhỏ , chị kiếm được hợp đồng làm chăm sóc người già ở Canada, thế là chị và hai đứa con giờ ở Canada đã 5 năm. Một thằng em tôi quen trên Facebook, mới ngày nào còn la oai oái việc thanh toán tiền thi công của đối tác chậm ở Việt Nam, nay thấy ung dung đưa ảnh đang ăn hải sản bên Úc với con cua to đùng và gật gù khen ngon và rẻ hơn quê hương có mấy ngàn cây số ven biển của mình.
Những người ra đi sau này họ vẫn đi đi về Việt Nam để kiếm tiền bởi những quan hệ quan chức và các mối quan hệ làm ăn của họ vẫn đang hái ra tiền ở Việt Nam.
Một dự án hàng trăm triệu, hàng tỷ USD ở Việt Nam được thực hiện, tiền vốn chính phủ vay của nước ngoài, nhà thầu nước ngoài được phép thi công, các quan chức Việt Nam được nhà thầu lại quả trung bình 15%. Hãy hình dung chỉ cần dự án 100 triệu là có 15 triệu đủ để cả chục gia đình quan chức Việt Nam có tiền mua đất đai và giấy tờ định cư ở nước ngoài.
Những dự án đó phá hoại môi trường, gây ô nhiễm không khí, đẩy người dân vào cảnh mất đất và giao thông chật chội, hỗn loạn, khiến người dân Việt Nam luôn chất chứa sự uất ức mà chính họ không hiểu nguyên nhân. Sự uất ức đấy tích tụ và thành những hành động tiêu cực khi gặp việc, có thể họ trộn chất độc hại vào thức ăn để bán kiếm lời để lại mối hoạ ung thư tràn lan, hoặc họ rút dao ra đâm nhau khi có chuyện xích mích, hay đường sá và phương tiện với tỉ thứ trong đầu người dân khiến mạng sống con người có thể chấm dứt trong tích tắc trên đường.
Nhưng những người hái khế ưu tú đã có phương án của họ, ra đi để tránh cho gia đình mình phải chịu chung những mối lo như thế ở Việt Nam, quê hương chỉ là nơi họ hái khế phục vụ gia đình mình.
Và càng nhiều những người ra đi như dạng hái khế (không phải người nghèo đi trốn lậu) theo dạng đầu tư như trên, họ để lại đàng sau càng nhiều ô nhiễm môi trường, xã hội loan lạc, bệnh tật ở quê hương Việt Nam.
Người Buôn Gió
Bỏ bùa cho sư (Gió ViVu)
Ba cô đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư.
Sư về sư ốm tương tư,
Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu.
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây?
(Khuyết danh)
Có người bảo rằng “Ba cô” trong bài thơ “Ba cô đội gạo lên chùa” chính là Tam độc: Tham, Sân, Si, trong thuyết pháp của Phật giáo. Chỉ cần có “một” trong “ba thứ độc” đó sẽ khiến người ta triền miên sống trong khổ hạnh……….
Read moreY ĐỨC VIỆT NAM (dưới chế độ Cộng sản)
Bệnh Viện thì to nhưng tình người thì không còn có tại các bệnh viện ở Việt Nam ngày nay nữa!
Read moreKhóc ông Kớt
Nhà Văn Phan Nhật Nam
Năm 2017, ông được nhà văn Hữu Thỉnh mời về Việt Nam nhưng ông đã từ chối.
…..Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân Lực Miền Nam như trên vừa kể ra, với tính khách quan, độc lập của người không liên hệ đối với sinh hoạt của giới văn hóa, học thuật trong nước, ở Hà Nội trước, sau 1975.. Tôi có thư nầy để trả lời mời gọi mà ông Hữu Thỉnh đã trực tiếp gởi đến cá nhân tôi nhằm thực hiện tiến trình gọi là "Hòa Hợp Hòa Giải". Câu trả lời trước tiên, dứt khoát là: Tôi xin được hoàn toàn từ chối sự mời gọi vì những lẻ…….
Read moreMÁU VÀ HOA (Lê Đình Quang)
Dân chúng chạy trốn Việt Cộng
Với vũ khí tối tân của Nga và khối cộng.
Người dân Quảng Trị bồng bế nhau chạy giặc.
Giặc cộng.
Họ chạy về nơi có sắc áo Rằn Ri. Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa.
Hơn 50 ngàn người dân của 3 quận đầu của Tỉnh trong tổng số 230 ngàn dân Quảng Trị, bỏ nhà bỏ cửa trốn chạy giặc cộng.
Quân ta phải phá sập cầu Đông Hà, lui về phòng tuyến Mỹ Chánh.
Đoạn đường 10 cây số về Mỹ Chánh được gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng.
Thịt xương của những người dân chạy giặc biến thành một lớp xền sệt trên đoạn đường tử khí này.
53 năm trời đã trôi qua.
Bọn việt cộng ngụy tạo Lịch Sử. Bôi đen Lịch Sử.
Bọn bò đỏ,bọn trí thức ngụy biện cho tội ác này.
Chúng ta có thể ngồi yên sao?
Băn tới viên đạn cuối cùng. Viết cho cạn dòng mực máu trong tim.
Không thể nào để cho tội ác này chìm trong Lịch Sử.
Không thể nào để cho xương máu của những người Lính Việt Nam Cộng Hòa bị lãng quên.
Họ đã chiến đấu tới giọt máu cuối cùng cho nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân
Read moreChuyện thế hả (ngày 26 tháng 6/2025)
Bộ trưởng quốc phòng Pete Hegseth và Tham mưu trường Liên quân tướng Dan Caine
Hình chụp sau cuộc đụng độ ngắn ngủi 12 ngày giữa Do Thái và Iran. Mở ra đột ngột ngày 13 tháng 6/2025 bởi thủ tướng Do Thái Ben Netanyahu bằng những oanh kích ào ạt vào các cơ sở quân sự, phá hủy các địa điểm phòng không, nhà cao tầng, giết chết nhiều lãnh đạo quân sự, chính trị, các chuyên gia nguyên tử. Khác với thái độ yên lặng chịu đựng như trong quá khứ, Iran đã ngay lập tức trả đũa bằng trên 550 hỏa tiễn hành trình và trên 1,000 máy bay không người lái tự sát vào các cơ sở chính quyền, quân sự, năng lượng, dân sự.. phá thủng vòm sắt (Iron Dome) bảo vệ vững chắc Do Thái thường khoe khoang, làm Mỹ phải nhảy vào chống đỡ giúp. Thêm vào đó là oanh tạc 3 cơ sở nguyên tử của Iran ngày 22 tháng 6/2025 mà TT#47 Donnie Trump tuyên bố đã vùi lấp kín. Bộ trưởng quốc phòng và tham mưu trưởng liên quân trong hình đang giải thích thêm, cho biết là mọi chi tiết đang được đánh giá. Ngày 24 tháng 6/2025 Iran và Do Thái chấp nhận ngưng chiến. Khả năng chế tạo võ khí nguyên tử của Iran còn lại ra sao thì tùy theo nguồn tin mà thay đổi: chậm trễ từ vài tuần đến vài tháng hoặc vài năm. Dù sao thì Netanyahu cũng lao đao, Phải quay trở lại yên lặng lo toan giải quyết những tranh chấp phe phái chính trị ngoài những khó khăn cá nhân trong đó có việc phải ra tòa giải thích về những chuyện tham nhũng và vợ thích uống rượu sâm banh loại sịn.
Nhận Xét về Phim Mưa Đỏ (MX Lê Quang Liễn)
Người lính Việt Nam Cộng Hòa cho tù binh Việt Cộng uống nước.
Nhận Xét về Phim Mưa Đỏ
Vào cuối tháng 8 năm nay (2025), nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cho trình chiếu cuốn phim Mưa Đỏ, do Cục Điện Ảnh của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thực hiện.
Cuốn phim Mưa Đỏ được dàn dựng công phu, nhằm tái hiện một giai đoạn bi thương trong lịch sử dân tộc, đặc biệt là trận chiến đẫm máu tại Cổ Thành Quảng Trị năm 1972. Tuy nhiên, do tính chất của sản phẩm mang màu sắc tuyên truyền, phục vụ mưu đồ chính trị, một số cảnh trong phim đã được hư cấu hoặc phóng đại quá nhiều so với thực tế.
Việc hư cấu trong phim, truyện là lẽ thường. Nhưng đó là với các tác phẩm giải trí, còn khi các tác phẩm mang tính cách lịch sử, thì sự thật phải được tôn trọng. Những bộ phim ngoại quốc về phòng hơi ngạt, lò thiêu của Đức Quốc Xã, về vụ thảm sát Nanking do quân Nhật gây ra hoàn toàn trung thực, vì nó dựa trên tài liệu là hàng ngàn tấm ảnh, thước phim ghi lại và có hàng vạn, hàng chục vạn người chứng kiến và kiểm chứng.
Từ khi phim Mưa Đỏ chiếu ra công chúng ở Việt Nam cho đến nay, đã tạo ra nhiều luồng dư luận trái ngược. Đa số những người ở miền Bắc, đặc biệt là giới trẻ sinh ra sau cuộc chiến (kể cả giới trẻ miền Nam), vì không hể theo dõi tài liệu trên sách báo ngoại quốc, thì tin rằng những tình tiết bi hùng của phim là sự thật. Còn những người miền Nam, đặc biệt những quân nhân từng tham chiến trải dài hơn hai mươi năm thì nhìn thấy rất rõ sự phóng đại, xuyên tạc ác ý của người làm phim.
Tôi là quân nhân thuộc binh chủng của Quân Lực Thủy Quân Lục Chiến VNCH, người được vinh dự có mặt trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam vào mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 trên chiến trường Quảng trị từ Tháng 3/1972 cho đến ngày kết thúc 15/9/1972. Với tư cách và danh dự của một người chính trực, tôi có thể nêu ra những điều tôi đã thấy và biết trong trận đánh Cổ Thành Quảng Trị.
1.- Về thời gian và địa điểm:
Trong phim "Mưa đỏ," các trận đánh đều diễn ra trong lòng Thành cổ từ những ngày đầu tiên.
Sự thật:
Ông Trịnh Hòa Bình, một cựu binh Bắc Việt, từng có mặt chiến đấu ở Cổ Thành Quảng Trị, nay là bác sĩ đã về hưu, xác nhận rằng nhà làm phim đã sai khi cho rằng các trận đánh diễn ra bên trong Cổ Thành. Theo ông,
Ông viết: “Điều đó sai cơ bản với lịch sử: từ diễn biến các trận đánh đến hiện trường tái hiện các đường hầm.”
Ông chia sẻ: "Phần lớn thời gian của 81 ngày đêm là chiến đấu ở các khu vực, làng xã xung quanh Thành cổ, tức là bên ngoài thành. Thành cổ Quảng Trị là một khu hình vuông, phía sau là sông Thạch Hãn, 3 hướng còn lại là Bắc, Đông, Nam, là những chỗ giao tranh. Không đánh nhau ở trong Thành cổ, cho đến ngày thứ 81.
Cả thành cổ ấy, mỗi chiều hơn 500m, diện tích chừng 1/4 km² mà riêng quân ta đã tới 8 tiểu đoàn thì chỗ đâu mà nhét được. Và nếu chui hết vào đó thì chỉ cần một lượt B52 ném xuống là chết ráo! Nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ Quảng Trị là phòng ngự không cho địch vào được Thành cổ. Nghĩa là đánh nhau ở xung quanh."
Sự thật như ông Bình nói, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được lệnh thay thế Sư Đoàn Nhảy Dù từ ngày 27/7/1972 để tái chiếm Thị Xã và Cổ Thành Quảng Trị cho đến 15/9/1972. Từ ngày 10/9/1972, chúng tôi bắt đầu những cuộc thăm dò xâm nhập vào Cổ Thành và mờ sáng 13/9, các Tiểu Đoàn 3 và 6 Thủy Quân Lục Chiến đột nhập vào thành và thanh toán các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt. Như thế, bên trong Cổ Thành chỉ có giao tranh từ 10/9 cho đến 14/9/1972.
Xin nói thêm chi tiết: Các cuộc giao chiến để chiếm từng ngôi nhà, khu vực trong Thị Xã Quảng Trị như Bệnh Viện, chợ, trường học là chính yếu. Trong Cổ Thành chỉ bị pháo kích. Chỉ có những ngày sau cùng, hai Tiểu Đoàn 3 và 6 Thủy Quân Lục Chiến đột nhập vào góc đông bắc và đông nam Cổ Thành để đánh đuổi các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt, khi đó họ đã mất hết tinh thần, kiệt quệ vì đói.(chi tiết lính Bắc Việt xin ăn do Trung đội trưởng Vũ Duy Hiền thuộc Đại Đội 3/TĐ 3 cho biết)
2.- Đối xử với tù binh Bắc Việt:
Hư cấu sai sự thật: Trong phim Mưa Đỏ, có cảnh lính VNCH đốt sống tù binh.
Thực tế: Đơn vị của tôi là Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến đã đánh chiếm Bộ Chỉ huy quân miền Bắc tại Dinh Tỉnh Trưởng Quảng Trị sáng ngày 15/9/1972, bắt sống gần 20 tù binh quân miền Bắc. Chúng tôi đã nhường một phần thuốc men, băng bông, cả thức ăn để băng bó, chăm sóc vết thương và cho tù binh ăn uống. Đa số các tù binh còn rất trẻ chỉ trên dưới 20 tuổi, thân thể gầy ốm, sợ sệt, lo âu; có lẽ do bị nhồi sọ xuyên tạc về sự dã man của “ ngụy quân”!?
Là những người miền Nam, được giáo dục tinh thần nhân đạo từ truyền thống cha ông để lại và các tư tưởng tiến bộ dân chủ Tây Phương, chúng tôi coi trọng sinh mạng và nhân phẩm của con người, dù đó là kẻ thù, hay tù binh bắt tại mặt trận. Là cấp chỉ huy trong TQLC, chúng tôi không bao giờ chấp nhận hoặc dung túng việc hành hạ những người đã buông súng vì trái với quân luật và luật pháp VNCH. Trên chiến trường khi giao tranh ác liệt thì phải cố giết nhau vì lẽ “ bắn chậm thì chết” nhưng khi đối thủ đã đầu hàng thì được đối xử một cách nhân đạo. Việc ngược đãi tù binh hoàn toàn không phải là chủ trương của chính phủ hay quân đội miền Nam. Nhiều tù binh mà đơn vị tôi bắt được từ tuyến Mỹ Chánh cho đến dinh Tỉnh Trưởng thuộc các đơn vị như Trung Đoàn 66/SĐ304, Trung Đoàn 101/SĐ325, và các Trung Đoàn 48, Triệu Hải tại Dinh Tỉnh Trưởng Quảng Trị là những nhân chứng sống về cách đối xử nhân đạo của TQLC.
Chính ông Trịnh Hòa Bình cũng nhận xét rất khách quan, ông viết như sau:
"Dưới góc độ là phim lịch sử, tôi đánh giá Mưa đỏ chưa đạt yêu cầu. Đừng nói vì thời gian gấp gáp quá, bởi hạn mức thời gian là do chúng ta tạo ra. Đừng nói vì kinh phí hạn hẹp, bởi có những điều không phải do kinh phí. Cũng đừng nói 'Nữ đạo diễn làm được phim thế này là hay rồi'. Nói như vậy là bao biện và có hàm ý phân biệt giới tính"....
“Cảnh lính VNCH đốt tù binh là không đúng, họ không làm thế đâu. Qua đoạn này người xem có thể nghĩ lính VNCH rất dã man, hung bạo. Thực tế thì họ cũng là người Việt, sống nhân văn.”
Nhận xét:
Những chi tiết trong phim Mưa Đỏ là hư cấu xuyên tạc cố tình, có chủ đích gây căm thù, khinh ghét đối với những người đã phục vụ chế độ VNCH. Hóa ra những lời nói rất văn vẻ đầy tính nhân đạo, hòa hợp hòa giải dân tộc của giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam rằng “đồng bào sống ở nước ngoài là những khúc ruột ngàn dặm” chỉ là đầu môi chót lưỡi, dối trá để mồi chài, lôi kéo những kẻ nhẹ dạ, chưa biết CS là thế nào !!
Đã năm mươi năm sau chiến tranh, lẽ ra phe thắng cuộc cần tỏ ra cho thế giới thấy họ đã có nếp văn minh, hiểu biết, để tích cực hàn gắn vết thương chung của dân tộc; thì họ vẫn còn ngoan cố, nuôi dưỡng hận thù đối với những người miền Nam mà họ đã tước đoạt hết tự do, tài sản, xô đẩy phải ly hương.
Người thắng trận viết lại lịch sử theo ý họ. Đúng! Nhưng đừng quên còn gần 3 triệu người tại Hải Ngoại và hàng chục triêu người trong nước từng biết quá nhiều về tội ác của cs trong 20 năm chiến tranh.
Đừng quên rằng sách báo, phim ảnh của Miền Nam hiện vẫn được tìm lại để chứng minh tất cả sự thật mà phe cs cố tình bóp méo, xuyên tạc. Có thể nói không sai rằng phía cs thường đổ lên đầu đối phương những tội ác mà chính họ từng thực hiện, điển bình như cảnh chôn sống hàng ngàn đồng bào Huế năm Mậu Thân 1968.
Viêc phân biệt giữa sự kiện lịch sử trung thực và các chi tiết hư cấu rất quan trọng vì nó góp phần xóa đi những định kiến độc hại trong nhận thức của người ít am tường lịch sử.
Bài này được viết nhằm cung cấp thông tin khách quan, giúp người đọc đặc biệt là thế hệ trẻ, nhận thức đứng đắn về quá khứ, tránh những hiểu lầm hoặc suy nghĩ sai lệch về con người và các lực lượng tham gía trận chiến.
Mục đích vừa tôn trọng giá trị nghệ thuật của phim nếu có, vừa giữ gìn sự thật về lịch sử, góp phần giáo dục thế hệ trẻ về tinh thần nhân đạo, lòng yêu nước và trách nhiệm với dân tộc.
Vinh Danh Giáo Sư Trần Ngọc Ninh (BS Trần Xuân Ninh)
Trong ít phủt ngắn ngủi mà chương trình cho phép tôi sẽ không làm công việc ném thêm một hột muối ca tụng vào cái biển lớn mênh mông những vinh danh giáo sư Trần Ngọc Ninh từ các học trò trực tiếp, tức là các sinh viên y khoa và bác sĩ tốt nghiệp trường Y khoa đại học Sài gòn, và từ những người học các môn nhân văn ngoài trường y khoa hay là đọc ít nhiều những bài viết đủ loại của giáo sư TNN trên các tạp chí. Tôi được ban tổ chức gợi ý phát biểu với tư cách là học trò ruột của giáo sư.
Read more
Quisque iaculis facilisis lacinia. Mauris euismod pellentesque tellus sit amet mollis.