• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

Tôi Đi Học (Trần Xuân Ninh)

August 7, 2026 Ninh Tran

Tôi Đi Học

"Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường.

Tôi không thể nào quên được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

Những ý tưởng ấy tôi chưa lần nào ghi lên giấy, vì hồi ấy tôi không biết ghi và ngày nay tôi không nhớ hết. Nhưng mỗi lần thấy mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường, lòng tôi lại tưng bừng rộn rã.

Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh. Mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp. Con đường này tôi đã quen đi lại lắm lần, nhưng lần này tự nhiên tôi thấy lạ. Cảnh vật chung quanh tôi đều thay đổi, vì chính lòng tôi đang có sự thay đổi lớn: Hôm nay tôi đi học.

Tôi không nhớ rằng tôi đã thuộc lòng  đoạn văn trên mở đầu truyện ngắn Tôi đi học của Thanh Tịnh  vào lúc nào nhưng chắc chắn là vào đệ thất hay đệ lục niên khóa 1949 hay 1950.trường trung học Chu Văn An Hà nội. Ở tuổi 90 hiện nay nghĩ lại cả cuộc đời học chữ của mình từ lúc học vỡ lòng ở nhà ông nội đến khi đi học ở trường, chưa có lúc nào tôi thấy có được cái cảm giác thích thú thoải mái như  mô tả trong đoạn văn của Thanh Tịnh. Thực thế, khi ông nội tôi bắt đầu dậy cho mấy chữ cái a,b,c  rồi đến đánh vần, thì chỉ thoáng một cái là tôi đã  thuộc hết và được thả ra chạy nhảy. Cái thích là đến tối được ngủ với bà nội để được phe phẩy cái quạt nan cho mát và xoa lưng ru ngủ: 

“Đồng Đăng có phố Kỳ lừa, 

Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh

Ai lên xứ Lạng cùng anh

Nhớ công bác mẹ sinh thành ra em…”

Chùa TamThanh mới làm về sau (hạ bán thế kỷ 20)

Bà ru thì thích nhưng tôi ham nghe không ngủ cho đến khi bà quạt rã tay ru mỏi miệng, phải dọa “không ngủ đi mẹ mìn nghe ru mãi nó biết nhà có trẻ con nó vào bắt đi là bà không làm gì được đâu. Mẹ mìn nó rình ở mấy bụi tre kêu kẽo kẹt sau nhà đấy”. Tôi tò mò hỏi “Sau nhà chỗ nào hở bà?”. “Ở phía ngoài cái chuồng chấu cạnh cái cối giã gạo chứ ở đâu? Nằm yên ngủ đi. Hỏi rợ mãi!”.

Câu chuyện mẹ mìn cắt ngang ở đó vì tôi sau đó không còn ở nhà quê với ông bà nội mà theo mợ tôi ra Nam định  ở phố Cửa Trường vì ba tôi xin được làm ký ga xe lửa. Người làng gọi là anh xếp An. Vì là nhân viên mới vào cấp thấp nên không làm ở một ga nào nhất định mà phải thay đổi vị trí làm viêc, di chuyển đến thế cho các đồng nghiệp khi họ được gọi  là đi phép tức là nghỉ nhiều ngày,  ở các ga xép quanh vùng Nam định-Hà nội như Phủ Lý, Thường Tín, Kép … Sau cùng thì ba tôi được đổi lên ở lâu tại Đồng đăng, tức là mạn ngược, sát biên giời Tầu. 

Về sau này lớn lên tôi nghĩ rằng người ta gọi tên phố là Cửa Trường có lẽ vì trong con phố này có một trường tiểu học. Nhà tôi ở một căn gác nhỏ trong cái nhà xế trưòng . Trong số những người cùng trong căn gác tôi nhớ nhất là bà phán Sài gòn. Người mập mạp, mỗi khi cười để lộ mấy chiếc răng vàng , nói tiếng líu lô lên lên xuống xuống khó nghe. Tới nhớ bà phán. Vì không hiểu sao bà thích tôi hay xin phép mẹ tôi cứ buổi chiều gần tối  dẫn tôi  ra bờ sông đi chơi. Đường ra bờ sông không xa, gió mát, mà tôi  cũng thích vì thường là bà cho tôi đến chỗ ông bán kem mua cho tôi một cái. Đó là những cái kem đầu tiên trong đời tôi được ăn. Ngọt, thơm và mát lạnh. Thời gian này không biết lâu mau nhưng đủ lâu để khi bà phán rời căn nhà về Sài gòn tôi ngơ ngẩn buồn.  

Căn nhà ở cái phố Cửa Trường này còn để lại cho tôi một bài học y khoa nhớ mãi về sau. Đó là một một buổi chiều đường phố đông người qua lại. Chợt cả xóm xôn sao. Vì ông Cấp một người trong căn nhà bên cạnh chạy băng qua đường bị một chiếc xe bò chở nặng tông vào té xuống đường. Ông được đưa vào nhà thương và không về nữa. Mấy ngày sau nghe hóng chuyện mợ tôi nói với các bà hàng xóm rằng ông chết vì càng xe bò đụng vào chỗ hiểm là mạng mỡ. Hai chữ chỉ cơ thể lạ tai này tôi nhớ đến lúc lớn nhiều chục năm sau. Và biết rằng đó là hai bên cạnh sườn chỗ lá lách và gan. Chấn thương vào đây có thể làm bể gan hay lá lách chẩy máu trong bụng và chết nếu không cấp cứu kịp. Mà có được mổ cấp cứu cầm máu thì cũng mười phần chết một phần sống. Vì sau này thì tôi biết rằng lúc đó không biết kỹ thuật hồi sinh và thuốc kháng sinh/ trụ sinh. Phải đến cuối thập niên 40 ở Việt Nam mới nghe nói đến Pénicilline rồi Streptomycine.

Tôi có một ông chú họ kể chuyện ông được mổ chảy máu bao tử. Được cho một chai nước biển và nhịn ăn uống.  Ông nói khát như cháy cổ. Không chịu được uống đại một cốc nước lã rồi đến đâu thì đến. Ông không chết. Và cuối thập niên 50 lúc tôi đã vào học y khoa ông cởi áo cho xem cái sẹo nằm chính giữa bụng chạy từ chấn thủy xuống dưới rốn. 

Trước giờ tan học học trò được hát đồng ca vang dội rồi đổ ra ngoài làm tôi náo nức chạy ra cửa xem. Mợ tôi thấy thế mới dẫn tôi sang bên trường nói với cô giáo xin cho tôi vào học. Thích thì thích vậy nhưng khi được nhận vào thì tôi sợ, òa lên khóc và đòi về. Buổi đầu tôi đi học là như thế. Không có cái tâm thức Tôi đi học mà Thanh Tịnh tả.

Tôi ở phố Cửa Trường một thời gian rồi sang ở phố hàng Cấp nhà ông giáo Thự là cậu ruột mẹ tôi, trên một căn gác nhỏ  Tuy ông được gọi là ông giáo nhưng ông lại làm lang thuốc. Tôi không thấy ông dậy ai. Ông ít nói. Thường mặc bộ áo dài quần dài trắng tinh. Đi đứng chậm rải ngay ngắn. Tôi không được gặp bà giáo bao giờ. Chỉ biết có bốn người con là cô Ng. cô L. cậu Nh. cậu T. Cô Ng. thân với mẹ tôi. Tôi còn nhớ ngày tết hai người làm mứt chung với nhau và hai người có đứng chụp chung với nhau dưới cành một cây đào trong sân nhà. Rất tiếc hình này không giữ được trong thời gian loạn lạc về sau này.  Nhà ông có tủ thuốc và dao cầu thuyền tán với những đôn sứ trắng có hình vẽ xanh đắt tiền hình con voi lưng phẳng để ngồi, bầy đây đó vừa trang hoàng vừa làm ghế. Mợ tôi kỹ lưỡng dặn những thứ đó quý lắm, không được đụng vào lỡ đổ bể thì đắt lắm không tiền đâu mà mua thay thế. Tôi tuy nghe lời mợ nhưng không khỏi tự hỏi  trong lòng những con voi sứ này để ngồi mà sao tôi không được ngồi lên. 

 Không biết mẹ tôi và ông giáo bàn tính thế nào mà một hôm tôi được đưa cho ông dậy học. Ông khăn áo chỉnh tề, đứng trước bàn thờ  cầm một lá sớ giấy bản nâu nâu trên viết chữ nho, suỵt soạt khấn vái những gì tôi không nghe hết. Nhưng nhớ được mấy chữ “…Thiên tích thông minh thánh phù công dụng…”. Mãi về sau này với số chữ Hán ăn đong mỗi tuần một giờ ở lớp đệ thất trung hoc phổ thông Chu Văn An với cụ nghè Nguyễn Sĩ Giác  người bé nhỏ gầy tong teo trong bộ âu phục, mới đoán ra đại khái là ‘trời cho thông minh, thánh giúp cho hữu ích’…  Tiếp theo lá sớ được đốt, tàn hương được giữ lại bỏ vào bát con nước cúng rồi cho tôi uống. Chẳng có mùi vị gì. Ngày đầu tiên đi học ông Cậu ruột mẹ tôi là như vậy.

Thế rồi tôi được ba tôi làm xếp ga (trưởng ga) Đồng Đăng đưa lên trên đó.  Ở ngay tại trên gác nhà ga. Sau nhà ga là một cái  nhà  thờ mỗi ngày làm tôi giật mình vì  tiếng chuông kêu vang dõng dạc. Trước nhà ga cách đường sắt không xa là một cái đồi trên có trại lính mà chẳng hiểu sao được gọi là Lính Khố Đỏ. Tại sao lại gọi là Khố Đỏ thì cho tới nay tôi vẫn không hiểu, vì không biết và không dám hỏi ai. Bởi Khố mà tôi biết chỉ là miếng vải thô bịt bộ phận sinh dục, chỉ có thanh niên không biết chữ nghèo nhất làng mới mặc để đi ra ruộng đánh giậm  bắt con tôm con tép với cá lẻm để sống. Mỗi ngày hai lần: Buổi sáng có kèn rề vây (réveil) báo thức, và buổi trưa có kèn la xiết (la sieste) ngủ trưa mà chú tôi từ Lạng Sơn tình cờ lên Đồng Đăng chơi với ba tôi, thấy tôi há hốc mồm nghe thì chế ra tiếng Việt để hát tôi nghe cho vui, nghe hay đáo để. Đại khái cho tới bây giờ tôi còn nhớ loáng thoáng “tò te tò te  tò te; tò te có con cò nheo nhéo. Tò te tò te tò te, tò te có con cò mè nheo… vân vân” và “Nay ta không ta không có tài, nay ta không ta không có chí… không ra người tài hoa. Ta- phải nên cố nên cố nên cố, cho ra người tài hoa. Ta phải nên gắng nên gắng nên gắng, cho ra người tài hoa”.  

Quê tôi ở một làng đồng chiêm nghèo là Lý Nhân tỉnh Hà nam mà tại sao chú tôi lại ở Lạng sơn? Ấy là vì chú tôi được học trường Thiếu Sinh Quân (enfants de troupe) ở Tông thuộc Lạng Sơn, bởi ông tôi làm chánh quản  (thượng sĩ nhất) là cấp hạ sĩ quan cao nhất thời bấy giờ (đầu thế kỷ thứ 20) mà người Việt Nam đi lính lên tới. Mở ngoặc nói thêm ở đây là chú tôi học khóa chót, gần tốt nghiệp thì Nhật đảo chính Pháp ngày 8 tháng 3 năm Ất Dậu. Chưa đeo lon chuẩn úy. Thất nghiệp về nhà ông nội ở. 

Chú tôi là người đẹp trai nhất nhà. Ăn nói hoạt bát. Có lẽ vì thế mà trong thời gian học thiếu sinh quân chú có một cô đầm mê mệt. Bà nội tôi nghe tin, tức tốc lôi chú về bắt lấy vợ.

Thời bấy giờ lấy vợ cho con là do người mai mối giới thiệu sao cho môn đăng hộ đối.  Nhà cô dâu được giới thiệu là ở trên phủ Lý Nhân cách nhà ông bà nội tôi không xa. Cũng cùng cấp chánh quán hồi hưu. Bà vợ có cửa hàng vải, lúc đó kể là thứ hàng đắt giá sạch sẽ, gọi là hàng tấm, không giống như các loại tạp hóa lỉnh kỉnh mùi tương chao mắm muối hay hàng sáo bán gạo phải vất vả qua các giai đoạn xay lúa, giã gạo, giần sàng… rồi mới đội đi bán được. Nhà có 4 chị em gái. Hai chị lớn đẹp gái lấy chồng khá giả. Người thứ ba theo như bà mối giới thiệu thì da trắng tóc dài ngồi coi hàng tấm.  Người út còn nhỏ mới biết chạy lẫm chẫm, gọi  là cô Tư.

Chú tôi được đưa đi xem mắt (tức là xem nhan sắc) cô vợ tương lai thì cô gái này sẽ bưng trà ra tiếp khách Theo tục lệ thông thường. Nhưng một trong hai người chị xinh đẹp lại bưng nước ra mời khách (là bà nội tôi và chú tôi). Và thế là xong. Chú tôi lòng tuy không vui, vì phải bỏ cô tình nhân người đầm,  nhưng không chống đối như dự tính vì người bưng nước ra mời theo thông lệ là cô dâu, có nhan sắc. Những chi tiết này là do các cô tôi kể lại còn cá nhân tôi mới năm sáu tuổi thì chỉ nhớ loáng thoáng đoạn cuối. Là thấy nhà ông nội tôi nhộn nhịp ồn ào vì mổ heo để mời khách khứa họ hàng. 

Rồi sau đó tôi lần đầu tiên trong đời được coi một đám cưới và đua theo một lũ trẻ con trong làng hô to “cô dâu chú rể đội dế lên đầu, cô dâu chú rể đội dế lên đầu”. Chú rể chẳng phải ai xa lạ mà chính là  ông chú tôi nhưng đi trong đám rước dâu nên tôi không nhìn thấy.

Lấy vợ xong thì cả hai vơ chồng chú thím tôi lên Lạng sơn là nơi chú tôi làm việc. Ba tôi làm ga xe lửa nên từ Đồng Đăng xuống Lạng Sơn chẳng khó khăn gì. Nhưng vừa theo bố tôi vào nhà chú thì thím tôi ngồi một góc mắt đỏ hoe, miệng méo sệch sang một bên. Chú tôi dắt bố con tôi ra khỏi nhà. Và thế  là tôi đươc dắt đi xem chùa Tam Thanh. Tôi đầu óc hoang mang, chẳng hiểu gì. Chỉ còn nhớ mang máng rằng đó là một khoảng đất với những núi non lởm chởm. Đến gần một ngọn núi trên đỉnh có cái  miệng hang to chú tôi chỉ tay lên bảo kia là động Tam Thanh và tiếp tục lên giốc.  Đi một lên giốc một quãng nữa chú ngừng lại ở một cái lỗ tròn giữa núi đá chừng bằng cái miệng nồi theo trí nhớ của tôi, nước trong và mát rượi. Chú bảo người ta gọi là Giếng Tiên vì ở trên đồi cao mà không bao giờ nước trong ngưng tràn lên. Sau đó tiếp diễn ra sao  tôi không còn nhớ, chỉ biết đó là chuyến đi thăm cái núi trên gần đỉnh có cái hang, gọi là Chùa Tam Thanh nhưng không thấy có người ra vào lễ bái.

Chuyện tôi đi học đã diễn ra trong cái khung cảnh mạn ngược Đồng Đăng có phố Kỳ lừa này.

Ngay trên gác nhà ga có phòng để ở. Ba tôi là xếp ga, cấp lớn hơn được hai phòng. Còn một phòng nhỏ hơn cho bác Tước  là người thư ký bán vé tầu. Buổi chiều khi chuyến tầu chót đã rời ga về suôi và cơm nước xong thì ba tôi cho tôi vào giường ngủ. Rồi đi đến chơi ở nhà mấy người bạn là ông chủ nhà Giây Thép, ông chủ Nhà Đoan, mấy ông thầy giáo mà tôi chỉ biết tên có một người là bác Hợi vì tôi là học trò của ông ấy. Lúc nào ba tôi về tôi không biết vì đã ngủ say.

Mợ tôi từ Nam định lên thăm mang theo khoai lang luộc chin xém vỏ thơm lừng là món quà tôi thích. Cho nên cơm xong rồi nhưng tôi nán lại chờ khoai luộc chin ăn xong mới đi học. Đến nơi thì học trò đã vào lớp hết. Tôi sợ không dám vào. Đứng chờ ở ngoài đến  khi trường tan thì về cùng. Ai ngờ sau khi cho chuyến tầu chót về suôi, thì ba tôi hầm hầm giận dữ nghiến răng cầm cái phất trần nọc ra giường, hỏi ‘N. mày trốn học đi đâu’ rồi quất cho một cái thẳng cánh vào nhượng chân trái. Tôi choáng người không dám khóc. Cũng không dám giải thích rằng tôi không trốn học đi chơi mà chỉ không dám vào lớp vì đến trường trễ bởi nán lại ăn khoai mẹ tôi luộc xém vỏ. Đâu có ngờ rằng thầy giáo Hợi đã gặp ba tôi lúc về qua ga  và hỏi tôi có đau ốm gì  không mà vắng mặt!

Cái vết đánh mạnh trên da mỏng đứa trẻ con nít mới đi học là tôi đã rướm máu rồi mấy hôm sau mưng mủ. Mợ tôi đã phải lấy nước chè tươi để chấm rửa cho tôi. Nước mắt chảy, mẹ tôi khuyên nhủ đừng dại như vậy nữa ba đánh chết. Tôi không biết nói sao, chỉ chẩy nước mắt, không dám khóc lên tiếng.  Rồi cũng qua, đánh dấu bước đầu tôi đi học ở ga Đồng Đăng yên bình, chỉ có tiếng kèn lính, chuông nhà thờ ngày vài lần, và lặng lẽ xa xa mấy người Thổ áo chàm bước vào sau những trái núi xanh.

Trần Xuân Ninh

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa Tags Tôi Đi Học, Trần Xuân Ninh
Comment
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories
Summary Block
This block is invalid. Please check the block settings and try again.
Featured
Aenean eu leo Quam
Aenean eu leo Quam

Quisque iaculis facilisis lacinia. Mauris euismod pellentesque tellus sit amet mollis.

Read more →