Giả Hợp Mù Khơi (Lê Diễm Chi Huệ)
Hương mây quyện giữa dòng hư huyễn
Ai bồi hồi đưa mắt dõi xa xăm
Chạnh dâu bể dăm khi hồn nức nở
Bến mù khơi con nước cũng ngậm ngùi
Một lần định trong muôn trùng giả hợp
Bến đục trong hoa lá mãi tiêu diêu
Con trăng ngủ đang mơ màng chợt tỉnh
Mắt lưng tròng từ tạ giấc chiêm bao
Ai vẫn hớt hả, ai đã buông tay
Ai túy lúy say với cuộc thăng trầm
Ai lăn lóc ngược xuôi dòng suy thịnh
Ai đốt đuốc loanh quanh tìm tri kiến
Soi mặt soi mày chưa thấy thực hư
Giun dế chen đua khóc cười ra rả
Sương gió dập dờn lạnh buốt trong đêm
Con chữ lăn tăn gửi bờ Không muộn
Áo hoa sầu phơ phất bụi hồng bay
Trăng nước lung linh khua bờ hư ảo
Non cao xưa mãi vẩy gọi ta về.
06.10.2026
Lê Diễm Chi Huệ
NHỮNG MẢNH TÌNH TRONG THỜI TAO LOẠN (Vĩnh Chánh)
…..Thêm một lần nữa Anh là người thua cuộc, trắng tay. Anh là kẻ bại trận, Anh đã thua trong cuộc chiến lẫn trong cuộc tình. Bên ngoài, trời nắng chang chang, nhưng Anh bổng nổi cơn lạnh run tới tận xương tủy và xâm xoàng. Như một con thú bị trúng thương, Anh lảo đảo vừa đi vừa hấp tấp chạy xa căn nhà cũ trong nhạt nhòa uất ức của mồ hôi lẫn nước mắt, khiến Anh vấp té vào một xe 2 bánh và gảy cổ chân phải. Anh bỏ đi trong hờn tủi, mang theo vết thương nghiệt ngã……
Read moreNhân cách của người lính Nhảy Dù VNCH ! ( Vĩnh Chánh )
Trong những ngày cuối của cuộc chiến, khi mọi thứ dần dần sụp đổ thành phố lần lược bị bỏ ngỏ, vị chỉ huy của một đơn vị Nhảy Dù vẫn đứng ở vị trí của mình, giữa trách nhiệm, giữa đơn vị, giữa lời thề của một sĩ quan. Ông biết mình không thể rời bỏ binh sĩ, nhưng cũng biết vợ và ba đứa con nhỏ không thể ở lại. Vậy là ông thu xếp cho họ đi trước, bằng tất cả ông có thể làm trong hỗn loạn. Một quyết định rất đúng, nhưng vừa đau lại vừa mang theo nỗi bất an mà ông không bao giờ nói ra, vì vợ ông chưa bao giờ biết làm gì ngoài chuyện lo cho gia đình và các con còn nhỏ.
Rồi ông đi tù. Hơn mười năm. Những năm tháng ấy không chỉ hao mòn sức lực, mà còn bào mòn luôn cả những gì ông từng biết trong quá khứ và niềm tin vào tương lai. Khi được HO đưa sang Mỹ, ông mang theo một hy vọng nhỏ nhoi: được gặp lại gia đình, được nhìn thấy vợ con bình yên sau bao năm xa cách.
Nhưng khi đứng trước căn nhà nơi họ đang sống, ông nhìn thấy một sự thật mà không ai nói ra: vợ ông đã có chồng mới. Không lời trách móc, không một câu hỏi, không một giọt nước mắt. Ông chỉ đứng đó rất lâu, rồi lặng lẽ quay đi.
Không trở lại. Không tìm gặp. Không liên lạc với thuộc quyền, không tìm bạn bè Võ Bị, không nhận mình là ai trong quá khứ. Ông chọn một tiểu bang xa lắc, nơi không ai biết ông từng là một cấp chỉ huy lừng lẫy, từng có những người lính sẵn sàng sống chết theo lệnh ông. Ông sống một đời giản dị, lặng lẽ, như thể muốn xóa đi dấu vết của chính mình. Nhưng không oán hận. Không kể lể.
Chỉ sống, một cách khiêm nhường, cô độc, và đầy tự trọng.
Trong vô số mảnh tình bị thời cuộc xé nát, có những mảnh không tan vì phản bội, mà tan vì chiến tranh đã lấy đi quá nhiều thời gian, quá nhiều năm tháng mà không ai có thể bù đắp. Và có những người đàn ông, như ông, chọn cách mang nỗi đau ấy đi thật xa, để không làm phiền ai, để giữ lại chút phẩm giá cuối cùng cho chính mình.
Chờ Người (Hồ Thuỵ Mỹ Hạnh)
Là con gái nhưng Kim ảnh hưởng nhiều tánh cách của ba. Ông Đình thường dẫn Kim đến quán ăn bình dân, ông dặn dò:
- Mình may mắn có của ăn của để, tuy nhiên không vì vậy mà hoang phí. Cái gì không đáng xài phải biết hạn chế…
Ngược với tánh của ba, má Kim lại là một phụ nữ kiêu căng, bà không hòa đồng với những người làm việc cho gia đình bà, đặc biệt là với chú Thanh. Bà không thích chú vì cho rằng chú biết cách lấy lòng nên được ông Đình quí mến. Một người có tánh đa nghi thì họ khó nghĩ tốt cho người khác, mỗi khi bực dọc việc gì, má Kim lại trút giận lên người giúp việc, ông Đình bất bình thái độ của vợ lắm nhưng lắm khi phải nhượng bộ, nhưng có một lần ông nói:
Read moreCách người Trung Quốc dặt tên cho các TT Mỹ (Dinh Hiep )
Cách người Trung Quốc dặt tên cho các TT Mỹ (Dinh Hiep )
Nhân khi chú Trump qua Trung Quốc làm việc, ta bàn vui tí về cách người TQ đặt tên và biệt danh cho các vị ngoại quốc.
Chúng ta đã biết khá nhiều vị trong lịch sử: Nã Pháo Luân (Napoleon), Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộ), Karl Marx (Ca Nhĩ Mã Khắc Tư), Lenin (Liệt Ninh).
Ngoài phiên âm thường, họ đặt tên chữ Hán có ý đồ của họ, ví dụ cùng là Monroe nhưng Tổng thống thứ 5 của Mỹ James Monre được họ gọi là Môn La, tức là thần giữ cửa, nhằm đề cập đến Học thuyết Monroe của ông ta, đóng cửa châu Mỹ, chống lại sự can thiệp của châu Âu vào các nước Mỹ Latin. Còn cô đào Marilyn Monroe thì họ gọi là Mộng Lỗ, ám chỉ đến mông đít.
Những người mới thời nay: Elon Musk là Y Long Mã Tư Khắc, Ronaldo là La Nạp Nhĩ Đa, Messi là Mai Tây...
Tổng thống Biden có tên là Bái Đăng, Bái là lạy, Đăng là leo lên, lạy lục để leo lên ghế cao chăng? Ông ta có biệt danh là Bái Chấn Hoa. Bái tức là lạy, Chấn là giúp đỡ, chấn hưng, Hoa là người TQ, “cúi lạy để giúp TrungHoa chấn hưng”, ý nói Biden là người cầu cạnh và làm lợi cho TQ. Đúng quá còn gì, Tập chỉ hy vọng mấy người lú lẫn, hèn nhát như Biden mãi mãi làm TT Mỹ, để TQ rảnh tay thực hiện “Trung Hoa mộng”. Vậy đồng chí Bái Đăng là chuyên gia giúp Trung Hoa phát triển.
Obama có tên là Áo Ba Mã, dân mạng đặt cho ông ta biệt danh Áo Quan Hải. Áo giữ nguyên để gợi nhớ đến Obama, Quan là nhìn, Hải là biển, ý nói ông ta “chỉ đứng nhìn tình hình thế giới như nhìn biển, chứ không hành động mạnh mẽ”. Quan sát nhiều mà không hành động.
Thêm một nghĩa nữa: Áo tức là bên trong, phía trong, sâu xa, góc khuất, còn Hải là ám chỉ Trung Nam Hải, Áo Quan Hải tức là “Người đứng từ góc nhìn của Trung Nam Hải để nhìn thế giới”, nhìn thế giới từ lập trường Trung Nam Hải, thấy gì có lợi cho TQ thì cắm đầu làm.
Cho nên các bạn cũng biết rồi đấy, hai tên Bái Chấn Hoa và Áo Quan Hải, thân là TT Mỹ, nhưng lại là tay sai của TQ.
Chú Trump tôi thì có tên Đặc Lãng Phổ. Tên đầy đủ của ông, nếu bạn muốn biết: Donald (Đường Nạp Đức) John (Ước Hàn) Trump (Đặc Lãng Phổ).
Ông được đặt khá nhiều biệt danh. Đầu tiên là Đặc Bất Kháo Phổ gần giống với tên ông, có nghĩa là “không đáng tin cậy”. OK lah, đợi đấy. Thứ nữa làVạn Thuế Gia Gia ám chỉ chính sách đánh thuế nặng lên hàng nước ngoài. Rồi Sàng Phá (phiên âm chuáng pò), nghĩa là phá giường, do phiên âm chữ “chuáng” gần giống “Trump”, còn “pò” gần giống Phổ trong tên ông.
Tiếp theo là Xuyên Kiến Quốc, Xuyên phát âm là “chuan” khá giống “trump”, còn Kiến Quốc là “xây dựng đất nước”, một cái tên phổ biến sau năm 1949. Đi họp, người ta sẽ nói: “Đồng chí Xuyên Kiến Quốc vất vả rồi!” Gọi ông Trump là Xuyên Kiến Quốc, ngụ ý của người TQ là “Trump đang giúp xây dựng TQ” bằng cách rút khỏi các hiệp định quốc tê, gây rạn nứt với các đồng minh. Thế nhưng họ đã nhầm to, TQ đang xính vính khi bị Trump dồn vào góc võ đài đấm cho túi bụi.
Họ còn lấy chữ “Xuyên” và chữ “Phổ” (trong tên Đặc Lãng Phổ) ghép lại để gọi ông Trump. Mỗi khi Trump cho TQ ăn đòn là dân TQ bất đồng chính kiến viết lên mạng: “Xuyên Phổ lão sư lại cho Bắc Kinh một bài học nữa rồi”, “Xuyên Phổ giáo quan đang bắt Bắc Kinh tập chống đẩy”, “Xuyên Phổ đang bóp cổ Bắc Kinh”. Có thể nói cái tên Xuyên Phổ được dùng nhiều nhất, các trang báo như Yahoo tiếng Hoa cũng dùng Xuyên Phổ để chỉ ông Trump. Xuyên (川) kiểu như dòng nước đã chảy thì không thể ngừng nghỉ và xuyên phá qua mọi chỗ, còn Phổ (普) là phổ biến, rộng khắp, lan rộng, nội hai chữ này ghép với nhau thì ông Trump là bá chủ đúng cmnr.
Biệt danh khác của ông là Đổng Vương, tức là “vua biết tuốt”, bởi ông hay phát biểu trước giới truyền thông những câu như “Không ai biết về X hơn tôi”, “Tôi biết về X hơn bất kỳ ai”.
Khi Trump nói điều gì đó, dân mạng sẽ viết kiểu tút kiểu: “Đổng vương lại lên tiếng rồi” hoặc “Chuyện này Đổng vương hiểu nhất”. Danh sách “tôi biết nhất” của Trump dài như Vạn Lý Trường Thành: kinh tế, thuế quan, quân sự, công nghệ, Đài Loan, Tân Cương, Hằng Lực… đúng, ông biết hết, vì ông là tổng thống Mỹ, thông tin ông nắm trong tay hẳn nhiều nhất thế giới rồi. Dân TQ định cà khịa Trump nhưng họ đang ôm mồm, các con đợi đấy, còn nữa.
Nhờ mái tóc huyền thoại, ông còn được đặt biệt danh là Kim Mao. Móa, nghe “Kim Mao Tầm Hồi Khuyển”, tức là giống chó Golden Retriever. Thôi cũng được, ông Trump tuổi Tuất, Golden Retriever là giống chó đẹp, hay đùa, thông minh, trung thành, có thể dùng làm chó đặc vụ dò tìm mai thúy.
Ba Mươi Tháng Tư – Nỗi Bất Hạnh Của Dân Tộc Việt (Phạm Mạnh Tuấn)
Ngày 30-4-1975 khi người CS chiếm được miền Nam, đây là cơ hội bằng vàng để người dân cả nước kề vai sát cánh, xây dựng quê hương ấm no hạnh phúc, tạo cho VN một chỗ đứng được nể trọng trên trường quốc tế. Nhưng rất tiếc, người CS đã đặt mục tiêu truyền bá chủ nghĩa cộng sản lên trên tiền đồ dân tộc. Họ máy móc thực thi những giáo điều cộng sản chớ không đoái hoài gì đến hạnh phúc của người người dân. Người CS đã phí phạm biết bao nhân lực tài lực của cả nước chỉ để áp dụng mô hình XHCN ngu muội của Nga - Tầu. Nếu biết tận dụng khả năng cần mẫn, giỏi chịu đựng của người miền Bắc công với óc sáng tạo, tính cởi mở của người miền Nam, VN sợ gì không vượt xa Đài Loan, Nam Hàn, chớ nói chi Thái Lan, Phi Luật Tân vốn thua miền Nam VN.
Read moreMười hai tháng đều là tháng Tư đen (Bùi Phạm Thành)
Mười hai tháng đều là tháng Tư đen (Bùi Phạm Thành)
Như hầu hết chúng ta đều biết, những vết thương trên thịt da đều có thể lành qua thời gian. Thế nhưng, vết thương trong tâm hồn sẽ không bao giờ lành. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 chỉ là một ngày như mọi ngày trên quyển lịch. Thế nhưng trong lòng người Việt ly hương, phải bỏ lại tất cả những gì quý giá nhất của đời người để tìm nơi sống an lành cho thế hệ mai sau, thì đó lại là một ngày đen tối nhất trong lòng người viễn xứ, một vết thương không bao giờ lành.
Mời quý vị đọc “Mười Hai Tháng Đều Là Tháng Tư Đen” của Bùi Phạm Thành để cùng nhớ lại những ngày đen tối của hơn nửa thế kỷ trước, nhưng chẳng phai mờ trong lòng người tha hương.
Nghe bạn nhắc đến một ngày buồn thảm,
Ngày cuối cùng của một tháng Tư đen,
Bạn khuyên tôi đừng về chơi đất Việt,
Vì trong lòng hận mất nước chưa quên.
Hơn nửa đời tôi làm người viễn xứ,
Chưa trở về vùng đất đã thay tên,
Bởi quê tôi vẫn tràn đầy quỷ đỏ,
Mười hai tháng đều là tháng tư đen.
Cớ sao bạn chỉ nhớ chi một tháng?
Mười một tháng kia sao lại nỡ quên!
Sao lại cứ cúi đầu và muối mặt,
Đem tiền về mà cúng lũ kên kên.
Mười một tháng về ăn chơi mục rữa,
Đến tháng Tư mới đánh trống thổi kèn,
Này bạn hỡi một lần xin hãy nói:
"Còn cộng nô, chốn ấy chẳng ai thèm."
Đợi một ngày suy tàn loài cộng đỏ,
Bạn cùng tôi trở lại chốn thân quen,
Khi cờ vàng tung bay trên đất Việt,
Thì chẳng tháng nào là tháng Tư đen.
Rồi cùng nhau như ngày xưa thân ái,
Cùng hát vang Hạnh Phúc cả ba miền.
Bùi Phạm Thành
Ảo Tưởng Giải Phóng Miền Nam (Nguyễn Tường Tâm)
Bài tặng các người miền Bắc trước 1975 và các người trưởng thành trong môi trường giáo dục XHCN
Read moreCó Những Lời Thật Không Nói Ra, ChChết Cũng Không Nhắm Mắt: Lời Thật Của Một Thầy Phong Thủy Sau 40 Năm Hành Nghề. (Vô Danh)
Tôi năm nay năm mươi lăm tuổi. Mười lăm tuổi theo sư phụ mù nhập nghề, học xem la bàn, quan sát thế núi dòng nước, tìm long mạch điểm huyệt. Suốt bốn mươi năm lăn lộn trong nghề, quan lớn tôi từng gặp, người buôn gánh bán bưng tôi cũng từng quen; biệt thự sang trọng tôi từng bố cục, núi hoang mộ lạnh tôi cũng từng đặt chân.
Trong giới, người ta gọi tôi là “Trần bán tiên”, nói tôi đoán việc như đinh đóng cột, có thể đổi vận cải mệnh.
Nhưng hôm nay, tôi muốn đâm thủng lớp giấy cửa sổ đã lừa người đời, cũng trói buộc chính mình suốt cả đời.
Bốn mươi năm qua, tôi đã thấy quá nhiều chuyện hoang đường. Nếu hôm nay không nói ra những lời thật này, e rằng đến ngày chết, mắt tôi cũng không thể nhắm lại.
1. Phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi lòng người
Người tìm đến thầy phong thủy, đa phần chỉ cầu thăng quan phát tài, gia đình bình an. Họ nghĩ rằng đặt một con tỳ hưu trong nhà, đặt bể cá ở vị trí tài lộc, hoặc dời mộ tổ tiên đến nơi “tựa núi nhìn sông” là có thể đổi vận đổi đời.
Thật là chuyện nực cười.
Nếu chỉ cần đặt vài món đồ là có thể phát tài, thì những người làm phong thủy như chúng tôi đã là người giàu nhất thế giới rồi, đâu cần dầm mưa dãi nắng kiếm tiền của các vị?
Hai mươi năm trước, tôi nhận một vụ lớn. Người mời tôi là một ông trùm bất động sản họ Lâm. Việc làm ăn của ông rất lớn, nhưng lúc đó dòng tiền gặp trục trặc. Ông tin rằng phong thủy mộ tổ bị hỏng nên cầu tôi tìm “chân long kết huyệt” để cải vận.
Sau nửa tháng trèo đèo lội suối, tôi tìm được một thế đất tuyệt đẹp: lưng tựa núi xanh, trước có dòng nước uốn quanh, minh đường rộng mở theo phong thủy là đất sinh đại phú.
Ông Lâm vui mừng khôn xiết, bỏ tiền lớn mua đất, tổ chức lễ cải táng cực kỳ long trọng.
Sau nghi lễ, tôi đến nhà ông làm khách. Biệt thự xa hoa bậc nhất thành phố, mọi thứ lộng lẫy đến chói mắt. Nhưng khi đi nhầm vào một căn phòng nhỏ ở góc tầng một, tôi chết lặng.
Căn phòng ẩm thấp, không cửa sổ, đầy mùi mốc và mùi thuốc. Trên chiếc giường cũ nằm một bà lão gầy yếu, tóc bạc trắng, đó chính là mẹ ruột của ông Lâm.
Vì bà bị liệt, vệ sinh khó khăn nên vợ ông chê bẩn, chuyển bà từ phòng lớn đầy nắng xuống căn phòng chứa đồ này. Và ông Lâm, người sở hữu hàng trăm triệu tài sản đã mặc nhiên chấp nhận.
Khoảnh khắc đó, tôi thấy lạnh từ trong xương.
Tôi không nhận nửa khoản tiền còn lại, chỉ nói một câu:
“Phong thủy tốt nhất không ở trên núi, mà ở ngay trong nhà ông. Ông bỏ ‘vị Bồ Tát sống’ vào góc tối không ánh sáng, thì người chết ngoài núi dù nằm trên long mạch cũng không giữ nổi tài khí cho ông.”
Ba năm sau, công ty ông phá sản, tài sản bị phong tỏa, vợ mang tiền bỏ trốn. Cuối cùng, trong một đêm mùa đông gió lạnh, ông nhảy lầu tự tử.
Người ta nói tôi chọn nhầm huyệt xấu. Tôi không giải thích. Bởi tôi hiểu: phong thủy tốt đến đâu cũng không thắng nổi nhân tâm xấu.
Người bất hiếu, lòng như nước chết, la bàn nào cũng không định nổi hướng đời họ. Cha mẹ là gốc, con cháu là cành lá. Gốc đã chặt, sao mong cây kết trái vàng?
Đây là lời thật thứ nhất: Người không hiếu thuận, cầu thần bái Phật hay xem phong thủy đều vô ích.
2. Người thật sự đổi mệnh không cần đổi phong thủy
Mười lăm năm trước, tôi gặp một người phụ nữ tên Vương Quế Hoa ở một ngôi làng nghèo.
Nhà bà nằm đúng thế “Bạch Hổ thò đầu” lại thêm “kéo cắt”, phong thủy cực xấu, chủ suy bại, cô độc, tai họa. Bà góa chồng, nuôi con trai tàn tật, sống cực khổ. Nhưng trên mặt bà không có oán hận, chỉ có nụ cười hiền.
Tôi đề nghị giúp bà cải phong thủy, dựng đá trấn trạch.
Bà chỉ cười nhẹ: “Dựng đá chắc tốn tiền lắm. Tôi để dành tiền đưa con đi chữa bệnh. Chỉ cần mẹ con tôi sống ngay thẳng, trời chắc không dồn chúng tôi vào đường cùng.”
Câu nói ấy như cái tát làm tôi tỉnh ngộ.
Mười năm sau quay lại, nơi giao lộ “hung hiểm” ấy đã được mở rộng thành khu chợ. Nhà bà thành cửa hàng tạp hóa, con trai trở thành nghệ nhân điêu khắc nổi tiếng, có gia đình hạnh phúc.
Bà không đổi phong thủy, bà đổi chính mình.
Đây là lời thật thứ hai:
Phong thủy tốt nhất không phải hướng nhà hay mộ tổ, mà là nhân phẩm và tu dưỡng của bạn.
Tâm rộng, đi đâu cũng là đường sáng. Tâm hẹp, sống trong cung điện cũng thấy ngõ cụt.
3. Phong thủy lớn nhất của một gia đình
Bốn mươi năm hành nghề, tôi thấy vô số cặp vợ chồng cãi nhau chỉ vì vị trí sofa hay cửa bếp.
Họ hỏi tôi: “Nhà tôi có phạm xung không?”
Tôi chỉ muốn nói: Nhà có xung hay không tôi không chắc, nhưng tính khí hai người thì chắc chắn đang xung rồi.
Trong một gia đình: Sát khí lớn nhất không phải dầm đè hay xuyên đường, mà là cãi vã, lạnh nhạt và tính toán lẫn nhau.
Người phụ nữ là con mắt phong thủy của gia đình. Tầm nhìn của người đàn ông là bức tường chịu lực của ngôi nhà. Gia đình hòa thuận, dù ở nhà thuê nhỏ vẫn là đất lành. Gia đình bất hòa, biệt thự cũng thành hung trạch.
4. Phong thủy rốt cuộc là gì?
Trong Kinh Dịch có câu: “Nhà tích thiện ắt có dư phúc, nhà tích ác ắt có dư họa.”
Tổ tiên đã nói rõ chân lý phong thủy từ lâu. Chỉ là con người quá tham, luôn muốn đi đường tắt, nghĩ rằng trả tiền cho thầy phong thủy là có thể trốn nhân quả, đổi số nghịch trời.
Tôi hiểu ra một điều: TÔI CÓ THỂ TÌM ĐẤT TỐT, NHƯNG KHÔNG TÌM ĐƯỢC LƯƠNG TÂM CHO NGƯỜI KHÁC. TÔI CÓ THỂ HOÁ GIẢI SÁT KHÍ TRONG NHÀ, NHƯNG KHÔNG HOÁ GIẢI ĐƯỢC OÁN KHÍ TRONG LÒNG NGƯỜI.
Tôi đã rửa tay gác nghề. Sắp rời thành phố, về quê trồng vài mẫu ruộng, nuôi gà vịt. Tiền tích góp ngoài phần dưỡng già, tôi sẽ quyên góp cho trường học vùng núi.
Nếu giờ đây bạn đang lo bố trí căn nhà mới, hay đang vì làm ăn thất bại mà cầu khấn khắp nơi, hoặc đang ở đáy cuộc đời và cảm thấy vận xui bủa vây, hãy nghe tôi một câu:
Đừng vội đi xem bói hay xem phong thủy nữa. HÃY NHÌN CHA MẸ, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA NẤU CHO HỌ MỘT BỬA CƠM? NHÌN NGƯỜI BẠN ĐỜI, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA ÔM HỌ THẬT ẤM? NHÌN CHÍNH MÌNH, BAO LÂU RỒI BẠN CHƯA GIÚP AI ĐÓ VÔ ĐIỀU KIỆN?
Nuôi dưỡng tính khí cho tốt. Chăm sóc thân tâm cho lành. Giữ gìn các mối quan hệ cho tử tế. Bớt tính toán, thêm chân thành. Bớt oán trách, thêm biết ơn.Khi tâm bạn đổi, từ trường quanh bạn cũng đổi. Vận mệnh cũng theo đó mà đổi.
Bởi vì, chính bạn mới là thầy phong thủy mạnh mẽ nhất của cuộc đời mình.
Bốn mươi năm phong ba, tôi đã nhìn thấu sự hư ảo của nghề này, cũng nhìn rõ chân tình nơi nhân gian. Hôm nay viết ra những lời từ đáy lòng, chỉ mong có thể đánh thức vài người hữu duyên.
Bữa Cơm Gia Đình Ngày Nay ...! ( Vô Danh)
Hồi nhỏ, tôi đã từng nghĩ mâm cơm gia đình là một điều hiển nhiên, một nghi lễ bất biến. Chiều nào cũng vậy, cứ tầm năm sáu giờ, cả nhà chúng tôi lại quây quần bên chiếc bàn gỗ cũ. Mùi cá kho tộ của mẹ thơm lừng gian bếp. Ba tôi, sau một ngày làm việc, sẽ kể vài câu chuyện vui. Chị Hai thì líu lo về những chuyện ở trường.
----
Bữa cơm không chỉ để no bụng, nó là một cái hẹn, một điểm dừng sau một ngày dài, nơi mọi người trút bỏ những lo toan và kết nối với nhau. Ngọn lửa trong bếp của mẹ không chỉ làm chín thức ăn, nó còn giữ ấm cho cả gia đình.
Tôi không rõ sự rạn nứt bắt đầu từ khi nào. Có lẽ, nó bắt đầu từ chiếc điện thoại.
Đầu tiên, chị Hai mang điện thoại lên bàn ăn. Chị vừa ăn vừa cắm mặt vào màn hình, cười một mình với những tin nhắn. Những câu chuyện của chị về trường lớp thưa dần, thay vào đó là sự im lặng và những câu trả lời nhát gừng.
Rồi đến ba tôi, ông cũng bắt đầu xem tin tức, trả lời email công việc ngay trong bữa ăn. Không khí trên bàn ăn loãng dần. Những cuộc trò chuyện bị cắt vụn.
Rồi những chiếc ghế bắt đầu trống
"Tối nay con không ăn cơm nhà, con đi học thêm."
"Ba có hẹn tiếp khách, cả nhà cứ ăn trước đi."
Những lý do nghe có vẻ rất chính đáng. Cuộc sống hiện đại mà, ai cũng bận rộn. Nhưng tần suất lời từ chối ngày một dày hơn. Mâm cơm cứ vơi dần, không phải vì nhà thiếu thốn, mà vì thiếu người ăn.
Mẹ tôi vẫn nấu, nhưng bà bắt đầu nấu ít lại. Những món cầu kỳ ngày xưa được thay bằng các món đơn giản hơn. Bà nói cho đỡ mất công, nhưng tôi biết, trong lòng bà có một nỗi buồn không nói thành lời. Ngọn lửa trong bếp dường như cũng bớt nồng nhiệt hơn trước.
Mâm cơm từ một nơi sum vầy, dần trở thành một nghĩa vụ. Khi có đủ người, không khí cũng không còn như xưa. Ba tôi, mệt mỏi vì công việc, dễ cáu gắt vì những chuyện nhỏ nhặt.
Chị Hai thì chê món này mặn, món kia nhạt, chị nói trên mạng thấy người ta nấu ngon mà sao mẹ mình nấu không ra gì.
Sự im lặng bao trùm, nặng nề đến mức có thể nghe rõ tiếng nhai, tiếng bát đũa va vào nhau. Mọi người ăn thật nhanh, như để trốn thoát khỏi chính bữa cơm của gia đình mình.
-----
Đỉnh điểm là vào ngày sinh nhật của Mẹ
Tối tôi thấy mẹ nằm trằn trọc suy nghĩ gì đó. Tôi không hiểu chuyện gì.
Hôm sau, tôi thấy mẹ đi chợ từ rất sớm, nấu một bàn đầy những món mà cả nhà đều thích, hy vọng sẽ có một bữa tối ấm cúng như xưa.
Mẹ không báo trước để cho cả nhà bất ngờ, tôi thì thấy nghi nghi. Ngồi nhớ lại thì biết hôm nay sinh nhật mẹ. Mà nghĩ lại, ba với chị tệ thật, sinh nhật mẹ cũng không nhớ.
Buổi chiều hôm đó, chị Hai gọi điện báo có hẹn đi sinh nhật bạn thân đột xuất. Gần tối, ba cũng báo bận một cuộc họp quan trọng không về kịp.
Chỉ còn lại tôi và mẹ, ngồi trước một bàn đồ ăn thịnh soạn đang nguội dần. Mẹ không nói gì, chỉ lẳng lặng xới cho tôi một chén cơm. Nhưng khi mẹ quay đi, tôi thấy bờ vai gầy của mẹ rung lên. Bà đang khóc.
Bà gạt vội nước mắt, nhìn tôi cười gượng: "Mẹ không sợ cực, mẹ chỉ sợ nấu ra không có ai ăn... Cái nhà này, đến nỗi ăn với nhau một bữa cũng khó vậy sao?"
Câu hỏi của mẹ như một nhát dao cứa vào lòng tôi. Tôi chợt nhận ra, chúng tôi đã để mọi thứ đi quá xa. Chúng tôi đã xem sự hiện diện của nhau, sự chăm sóc của mẹ là điều hiển nhiên, để rồi mải miết chạy theo mối bận tâm của riêng mình.
-----
Sự tan vỡ của một gia đình không phải lúc nào cũng bắt đầu từ những xung đột lớn lao, từ những lời chì chiết, mắng nhiếc.
Đôi khi, nó lại bắt đầu từ chính mâm cơm, khi người ta không còn muốn ăn cùng nhau nữa. Người ta xem đó là một thói quen cứng nhắc, một nghĩa vụ, chứ họ không nghĩ rằng đó là sự tự nguyện, sự trân quý, sự yêu thương mà mỗi người cần có để kết nối với người thân trong nhà mình.
Bởi vì khi họ từ chối một bữa ăn, thực ra là họ đang từ chối dành thời gian, sự quan tâm và lắng nghe cho những người thân nhất.
Tối hôm đó, tôi không nói gì nhiều. Tôi chỉ ngồi xuống, ăn hết phần cơm của mình, và khen đồ ăn mẹ nấu rất ngon. Tôi nói chuyện với mẹ nhiều hơn, về những điều nhỏ nhặt nhất, điều mà đã lâu rồi tôi không làm.
Tôi thấy mẹ cười nhiều hơn, tôi cũng vui hơn.
Hóa ra, để hàn gắn một gia đình, đôi khi chẳng cần điều gì lớn lao. Nó bắt đầu đơn giản bằng việc, chúng ta đặt điện thoại xuống, nhìn vào mắt nhau, và cùng nhau ăn bữa cơm. Thường xuyên. Hỏi han. Quan tâm. Thế là đủ!
(Xa cách bắt đầu từ những bữa cơm, mà người ta không muốn ăn cùng nhau)
CHUYỆN TRÚ MƯA - Tuổi Trẻ VNCS Ngày Nay !) (Loc Duong)
CHUYỆN TRÚ MƯA(Tuoi Tre VNCS Ngày Nay !)
Hôm vừa rồi đang đi dạo phố thì gặp trận mưa to, phải chạy vào trú dưới hiên một căn nhà. Cùng đứng trú mưa có vài người khác nữa, trong đó có một cô bé mặt quen quen. Suy nghĩ mãi hắn mới nhớ ra cô bé chính là một trong những nhân vật được chụp hình đăng báo, và tấm hình này không hiểu sao đã được lưu giữ cùng với cả trăm tấm hình linh tinh khác trong phôn tay của hắn.
Thế là hắn chìa cái phôn ra và gợi chuyện làm quen :
-Có phải cháu đây không?
Cô bé không giấu được vẻ ngạc nhiên, thích thú :
-Vâng, cháu và các bạn cháu đấy. Úi giời ơi, thích quá.
-Nhưng chuyện gì mà các cháu khóc ghê thế? Bộ ba hay má cháu chết hả?
-Không. Ba má cháu có già phải đi theo trời theo phật thì cũng là chuyện nhỏ, việc gì phải khóc?
-Hay là các cháu đang đi đám ma của bạn bè thân quen?
-Không. Đi đám ma thì phải vui chứ lị. Có mấy người pê-đê múa lửa với nhảy thoát y, thích lắm chú ạ.
-Hay là các cháu đang tỏ lòng tiếc thương cho chiến sĩ và đồng bào ta bị giết hại dã man bởi bọn Trung quốc xâm lược?
-Ơ, chú nói hay nhỉ? Mấy chuyện linh tinh này can dự gì tới bọn cháu. Ai chết kệ người ta đi. Cháu thấy chú coi bộ hơi rảnh.
-Thì chú đang rảnh đây, đứng trú mưa chứ có làm gì đâu. Vậy nói chú nghe tại sao trong hình này các cháu khóc ghê thế?
Cô bé vui vẻ hẳn lên :
-A, cái hôm ấy bọn cháu đi xem ca sĩ thần tượng Hàn Quốc biểu diễn lần chót trước khi về nước. Đông lắm, ai cũng khóc, ai cũng chen lấn để được hôn vào cái ghế mà ca sĩ ngồi, có đứa không chen được, còn tính đập đầu xuống đất tự tử, phải hai chú bảo vệ mới giữ được nó đấy. Còn cháu khóc sưng cả mắt, phải nghỉ học hết 3 ngày.
-Nó ca sĩ qua nước mình hát, nó kiếm khẩm tiền, mắc chi các cháu phải khóc tập thể vậy?
-Vậy là chú Hai Lúa rồi. Chú không biết bây giờ văn minh là phải bắt chước dân Hàn quốc, phải khóc tối đa và sẳn sàng ngất xỉu vì thần tượng ca sĩ của mình. Nhờ vậy cháu mới được chụp hình lên báo đó. Còn chú, có ai chụp hình chú không?
Hắn cứng họng. Không phải vì đuối lý, mà vì hắn ghê sợ cho sự xuống cấp trầm trọng của cái xã hội trăm năm trồng người hiện nay. Cứ thế này thì còn gì là thế hệ tương lai, còn gì là đất nước.
Hắn bước ra khỏi mái hiên dù trời vẫn còn đang mưa. Hắn không muốn đứng đó thêm chút nào nữa. Hắn cần sự khuây khỏa. Đi dưới mưa cũng là một cách để khuây khỏa, nhất là khi trong óc của hắn lại hiện lên mấy câu thơ của cô giáo Trần Thị Lam :
“Đất nước này rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết làm sao em biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời giùm đất nước sẽ về đâu?”
Loc Duong
Bạn Già (Đông Vân Nguyễn Văn Dõng)
Thấy vợ con người ta mà ham!
- Ê, nói năng cẩn thận tí nghe bố, không phải ỷ già rồi muốn nói sao thì nói, lạng quạng bọn trẻ nó nghe được nó bảo mình già dịch.
- Ừ, thì mình cũng có “dịch” thật, dù dịch ít hơn xưa. Nhưng nói thật mầy nghe, dạo sau nầy bà nhà tao đổi tánh ghê quá, đôi khi tao phải bỏ nhà đi vòng vòng ngoài vườn, ngoài phố cho nó thoáng cái đầu.
- Mầy làm như có một mình bả đổi, còn mầy thì lúc nào cũng trơ trơ cùng tuế nguyệt!
- Không phải vậy, bả tự nhiên trở nên kỳ cục, hồi nào tới giờ có khi nào bả ghen tương gì đâu, dù bóng gió, mấy mươi năm rồi lúc nào cũng hoà hợp hòa giải hết sức vui vẻ, mầy cũng biết tính tao. Tao muốn đi đâu, lúc nào thì cứ đi, bây giờ gần đất xa trời tự dưng bả lại kiếm chuyện. Mỗi lần tao ra Connexion xem máy móc là bả cằn nhằn cử nhử “Đi đâu đi hoài, ở nhà một chút có được không...” Bực cả cái mình.
- Bực mình rồi mầy có cự bả không?
- Lúc đầu thì không, nhưng thét rồi phải cự.
- Tội nghiệp bà già.
- Tội cái quái gì, mầy chưa lâm cảnh chưa biết...
- Tại mầy không hay, không biết chớ bà nhà tao cũng như bà nhà mầy, và bà nhà mầy thì cũng như thiên hạ thôi. Chả có gì mới lạ dưới ánh mặt trời, chỉ có tao là không như mầy, chẳng bao giờ tao cự nự cả. Không phải tao không “nhạy cảm”, mà cũng bực mình lắm chớ, đôi khi “muốn kêu một tiếng cho dài kẻo câm”, nhưng tao hiểu rằng là mấy bà thuộc giai cấp “cổ lai hy” đều mắc phải cái bịnh lo, bịnh sợ. Họ sợ những bất trắc đang rình rập họ, nào tai nạn, nào bịnh tật, nào chết chóc... Họ sợ có chuyện gì không ai giúp đỡ, tóm lại họ sợ cô đơn. Mầy cũng còn may là bả chưa nuôi chó, nuôi mèo để thế mầy hủ hỉ cho đỡ buồn.
- Thì đồng ý, nhưng đi một chút cũng không xong thì chẳng lẽ tao phải ngồi ở đầu giường canh bả hay sao? Tao vẫn phục cái tài tỉnh bơ của mầy, tao thì rất dễ xì-nẹt.
- Thì ai lại chẳng xì-nẹt, nhưng phải biết “làm chủ” mấy sợi dây thần kinh của mình, thế thôi. Thú thật với mầy tao không bao giờ lên giọng với bà xã, cũng chẳng khi nào cằn nhằn cử nhử gì hết. Khi có chuyện không bằng lòng làm tao xì-nẹt thì tao đi chỗ khác chơi, cắn chặt hai hàm răng lại, không cho cái “lưỡi rắn” nó thò lò ra lải nhải gì hết. Khi nào trời yên biển lặng tao sẽ đi đường lưỡi sau. Vậy là vui vẻ cả nhà và vui vẻ dài dài, có gì khó đâu. La hét ngay tại chỗ chỉ mất hòa khí, chẳng ích lợi gì. Những cái sứt mẻ tí ti đó lâu ngày tụ lại thành bể nát.
- Biết vậy nhưng không nhịn được...
- Mầy nói chuyện ngộ thiệt, biết vậy mà không chịu nhịn là sao?
- Không phải ai cũng làm như mầy được. Tụi tao đều biết mầy không giống ai. Mấy thằng chưa biết mầy, nghe nói vợ chồng mầy không bao giờ cãi nhau, tụi nó đếch tin và cho là mầy “pas normal”.
- Tụi nó nói có khi đúng, ở đời cái gì mà có nhiều người nghe, nhiều người làm thì cái đó đúng “tiêu chuẩn” của một sự việc “bình thường”. Còn cái thật sự phải là chuyện bình thường nhưng vì chẳng có mấy người “chấp nhận được” thì nó trở thành chuyện không bình thường. Đó cũng chính là cái cốt lõi của thể chế dân chủ: đa số có lý, đa số thắng. Nhờ vậy nên cái đám “ái nam ái nữ” mới được công nhận “cưới hỏi” ăn ở với nhau như những kẻ bình thường. Văn minh thời đại có những chuyện nghịch thiên không ngửi được. Đúng là cái lưỡi không xương, đến cả tình ái, cái dài cái vuông mà nó cũng vo tròn bớp méo được.
- Sẵn đây tao hỏi mầy luôn, mầy làm sao mà nhịn hay vậy?
- Chẳng có gì khó hết, tao đặt mọi việc trên căn bản tình yêu, nếu mầy thật tâm thương yêu bà xã thì phải luôn nhớ điều đó để không bao giờ nói lời xúc phạm đến tình yêu kia. Trong tình yêu còn có sự kính trọng nhau, nếu mầy ý thức đúng mức điều nầy thì mầy sẽ chẳng bao giờ xài xể người mầy đã từng quì gối ôm chân bắt giò, thở dài thườn thượt, xuống sáu câu ai oán ỉ ôi nào là “đài gương soi đến dấu bèo cho chăng”..., theo đuổi trong hồi hộp, lo âu, sầu khổ, ăn không ngon, ngủ không nhắm mắt... Có thằng bạn bảo tao là nó thương vợ lắm, xem bả như, hoặc hơn cả bản thân... Có lẽ chính vì xem bả như thế, nó quên rằng bả là một người bạn đường xa, nên nó rầy rà, nạt nộ vợ nó như kẻ ăn người ở trong nhà! Thương vợ kiểu vô ý thức bất bình đẳng đó thì tao xin can mầy nhé.
- Nghe mầy nói sao dễ quá...
- Thật ra thì chẳng dễ cũng chẳng khó, chỉ có chịu khó suy nghĩ và luyện tập. Chí công mài sắt có ngày nên kim. Tao đã suy nghĩ từ thuở vừa lớn khôn, và tao cũng đã sớm hiểu câu văn ôn võ luyện. Không có gì mà ngày trước ngày sau là đạt được. Đặc biệt cái hạnh phúc gia đình, hay cái hạnh phúc tout court, nó đòi hỏi biết mình, hiểu đời, phải biết cách thương vợ, thương con. Ừ, đến việc yêu thương ngoài những “kiểu”, còn phải biết “cách” nữa, chớ không phải muốn yêu thế nào thì yêu. Mà muốn biết được cái “kiểu cách” đó mầy phải hiểu “đối tượng”, tức phải “biết người biết ta”. Cũng như bất cứ chuyện gì, muốn biết thì phải chịu khó bỏ công quan sát, suy nghĩ. Chỉ có vậy thôi, có gì rắc rối đâu. Cái rắc rối chính là chuyện “đối tượng” không chịu biết, không chịu hiểu như mình. Mà ở đời khi bánh ít đi mà bánh qui không lại thì chuyện cơm không lành canh không ngọt gần như là hậu quả đương nhiên, khó lòng tránh khỏi, bởi vì sức người có hạn, nhường nhịn nhau cũng chỉ tới chừng mực nào đó thôi. Nghĩ cho cùng thì “vạn sự khởi đầu nan”, thưở ban đầu chỉ biết có cái đẹp... sau đó đa số đều gặp phải lắm vấn đề đôi khi nan giải phải đi tới tan vỡ. Họ không nghĩ rằng thường tình những người trời cho đẹp lại hay nông cạn chỉ vì phải lo chăm sóc cái đẹp bên ngoài nhiều hơn cái tâm của họ.
- Mầy triết lý kinh bỏ mẹ! Làm thế quái nào mà biết được ai châm lo cái tâm? Châm lo cái sắc thì lộ liễu dễ biết và dễ lôi cuốn hơn. Một người không đẹp mầy lấy gì bảo đảm tâm họ đẹp, và ngược lại?
- Ai bảo đảm được chuyện đó cho mầy? Chỉ có mầy ráng mở to mắt ra mà quan sát, suy nghĩ. Mầy quên câu “xấu đẹp tùy người đối diện” rồi à? Mầy nên nhớ rằng cái tâm không dễ gì bị tàn phá, chớ cái đẹp nó như sương như khói vậy. Chẳng lẽ mầy không hiểu chuyện đó? Mầy cũng phải biết rằng muốn hiểu được cái tâm của đối tượng thì phải dày công theo dõi. Cái trò quen nhau trong thời gian ngắn, mê tít thò lò rồi lo cưới hỏi ngay kẻo trể thường rất dễ chết. Vả lại ông bà đã dặn “dạy vợ từ thưở ban sơ mới về”. Chờ đến lúc cổ lai hi thì chẳng còn gì để nói nữa.
- Vậy bây giờ mầy bảo tao phải chịu trận cho tới chết à?
- Bộ mầy tính bỏ bả vô viện dưỡng lão cho rảnh nợ hay sao?
- Đôi khi bực quá tao cũng có ý nghĩ đó. Không thì chính tao vô...
- Nầy, tao nói cho mầy biết, làm như vậy là bất nhân, bất nghĩa đó nghe.
- Tại sao vậy?
- Không những bất nhân bất nghĩa mà còn bất xứng nữa. Mầy đã cưới bả chớ bả có cưới mầy đâu! Nhờ bả mầy mới có một quãng thời gian sướng đời, hạnh phúc. Những lúc mầy xa nhà vì chiến cuộc, rồi vì học tập cải tạo, ai lo cho đàn con? Ai lo thăm nuôi mầy đói khổ trong lao tù? Ai sầu ai khổ trong cô đơn? Bây giờ mầy định phủi tay quên hết tình nghĩa ấy ư? Tao nói cho mầy nghe, đây chính là lúc mầy đền ơn đáp nghĩa người mầy từng yêu thương và cũng từng, cũng vẫn yêu thương mầy dù nay có chút khó tánh vì tuổi tác. Tao thấy cũng cần nhắc mầy một chuyện, ngoài tình yêu lứa đôi, mầy nên “đính kèm” tình thương thân phận làm người, rồi mầy sẽ hiểu ra mọi việc dễ dàng hơn. Tao có cảm tưởng đã đòi hỏi mầy quá nhiều. Giờ chỉ cần khuyên mầy ăn ở sao cho đáng mặt “anh hùng”, thế thôi.
Ngồi nghe hai ông bạn già “già mồm” với nhau cũng học được vài điều hay hay.
Có những bạn già nghĩ cũng đáng thương. Già rồi nên sinh ra lẩm cẩm, lại dễ xì nẹt. Có bạn già bực bội vì thế sự đã làm lỡ mất công danh sự nghiệp, đã đến cuối cuộc đời mà vẫn trắng tay, rồi sinh ra cáu kỉnh với vợ con, làm gia đình mất vui vì chuyện không đâu, chỉ vì họ thiếu suy nghĩ chín chắn. Bá nhân bá tánh, biết sao.
Thật ra thì có mấy ai chịu hiểu rằng hạnh phúc gia đình trên hết mọi công danh. Trên tiên cảnh, thiên đàng chỉ có hạnh phúc chớ đâu có công danh. Danh lợi như củ cà-rốt ông phu xe treo trước đầu lừa. Tội nghiệp con lừa bị lừa ra sức kéo xe chạy suốt khoảng đường dài, đôi mắt dán chặt vào mục tiêu, há hốc mồm nước dãi chảy ròng ròng, quên cả thiên nhiên đẹp quanh mình, đưa lão phu xe tới đích rồi mà mục tiêu vẫn còn trong gang tấc.
Những kẻ phàm phu tục tử chỉ thấy hạnh phúc khi họ được công danh. Trong gia đình chẳng ai trọng ai, họ chẳng cần. Con cái có lêu lổng cũng mặc, khôn nhờ, dại chịu, họ chỉ biết lo cho bản thân họ, họ chẳng biết trách nhiệm là cái chi, sẵn sàng hạ mình, dù có phải “đội quần”, để được công danh.
Ba mươi năm sống giữa khu bình dân gồm trên ba mươi sắc dân tứ xứ, quan sát họ quanh năm, đâm ra ngán ngẩm. Tuyệt đại đa số là dân tha phương cầu thực. Nay có chút tiền, nên cũng lên xe (cũ) bóng loáng, cũng ăn diện (áo quần Babou) lòe loẹt như ai, nhưng cung cách thật là khiếp đảm, ngôn ngữ thì nghe điếc ráy luôn. Để quên đi cái quá khứ nghèo hèn, họ chọn lấy một cung cách trái ngược: tự cao, phách lối. Trong môi trường đó làm sao tìm được hai chữ hạnh phúc? Họa chăng chỉ có những thoả mãn nhứt thời, thế thôi. Đúng là đời sống của sinh vật. Nghĩ cho cùng thấy họ thật đáng thương, không được dạy dỗ, học hành họ làm sao hiểu được gì hơn ngoài manh áo miếng cơm.
Nói vậy chứ ngay cả trong số khoa bảng có lắm kẻ cũng chẳng khá hơn bao nhiêu, họ sẵn sàng khom lưng, cúi mặt trước cường địch ngày nào chỉ để được ăn ngon mặc đẹp. Muốn cho con cái họ sau nầy thoát ra khỏi cảnh sống sinh vật đó chỉ có cách giúp chúng nó học hành để chúng nó biết suy nghĩ, nhận ra con đường nào phải theo. Không làm được chuyện đó thì mầm mống loạn lạc vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng khổ nỗi, khi nhìn bộ giáo dục xứ Phú Lang Sa nầy, cũng như nhiều xứ văn minh khác, chỉ chú trọng việc đào tạo chuyên viên, hoàn toàn bỏ ngoài chuyện dạy luân thường, đạo lý.
Vừa mới đây nhân vụ ông lớn của FMI, có nhà báo hỏi một nhân vật trong chính phủ rằng có nên “đạo đức hóa” chính trị hay không, thì ông ta nhanh nhẩu trả lời: “La morale limite notre liberté”. Luân thường đạo lý giới hạn quyền tự do của chúng ta! Còn gì để nói nữa không? Những chuyện nhiễu nhương, trộm cướp, đốt phá... khắp các khu “nhà lá” từ Paris xuống Marseille là hậu quả tất yếu của một nền giáo dục phi luân lý nhưng nhuộm màu sắc chính trị mị dân.
Ai cũng nhìn thấy và ca ngợi tư cách của người dân Nhựt trong lần động đất vừa qua, nhưng không một ai đủ can đảm nghĩ đến chuyện theo gương. Ông kia nói đâu có sai: “luân thường đạo lý cấm đoán chúng ta không được tự do làm điều xằng bậy... Không làm được điều xằng bậy đời sẽ mất vui! Chuyện ông lớn FMI làm bậy ở Nữu Ước, và ở nhiều nơi trên đất Pháp, chỉ là một trong nhiều chuyện hấp dẫn mà chưa ai biết hết đó thôi. Vừa mới đây, cựu Tổng Thống J. Chirac ra tòa lãnh án 2 năm tù treo về tội “lường gạt, biển thủ công quỹ, lạm dụng quyền thế” !... Toàn là những chuyện vô tiền khoáng hậu. Những bậc “cha mẹ dân” của một quốc gia văn minh như Pháp mà còn ăn ở như vậy thì trách ai khác bây giờ?
Đời chỉ vui khi ta được quyền làm bậy!
Hình như đó là một phần định nghĩa của hai chữ tự do ở Châu Âu. Có nhiều chuyện nghĩ tức cười, cởi truồng trên baãi biển cho mọi người ngắm, dù rằng đôi khi cặp vú muớp dài tới rún, da nhăn nheo, nhưng đó là tự do, là văn minh, ở truồng trong rừng rậm là... rừng rú, man ri mọi rợ!
Có một ông bạn già làm thơ nhớ thời son trẻ, nay đã về chiều hối hả ôn lại ngày qua, tìm đường vào cõi tịnh, chuẩn bị cho một ngày “hồn phi phách tán” vào cõi thần tiên...
Nghe chim hót tang bồng rũ áo
Chút bụi trần gạt nốt, chân như...
Rừng phong lặng gió như chờ đón
Lạc bước thinh không hết bụi trần.
(Một Cõi Hư Vô)
Thâm tâm, hảo ý là vậy mà hình thức lại không phải vậy, vì khi nhìn kỹ những gì bạn già làm thì phần muốn “siêu thoát” bị phần muốn “ghi danh hậu thế” lấn át mất. Khi nhìn tấm ảnh của bạn già lại càng thấy bạn không có vẻ gì muốn lánh mặt cuộc đời nầy cả, trái lại bạn vẫn còn tràn đầy nhựa sống, rất phong độ, rất hợp thời trang từ xiêm y đến đầu tóc. Niềm yêu đời vẫn còn rành rành trên khóe mắt, nụ cười, dù chỉ một bước nữa là đạt thành bát thập tướng quân. Mục tiêu của người tìm vào cõi tịnh có khác chi mấy với mục đích của kẻ tu hành: thoát tục? Muốn thoát tục phải diệt dục, nếu vẫn cứ dính dấp với dục, loanh quanh trong những cái tục thì mần răng mà thoát trần được. Thiên hạ đã chẳng gọi là “trần tục” hay sao? Khi tâm chưa tịnh thì chưa thể vào thiền. Ví như con ruồi mắc lưới nhện, càng cựa quậy càng bị siết chặt và cuối cùng bị “nhền nhện làm thịt”. Được vậy cũng sướng đời - như lão Trư Bác Gíái xưa kia cả ngày cứ trốn Thầy đi tìm “ổ nhện”. Nhưng thôi, chuyện muốn thật hay muốn giả vờ của những nghệ sĩ khó ai biết được, bởi vì mấy ông thi sĩ, nghệ sĩ nổi hứng bất tử để rồi ngay sau đó chẳng còn nhớ tới những cuộc tình tục lãng mạn của họ nữa; dù sao thì mấy ổng cũng để lại cho đời những dòng thơ, tiếng nhạc hay. Không thành công thoát tục thì cũng thành danh, chẳng mất mát gì cả. Nói nhỏ mà nghe: thành danh vẫn hơn thoát tục. Thường tình thì ai cũng muốn vừa thoát tục vừa để lại chút danh gì với núi sông.
Tuy nhiên, khi đặt mấy vần thơ ướt át vào bối cảnh của một người vong quốc đã từng có trọng trách trong xã hội, khi tình dân tộc, nợ nước non vẫn còn mê mê ra đó chờ đợi mọi người, thì mấy vần thơ của bạn già nghe ra có cái gì lạc vận, hư vị đăng đắng đúng như cụ Nguyễn Du đã than:
Rằng hay thì thật là hay
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào.
Có khi còn bị hiểu là “thi sĩ bất tri vong quốc hận”. Bạn già đã nhịn nhục trở về thăm lại chốn xưa, những chốn xưa, nhưng chỉ để “nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa”, mơ màng những hình ảnh thân thương của thời son trẻ yêu đương mùi mẫn, chỉ để tìm lại những cảm xúc của một thời hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay, tất cả chỉ nhằm tìm cảm hứng cho nguồn thơ để đời...
Chốn xưa tìm lại tàn hương cũ
Gói ghém thương vào một tứ thơ...
(Hà Nội Thành Đô)
Bạn già đáng được một lời khen: làm sao lại có thể không thấy được - dù có nhắm mắt - những cảnh đau lòng mà cả dân tộc đang chịu đựng để đủ hứng viết thơ tình? Phải chi bên cạnh những dòng thơ chứa chan tình cảm đó, bạn già cũng có (hay sẽ có, mong thay!) mấy vần cảm xúc trước cảnh khốn cùng của muôn dân để đời sau biết đến thì thật vẹn toàn, hay biết mấy. Hay là bạn già nghĩ rằng như thế sẽ làm “ô nhiễm” tập thơ tình, làm rối rấm tâm tư đang cần yên tĩnh tìm vào cõi tịnh?
Kể cũng lạ ông bạn già của tôi muốn tìm vào thiền, vào tịnh mà cứ tiếp tục quanh quẩn trong cõi tình thì mần răng mà thấy đường vào cõi tịnh. Đức Phật đã dạy rồi, tình là bể khổ, con người chỉ có trầm luân trong đó thôi, chẳng khác nào thuyền nhân bị chìm xuồng giữa Thái Bình dương biết đâu là bến bờ để bơi vào; vả lại một khi đã trầm mình vào đó rồi thì còn hơi sức đâu nữa mà bơi với lội. Tôi cũng rất thích thơ với thẩn, nhưng khi nghĩ đến người xưa, lại nhớ tới quê nhà, thế là hình ảnh của Bác lấn át hết cả, nàng thơ hoảng sợ nắm tay người xưa chạy mất, làm cụt hứng ngay, chẳng còn thơ văn đâu nữa, chỉ còn cái cốt nhà binh của một “cọp biển”: chỉ muốn xé xác lũ tam vô buôn dân bán nước. Bạn bè trách tôi thù dai.
Đúng, tôi thù VC rất dai, đầu thai luôn mấy kiếp vẫn cứ thù, không bỏ được. Chúa Phật có vì thế mà phạt tôi vào địa ngục cũng chả sao, đã từng “kinh” qua trường cải tạo rồi, cũng vậy thôi, không ngán. Không làm sao tôi có thể “hòa hợp” được với lũ yêu ma đó; thật ra trong hoàn cảnh hôm nay, nói tới hoà hợp hòa giải với việt cộng thì chỉ có hai hạng người: hạng ngu như bò và hạng ngu hơn bò. Gia đình anh em con cháu đều kẹt lại quê nhà, nhưng tôi nhứt định không về thăm. Bà chị tôi lúc hấp hối thì thào trong điện thoại lời vĩnh biệt và có ý muốn tôi về thăm, tôi cố giữ bình tĩnh trả lời chị rằng tôi rất đau lòng nhưng tôi không làm sao có thể “hạ mình”, nhịn “nhục” xin chúng nó cho phép tôi trở về nhà của tôi thăm chị một lần cuối. Xin chị hiểu cho và miễn chấp.
Những chuyện tình cảm không thiếu đề tài phù hợp với tình cảnh của chúng ta, như chuyện “Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân”, đọc rơi nước mắt và đời sau sẽ thấu hiểu tình cảnh mà cả dân tộc đã hứng chịu dưới sự tàn bạo dã man của cộng phỉ Bắc Việt. Ba thập niên hay ba thế kỷ nào phải là thời gian đủ để chúng ta cho mọi tội lỗi của cộng phỉ, của những kẻ phản bội... đi vào quá khứ để yên tâm an hưởng, phủi tay rảnh nợ nước non và để yên cho những tên phản bội bán nước mỉm cười nơi chín suối? Nghĩa tử nghĩa tận chỉ áp dụng vào trường hợp người dân thường. Đối với những kẻ đã “ghi danh sử sách” thì không có nghĩa tận được, ngàn đời sau thế gian vẫn nhắc nhở, phán xét họ. Bảo rằng nên tôn trọng một xác chết không còn biện bạch được là... dốt, là ngụy biện. Ngày nào lũ buôn dân bán nước còn đó, dân tộc còn thống khổ, ngày đó người “trí thức” vẫn còn món nợ nặng nề trên hai vai không thể chối bỏ, lo thân. Tôi chẳng trách bạn già viết thơ tình cảm riêng tư, mà trách bạn già sao chỉ viết có thế.
Ngòi bút cũng là một vũ khí lợi hại để đánh đổ chế độ phi nhân. Đâu phải ai cầm bút là cũng viết lách được; những ai có biệt tài mà không có tí trách nhiệm thì thật là phí biết bao. Trên trận tuyến hải ngoại chống cộng sản Bắc Việt, những trí thức, những nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà báo... là những chiến sĩ hàng đầu duy nhứt có khả năng đánh những đòn chí tử vào yếu huyệt của cường địch dù nghìn trùng xa cách, nở nào lại chỉ có làm thơ ca ngợi hay luyến tiếc những cuộc tình riêng tư không thôi sao?
Ngoài trọng trách chứng tỏ cho hậu thế thấy rằng văn học lưu vong vẫn hơn xa văn chương của lũ cộng phỉ dốt nát, dối trá trong nước, trí thức, nghệ sĩ hải ngoại còn phải ghi lại những mẩu chuyện nghịch lý, những mảnh đời tan vỡ đau thương vì bọn cộng nô Bắc Việt như là những chứng tích để hậu thế biết rõ tội ác của chúng và hiểu thế nào là cộng sản để không bao giờ tái phạm lỗi lầm hôm nay. Ghi lại những chiến tích oai hùng của quân dân miền Nam đã từng đánh đuổi lũ “chó cắn trộm” cộng nô tả tơi manh giáp trong ngày Tết Mậu Thân và Mùa hè đỏ lửa để hậu thế không bị tuyên truyền đầu độc của bọn phản chiến rằng chỉ có “Mỹ đánh giặc” ở Việt Nam...
Nói vậy chứ cũng còn có những kẻ đã từng ở trong hàng ngũ chúng ta, từng bị thân bại danh liệt, tàn gia bại sản, nay thoát được ra ngoài tưởng đã hồi sinh sáng mắt; thế nhưng sau mấy thập niên ăn no ngủ kỹ một số bỗng dưng nổi hứng lớn tiếng ồn ào rằng họ biết ơn cộng phỉ có công thống nhứt đất nước (Trời đất!? Phải kêu trời mới được), hay rêu rao hòa hợp với lũ cướp của giết người! Lại còn lớn tiếng chê bai thiên hạ chống cộng “thấp” chỉ vì những người nầy đã lấy lá cờ máu của cộng phỉ bịt khu, che mông!
Vậy là khi muốn chống cộng “ cao” phải đội lá cờ máu trên đầu sau đó muốn chống gì mặc tình? Tôi chẳng biết có cách chống cộng nào gọi là “cao”? Có thể như thế nầy: các nhà trí thức đó họ chỉ chống cộng bằng ngòi bút, bằng mồm nhưng trong cung cách “cao”, nghĩa là chỉ nói xa nói gần, né tránh trực tiếp kể tội ác đích danh lũ buôn dân bán nước. Họ chỉ trích nhẹ nhàng đến độ người bị chỉ trích cũng không biết mình bị xài xể; và thiên hạ cũng chẳng biết là họ chống cộng, phải chờ họ giải thích rằng khi họ viết thế nầy, nói thế kia là họ có “ẩn ý” chống cộng. Hay là họ cung kính dâng kiến nghị lên giặc cộng yêu cầu chúng tự sát để cho dân sống? Vậy là vui vẻ cả đôi bên, khi cần về nước du hí người chống cộng “cao” không sợ bị các đồng chí làm khó dễ. Họ chỉ có bổn phận không theo giặc cộng, chứ có ai buộc họ phải chống cộng đâu. Họ cứ yên tâm viết văn, làm thơ, nghiên cứu bất cứ gì họ thich.
Chuyện gì phải mặc cảm. Nếu có mặc cảm chăng là vì trước 75 họ cũng đã từng chống cộng “cao” như thế: họ tìm đủ mọi cách để phục vụ ở hậu phương, nếu “trốn lính” được càng hay. Thế mới biết cái ngu si, hèn hạ của con người nó vô biên như vũ trụ. Thật ra thì dân trí của phe ta, dù ở cấp nào đi chăng nữa, cũng chưa cao. Dù biết thượng cấp, anh em phe ta làm bậy, nhưng cũng cứ đứng sau lưng ủng hộ! Phe ta xem tự ái to hơn Thái sơn nhiều. Trái lại hai tiếng phục thiện nhỏ tí xíu. Vả lại vào thời đại nguyên tử, lằn ranh thiện-ác đã mờ mịt: gian ác như Hồ tặc vẫn có lắm kẻ tôn thờ, Thiên Chúa vẫn bị người xỉ vả...
Từ kế kỷ 19, 20 những Marx, Engels, Lénine, Martov, Troski, Plekhanov... đều bị lưu đày hay di tản ra hải ngoại, nhưng họ đã không ngớt dùng ngòi bút và tâm trí để khơi động cuộc cách mạng làm thay đổi bộ mặt của thế giới. Marx chẳng biết làm thơ như Sosso (tục danh của Staline, một bút hiệu thường dùng trong nhiều bút hiệu của Djougachvili), chỉ biết triết lý và cách mạng; trong lúc Engels vừa là triết gia vừa là một nhà tư bản chủ nhân một xưởng dệt đồ sộ trên đất Anh. Nhờ giàu có nên Engels gần như cấp dưởng Marx và vợ con suốt đời để cuối cùng cả hai gầy dựng nên thuyết mát-xít làm phương châm chỉ đường cho giới công nhân thế giới làm loạn.
Đầu năm 1848, thợ thuyền nổi dậy ở Paris; vua Louis Philippe phải từ bỏ ngai vàng. Phe làm loạn buộc chính phủ phải bỏ hai màu xanh trắng của quốc kỳ, chỉ giữ lại một màu đỏ, nhưng ngoại trưởng Lamartine dứt khoát không chấp nhận lá cờ màu máu, ông bảo đó là cờ của đảng phái, không thể là quốc kỳ. Nhà thi sĩ lại cũng đã phán một câu rằng “vô sản là tiếng nguyền rủa vô luân, hạ cấp, gớm ghiếc cần được xóa bỏ khỏi ngôn ngữ, và trong xã hội cũng phải dần dần làm cho không còn có một người vô sản nào nữa”. Engels tức mình gọi Lamartine là “tên phản tặc văn hay”. Engels là cha đẻ của chủ trương “đấu tranh giai cấp”, tuy là đại tư bản nhưng mang trong người dòng máu cách mạng... vô sản! Cái mới lạ. Phần Staline, y có một giọng hát như ca sĩ, có biệt tài làm thơ như thi sĩ, chỉ với hai tài đó y phải là một nghệ nhân; nhưng trong y, cái bản chất tàn ác lạ thường hoàn toàn lấn át bản chất của người nghệ sĩ và Staline đã trở thành một tên đồ tể khét tiếng: mới 18 tuổi đã rời bỏ chủng viện, nơi mẹ ông gởi gắm để học hành thành cố đạo, và tổ chức đánh cướp ngân hàng, sát hại binh sĩ, lấy tiền để làm... cách mạng.
Đã sinh ra tên đồ tể Staline, trời lại sinh thêm Lénine với bản chất thô bạo cũng khác thường, và cặp bài trùng đó đã gây nên bao nhiêu tan tóc cho dân Nga và nhân loại. Lénine, Staline và các đồng chí ở Nga nổi lên lật đổ Nga hoàng trong một cuộc cách mạng đầy máu lửa lan tràn trên khắp thế gian. Cũng chỉ vì Nicolas II mù tịt về tình trạng của xã hội, của dân Nga nên đã phạm một lỗi lầm tài trời vào ngày Chủ Nhật 9/1/1905 khi đông đảo dân Nga kéo nhau đến trình “thỉnh nguyện thư” yêu cầu Nga hoàng cải tổ chính trị trong tinh thần “hòa hợp hoà giải” không một mải may nào có ý làm loạn. Thế nhưng Nga hoàng, vì mặc cảm do nhiều cuộc đình công rối ren trước đó, lại ra lịnh cho binh lính “giải tán biểu tình” bằng súng đạn, gây nên một cuộc thảm sát có đến hàng chục thương vong! Chỉ vài tháng sau,5/1905, giới thợ thuyền thành lập tổ chức mang tên Sô Viết đầu tiên.
Trong Sô Viết của thành phố Pétersbourg, Troski và Nosar cho phát hành tờ tuần san Izvestia sovieta. (Tờ báo nầy vẫn còn sống sau khi Liên bang sô-viết sụp đổ). Thế mới biết trí thức bao giờ cũng dùng ngòi bút để mở đường đấu tranh. Khi Troski bị bắt, thì một nhóm khác với Gorki, Bogdanov, Minski cho ra một tờ báo mà chủ bút là bà vợ thứ hai của Gorki, kịch sĩ Maria Andreeva. Đến cuối năm đó Lénine mới trở về Pétersbourg và lập tức lăn xả vào viết báo liên tục với những tờ Luồng Sóng (Volna), Tiếng vang (Ekho), Vô sản (Proletarii)... Chính Lénine đã đặt mục tiêu sau cùng là chuyên chính vô sản, không có một đồng chí nào đủ sức lèo lái y ra khỏi 4 tiếng đó, mục tiêu đó.
Chỉ với mấy chữ vàng đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản của vài ba “tư tưởng gia” từ hai thế kỷ trước mà đến nay dân Việt vẫn còn hứng chịu hậu quả khóc liệt chưa biết đến bao giờ mới hết. Trí thức không thể thiếu vắng trong bất cứ một cuộc đấu tranh nào, dù gây họa hay tạo phúc cho muôn dân. Nhưng không phải trí thức nào cũng có khả năng làm được việc đó; dân ta còn quá chậm tiến, nhút nhát, cầu an, nhứt là sợ sệt... Người dân Bắc Phi đã không sợ, chấp nhận hy sinh, cùng nhau hàng trăm ngàn ngày ngày, tháng tháng xuống đường cho đến khi nào bạo quyền phải lui bước mới thôi. Dân ta có lẽ không bao giờ dám xuống đường như vậy, nên chuyện đấu tranh giai cấp của Engels và chế độ vô sản nhập cản của Lénine sẽ có triển vọng tồn tại lâu dài trên quê hương...
Nhưng thôi, chuyện nước non cũng như chuyện văn thơ, không phải ai cũng biết nghĩ, biết làm. Mỗi người có đóng góp một chút gì đó là quí lắm rồi. Từng tuổi bát thập mà còn viết lách như ông bạn già của tôi đã là đáng khen. Thường tình khi vào lứa “cổ lai hi”, nếu không ra sức già cố quơ quào hưởng thụ một “cú đẹt”, thì đa số chỉ còn biết chăm sóc lấy thân già, của mình và của người bạn đường từ nửa thế kỷ trước. Luẩn quẩn có bấy nhiêu đó việc mà có khi còn làm chưa ổn, mong gì chuyện lớn. Mỗi sáng tỉnh giấc, chống tay ngồi dậy, bước xuống giường đi tới nhà tiêu được và “ể” được là mừng cho ngày đó máy còn tốt. Chưa bị Alzheimer hay “đột quị” nằm liệt giường, xụi lơ cán cuốc là vui lắm rồi.
Đông Vân Nguyễn Văn Dõng
Tình Yêu Thương Chính Là Dưỡng Chất Tốt Nhất Cho Tâm Hồn ( An Nhiên)
Tình yêu thương chính là dưỡng chất tốt nhất cho tâm hồn
Có một cậu bé bị liệt hai chân luôn tự coi mình là người bất hạnh nhất trên thế giới này. Vì mặc cảm tự ti, cậu rất ít khi chơi đùa với bạn bè. Khi thầy giáo gọi lên bảng trả lời câu hỏi, cậu chỉ cúi đầu mà không nói một lời nào.
Vào một ngày mùa xuân, cha cậu mang về một vài cây non để trồng trước nhà, bởi vậy ông đã gọi các con đến và yêu cầu mỗi đứa trẻ trồng một cây. Ông nói, nếu cây của ai lớn nhanh nhất thì sẽ được thưởng một món quà mà mình yêu thích.
Cậu bé cũng mong muốn nhận được món quà của cha. Nhưng khi nhìn thấy các anh chị em đều ra sức chăm bón cho cây của họ, bỗng cậu cảm thấy nản chí và muốn bỏ cuộc. Do vậy chỉ sau một, hai lần tưới nước, cậu hoàn toàn bỏ bẵng, không để ý quan tâm tới cái cây của mình nữa.
Vài ngày sau đó khi đi xe lăn ngang qua khu vườn, cậu bé sửng sốt thấy cái cây non của mình không những không bị khô héo tàn lụi mà còn nảy thêm nhiều lá non. Những chiếc lá nhỏ li ti nhưng xanh tươi mỡ màng, vươn lên đầy sức sống. Và khi nhìn sang những chậu cây của các anh chị em mình, cậu bé không khỏi ngạc nhiên khi nó thậm chí còn xanh tốt và có sức sống hơn nhiều.
Khi nhìn thấy cây non đang vươn mình mạnh mẽ, hẳn cậu bé đã nghĩ rằng: “Mầm non bé nhỏ à, vì sao mình bỏ bê như vậy mà cậu vẫn không hề bỏ cuộc? Cậu thật là mầm non dũng cảm! Nếu cậu làm được, mình cũng sẽ làm được, phải không?”
Và cha thật sự giữ lời hứa, ông đã mua cho cậu một món quà mà cậu bé luôn ao ước. Ông còn nói: “Nhìn cái cây này, chắc chắn sau này con sẽ là một nhà sinh vật học xuất sắc!” Nhờ câu nói ấy, cậu bé không còn tự ti vào bản thân nữa. Cậu đã nhìn thấy những lộc non rực sáng dưới ánh nắng ban mai. Và nhất định rồi, từ giờ cậu có thêm niềm tin vào tương lai phía trước, đôi chân tật nguyền vẫn khiến cậu chật vật tồn tại nhưng cậu vui vì ít nhất thì mình cũng không kém anh chị em trong nhà.
Một buổi tối nọ, cậu bé nằm trên giường ngắm trăng sáng ngoài cửa sổ. Hình như có lần thầy giáo dạy sinh vật đã nói rằng, thực vật thường sinh trưởng và phát triển vào ban đêm. Cậu bé liền nghĩ: “Sao mình không tự đi kiểm tra cái cây của mình xem có phải như vậy không nhỉ?”
Thế là cậu bé bước xuống giường, rồi nhẹ nhàng mở cửa ra tới ngoài vườn. Dưới ánh trăng vằng vặc, cậu bỗng nhìn thấy cha đang cẩn thận tưới nước cho cái cây của mình. Đến lúc này cậu bé mới hiểu ra tất cả mọi chuyện, hóa ra là cha luôn âm thầm chăm sóc cho cái cây cậu trồng. Cậu bé trở về phòng, ôm chặt gối mặc kệ cho nước mắt không ngừng tuôn rơi.
Nhiều năm qua đi, cậu bé tàn tật đó mặc dù không bước vào con đường của một nhà sinh vật học, nhưng lại trở thành chủ doanh nghiệp kinh doanh cây cảnh hết sức thành công. Ông chọn nghề kinh doanh và làm đẹp cho không gian sống bằng cây cối bởi vì bất cứ khi nào khó khăn hay va vấp trên đường đời gian khó, hình ảnh người cha tưới cái cây trong đêm lại hiện lên trong tâm tưởng giúp ông có thêm can đảm, nghị lực vượt qua khó nạn.
Cái cây cha trồng lớn lên như hình ảnh về sức mạnh của tình yêu nuôi dưỡng tâm hồn và thắp lên niềm tin trong lòng con trẻ. Với đôi chân tàn tật, ông vẫn đi khắp nơi trên thế giới để truyền cảm hứng cho những em nhỏ tật nguyền, ông luôn mang theo bên mình một cái cây nhỏ trồng trong chậu bé xíu, và bắt đầu bài diễn thuyết của mình bằng việc kể về câu chuyện người cha trong đêm…
…Dù bạn không phải là người cha hay bạn không có một đứa con nhỏ như cậu bé, đừng quên trao đi yêu thương và sự khích lê với những người xung quanh mình, ngay cả khi họ không tật nguyền về thân thể, thì ai cũng đều có những nỗi đau trong tâm hồn. Nhưng tại sao ta không thể như người cha kia, lấy sự yêu thương tự đáy lòng trao cho ai đó, cần đến nó, như gieo một mầm xanh của sự chia sẻ, đồng cảm, một chút nỗ lực bé nhỏ ấy có thể thay đổi thậm chí có thể mang lại cho họ cả một cuộc đời… khác.
An Nhiên
Một Ngày Không Thể Quên (MX Dr Đông Vân)
Một Ngày Không Thể Quên.
MX Dr Đông Vân.
Đã có bao nhiêu tháng tư đến rồi đi, nhưng tôi chưa bao giờ viết về ngày tháng đen tối đó của dân tộc. Nay có người hỏi tôi:
-Tại sao phải nhớ ngày quốc hận?
Biết trả lời sao cho ngắn ngọn và tạm đủ để người bạn không hiểu lầm ngày đó với Ngày đi tìm tự do v.v...của những người tị nạn CS nhưng nay, họ lại muốn xóa tội cho VC để hy vọng chúng nó cho chút cháo cầm hơi.
Trong đời sống, ai cũng có bao nhiêu là “ngày tháng không quên”, từ ngày vào đời của bản thân, đến ngày “hui nhị tì” của thân thuộc, và những ngày liên quan đến những đổi thay trong cuộc sống riêng tư cũng như của quốc gia... Riêng ngày 30-4-75 lại liên quan đến cuộc “đổi đời” của cả dân tộc thì làm sao ta có thể quên được. Không phải chỉ ngày hôm nay mà cho đến trăm năm sau con cháu vẫn phải ghi nhớ. Không phải chỉ nhớ “công lao xâm lược” của Baác và Đảng, mà còn phải nhớ bao nhiêu tội ác “vĩ đại” của loài súc sinh đã gây ra cho dân tộc. Những đau thương sâu đậm của bao nhiêu bạn bè tôi cảm nhận như của chính mình, mối hận đó kiếp nầy không trả được thì chết mang theo chứ khó lòng quên được, khác chi mối tình của nàng Kiều, của Trương Chi :
“Thù nhà” chưa trả cho ai
“Hận nước”mang xuống tuyền đài chưa tan.
Ngày nào bao nhiêu trai hùng hiên ngang khắp 4 vùng chiến thuật chống xâm lăng giữ yên bờ cỏi để rồi vì “tội ác” đó mà phải lâm cảnh khổ sai! Ngày nay, bao nhiêu tài năng của dân tộc buộc lòng ruồng bỏ quê hương ngục tù tan tác khắp 5 châu. Còn nỗi đau nào lớn hơn?
Nhớ để đừng bao giờ dẫm lại vết xe cũ: ngây ngô, khờ khạo tin lời đường mật của CS. Tinh thần của ngày 30-4 chính là lời nhắc nhở, kêu gọi những người còn chút lương tri bổn phận giải cứu quốc gia dân tộc khỏi gông cùm của CSBV.
Cái khổ tâm chúng ta gặp phải là người lương tri ít mà kẻ lươn lẹo thì như cát ngoài sa mạc. Người có lương tri thường rất bền gan, kẻ lươn lẹo chuyên nghề nương gió bẻ măng. Hằng năm vào dịp Tết cứ nhìn cảnh tấp nập ở phi trường Tân Sơn Nhứt đủ để...chán cái mớ đời. Ngày ngày có biết bao nhiêu hình ảnh quảng cáo các chuyến bay thẳng từ Mỹ, Pháp, Úc...về VN. Đối với “những du khách” nầy, VN là một quốc gia như bao nhiêu nước khác: không có vấn đề gì đối với họ cả. Chuyện Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa...đối với họ là chuyện xưa rồi, không can dự gì đến họ, hơi đâu nhớ chuyện “tào lao” chi cho mệt.
Họ về ăn Tết, về du hí, về dưởng lão - để trâu già còn có dịp gặm cỏ non cho đỡ thèm. Những cái “đầu tôm” nầy không còn nhớ, còn biết họ là ai thì làm gì còn nghĩ đến chuyện nước non. Họ không đủ trí để hiểu rằng cúi đầu xin VC cho phép nhập cảnh là một điều nhục nhã. Khi tôi có dịp đề cập chuyện nầy với một ông đồng nghiệp, ông ta chỉ cười rằng ông đâu có xin xỏ ai, vì đã có tổ chức lo hết. Một người tốt nghiệp đại học mà hèn ngu như thế thì dân còn biết trông cậy vào ai? Tôi bỗng nhớ văn hào Chateaubriand đã từng than rằng:
-Il y a des temps où l’on ne doit dépenser le mépris qu’avec économie, à cause du grand nombre de nécessiteux.
(Có lúc phải tiện tặn khi dùng tiếng khinh bỉ vì có quá nhiều người cần).
Mỗi năm việt kiều mang về hàng chục tỉ USD giúp VC xây dựng “bằng mười lần trước”, trường tồn trong gian trá, cướp bóc, bạo ngược...Làm sao diệt cộng được đây? Chưa kể đến những nhà hảo tâm – tâm tốt nhưng dạ tối om - về xây cầu xi măng thay cho cầu khỉ, chữa bịnh cho dân thay cho nhà nước XHCN. Cai trị một lũ dân đa số vừa hèn nhát, vừa ngốc nghếch kể ra sướng thiệt: chỉ cần lên giọng, trợn mắt là nói gì cũng nghe, đút cho chút cháo là bảo gì cũng làm!
Quên ngày quốc hận chỉ có những kẻ tiểu nhân, khéo che giấu trọng tội phản bội dân tộc dưới những mỹ từ “quên đi quá khứ đấu tranh để hướng về tương lai an bình, dân tộc hòa hợp”. VC vẫn ngu ngơ tưởng rằng dân Nam dốt nát chưa hiểu rằng dầu không bao giờ hòa hợp được với nước. Ai còn lên tiếng kêu gọi hoà hợp hòa giải với VC chắc chắn kẻ đó nếu không là VC cũng là người đệ nhứt ngu trong thiên hạ.
Thứ đến là những kẻ tự xưng yêu chuộng hoà bình - họ làm như thiên hạ đều thích chiến tranh. Vì yêu hoà bình nên họ sẵn sàng chui dưới trướng của lũ cộng nô để được yên thân, điển hình là những việt kiều về “thăm nhà”. Quả thật chẳng có cái dại nào giống cái dại nào! Muốn yên thân trong chế độ CS cũng không khó lắm, chỉ cần biết làm người đui- điếc- câm và nhứt là biết sợ. Đại khái là sống như một loại súc vật, mất dần khả năng suy nghĩ, khả năng sáng tạo, và sẽ không còn biết thế nào là tự do, bản chất đặc thù của loài người. Nôm na là sống như loải vô tri, vô giác...Tôi lại nhớ đến văn hào E. Hemingway,trong chuyện For whom the bell tolls ông viết rằng :
It’s better to die on your feet than to live on your knees.
(Tốt nhứt, nên chết đứng hơn là sống quì)
Ước gì tất cả chúng ta và nhứt là những việt kiều thường xuyên về thăm nhà biết, hiểu và nhớ câu nói nầy.
MX Nguyễn Văn Dõng.
HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI MỸ VỀ CẤP CHỈ HUY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4.1975 (Phạm Phong Dinh)
Tướng Trần Văn Hai
Đa số sách báo Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam không tường thuật nhiều về những ngày, những giờ phút cuối cùng của Miền Nam một cách chính xác. Điều dễ hiểu là, những người Mỹ làm việc tại Miền Nam đã được di tản nhiều ngày trước khi quân đội Bắc Việt vào Sài Gòn, nên những chi tiết về giờ thứ 25 rất ít được ghi nhận. Tuy nhiên, cũng có vài tác phẩm viết lại những sự việc xảy ra những ngày cuối tháng Tư, như cuốn Goodnight Saigon của Charles Henderson, Decent Interval của Frank Snepp, hay cuốn Last Man Out của James E. Parker.
Tác phẩm Goodnight Saigon (Giã Biệt Saigon) nghiêng nhiều về tường thuật những diễn biến quân sự từ những thảm họa trên cao nguyên và ngoài Quân Khu 1, đến những ngày hấp hối của Sài gòn, những xao động của dân chúng. Một vài câu chuyện về những nhân vật dân sự như nhà văn Mai Thảo, diễn viên Kiều Chinh.
Trong cuốn Decent Interval (Khoảng Thời Gian Coi Được), tác giả Frank Snepp chú trọng nhiều về những diễn biến và xáo trộn chánh trị ở Hoa Kỳ và Miền Nam. Đặc biệt ông tường thuật cuộc ra đi trong đêm 25.4.1975 của Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm. Cái tựa đề đã nói thay cho chánh sách của chánh quyền Hoa Kỳ, hay nói chính xác, là công việc để đời của ông Henry Kissinger, khi ông này tiên liệu sau Hiệp Định Ba Lê thì Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn sống sót được chừng một năm rưỡi nữa là cùng. Đó là khoảng thời gian coi được cho một cái chết từ từ, nếu chết nhanh quá thì coi cũng… kỳ.
Tuần lễ cuối của tháng Tư, khi Tổng Thống Thiệu đã ra đi, thì ông Henry đã sốt ruột hỏi nhau với những cộng sự, rằng không biết giờ này VNCH đã chết chưa.
Ở con người Kissinger tương phản hai thái cực kỳ dị. Khi còn trong cuộc hòa đàm thì ông ta nhũn nhặn chìu chuộng Hà Nội đủ mọi thứ, đến đỗi Tổng Thống Thiệu đã bực tức hỏi thẳng ông Phó Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn khi ông ta nài nỉ Tổng Thống Thiệu chịu ký Hiệp Định: “Các ông đại diện cho người Mỹ hay đại diện cho Bắc Việt”.
Bằng mọi giá, ông Kissinger phải ký cho được Hiệp Định Ngừng Bắn Ba Lê, đưa tù binh Mỹ về nước, và chấm hết. Nhưng khi Bắc Việt ngổ ngáo vi phạm hiệp định, tái phát chiến tranh, thì ông lại bênh vực VNCH và đòi trừng phạt Hà Nội. Chẳng biết là ông diễn tuồng, điều mà ông gọi là lương tâm của nước Mỹ, hay là thật lòng. Những dẫu sao thì quốc hội Mỹ cũng đã quyết định thay giùm ông, rằng VNCH phải chết.
Tác phẩm Last Man Out (Người Cuối Cùng Ra Đi) của James E. Parker là hồi ức về những ngày công tác tại Việt Nam trong cương vị của một nhân viên CIA có trách nhiệm liên lạc và thu thập tin tức quân sự với những cấp chỉ huy của QLVNCH, rồi tổng hợp làm phúc trình cho cơ quan CIA tại Sài Gòn. Ông Parker đang làm việc ở chi nhánh CIA Cần Thơ, thì ông nhận lịnh thuyên chuyển về Vị Thanh, tỉnh lỵ của tỉnh Chương Thiện. Đối với người Việt Nam, thì Chương Thiện là một địa danh ít người muốn đến, còn theo Parker thì bên ngoài tỉnh lỵ bước ra mấy bước là đã ngửi thấy mùi Việt Cộng. Nên bất cứ người Mỹ nào về làm việc ở đấy đều được đồng nghiệp gọi tên giễu (nickname) là Dead Man (Người Chết).
Tuy vậy khi về Vị Thanh, Parker nhận ra rằng Việt Cộng chẳng bao giờ muốn làm phiền ông ta, ông được an toàn. Từ đấy Parker suy luận rằng, chúng chẳng muốn khiêu khích Hoa Kỳ bằng cách giết một CIA Mỹ trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc chiến, chẳng có lợi gì mà có khi còn làm cho anh Mỹ nổi giận quay trở lại thì khốn. Cứ để cho những người Mỹ tà tà làm việc cho đến ngày họ cuốn gói ra khỏi Việt Nam, bởi ngày ấy chẳng còn lâu la gì.
Công tác ở Miền Tây, là nhân viên đại diện cho CIA Cần Thơ, Parker có dịp tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của vùng châu thổ Cửu Long, những nhân vật đầy giai thoại: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Đặc biệt, trong những ngày cuối cùng của tháng Tư, chiếc trực thăng của Parker gần như hàng ngày đáp xuống Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Hai để nghe ông trình bày quân tình, dân tình lúc ấy, rồi sau này nhiều người đã ngỡ rằng người Mỹ đến mời Chuẩn Tướng Hai ra đi.
Nhưng nếu người Mỹ thực sự có ý định đưa Chuẩn Tướng Hai đi, thì ông cũng sẽ khảng khái từ chối, như Tổng Thống Trần Văn Hương từ chối các ông Đại Sứ Mỹ Martin và Đại Sứ Pháp Mérillon, thề ở lại chia xẻ hoạn nạn với chiến sĩ và đồng bào của ông. Hay Thiếu Tướng Lê Minh Đảo từ chối sự mời mọc của người Mỹ, ông thề ở lại cùng sống chết với chiến hữu của ông.
James Parker đã dành nhiều trang kể lại những cuộc tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của quân đội Việt Nam, cuộc gặp đầu tiên là với Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, lúc ấy ông đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, bản doanh sư đoàn đặt tại Vị Thanh, kính mời quý độc giả cùng theo dõi (chú thích trong ngoặc là của chúng tôi):
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tiếp đón chúng tôi rất niềm nở. Ông Tướng nói Anh ngữ hơi chậm nhưng phát âm rõ ràng, cho biết sư đoàn của ông có trách nhiệm bảo vệ vùng hạ châu thổ. Sư Đoàn trong thế bị áp đảo về quân số nhưng ông đã làm tất cả những gì có thể, ông chọn lựa mục tiêu. Ông không muốn tấn công vào những điểm kiên cố của quân cộng, bởi ông nghĩ rằng ông sẽ bị tổn thất nhân mạng nhanh chóng. Vì ông đang ở trong một cuộc chiến quá lâu dài, ông phải bảo vệ nhân lực và nguồn tiếp liệu của ông. Ông nói với tôi rằng ông không thể xoay chuyển cục diện ở đây, nếu ông muốn tạo một chiến thắng thì quân Bắc Việt chắc chắn sẽ đưa nhiều quân đến nữa. Tôi hỏi ông:
- Tại sao chiến đấu một cuộc chiến đang thấy thua rõ?
Ông Tướng hỏi vặn lại, rồi mỉm cười:
- Tôi còn có sự chọn lựa gì nữa không? Nhưng đây là đất nước của chúng tôi.
Vị Thanh là nơi hiểm nghèo nhứt ở Miền Nam, không có lý lẽ nào để nuôi hy vọng ở đây. Quân địch đầy dẫy chung quanh thành phố. Tại sao lại mạo hiểm để cho những người Mỹ bị địch cầm giữ trong giờ thứ mười một này. Những tháng sau, tôi làm việc nhiều thời gian trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21, thu thập tin tức trong vùng hạ châu thổ, cuối cùng tôi được cho phép thường xuyên tiếp xúc với Phòng 2 và Phòng 3 Sư Đoàn.
Trong lúc đó thì Tướng Hưng có mặt hầu hết ngoài mặt trận. Chiếc trực thăng chỉ huy của ông cất cánh mỗi buổi sáng sớm đưa ông đến những địa điểm xa xôi nhứt để ông có thể thăm hỏi những cấp chỉ huy. Tôi chỉ gặp ông hầu như vào lúc ban đêm, lúc thì dùng bữa tối, lúc thì uống với nhau. Thỉnh thoảng thì tôi cũng gặp ông Tướng vào lúc ban ngày trong văn phòng của ông. Thời gian dần trôi, thì cuộc gặp gỡ của chúng tôi trở nên thoải mái nhiều, chúng tôi thích thú sự hiện diện của nhau.
Terry (nhân viên CIA mà Parker đến thay thế) giới thiệu tôi với vị Tỉnh Trưởng, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông Đại Tá được tuyên dương là Chiến Sĩ Xuất Sắc Của Năm (1972), trước khi ông đến nhậm chức ở Chương Thiện, một vinh dự gặt hái được từ chiến công anh hùng của ông chống quân Bắc Việt ở An Lộc. Ông đã bị thương rất nặng, mất một phần mặt của ông. Khi tôi gặp ông, thì phần bị mất ấy đã được chữa trị bằng phẫu thuật, từ cái nhìn đầu tiên thì tôi đã có thể nhận ra một vết thẹo dài chạy dọc theo bên hàm. Đại Tá Cẩn có một quan niệm rất lạc quan về chiến tranh, dù cảnh quan buồn tẻ ở Vị Thanh. Ông đúng là người lính của những người lính, dũng cảm và thanh liêm. Ban đêm ông thường đi xuồng đến những đồn bót xa xôi nhứt để phát lương cho binh sĩ. Ông nói rằng ông có dưới tay nhiều chiến sĩ giỏi mà có thể chiến đấu chống cộng sản đến khi họ chết hoặc là đất nước được thanh bình.
Những buổi tối của tôi với Chuẩn Tướng Hưng càng lúc càng thân tình. Ông thường hỏi thăm về gia đình tôi, về Hoa Kỳ cùng những gì đang xảy ra bên ấy. Ông rất quan tâm đến văn học Mỹ nên tôi thường có dịp nói về các tác giả Hoa Kỳ và tác phẩm của họ. Mặc dù tôi thường đọc hai, ba cuốn sách mỗi tuần ở Vị Thanh, nhưng tôi lại chưa đọc những cuốn mà Tướng Hưng hỏi tôi. Về phần ông, thì ông nói về lịch sử và chuyện chiến tranh ở Đông Dương. Ông thường nói chuyện một cách có cân nhắc và chậm rãi, hay mỉm cười dù đang đề cập đến những sự việc nghiêm trọng. Từ ông toát ra một vẻ rất tự tin và ánh lên sự trầm tĩnh.
Trong tháng 2 (1975), cấp chỉ huy ở Cần Thơ và Sài Gòn thúc giục, Tướng Hưng cho quân tấn công một đơn vị lớn Bắc Việt về phía Đông Chương Thiện thuộc rừng U Minh, là một khu vực cộng quân chiếm đóng từ lâu. Cuộc tấn công này là chiến dịch lớn nhứt từ lúc tôi về tỉnh Chương Thiện. Ông Tướng áp dụng tất cả nguồn yểm trợ của Không Quân mà ông có. Mặc dù ông sở hữu nhiều khẩu đại bác do quân đội Mỹ để lại, ông lại có khó khăn khi di chuyển chúng vì sự hạn chế phi vụ chuyển vận. Ông cũng thiếu thốn những tiếp liệu cần thiết và đầy đủ để trang bị cho lực lượng tấn công. Thí dụ, ông có rất nhiều mìn claymore nhưng thiếu ngòi nổ, đạn pháo binh cũng thế, có nhiều nhưng rỉ sét. Do vậy, sư đoàn chịu nhiều thiệt hại. Chiến sĩ của ông chiến đấu rất dũng cảm. Tôi hiểu nỗi đau đớn của ông Tướng, và tôi hiểu niềm hãnh diện của ông đối với những người lính ấy, dù bị thương vong rất nhiều nhưng họ vẫn tiếp tục tiến tới.
Khi trận chiến tàn, quân Bắc Việt bị đẩy lùi vào rừng U Minh, Tướng Hưng vẫn không chắc rằng ông đã thực sự chiếm thượng phong. Ông đã dùng quá nhiều nguồn tiếp liệu mà ông có. Cho cái gì mới được? Mấy ngày sau, một thứ mùi kinh khủng tuôn vào chỗ tôi cư ngụ. Tôi đã từng ngửi thấy mùi này, đó là mùi của thịt thúi, của người chết. Một thông dịch viên cho tôi biết nhà xác sư đoàn nằm giữa khu tôi ở và cô nhi viện tỉnh. Những xác tử sĩ nằm chờ được chở đi. Phương tiện chuyên chở đã hiếm hoi mà phòng lạnh cũng không. Một số xác được lấy về từ khu vực chiếm đóng của cộng quân. Dẫu sao thì khi tôi muốn chạy xa khỏi khu nhà ở, thì ông Tướng đã xoay sở phương tiện đưa xác tử sĩ đi trong tuần.
Tháng sau (10.3.1975), Ban Mê Thuột thất thủ, Bộ Tư Lệnh Tối Cao ở Sài Gòn tái phối trí lực lượng để bảo vệ phần còn lại của Miền Nam. Sư Đoàn của Chuẩn Tướng Hưng di chuyển về bảo vệ khu vực phía Bắc Cần Thơ, ông Tướng được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó khu vực phía Nam Sài Gòn (Quân Khu 4).
Ngày 20.3.1975, Huế thất thủ.
Ngày 30.3.1975, Đà Nẵng mất.
Ở Cần Thơ, Tướng Hưng làm việc với Jim D. (Sếp CIA Cần Thơ) và những sĩ quan liên lạc quân sự, nhưng ông tỏ ra thích làm việc với tôi ngay lần đầu gặp gỡ hơn là với những người sĩ quan này. Jim D. bảo tôi lên Cần Thơ thường xuyên hơn để làm việc với ông Tướng. Tôi có kế hoạch trở lại Vị Thanh mỗi tuần hay mỗi hai tuần để coi lại khu vực trú ngụ và nghe thuyết trình quân tình từ Đại Tá Mạch Văn Trường, Tân Tư Lệnh Sư Đoàn 21 đang chỉ huy những đơn vị còn lại ở đấy (Một ngày trước khi ra đi, ngày 24.4.1975, Tổng Thống Thiệu ký nghị định đặc cách thăng Chuẩn Tướng cho Đại Tá Trường. Ông là vị Tướng được thăng chức sau cùng nhứt của cuộc chiến).
Khu vực càng lúc càng thu hút sự quan tâm là con đường Quốc Lộ 4 chạy dài theo hướng Tây và Tây Nam từ Sài Gòn, phía Bắc sông Bassac (tức sông Hậu Giang), rồi đổ vào vùng châu thổ. Các đơn vị của Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm bảo vệ quốc lộ, Chuẩn Tướng Hưng sắp xếp cho tôi được nghe thuyết trình từ Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Tướng Hưng cho biết ông từng phục vụ trong sư đoàn lúc còn trẻ. Ông cố vấn sư đoàn lúc đó là con người đầy giai thoại Trung Tá John Paul Vann, một nhân vật đầy quyền lực đối với quân đội Nam Việt Nam. Cuối cùng thì ông đã chết (trong một tai nạn trực thăng ở Kontum, tháng 6.1972).
Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và diện kiến Chuẩn Tướng Hai trong văn phòng của ông. Ông Tướng đúng là một bản sao của một sĩ quan Mỹ với bộ quân phục sạch thẳng nếp, tay áo xắn lên quá khuỷu tay. Ông Tướng nói Anh ngữ rất lưu loát (khi còn là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, người ta luôn thấy trong tay Chuẩn Tướng Hai nếu không là một cuốn kinh Phật, thì cũng là một cuốn sách tự học Anh Văn. Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông cũng đã từng được gửi đi thụ huấn khóa tham mưu ở Hoa Kỳ). Đôi mắt trên khuôn mặt đầy đặn của ông ánh vẻ nghiêm khắc và ông chẳng tỏ ra thân thiện. Tôi hỏi ông Tướng về tình hình.
- Anh muốn biết tin tức, anh nhân viên chánh phủ Hoa Kỳ, tôi muốn cơ phận cho trực thăng, tôi muốn đạn dược.
- Ngài đang nói chuyện với lầm người rồi, điều ấy chẳng phải là công việc của tôi.
- Anh chính là chánh phủ Hoa Kỳ. Chánh phủ Mỹ hứa luôn cung cấp tiếp liệu cho chúng tôi để chúng tôi có thể chiến đấu. Chúng tôi có thể làm được chuyện ấy, chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, nếu chúng tôi có đạn và phi cơ. Hãy nói lại với chánh phủ của anh điều đó rồi tôi sẽ nói anh nghe những gì đang xảy ra ở đây.
- Vâng, tôi sẽ báo cáo rằng quân đội đang thiếu hụt tiếp liệu.
Ông Tướng chằm chằm nhìn tôi một lúc lâu, cuối cùng ông nói:
- Người Mỹ các anh không thường giữ lời hứa với người Việt chúng tôi.
Ông Tướng tiếp tục nhìn tôi qua làn khói thuốc, chờ đợi phản ứng của tôi. Khi tôi không tỏ thái độ gì, ông nhún vai và bắt đầu thuyết trình. Ông cho biết binh sĩ của ông chiếm giữ những vị trí trên Quốc Lộ 4 và hành quân đến biên giới Kampuchea để bảo vệ vùng lãnh thổ dưới Sài Gòn. Khu vực này phần lớn là những cánh đồng ruộng trồng lúa. Tinh thần binh sĩ rất cao, ông có thể ngăn chống lực lượng địch cấp sư đoàn của Bắc Việt trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên tinh thần binh sĩ có thể suy sụp nếu sư đoàn đối đầu với lực lượng địch lớn hơn và nếu đạn dược hao hụt. Ông tiên đoán rằng quân Bắc Việt sẽ tấn công sớm, mà ông thì không có tái tiếp tế. Sư đoàn ông đang trực diện với Sư Đoàn 9 Bắc Việt do Tướng Di Thiên Tích chỉ huy, mà đã chiến đấu trong khu vực này từ trước năm 1965.
- Tướng Tích có thể là tướng chỉ huy xuất sắc nhứt mà Bắc Việt có. Anh có biết chiến hiệu (slogan) của sư đoàn ấy là gì không? Là “Quét Sạch Kẻ Thù”. Kẻ thù ấy là tôi.
Có nọc độc trong giọng nói của ông. Quân Lực VNCH đang sụp đổ ở phía Bắc, ông buồn phiền và cay đắng. Không giống như Tướng Hưng, Tướng Hai không triết lý cho tương lai. Ông giận dữ. Tôi đưa ý kiến rằng có thể có cuộc thương thuyết ngừng bắn mà từ đó bảo vệ được chủ quyền của chánh phủ Miền Nam. Ông Tướng nhìn tôi không nói, tôi không rõ ông đang nghĩ gì. Khi tôi trở về Cần Thơ, tôi báo cáo với Jim D. buổi gặp mặt ở Sư Đoàn 7 Bộ Binh, rồi kết thúc bằng sự việc ông Tướng muốn đạn dược và cơ phận. Jim D. nhíu mày nhìn tội
- Đưa chuyện ấy vào báo cáo gởi cho Washington, và đứng nói với tôi nữa.
Tôi thường xuyên đến thăm Chuẩn Tướng Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Ông hiếm khi cười. Ông Tướng thường ngồi trên một cái ghế gỗ đằng sau bàn làm việc, ẩn đằng sau khói thuốc khi tôi đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương gần biên giới Miên. Mỗi lần nói chuyện với nhau, thì ông Tướng thường gợi lại những điều mà ông cho là “Sự Can Thiệp Đầy May Rủi” của Quân Đội Hoa Kỳ. Những điều ông nói, đại khái như:
- Giữa hai nền văn hóa có một sự khác biệt lớn lao, người Mỹ các anh luôn muốn chúng tôi suy nghĩ và hành động y hệt như các anh. Thực ra thì chúng tôi đâu có thích các anh hay chánh sách của các anh… Anh có nghe tôi không? Chúng tôi không thích các anh bảo chúng tôi phải làm gì. Nhưng chúng tôi cần sự giúp đỡ để tồn tại, và chúng tôi biết các anh có lợi thế nhìn chúng tôi sinh tồn. Nhưng không có nghĩa là các anh có quyền xía vào công việc và nền văn hóa của chúng tôi.
Tại sao các anh không đưa quân vô Kampuchea. Quân Bắc Việt đang ở đấy đấy, tại sao các anh thì không? Nếu các anh vượt đường xa đến đây để chận đứng chủ nghĩa cộng sản, tại sao các anh không tiến vào đất Miên nơi có những căn cứ của cộng quân rồi đánh cho chúng tiêu tùng. Tại sao các anh không vào Lào? Tại sao các anh không dùng cơ giới nặng ủi sạch con đường Hồ Chí Minh ở đó. Tình hình quân sự ở đây rất đơn giản. Tại sao các anh hành động như những thằng khùng? Người Việt chúng tôi cho là các anh khùng. Anh nói gì về điều đó, anh CIA? Các anh ngáo làm việc cho một tổ chức ngáo.
Sau khi ông Tướng đã giảng thế nào là cách điều khiển chiến tranh, sau khi gọi tôi bằng đủ thứ danh xưng, lập đi lập những chuyện ấy, nổi giận lên, thì ông mới nói tới chuyện quân tình trong khu vực. Trong những lần tiếp xúc tại Bộ Tư Lệnh, dần dà giữa ông Tướng và tôi cảm thấy thoải mái với nhau hơn. Không thân thiết, nhưng thoải mái, chúng tôi biết vị trí của nhau. Có thể là do thời gian hai năm ở Lào tôi có nhiều bạn bản xứ, nhưng cũng có thể ông Tướng nhận biết được sự cảm thông và kính trọng của tôi đối với cảm niệm của ông về Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm ở thời điểm mà rất nhiều cấp chỉ huy khác chỉ nghĩ đến bản thân họ. Cũng có thể khi chúng tôi cảm thấy thoải mái vì tôi là người khách thường xuyên của sư đoàn.
Thượng Nghị Sĩ Frank Church phát biểu trong cuộc họp Thượng Viện ngày 10.4.1975, nói rằng thế là đủ rồi (enough is enough), Quân Đội Nam Việt Nam tự lo liệu lấy. Trong khi đó thì Hạ Viện cũng đã bác bỏ yêu cầu quân viện khẩn cấp 722 triệu mỹ kim và 250 triệu cho kinh tế của Tổng Thống Ford (con số này là do Tướng Weyand lập ra và đệ trình sau khi đi quan sát tình hình quân sự ở Việt Nam về. Còn con số 700 triệu cho tài khóa 1974-1975, rồi bị cắt xuống 300 triệu đã bị cắt bỏ tàn bạo từ lâu). Quốc Hội chỉ đồng ý cấp ngân khoản dùng cho việc di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.
Ngày hôm sau, trực thăng của Air America (có hợp đồng chuyên chở cho CIA) đưa tôi đến gặp Tướng Hai. Ông Tướng không đứng dậy chào khi tôi bước vào văn phòng. Rất bất ngờ như bước ra từ cõi sương mù, ông nói chậm rãi, hành động của chánh phủ tôi giống như cục phân, nghị sĩ Church xấu xa hơn Hitler, nước Mỹ không còn danh dự, quân đội nước tôi đã vi phạm quy luật hành xử chung của chiến sĩ khi quay lưng với chiến hữu và bỏ rơi họ trên chiến địa.
Ông Tướng đứng dậy và tiến đến gần tôi, đôi mắt ông đỏ hoe, bàn tay ông sờ vào báng súng lục, chằm chằm nhìn tôi không che dấu sự giận dữ từ thái độ của ông. Trong trạng thái căng thẳng đến điểm khó kiềm chế, những ngón tay của ông nắm chặt lấy báng súng. Khoảnh khắc ấy qua đi, ông thở dài:
- Tôi có thể giết anh nhân danh những con người dũng cảm đã hy sinh trong cuộc chiến này. Tôi có thể giết anh vì chánh phủ của anh đã không cố gắng chiến thắng.
Tôi đứng lặng thinh, run rẩy. Tôi nhỏ nhẹ nói:
- Chiến tranh đang tàn lụi, cuộc chiến đấu đã hoàn thành. Ngài phải chấp nhận những gì đã xảy ra, ngài phải chấp nhận số phận.
Chuẩn Tướng Hai hỏi lại:
- Tôi nghe ông Kissinger của anh ngày kia nói rằng Việt Nam đã chết. Ông ta có biết là chúng tôi vẫn còn sống ở đây không?
Tôi không thể trả lời. Cuối cùng thì ông Tướng nhún vai, giọng khàn đục không còn hơi. Ông nói cho tôi nghe tin tức mới nhứt về cuộc điều quân của quân địch mà ông quan sát từ trên phi cơ trên vùng biên giới Việt-Miên. Ngày hôm sau, 15.4.1975, tôi bay đến Sư Đoàn 7 từ sáng sớm. Như thường lệ, ông Tướng rầy rà tôi về hành động của Hoa Kỳ:
- Đâu là người bạn của Miền Nam khi Miền Nam cần? Tôi có thể gọi ai đây? Quân giặc đã đến ngưỡng cửa của chúng tôi rồi, đất nước tôi trong cơn nguy khốn tận cùng. Ai sẽ tới tiếp cứu chúng tôi?
Phía bên kia biên giới Miên, ông đã quan sát thấy quân cộng tập trung lên con số đông đảo, cơ giới và chiến cụ liên tục di chuyển đến hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày.
- Phi cơ bỏ bom của các anh đâu? Chúng ta đã trông thấy địch lộ diện, đúng là thời điểm dội lên đầu chúng. Chúng chuyển quân rầm rộ trước chiến sĩ của tôi, tôi cần giúp. Hãy giúp tôi, anh bạn CIA.
Như thường lệ, ông ngồi trên chiếc ghế gỗ nhìn tôi sau màn khói thuốc.
Ngày 17.4.1975, Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ. Tôi khởi sự đến gặp Chuẩn Tướng Hai mỗi ngày. Ông Tướng cho biết quân Bắc Việt tiếp tục tập kết ngay phía bên kia biên giới, chúng đưa đến chiến xa, cầu nổi và pháo binh. Bộ đội mới, tươi rói đã đến mà ông suy đoán sẽ là nỗ lực chánh tiến đánh Sài Gòn. Đó là mục tiêu thực sự của cộng quân. Cộng quân tập trung đông đảo như vậy không phải là để tấn công Sư Đoàn 7 Bộ Binh hay chiếm lấy QL4. Thỉnh thoảng tôi đến thăm Chuẩn Tướng Hưng ở Cần Thơ. Ông biết rõ tình hình quân sự toàn quốc, nhưng ông vẫn bình tĩnh và vẫn thư thả đợi cái gì tới sẽ tới . Mười sáu tỉnh của vùng châu thổ chưa có thành phố nào rơi vào tay cộng quân, với một nửa dân số của Miền Nam vẫn được an toàn.
Trong cuộc gặp ngày 19.4.1975, Tướng Hai cho tôi biết có vẻ như là không có thêm quân cộng tập kết ở vùng biên giới nữa, chúng đang điều động đến các vị trí. Ông nghĩ rằng khi chúng bắt đầu đội hình với bộ đội mới vào ở gần biên giới, phía sau những đội công binh bắt cầu, với đoàn chiến xa nặng húc về phía Sài Gòn, cuộc tấn công sẽ nổ ra. Cộng quân sẽ mất bảy ngày để xuất phát từ đất Miên vượt qua vùng Đồng Tháp Mười và tiến về Sài Gòn. Sư Đoàn 7 của ông Tướng chỉ có thể làm chậm tốc độ tiến quân của chúng mà thôi. Tướng Hai nói:
- Chúng tôi không thể chận đứng chúng, quân địch quá đông mà quân chúng tôi quá ít.
Ngày 21.4.1975, Xuân Lộc, một trong những cứ điểm cuối cùng của QLVNCH ở phía Bắc Sài Gòn thất thủ (thiệt ra chỉ di tản theo lịnh của Trung Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III&Quân Khu 3 về bảo vệ Sài Gòn), sau khi đã anh dũng chận đứng đà tiến của một lực lượng lớn quân Bắc Việt. Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từ chức trong ngày ấy.
Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh SĐ7BB trong ngày 22.4.1975. Phòng làm việc của ông Tướng tối quá, ông đang ngồi trên chiếc ghế quen thuộc và hút thuốc.
- Những chiến xa nặng của Bắc Việt đang vào đội hình, bộ binh dàn trận phía sau. Chúng sắp sửa xuất phát, Sài Gòn sẽ rơi vào tay Bắc Việt trong vòng bảy ngày, 29.4.1975.
Ông Tướng đưa cao chiếc tách cà phê nóng lên, làm một cử chỉ vinh danh những người lính đã hy sinh và chào đón tương lai, nhưng ông không cười. Ý định của quân cộng thiệt rõ ràng đối với Chuẩn Tướng Hai. Chúng sẽ đánh lấy, chiếm được Sài Gòn trong bảy ngày nữa, mà Sư Đoàn 7 thì không thể chận chúng lại được. Tôi đến gặp Chuẩn Tướng Hưng buổi chiều cùng ngày. Ông cho hay từ buổi sáng sớm quân Bắc Việt đã vượt biên giới ở khu vực gần các đơn vị của Chuẩn Tướng Hai và tiến về hướng Sài Gòn. Tướng Hưng đã lệnh cho lực lượng ít ỏi Không Quân và Pháo Binh chuẩn bị chống lại cuộc tiến quân của quân địch, nhưng có lẽ cũng không làm chúng khựng lại được. Ông Tướng vẫn vẻ bình tĩnh và giữ gia đình gần bên.
James E. Parker cùng các đồng sự CIA giúp được nhiều nhân viên Việt Nam và thân nhân ở Cần Thơ thoát được ra biển trong những ngày cuối cùng và được vớt lên chiếc tàu buôn Pioneer Contender.
Đứng trên cầu tàu, tôi quay nhìn về hướng Việt Nam, bất giác tôi chợt nghĩ trong một thoáng thiệt rõ ràng, rằng dù chúng tôi đã thua trận, nhưng chúng tôi đã hành động đúng khi tới đó và chiến đấu. Lịch sử sẽ rộng lượng phán xét ý định tốt của chúng tôi đến giúp cứu một đất nước bị xâm lấn. Chúng tôi đã không thắng vì những chánh trị gia, những nhà hoạch định chánh sách Hoa Kỳ đã đưa ra những quyết định xấu xa đầy tội lỗi, từ lúc khởi đầu cho tới lúc tàn cuộc.
Đối với tôi, cái di sản bất tử của cuộc chiến là những người lính đã đáp lời gọi của đất nước, hy sinh thân sống ở Việt Nam. Trong thời điểm của những giá trị chao đảo, họ đã khẳng định những nguyên tắc trường cửu của Trách Nhiệm.Vì Tổ Quốc họ đã tự dấn mình trong những truyền thống Mỹ đẹp đẽ nhứt của những người lính chiến Mỹ. Họ đã chết trẻ rất Danh Dự trong chiến tranh. Mỗi người lính đều là những anh hùng.
Hướng về phía bờ biển, tôi đứng nghiêm chào đúng quân cách, chậm rãi. Tôi đứng lặng thinh trong một khoảnh khắc, rồi quay người đi xuống bên dưới. Cuộc chiến đã chấm dứt.
Trắc trở hàng ngàn người tỵ nạn Việt Nam, con tàu Pionneer Contender nhổ neo buổi sáng sớm hôm sau hướng mũi tàu tiến về hướng Đông. Việt Nam mờ nhạt dần từ phía sau.
PHẠM PHONG DINH
Đóa HOA QUỲNH MÙA ĐÔNG (T. Nguyen)
Cô đến Canada khi còn là một thiếu nữ 18 tuổi, mang theo trong vali vài bộ quần áo, một cuốn sổ tay, và một trái tim còn nguyên vẹn niềm tin rằng cuộc đời sẽ mở ra như một cánh đồng lúa chín. Nhưng đời sống ở xứ người không phải cánh đồng, mà là một khu rừng rộng, đẹp nhưng lạnh, và đôi khi khiến người ta lạc lối.
Năm 18 cô được học bổng du học. Năm 22 tuổi cô xong đại học ngành toán tại đại học Western, London. Cô được ở lại, đi dạy đã 20 năm tại một trường trung học nhỏ. Thành phố cô sống không lớn, đủ yên bình để nghe tiếng gió lùa qua hàng thông mỗi sáng, nhưng cũng đủ cô quạnh để mỗi tối, khi đóng cửa căn hộ, cô nghe rõ tiếng thở dài của chính mình.
Cô sống xa cộng đồng người Việt. Không hẳn là không có, chỉ là quá thưa, quá rời rạc, và ai cũng bận mưu sinh. Nhiều lúc cô cũng muốn kết nối với cộng đồng nhưng có một khoảng cách vô hình của người đi trước và sau. Cô từng thử hẹn hò với vài người bản xứ. Họ tử tế, lịch sự, đúng giờ, chia tiền rạch ròi. Không phải vì họ không tốt mà vì cô không tìm thấy cái cảm giác “được thuộc về”, thứ cảm giác mà người Việt hay gọi bằng những từ rất mộc: thương nhau, lo cho nhau, cậy nhờ nhau khi nghèo khó.
Read moreLỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)
LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG
Cũng như nhiều người trong chúng ta, trong những ngày tĩnh lặng của tuổi vào thu, tôi mong còn dịp trang trải những điều giữ trong tâm qua bao năm tháng dài của cuộc đời, để tìm thanh tịnh cho tâm thần.
Một trong những hoài vọng này là được gởi lời cảm tạ đến những người đã đi qua đời tôi và đã ít nhiều cho tôi diễm phúc được yêu, dù tôi có biết hay không, dù tôi có nhớ những phút giây hạnh phúc này không, và nhứt là tôi có hình dung họ là ai hay không.
Lý do tôi hơi dài giòng nơi đây vì từ tuổi trưởng thành và đi xây cuộc đời mới trên quê hương thứ hai sau khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn một ngày đất thảm trời sầu tháng tư đen, tôi không còn nhớ nhiều về quãng đời trước đó. Không nhớ không phải vì tôi không muốn nhớ, nhưng trong tâm tưởng của tôi, một phần rất lớn của dĩ vãng chỉ là một tờ giấy trắng, không hình ảnh, không ký ức. Tôi không buồn lắm vì quanh tôi còn có người thân, gia quyến đôi khi nhắc nhở hay đem lại cho tôi vài khoảng của dĩ vàng mà tôi đã quên.
Một người bạn y khoa biết tôi như thế, có nhã ý giúp tôi nhìn lại những vùng dĩ vãng đã mất bằng y thuật hypnosis nhưng sau khi cân nhắc kỹ càng tôi cảm ơn lòng thành của người bạn này nhưng đành khước từ nhã ý ấy. Theo tôi nghĩ, nếu tiềm thức của tôi đã khiến tôi quên những khoảng thời gian đó chắc nó có lý do rất chính đáng.Trong cuộc sống nhiều cam go này có những trường hợp quá bi lụy khiến con người phải cố mà bỏ qua cho được để còn tiếp tục sống và thích nghi với đời sống mới. Vì thế tôi chấp nhận một đời sống với đầy khoảng trống trong ký ức.
Nhưng có những lúc tôi buồn vì với thích ứng đó tôi đành phải chấp nhận mất đi những khoảnh an vui của thời dĩ vãng vì hình như ký ức tâm tư không lúc nào cũng phân biệt và chọn được phần nào nên quên, phần nào phải giữ lại, nên quên phứt tất cả. Tôi không quá buồn vì không giữ được những kỷ niệm vui nhưng điều tôi buồn nhất là tôi đã không nhớ được nhiều người đã thương tôi, yêu tôi trong dòng đời dĩ vãng, bạn bè, thân quyến gần xa, người yêu, người tình. Nên hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn những người đó đã có thạnh tình với tôi và cũng xin lỗi họ nếu ngày xưa đó họ nghỉ tôi không quan tâm hay trọng tình ý của người chung quanh mình nhứt là nếu tôi, vì lý do nào tôi không nhớ, đã phụ chân tình của họ.
Hôm nay tôi viết bài này vì tháng qua trong một cuộc họp gia đình của chị em chúng tôi lâu năm sống phân tán nhiều nơi trên xứ Mỹ và châu Âu, tình cờ một người em tôi hỏi về một người yêu cũ của tôi ngày vừa mới lớn. Tôi ngẩn ngơ không biết người đó là ai và cô em của tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu làm sao mà tôi không nhớ người đó,
Yến bào tôi rằng
“Chị thật tình không nhớ sao. Ngày xưa đó chị khóc cả tuần vì cha chúng mình muốn gả chị đi lấy chồng nhưng chị không chịu vì người yêu của chị vừa ngỏ ý với chị”. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, tôi phải vâng lời nghiêm đường mà tiến tới cuộc hôn nhân với một người chưa từng quen biết. Đó là một trong những chuyện não lòng mà tôi đã không còn ý thức.
Lại một lần nữa, cũng trong một cuộc họp mặt gia đình khác, có một người đến, tự giới thiệu là cháu của tôi. Phượng nói "ba cháu mất rồi nhưng mẹ cháu vẫn hằng nhắc đến cô, mẹ mến cô lắm vì ngày xưa khi mẹ về với cha cháu, cô đã đón mẹ cháu vào gia đình rất nồng hậu, mẹ cháu gởi lời thăm cô". Lại một lần nữa tôi ngần ngơ và khó lòng, khó xử không biết nói gì hơn là lí nhí lời cám ơn, vì tôi không nhớ họ là ai cà. Thật buồn cho những mất mác đó.
Ngày nay tôi tự hỏi nhữngchuyện quan trọng như thế mà tôi không nhớ thì còn những chuyện gì khác mà tôi đã quên. Nhưng thôi, những gì đã qua thì nên cho đi qua, buông xả trên dòng tâm linh.
Đời người là thoáng trăm năm, thoáng đến, thoáng đi trong chốn phù vân. Ai biết ngày mai sẽ ra sao, và biết ai còn ai mất.
Nên hôm nay tôi xin viết lời tạ từ cám ơn về những người đã đi qua đời tôi, đã cho tôi ít nhiều hạnh phúc. Và cùng lúc tôi xin gởi lời chân thành tạ lỗi với những người mà tôi vô ý hay không cố ý làm họ buồn.
Về người yêu mà em tôi vừa nhắc, tôi xin chân thành gởi lời xin lỗi muộn màng vì tôi không vẹn tình nghĩa với anh.
Và những người khác mà tôi không nhớ cũng xin cho tôi gởi lời từ tạ và cám ơn.
Nhưng, viết để mà viết chứ trên thực tế những lời cảm tạ và xin lỗi này chỉ là làn gió thoảng trong mênh mông không trung hay dải Ngân Hà nhiều tinh tú, vỉ làm sao mà đến được người nhận khi tôi không còn biết họ là ai, những người của dĩ vãng mịt mờ sương khói.
Thành ngữ Pháp có câu “L’homme propose mais Dieu díspose”. Tôi không muốn dịch sát nghĩa nhưng tương tự tiếng mình cùng ý nghĩa “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”phải đồng có cùng lúc thì mới đủ căn duyên cho sự hữu hình của sự việc. Vì thế, dù bao mong muốn nhưng lời cảm tạ và xin lỗi, tôi có cơ duyên được viết nhưng người có nhận được hay không còn tùy duyên nợ của họ đối với tôi.
Dù sao tôi cũng mong rằng những lời chân thành muộn màng này giải tỏa được phần nào nợ duyên của tôi trong dòng đời dâu bể và cho tôi giấc ngủ bình an trong mùa thu đông của cuộc đời.
Hôm nay, ngồi viết bài này bên giòng liên hoa trên sóng, tôi nghe lòng thanh thản, không buồn không vui, những ước mơ như cánh chim trời hay nước xuôi về biển cả, với lời cầu nguyện thầm lặng, tôi xin buông xả những điều sân si của cuộc sống, để tâm lắngđọng trên dòng thiên nhiên.
Tôi cũng xin cảm tạ ân trời, tình đất mẹ thiên nhiên luôn ban cho ta nguồn tĩnh lặng, những vẻ đẹp đất trời tuyệt mỹ, cho ta được lắng dịu tâm trần lao chao và tìm nguồn chân như trong bể dâu đời sống.
THƠ: TRÊN SÓNG LIÊN ĐÀI
Đây vùng trời nước rạng vầng dương,
Lững thững thuyền mây cánh buồm trương,
Đôi cánh hạc ngàn đùa mây sóng,
Dịu dàng làn gió vén màn sương,
Ríu rít rộn ràng tiếng gọi đàn,
Lành lót trong sương liệng én vàng,
Du dương trên gió trầm bỗng sóng,
Văng vẳng trời xa khúc tiêu ngàn.
Trên sóng liên đài sương ngọc ngời,
Áo hoa phơn phớt ánh vàng trời,
Dìu dịu khúc trong vờn đá cuội,
Sơn tuyền trầm mặc tiếng sương rơi.
Tĩnh lặng hư không trời bâng khuâng,
Đạt thành ai quảng chốn phù vân,
Ngộ giác duyên phần trong tĩnh mịch,
Chân như huyền ào rạng tâm trần.
Trên sóng liên hoa bùn chằng đọng,
Sơn tuyền lờ lững cánh bè rong,
Hồn thiên nghệ sĩ hòa thi nhạc,
Tuyệt mỹ an nhiên vẽ non bồng.
Bồng lai tiên cảnh chằng đâu xa,
Chẳng vùng phố thị, chốn phồn hoa,
Dù ai vằng tiếng lời phù ảo,
Chằng chao thanh tịnh tâm an hòa.
Sơn lâm đồi núi tiếng quê nhà,
Văng vẳng trong sương lời sơn hà,
Năm châu bốn bể đường vinh nhục,
Giữ rạng vào hồn tiếng mặn mà.
Huỳnh Anh Trần-Schroeder
Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa,....(Nguyễn Quỳnh Hoa )
Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa, Cư Xử; Hậu Quả của Chế Độ Chính Trị Từ Cả Thế Kỷ Nay!
Người miền Nam, dù đã sống trong chế độ CS hơn 50 năm, vẫn còn bảo lưu được nếp văn hóa đẹp do chế độ Cộng Hòa vun đắp từ truyền thống của tổ tiên.
Đầu tuần, xin mời quí vị đọc một bài viết khá hay của một nữ văn sĩ gốc Hà Nội.Ít ra, Hà nội vẫn còn những người công chính như nhà văn Nguyễn Quỳnh Hoa., có lẽ là hậu duệ của giới tư sản Hà thành còn sót lại.
Bài viết của nhà văn Nguyễn Quỳnh Hoa - một người Hà Nội chánh gốc.
Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng vẫn sẵn sàng để bị lay động.
Chuyến bay từ Nội Bài vào một tối cuối năm khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn thường lệ. Tôi tình cờ đứng gần hai gia đình trẻ - một nói giọng Bắc, một nói giọng Nam. Không rõ là ngẫu nhiên hay do trí nhớ chọn lọc, nhưng trong nhiều chuyến bay quay lại Nhật, tôi thường bắt gặp những tình huống tương tự. Chúng dần trở thành một thứ định kiến trong tôi, và tôi xin thú thật như vậy, dù rõ ràng nó thật phiến diện.
Tôi muốn nói trước điều này, dù có phần buồn: Trong những lần tiếp xúc ngắn ngủi với người miền Nam trên các chuyến bay ấy, tôi thường mang về những ấn tượng tốt. Từ tác phong đến cách giao tiếp, mọi thứ đều nhẹ nhàng và có chừng mực. Cách họ xếp hàng, quan sát lối đi, để ý người khác dường như luôn chừa ra một khoảng vừa đủ cho sự lịch thiệp. Trong nhà vệ sinh sân bay, giữa dòng người mệt mỏi, tôi đã nhiều lần nghe thấy một giọng miền Nam rất khẽ:
“Dạ, xin lỗi cho em qua.”
Một câu nói nhỏ thôi, nhưng đủ khiến lòng người dịu lại.
Rồi tôi quay về với chuyến bay gần đây nhất. Trong khu vực nhập cảnh khai báo hành lý, tôi đứng sau hai gia đình Việt, lại là một Bắc, một Nam và cả hai đều có con nhỏ. Ở gia đình miền Bắc, người chồng liên tục càu nhàu vợ vì con khóc, vì con đòi đồ chơi, vì chiếc bánh mang theo có chứa chà bông. Giọng nói gắt gỏng vang lên giữa không gian vốn đã căng thẳng, khiến tôi có phần e ngại. Người vợ thì cúi gằm mặt, lặng lẽ và ngại ngùng.
Ở phía bên kia, gia đình miền Nam hoàn toàn trái ngược. Người chồng bế con suốt quá trình làm thủ tục, thỉnh thoảng quay sang hỏi vợ có mệt không, lặng lẽ xử lý mọi giấy tờ mà không một lời than phiền.
Tôi khó gọi tên cảm giác của mình lúc ấy. Chỉ biết rằng đó không phải lần đầu tôi chứng kiến những cảnh tương tự, từ cách xếp hàng, cách nói chuyện trong gia đình, cho đến thái độ với người xa lạ. Tôi không muốn và cũng không tin vào việc phân biệt vùng miền. Tôi luôn phản đối điều đó. Nhưng ít nhất, trong những khoảnh khắc rất đời và rất ngắn ấy, tôi buộc phải thừa nhận, trong tôi nảy sinh một sự ngưỡng mộ. Không phải vì họ đến từ đâu, mà vì cách họ đối xử với nhau và với thế giới xung quanh, đủ tử tế để được nhìn nhận một cách xứng đáng.
Và chính ở đó, tôi bắt đầu thấy niềm kiêu hãnh của mình không còn đứng vững như trước.
Tôi chợt nhận ra, niềm kiêu hãnh mà tôi mang theo, thứ tôi từng nghĩ là bản sắc Hà Nội, đôi khi đã bị tôi nhầm lẫn với quyền được khó chịu. Quyền được cáu kỉnh khi mệt, được lớn tiếng khi không vừa ý, được tin rằng sự thẳng thắn của mình là trung thực, còn sự dịu dàng của người khác chỉ là tính cách. Tôi đã sống đủ lâu trong những con phố hẹp, những căn nhà chật, những buổi sáng chen chúc để tin rằng gắt gỏng là điều có thể thông cảm. Nhưng có lẽ, thông cảm quá lâu, người ta sẽ quên mất cách giữ gìn.
Đứng giữa sân bay, nơi không ai thực sự thuộc về, tôi thấy rõ sự khác biệt giữa chịu đựng và chăm sóc. Hai đứa trẻ khóc như nhau, cùng mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Nhưng cách người lớn phản ứng đã tạo ra hai thế giới khác hẳn. Ở một bên, mệt mỏi được trút xuống người gần nhất. Ở bên kia, mệt mỏi được gánh lên vai một người, rồi vì thế, nhẹ đi cho cả gia đình.
Tôi tự hỏi, phải chăng điều tôi ngưỡng mộ không nằm ở vùng miền mà nằm ở một thứ văn hóa ứng xử đã được rèn giũa qua nhiều thế hệ? Một văn hóa coi sự nhỏ nhẹ không phải là yếu đuối mà là lựa chọn. Coi việc giữ giọng thấp xuống là một cách giữ gìn nhân phẩm cho cả mình và người đối diện. Trong cái cách nói “dạ” rất khẽ ấy, tôi nghe thấy không phải sự nhún nhường. Đó là sự tự tin, tự tin rằng mình không cần lớn tiếng để được tôn trọng.
Tôi nghĩ về Hà Nội của tôi, thành phố mà tôi yêu bằng một tình yêu vừa kiêu kì vừa mệt mỏi. Hà Nội từng rất chậm, rất ý tứ. Người ta từng biết hạ giọng trong bữa ăn, biết tránh làm phiền người khác, biết giữ thể diện cho nhau bằng im lặng. Nhưng rồi nhịp sống gấp gáp, những va chạm dồn nén và cảm giác luôn phải giành phần hơn đã khiến chúng tôi quên mất rằng lịch sự cũng là một dạng sức mạnh.
Có lẽ vì thế mà tôi tò mò. Không phải tò mò về miền Nam như một đối cực, mà có lẽ tôi tò mò về khả năng lựa chọn của con người. Là lựa chọn nói nhẹ hay nói nặng, lựa chọn bế con hay trách vợ, lựa chọn làm dịu một không gian hay làm nó căng thêm. Những lựa chọn rất nhỏ nhưng tích tụ lại thành khí hậu tinh thần của một cộng đồng.
Khi chuyến bay kết thúc, tôi kéo vali đi giữa dòng người nhập cảnh. Tôi vẫn là người Hà Nội, với niềm kiêu hãnh của mình. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy, sau những chuyến đi, đã bắt đầu đổi hình dạng. Nó không còn là cảm giác mình đến từ đâu, giờ đây nó đã là câu hỏi mình đã đối xử với người khác như thế nào.
Có những lúc, người ta lớn tiếng không phải vì mạnh mẽ, có lẽ phần nhiều vì đã kiệt sức. Kiệt sức vì phải gồng lên suốt một quãng đời dài, vì phải chứng minh mình đúng, mình hơn, mình không thua kém. Tôi đã quen với thứ mệt mỏi ấy đến mức tưởng nó là bản lĩnh. Cho đến khi đứng giữa sân bay xa lạ, nhìn một người đàn ông lặng lẽ bế con, tôi mới thấy, hóa ra bản lĩnh có thể im lặng và im lặng ấy không hề yếu ớt.
Tôi chợt nghĩ về những người đàn ông Hà Nội quanh mình, những người cha, người chồng, người anh. Phần nhiều đều yêu gia đình nhưng lại hiếm khi được dạy cách thể hiện tình yêu mà không làm đau người khác. Yêu, trong nhiều trường hợp, đồng nghĩa với lo lắng; lo lắng kéo theo kiểm soát; kiểm soát sinh ra cáu gắt. Và rồi, sự quan tâm biến thành áp lực, lúc nào không hay. Có lẽ, chúng tôi đã học cách gánh trách nhiệm nhưng chưa học đủ cách chia sẻ gánh nặng.
Sân bay lúc ấy đông hơn. Tiếng loa thông báo, tiếng bánh xe vali, tiếng trẻ con khóc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh mệt mỏi rất người. Tôi đứng giữa đó, bỗng thấy mình không còn muốn quan sát để so sánh nữa. Thay vào đó, tôi muốn quan sát để hiểu. Hiểu rằng mỗi vùng đất sinh ra con người với những cách chịu đựng khác nhau. Có nơi dạy người ta phải cứng, có nơi dạy người ta nên mềm. Và cả hai, suy cho cùng, đều là cách để sống sót.
Nhưng sống sót khác với sống đẹp. Và sống đẹp, có lẽ, bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức dễ bị coi thường - một câu xin lỗi, một cái hỏi han, một cánh tay chìa ra đúng lúc. Sự tử tế không cần hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại.
Khi tôi bước ra khỏi sân bay, không khí lạnh tràn vào phổi. Thành phố mới đón tôi bằng sự im lặng quen thuộc của một nơi tôi đã chọn để sống. Tôi kéo cổ áo lên, đi chậm lại. Trong đầu tôi, niềm kiêu hãnh Hà Nội không còn đứng ở vị trí đối đầu với sự ngưỡng mộ miền khác. Nó đứng cạnh, khiêm tốn hơn, lắng nghe hơn, lặng lẽ hơn.
Có lẽ, trưởng thành không phải là thôi kiêu hãnh, mà là học cách đặt niềm kiêu hãnh ấy xuống thấp hơn người khác một chút. Thấp đến mức mình có thể cúi đầu xin lỗi. Thấp đến mức mình có thể bế con thay vì trách móc. Thấp đến mức, giữa một sân bay đông người, giọng nói của mình không lấn át giọng ai khác, chỉ đủ để giữ lại một chút ấm áp cho những người đang rất mệt.
Tôi chợt hiểu vì sao những câu nói nhỏ nhẹ lại có sức bền đến thế. Chúng không gây ấn tượng mạnh tức thì, nhưng thấm vào lòng rất sâu. Như mưa phùn Hà Nội, không ồn ào, không dữ dội, chỉ đủ để làm ướt áo ai đó đi rất xa. Có điều, mưa phùn mà kéo dài quá, cũng khiến người ta lạnh. Có lẽ, điều chúng tôi thiếu không phải là sự dịu dàng mà là sự dịu dàng đúng lúc, không biến thành nhẫn nhịn.
Tôi không còn muốn biện minh cho vùng đất mình sinh ra, cũng không muốn lý tưởng hóa vùng đất khác. Mỗi miền đều có những vết xước riêng, những nỗi mệt riêng. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, sau những chuyến bay dài và những lần đứng giữa đám đông vô danh, là khả năng tự hỏi mình. Trong khoảnh khắc này, mình có thể làm gì để không khiến người khác nặng thêm?
Tôi vẫn là người Hà Nội. Tôi vẫn yêu thành phố ấy với tất cả những mâu thuẫn của nó. Nhưng giờ đây, tình yêu ấy không còn đi kèm với sự bảo vệ mù quáng. Nó đi kèm với mong muốn sửa mình, chậm rãi, vụng về, nhưng thành thật. Và có lẽ, đó là cách duy nhất để niềm kiêu hãnh không trở thành gánh nặng, chỉ là trở thành một thứ ánh sáng đủ dịu, để soi đường cho chính tôi và cho những người đi ngang qua đời mình.
Nguyễn Quỳnh Hoa
Hồi Ký Của Một Bác Sĩ ( Võ Tam Anh)
Một bác-sĩ “cách-mạng” từ Bắc vào, hăm-hở đến tiếp-thu bệnh-viện Vĩnh-long sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã thốt ra câu nói đầu tiên với chúng tôi : "Các anh là kẽ thù của nhân-dân, đáng tội chết..." Tuy mới mấy ngày sau khi "giải-phóng" nhưng tai chúng tôi cũng đã quen với câu nói đó, chỉ có khác là lần này được phát ra từ miệng một bác-sĩ mà chúng tôi chờ đợi để hy-vọng thấy được một nụ cười hay một chút thông-cảm trong tình đồng-nghiệp. Chẳng khác gì những cán-bộ khác, bác-sĩ cũng tuông ra câu học thuộc lòng: "Nhưng Đảng và Nhà-nước khoan-hồng tha tội chết cho các anh..."
May thay, chúng tôi được tha tội chết, nhưng thay vào đó, phải lảnh cái án "dở sống dở chết " kéo dài năm này qua năm nọ trong các nhà tù, nhường sự-nghiệp lại cho các đồng-nghiệp mới, huênh-hoang trong cái độc-quyền nhân-đạo với các bảng hiệu « Lương Y như Từ-mẫu » treo nhan nhản khắp xó xỉnh trong bệnh-viện.
Có lẽ Cụ Hippocrate ở dưới suối vàng cũng không khỏi phẫn-nộ khi các môn-đệ ở Miền Bắc không chịu học lời thề Cụ dạy trước khi ra trường:
"Tôi thề sẽ giúp đở các đồng- nghiệp và gia-đình họ trong cơn ngặt nghèo, tôi sẽ mất hết danh-dự và bị khinh-bỉ nếu tôi không giữ lời thề đó".
Trước mặt thì đồng-nghiệp gọi chúng tôi bằng "anh", nhưng quay lưng lại là "thằng", là "chúng nó" ngay, không hiểu là vì thói quen, vì văn-hóa, vì mặc-cảm hay vì chính-sách.
Ngày đầu tiên mới đặt chân lên đất Bắc trên con đường lưu đày, khi mà tầm mắt đang còn ngỡ-ngàng với rừng sâu núi thẳm, khi mà thể xác và tinh-thần chưa lai tỉnh qua cuộc hành trình định-mệnh kinh-hoàng, thì chúng tôi được đón tiếp vồn-vã bởi một đồng-nghiệp. Vồn-vã không phải để thăm hỏi sức khỏe hoặc để an-ủi một lời nào, mà để tịch-thu thuốc men và dung cụ y-khoa mà chúng tôi mang theo, nhất là để tò mò tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống "phồn-vinh giã-tạo" ở trong Nam.
Câu nói đầu tiên và gần như là câu chào hỏi ở cửa miệng mỗi khi gặp nhau: "Anh ăn mấy lạng ?" (gạo mỗi ngày), làm chúng tôi bở ngở không biết đâu mà trả lời. Thì ra cái quan-tâm hàng đầu của nền y-khoa miền Bắc là cái bao-tử, và xã-hội được chia ra làm nhiều loại bao-tử khác nhau tùy theo đẳng-cấp và sự trung-thành với Đảng: 120 lạng ,150 lạng, 170 lạng.... cái hàn-thử-biểu để đo vị-trí mình trong xã-hội. Kế đó là thắc mắc về những phần thịt đươc bồi-dưỡng trong những ngày lể, ngày Tết…
Thấy chúng tôi không ở cùng một tần-số trong cái hội-chứng đường ruột đó, bác-sĩ bèn lên mặt chỉ-đạo: "Chớ có trốn trại nghe, không thoát đâu ". Quả-nhiên lời khuyên có chấp-chứa ít nhiều tình thật đó lại là không sai. Chỉ có vài ngày sau khi đặt chân đến cái nơi núi rừng chằng chịt mang tên Sơn La đó, khi chưa xác định được vị-trí trong cái bản-đồ mênh-mông của miền Thượng-du Bắc Việt, thì một số anh em đã lần lượt trốn trại rồi lần lượt bị bắt lại để gánh chịu những hình phạt ghê gớm đang chờ sẵn. Trong số đó phải kể đến hai đồng-nghiệp, một Thiếu-tá Y-sĩ- trưởng Trung-tâm Hồi-lực ở Sài-gòn và một Y-sĩ Đại-úy Thủy-quân Lục-chiến, đã thoát khỏi lao tù vì đã trốn qua "bên kia thế -giới" sau khi không thành-công trong cuộc tổ-chức trốn qua "bên kia biên-giới".
Sau một thời gian xáo trộn, chúng tôi gồm có 8 bác-sĩ, 1 nha-sĩ, 2 dược-sĩ được tập-trung lại để thành-lập một "trạm-xá " có nhiệm-vu săn sóc sức khỏe cho anh em tù trong vùng. Bằng những phương-tiện của thời-đại đồ...tre, với kỹ thuật từ thời Hoa-đà, chúng tôi cũng được an-ủi bằng một số thành-công trong nhiệm-vụ chửa trị, và đã lưu lại cho chúng tôi nhiều kỹ niệm khó quên. Anh T. bị bệnh phung cùi, bọn cai tù ghê sợ, biệt giam trong một cái chòi giữa rừng, thường ngày chúng tôi đến thăm viếng, theo dỏi bệnh tình, chia nhau từng củ sắn củ khoai, khích lệ cho nhau cho đến ngày về. Anh H. bị mất trí vì trúng độc khi ăn phải trái cây rừng, suốt ngày la hét, phải cách ly trong một túp lều ở giữa rừng, chúng tôi chia phiên nhau túc trực ngày đêm bên cạnh để canh chừng, nhưng cuối cùng anh cũng qua đời.
Phải kể đến những trường hợp giải-phẩu theo kiểu...rừng, với tất cả liều lỉnh rủi may. Trang-bị bằng một bộ trung-phẩu dã-chiến của Trung quốc và một lò hấp ướt (autoclave), với mấy bình ê-te (ether) và cái masque Ombredane là dụng cụ đánh thuốc mê hở (circuit ouvert) cổ lổ sĩ dùng trước thế chiến 1914-1918. Trong những "bloc" được ngăn cách bởi những tấm phên tre và tấm vải mùng, muổi mòng tha hồ bay lượn, dưới ngọn đèn dầu và đèn pin, mà nhờ trời chúng tôi cũng thành-công được trong nhiều trường hợp, những chấn-thương vì tai-nạn lao-động, hay trường hợp anh N. bị tắc nghẻn ruột, phải giải-phẩu để tái tạo một hậu-môn tạm thời, phải theo dỏi và săn sóc từ A đến Z trong nhiều tháng với sự tận-tình của mọi người nên kết quả rất khả-quan, vân vân và vân vân.
Chúng tôi đã đóng tất cả các vai trò trong việc điều trị, từ lao-công, y-tá, phụ mổ, gây mê, cầm dao, rồi hậu-phẩu, vệ-sinh, giặt giủ v...v...bù lại khỏi phải đi lao-động đốn vầu, đốn nứa, đẩy xe trong những lúc đó.
Một sự tình cờ khiến chúng tôi phải giải-phẩu cấp cứu thành-công cho một tên cán bộ bị viêm ruột thừa cấp-tính mà không biết chở đi đâu. Mấy tháng sau, nhân dịp Tết Nguyên-đán 1978, có mấy cán-bộ trong ban chỉ-huy trại đến cám ơn chúng tôi, và tưởng-thưởng bằng một tấm hình chụp chung mấy anh em chuyên-môn trong bệnh-xá, một kỹ-niệm độc nhất vô nhị của những ngày tù ở Sơn La. Tiếng đồn lên tới Bộ chỉ huy Đoàn. Một số cán-bộ có thiện tâm muốn mở tầm hoạt động của chúng tôi cho dân chúng trong vùng Mường Thải, huyện Phù-yên, nơi mà xưa nay dân chúng chưa hề thấy đươc cục xà bông chớ đùng nói chi đến viên thuốc tây. Thế rồi dân chúng đến xin chửa trị mỗi ngày một đông, tuy thuốc men chẳng có gì nhiều nhưng cũng giúp ích được một số lớn trường hợp và ít ra cũng giúp họ làm quen với y-khoa ngày nay thay vì phải uống lá rừng suốt đời. Khi đặt ống nghe vào ngực, có người đã huênh-hoang khoe rằng là được... rọi điện.
Đông nhất là phần chửa răng. Ngậm một cái răng sâu năm này qua tháng nọ như một cái đinh đóng vào óc, nay được nha-sĩ nhẹ nhàng xoi xỉa với một cái máy quay đạp bằng chân, hoặc nhổ đi mà không đau đớn gì, thật là một điều mà dân Mường ở đó không bao giờ mơ tới.
Một đêm nọ, đang lúc giữa khuya, một cán bộ VC cầm cây đèn bảo xăm xăm bước vào phòng giam chúng tôi, bảo rằng một người đàn bà trong bảng Mường đang nguy kịch vì đẻ không ra đã hai ngày nay. Anh Thức, chuyên môn về phụ-khoa được cử đi cấp-cứu. Trong môt gian nhà sàn rộng rải không có vách ngăn, ở giữa là cái bếp lửa cháy suốt ngày đêm, dăm ba người đàn ông ngồi quanh nói chuyện ồn ào tỏ vẻ lo lắng, ở trong góc một người đàn bà đang quằn quại rên la một cách tuyệt-vọng. Trong khi mọi người bu quanh chăm chú và nghiêm-nghị nhìn anh Thức khám bệnh như nhìn một phù thủy đang làm phép, anh Thức bình tỉnh khám thấy rằng đó là một trường hợp song thai, hai đứa bé ôm quàng lấy nhau mà lại nằm ngang, không đẻ ra bằng đường tự-nhiên được. Phải chở đi bệnh-viện để mổ lấy con ra, nhưng anh Thức quên rằng chuyện đó không thể có được ở đây. Không làm gì hơn được, anh bèn tạm thời dẹp sách vở qua một bên mà cố gắng xoay một đứa cho cái đầu ở vị trí thuận-lợi để ra trước, rồi đến đứa kia, cuối cùng được mẹ tròn con vuông, trong sự rối rít cám ơn của mọi người mà trước đó đã được học tập để coi chúng tôi như những kẽ ác ôn, lúc nào cũng sẳn sàng "cho một mũi tên độc".
Từ đó các cô gái Mường trong bản cũng tự -nhiên hơn, cưới đùa mỗi khi tắm suối mà có chúng tôi đi lao động ngang qua, có khi còn chọc ghẹo nửa. Có anh trong phút chốc bốc đồng đã quên mình là tù đang đói rách, cũng gồng mình nhảy xuống tắm theo, chỉ tiếc là không có sẵn cục xà bông để tặng mấy cô Mường, lúc đó hẳn là muôn phần quý giá hơn cả viên kim cương đem tặng đào ở Sài–gòn nửa. Về sau mỗi cô gái Mường lại đươc đặt cho cái tên của một ca sĩ nổi tiếng, nào là Mai-Lệ-Huyền, Phương-Dung, Giao-linh, Phương-Hồng-Quế v…v…, để rồi lúc chiều về, trong khi ngậm-ngùi nhai từng hột bo bo, thường kể cho nhau nghe rằng hôm nay đi rừng gặp được ca-sĩ nào, ai nghe tưởng như mới đi phòng trà về mà tạm quên trong giây lát cái cảnh nước sông công tù mình đang sống.
Một hôm, một cô giáo hớt ha hớt hãi tìm tới chúng tôi, vì chồng cô, một bộ đội công-tác ở trong Nam được về nghỉ phép, bổng nhiên thấy mình mẩy nổi mề-đay lên đỏ rần, ngứa khắp cả người. Chúng tôi đoán là bị dị-ứng với trứng gà, vì thường ngày đi lao-động ngang qua trường học, thấy cô giáo cứ o bế mấy con gà để chờ ngày chàng về mà bồi-dưởng. Chúng tôi bèn lục lạo đươc mấy viên thuốc Phénergan đưa hết cho cô.
Mấy hôm sau đi lao-động gặp lại, chúng tôi hỏi : "Sao ? Anh nhà đã đở chưa ?" Cô vui vẻ trả lời : "Thuốc các anh cho hay quá, khỏi ngay". Chưa kịp hỏi thêm thì bổng thấy cô cúi mặt e thẹn, ấp úng nói thêm như không muốn cho chúng tôi nghe: " Nhưng ngủ li bì, về phép có năm ngày mà ngủ như chết suốt cả năm ngày" .Chúng tôi hối hận vì đã cho thuốc ngủ mà không dặn trước, làm cho cô phải bỏ lở một cơ-hội bằng vàng !
Thế rồi trạm-xá càng ngày càng đông khách, dân chúng từ xa cũng nghe đồn kéo lại để cho trạm-xá được hoạt-động đúng với danh-nghĩa y tế của nó. Thiện-cảm và uy -tín càng tăng thì, ngược đời thay, cấp chỉ-huy Trại càng lo lắng. Cuối cùng, Uỷ-viên Chính-trị trên Đoàn lập tức ra lệnh không được khám bệnh cho dân nửa, vì trái với chính-sách, và ný-nuận rằng từ mấy ngàn năm nay họ đã chửa trị bằng lá rừng thì đã sao đâu !
Chúng tôi trở lại lao-động, cũng đốn vầu đốn nứa như những anh khác.
Phải cái tội cao giò, tôi thường được chọn đi công tác gánh hàng ở xa, để gánh luôn tất cả tủi nhục của kiếp làm… tôi mọi. Buổi sáng ra đi thì còn dể chịu, trời mát, gánh nhẹ. Nhưng buổi trưa lúc trở về, trời nắng gắt miền núi như đốt cháy da, lại phải leo đèo, mồ hôi chảy giọt, bụng đói cồn cào, cái đầu nặng trỉu, chiếc đòn gánh đè nặng trên vai đang nghiền nát da thịt như những con dao. Người cán-bộ đi theo cũng không quên máng thêm vào chiếc nón cối, cái áo trấn-thủ mà hồi sáng mang trong người vì trời lạnh, nay không cần nửa thì tội gì mà không để cho rảnh tay, vì tay đang bận cầm cây roi, một thứ thời trang của cán-bộ quản-giáo khi đi bên cạnh tù. Đã thế mà khi gặp một bạn đồng-hành, cán-bộ cũng không quên niềm-nỡ mời :"Đồng-chí có mang gì không, đưa cho nó gánh luôn". Tôi nghe mà rụng-rời, mắt hoa lên mà không dám nhắm lại vì sợ ngả sẽ không bao giờ dậy lại được, cũng không dám nhìn xa hơn mấy đầu ngón chân vì sợ không đủ can-đảm để bước thêm...
Một hôm vì nhu-cầu cấp-cứu một bệnh-nhân tù đang nguy kịch, tôi được cử theo một cán-bộ đến bệnh-viện Phù-yên để xin mấy chai nước biển. Đã lâu bị giam hãm giữa bốn bức tường núi, nay được dịp thấy lại làng mạc với cảnh sinh-hoạt của nhân-dân, lòng cũng không khỏi thích-thú vì tầm mắt đươc hé rộng ra một chút và thỏa -mãn thêm tánh tò mò nghề-nghiệp muốn biết tổ-chức y-tế miền Bắc ra sao mà các "đồng-nghiệp " đề cao như là đúng hàng đầu trên thế-giới.
Huyện Phù-yên thuộc tỉnh Sơn La, nằm giữa một thung-lũng nhỏ, bốn bề là núi nhưng rất nên thơ. Từ trại tới huyện phải đi qua ngọn đèo Bang xinh xinh, có con đường mòn uốn quanh, có hoa rừng thơm ngát. Từ trên nhìn xuống gần giống như một bức tranh Tàu, mờ mờ ảo ảo., rải rát nơi nơi là nhũng túp lều lụp xụp bám theo sườn núi.. Bước vào huyện phải qua một con suối lớn, mùa khô thì chỉ là một suối đá hiền-hòa thơ-mộng, nhưng khi mưa xuống thì trở nên một thác lũ kinh-hoàng. Bắt ngang qua suối là một cây cầu treo, gió thổỉ đu đưa, mà lại được anh em tù gán cho cái tên rất hấp-dẩn để cho trí tưởng-tượng được nâng cao là cầu Golden Gate. Mỗi khi gánh hàng qua Golden Gate, tôi có cảm-tưởng như mình đang là một nghệ-sĩ đu giây trong một đoàn xiệc mà có thể hụt tay bất cứ lúc nào..
Bên kia cầu là một túp lều không vách, gió lộng bốn phía, đó là trường học với dăm bảy em bé ốm tong teo, bụng ỏng thề lề, mỗi đứa cầm một que củi đang cháy quơ qua quơ lại trước người cho đở lạnh trong những bộ áo Mường mỏng manh. Trong khi các em nghêu ngao hát bài "Hôm qua em mơ thấy Bác Hồ...." thì cô giáo đang chăm chú ngồi vá áo, mắt đăm chiêu, hình như cũng đang mơ thấy những chuyện mà dĩ-nhiên khác hơn là thấy Bác Hồ. Hình ảnh đó làm cho tôi có cảm tưởng rằng Cụ Cao-Bá-Quát đã đi ngang qua đây để cảm-hứng mấy câu thơ:"Một thầy một cô một chó cái, Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi."
Bên cạnh trường là một cái "cối giả gạo" có lẽ đã được sáng chế từ đời vua Thần Nông. Nước từ con suối nhỏ đươc dẩn qua một máng xối đục từ một thân cây, chảy xuống một thân cây dài khác, một đầu là cái chày, đầu kia đục thành một máng chứa nước. Hể máng đầy nước thì cái chày tự -động ngóc lên, rồi nước bị đổ ra ngoài để cho chày giả xuống cái cối ở đằng trước. Cứ thế mà tiếp-tục, cối cứ giả ngày giả đêm, tạo nên một tiếng đập nhịp nhàng khô khan để đánh thức cô giáo và lủ học trò khỏi ngủ gật.. Năm thì mười họa, một năm vài lần cối mới có gạo để giả, vì dân phải đóng cho nhà nước hết ba phần tư số thu hoạch, vốn đã nghèo nàn trên những mãnh ruộng bằng bàn tay xếp thành từng tầng trên sườn núi.
Khi đến cổng bệnh-viện, tôi được chứng-kiến một cảnh tấp-nập khác thường, nghỉ bụng rằng chương-trình y-tế ở đây đã thành-công vì được dân-chúng hưởng-ứng đông đảo. Mọi người bu quanh một tấm bảng, hình như để theo dỏi một thông-báo gì quan-trọng của bệnh-viện về một biện-pháp y-tế nào đó chăng. Lại gần, tôi thấy rõ thông-báo như sau "Hôm nay bệnh-viện có mổ lợn, bán theo giá chính-thức. Đồng-bào nào muốn mua xin ghi tên ở phòng ngoại-chẩn". Tôi suýt té ngửa vì sau bao nhiêu năm hoạt động trong ngành y- tế tôi vẫn chưa biết được rằng cung-cấp thực-phẩm cho dân chúng cũng là một khía cạnh trong chương-trình y-tế.
Trái với cảnh xôn-xao ngoài cổng, trong bệnh viện lại vắng tanh. Tìm cho ra người thủ-kho để xin thuốc thì được biết cô gái Mường này bận đi hái bông lau về làm nệm để tặng một cô bạn gái sắp về nhà chồng, một tục-lệ không thể bỏ được của người Mường. Lân la mãi mới gặp được bác-sĩ trực, vị này không mấy niềm-nỡ vì đang bận cải-hoạt (có nghĩa là cải-tiến sinh-hoạt để cho đời sống vui tươi hơn) bằng cách ngốn nghiến mấy củ khoai. Bác-sĩ trực cho biết "Chỉ có bác-sĩ thủ-trưởng mới có quyền quyết-định, nhưng bác-sĩ đang bận mổ."
Tôi thất-vọng chán chường, nghỉ đến bệnh-nhân ở trại đang hấp-hối mong chờ mấy giọt nước hồi-sinh, nghỉ đến con đường về vừa nắng gắt vừa phải leo giốc, nghỉ đến cái dạ-dày đang cồn-cào vì sáng nay không may đọc được mấy chữ "thịt lợn" trên bảng thông-cáo mà nước bọt cứ chảy dài (chẳng lẽ tôi lại biến thành con chó của Pavlov, hể nghe tiếng chuông là dịch tiêu -hóa cứ tuôn chảy, rồi hay sao?) Tôi buồn rầu thất vọng, không biết bao giờ bác-sĩ trưởng mới mổ xong, vã lại áo quần lem-luốc thế này làm sao gặp được bác-sĩ ở khu giải -phẩu. Tôi đánh bạo tìm đến bác-sĩ trực hỏi : "Thế tôi có thể gặp bác-sĩ thủ -trưởng được không ?"
Lần này vị y-sĩ trực vui vẻ trả lời (vì đã ngốn xong mấy củ khoai): " Được chứ, có gì đâu, anh ấy đang bận mổ lợn dưới ao đấy mà". Tôi như từ cung trăng rơi xuống !
Quả nhiên, cách đó không xa, cạnh bờ ao, năm ba người đang bao quanh một con lợn đã cạo lông trắng nõn nằm trên một tấm thớt lớn. Trong khi đó, bác-sĩ thủ-trưởng bệnh-viện, mình trần, quần xắn tới bẹn, áo bờ-lu vắt ở hàng rào, đang nhanh nhẹn ra tay mổ bộ đồ lòng với tất cả sự nhanh nhẹn và khéo léo của một...đại giải -phẩu gia. Lẽ tất nhiên tôi phải chờ cho ông bạn đồng-nghiệp thanh toán xong con lợn để giải -quyết cho mấy chai nước biển rồi mới hân-hoan ra về. Ra tới cổng, tôi gặp lại đám dân-chúng cũng đang hân hoan thở phào nhẹ nhõm như tôi khi được tin bác-sĩ đã mổ xong.... lợn.
Trên đường về, lần này chiếc đòn gánh đè nặng lên vai không còn cho tôi cảm-giác đau đớn như trước nửa, vì đầu óc tôi đang bị ám-ảnh bởi một ý-tưởng muôn phần nặng-nề hơn, vì tôi đã nhìn thấy được sự thật, đã chứng-kiến tận mắt một hiện-tượng sinh-hoạt phản-ảnh lối sống của những "đồng-nghiêp" bên kia bức màn tư-tưởng.
Phương-vũ VÕ Tam-Anh.
