Bạn có bao giờ nghĩ rằng… có thể, chỉ một nụ cười hiền lành bạn trao đi hôm nay đã làm ấm lòng một người đang bên bờ tuyệt vọng? Có thể một sự im lặng đầy thấu hiểu của bạn đã ngăn một trận cãi vã đổ vỡ? Có thể một câu nói nhẹ nhàng của bạn là lý do để ai đó tin rằng cuộc đời vẫn còn những người tử tế?
Read moreNgười Việt ( dưới chế độ Cộng Sản) đi nước ngoài (Người Buôn Gió)
Người Việt ( dưới chế độ Cộng Sản) đi nước ngoài .
Chuyện người Việt Nam ra nước ngoài định cư ngày càng nhiều... đủ mọi hình thức lách luật để được chính thức ở lại như những trường hợp mà tác giả "Người buôn gió" đã viết lên.
Cũng có trường hợp có xảy ra ở Bruxelles, nơi này hiện tại nhiều người Việt sang đây với nhiều hình thức khác nhau. Chuyện lấy vợ, gả chồng là chuyện bình thường và cũng nhiều người đã làm...lại còn chuyện hắn biết giống như trường hợp được hợp pháp hoá giấy tờ như tác giả viết "Một phụ nữ Việt Nam vào Đức lậu, có bầu và được một người có giấy tờ Đức nhận là bố đưa trẻ, cô và đứa bé được ở lại Đức và nhà nước chu cấp đầy đủ cho hai mẹ con. Kiểu hợp thức hóa giấy tờ như thế này đã có xảy ra ở Bruxelles, được hợp lệ ở lại như là được cấp thẻ xanh còn đến khi nào được quốc tịch thì tính sau vì điều kiện vào quốc tịch ở Bỉ khó khăn hơn lúc hắn xin vào có nghĩa là phải đi làm full time có khai báo đầy đủ trong vòng 5 năm liên tục mới được nộp đơn xin.
Ngày càng nhiều những người ra đi như "dạng hái khế" (không phải người nghèo đi trốn lậu), đi theo dạng hái khế là một cách nói ám chỉ việc chết một cách bất ngờ, đột ngột hoặc không lường trước, giống như một quả khế chín rụng xuống đất mà không báo trước. Thành ngữ này xuất phát từ đặc điểm của quả khế là một loại trái cây chín và rụng bất cứ lúc nào hoàn toàn thể hiện sự ra đi đột ngột, bất ngờ, không báo trước, tương tự như cách quả khế tự rụng xuống .
Đọc bài viết để có một cái nhìn về đất nước và con người Việt Nam ngày hôm nay.
Ara
Người Việt đi nước ngoài
Đất nào sinh ra tôi
Mẹ hiền nào nuôi thân tôi
Miền nào nuôi thân tôi
Mà giờ này tôi xa rồi
Quê Hương Bỏ Lại là nhạc phẩm mà các ca sĩ hải ngoại di tản theo dạng thuyền nhân sau năm 1975 thường trình bày gây xúc động kiều bào vào thập kỷ 80 của thế kỷ trước.
Nội dung nhạc phẩm trải nỗi lòng của những người tị nạn rời xa quê hương, họ bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và không hẹn ngày trở lại.
Hơn 30 năm sau, nhiều người trong số họ đã trở về từ Khánh Ly, Chế Linh đến các ca sĩ trẻ hơn như Mạnh Quỳnh, Phi Nhung.
Nhưng làn sóng người Việt rời xứ sở ra đi ngày một nhiều hơn, sự ra đi của họ không bi tráng như những thuyền nhân trước kia, họ ra đi trên những chiếc máy bay với một lịch trình cho cuộc sống trước mắt ở xứ người đã được sắp xếp chu đáo bởi các công ty tư vấn, dịch vụ định cư.
Ngày nay trên đường phố quanh khu Bolsa của Nam Cali, thủ phủ của cộng đồng người Việt tị nạn nhan nhản những tấm biển quảng cáo cho dịch vụ định cư, du học, việc làm. Có rất nhiều gia đình quan chức cộng sản đã tìm đến Hoa Kỳ định cư theo diện đầu tư như gia đình Nguyễn Công Khế. Một nữ tổng biên tập một tờ báo ở Việt Nam là Hồ Thu Hồng với cái tên gọi là Beo Hồng cũng đã có mặt trên đất Mỹ từ lâu, tổng biên tập tờ báo Vietnamnet đình đám một thời là Nguyễn Anh Tuấn cũng như Beo Hồng, gia đình Tuấn hiện đã sinh sống tại Mỹ.
Trước mắt các bạn đã thấy ba tổng biên tập của ba tờ báo lớn Việt Nam, những tờ báo hàng ngày vẫn ca ngợi đảng và chính phủ Việt Nam đem lại tăng trưởng, đem lại hạnh phúc, tự do cho nhân dân, họ đã đưa gia đình đến nơi mà tờ báo của họ từng miệt thị, chửi bới thậm tệ để sinh sống. Những người kế cận họ lại điệp khúc khen chế độ Việt Nam(việt cộng) , chửi Mỹ và đánh đấm kiếm tiền đưa gia đình sang Mỹ.
Vô vàn các nghệ sĩ, ca sĩ Việt Nam bằng cách nào đó như kết hôn, hợp đồng lao động đã kiếm cho mình được tấm thẻ xanh trên đất Mỹ.
Bây giờ tôi thường xuyên nhận được tin nhắn hỏi về việc định cư tại châu Âu. Một chủ nhà hàng lớn trong chuyến du lịch đến châu Âu, vốn là người quen cũ, ông ta hẹn tôi uống cà phê và bày tỏ ý định tìm cách định cư tại châu Âu. Dự định của ông là mua nhà bên Hy Lạp với giá khoảng 250 ngàn Euro, chính phủ Hy Lạp đang khủng hoảng về tài chính, họ có chính sách bán nhà và cấp giấy định cư cho những người nước ngoài đến mua nhà. Người mua nhà ở Hy Lạp có giấy tờ đi lại trong khối Schengen tức đi lại trong 27 nước Tây Âu, với giấy tờ này người ta có thể sống và làm việc tại bất kỳ nước nào, miễn có việc làm và nuôi được bản thân không xin trợ cấp.
Rẻ hơn nữa là Latvia, với khoảng 150 nghìn Euro mua nhà bạn có thể sở hữu được tấm giấy phép như vậy.
Còn ở Đức thì giá đắt hơn, một gia đình có thể phải mất đến vài trăm ngàn để làm một dự án kinh doanh, nhà hàng, công ty tạo việc làm để đưa cả một gia đình đi.
Đỗ Liên, đại sứ danh dự Việt Nam ở Châu Phi, chủ hãng bảo hiểm AAA khi xưa nay đang cùng chồng sau sở hữu một nhà hàng lớn ở ngay trung tâm Berlin. Liên cùng chồng sau là Toàn và các con cái đã sống ở đây vài năm, họ vẫn đi đi về về Việt Nam điều hành việc làm ăn ở nhà. Quán của vợ chồng Toàn Liên sau vài năm mở để đưa cả gia đình sang, hiện đã sang bớt cổ phần cho Quán Ngon. Số tiền vợ chồng Toàn Liên chuyển sang đầu tư đến hàng triệu Euro, riêng phần bếp đã vài trăm nghìn. Có đến hàng trăm, đó là con số tôi có thể biết về những người Việt Nam đầu tư sang Châu Âu để kiếm giấy tờ hợp pháp sinh sống ở châu Âu như vậy.
Ở Hung ngày càng nhiều người Việt hơn, với 60 nghìn euro cho gia đình 4 người và thêm khoảng 100 ngàn euro mua nhà, cả gia đình 4 người đã có giấy tờ. Trước đây Hung còn có chính sách nếu ai mua trái phiếu chính phủ khoảng 3-400 trăm ngàn euro gì đó sẽ được cấp thẻ xanh vĩnh viễn, chương trình này chấm dứt rất nhanh bởi người Trung Quốc nhanh chóng ùa đến. Sau ba năm trở lại Hung, trên con phố đi bộ đắt nhất của thủ đô Hung, bên dòng Đa Nuyp thơ mộng. Những con người từ xứ Tô Châu đã tìm đến đây để sống với một môi trường trong sạch, an toàn không ô nhiễm và đầy bạo lực như quê hương họ.
Đại sứ quán Hung ở Việt Nam không đủ người để giải quyết hàng đống hồ sơ xin mua nhà, xin tạm cư của người Việt.
Ở Hung mua nhà không bị hỏi tiền ở đâu ra, miễn là bạn mua nhà hay bất động sản ở Hung thì bạn có cầm vali tiền mặt đều được chấp nhận. Hình như sau bao nhiên năm gì đó bạn mới được bán đi.
Đấy là những người có tiền, những người ít tiền hơn họ chọn cách ra đi bằng đường du lịch sang Nga và trốn đường rừng vào Ba Lan, Lát Vi A rồi sang đến Đức, nơi có cộng đồng đông đảo người Việt đang sinh sống, những đồng bào cùng miền quê với họ sẽ giúp họ tìm việc làm và đợi thời gian tích luỹ số tiền sẽ hợp pháp hoá giấy tờ trên cơ sở điều luật nhân đạo của Đức như kết hôn, nhận bố, nhận con. Rất nhiều cô gái trẻ người Việt mặt non choẹt đẩy xe nôi trên đường phố Berlin. Một phụ nữ Việt Nam vào Đức lậu, có bầu và được một người có giấy tờ Đức nhận là bố đưa trẻ, cô và đứa bé được ở lại Đức và nhà nước chu cấp đầy đủ cho hai mẹ con. Năm sau cô sinh đứa thứ hai, một người đàn ông Việt chưa có giấy tờ nhận là bố đứa trẻ, anh ta sẽ được giấy tờ và trợ cấp. Với cách thức như thế, càng ngày càng nhiều nam nữ thanh niên Việt Nam tìm đến nước Đức qua con đường trốn từ Nga sang. Từ năm ngoái ở Ba Lan có kiểu những người Việt đi du lịch sang Châu Âu, sẽ đến Ba Lan tìm một công ty dịch vụ làm giấy tờ chứng nhận họ có hợp đồng lao động ở Ba Lan, giá chỉ 2 ngàn euro là có một giấy tạm cư 2 năm tại Ba Lan. Đây là những nghèo khổ, ở quê hương họ không có việc làm, không có tương lai. Họ phải vay mượn, cầm cố đất đai cho những đường dây đưa người lậu để mong đến được nước Đức đổi đời.
Canada và Úc là những nước dễ nhập cư nếu như bạn có hợp đồng lao động. Một phụ nữ có hai đứa con nhỏ , chị kiếm được hợp đồng làm chăm sóc người già ở Canada, thế là chị và hai đứa con giờ ở Canada đã 5 năm. Một thằng em tôi quen trên Facebook, mới ngày nào còn la oai oái việc thanh toán tiền thi công của đối tác chậm ở Việt Nam, nay thấy ung dung đưa ảnh đang ăn hải sản bên Úc với con cua to đùng và gật gù khen ngon và rẻ hơn quê hương có mấy ngàn cây số ven biển của mình.
Những người ra đi sau này họ vẫn đi đi về Việt Nam để kiếm tiền bởi những quan hệ quan chức và các mối quan hệ làm ăn của họ vẫn đang hái ra tiền ở Việt Nam.
Một dự án hàng trăm triệu, hàng tỷ USD ở Việt Nam được thực hiện, tiền vốn chính phủ vay của nước ngoài, nhà thầu nước ngoài được phép thi công, các quan chức Việt Nam được nhà thầu lại quả trung bình 15%. Hãy hình dung chỉ cần dự án 100 triệu là có 15 triệu đủ để cả chục gia đình quan chức Việt Nam có tiền mua đất đai và giấy tờ định cư ở nước ngoài.
Những dự án đó phá hoại môi trường, gây ô nhiễm không khí, đẩy người dân vào cảnh mất đất và giao thông chật chội, hỗn loạn, khiến người dân Việt Nam luôn chất chứa sự uất ức mà chính họ không hiểu nguyên nhân. Sự uất ức đấy tích tụ và thành những hành động tiêu cực khi gặp việc, có thể họ trộn chất độc hại vào thức ăn để bán kiếm lời để lại mối hoạ ung thư tràn lan, hoặc họ rút dao ra đâm nhau khi có chuyện xích mích, hay đường sá và phương tiện với tỉ thứ trong đầu người dân khiến mạng sống con người có thể chấm dứt trong tích tắc trên đường.
Nhưng những người hái khế ưu tú đã có phương án của họ, ra đi để tránh cho gia đình mình phải chịu chung những mối lo như thế ở Việt Nam, quê hương chỉ là nơi họ hái khế phục vụ gia đình mình.
Và càng nhiều những người ra đi như dạng hái khế (không phải người nghèo đi trốn lậu) theo dạng đầu tư như trên, họ để lại đàng sau càng nhiều ô nhiễm môi trường, xã hội loan lạc, bệnh tật ở quê hương Việt Nam.
Người Buôn Gió
BÙI GIÁNG MỘT BÀI THƠ LẠC VẬN (Nguyễn Đình Toàn)
Người ta nhìn thấy ở ông, rõ hơn, kiến thức của ông, tư tưởng của ông, như một hội tụ lớn của tư tưởng Đông Tây.
Người ta cũng nói đến ông như một người điên.
Nếu ai đã có dịp nhìn thấy ông mang trên mình đủ các thứ: nồi, niêu, xoong, chảo, vành bánh xe đạp, đầu đội mũ sắt, vắt trên vai những miếng băng vệ sinh nhặt được ở đâu đó, tay cầm một chiếc gậy, đứng giữa đường, thổi còi, vung tay chỉ lối cho xe cộ, thì coi ông là một người điên cũng không có gì quá đáng.
Nhưng cũng người điên ấy, vai mang một tấm biển, đi rong qua các phố, trên tấm biển có những dòng chữ viết tay:
"Hoan hô đồng chí Phạm Tuân
Khi không anh bỗng nhẩy tưng lên trời"
Bỏ bùa cho sư (Gió ViVu)
Ba cô đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư.
Sư về sư ốm tương tư,
Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu.
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo như bầu đứt dây?
(Khuyết danh)
Có người bảo rằng “Ba cô” trong bài thơ “Ba cô đội gạo lên chùa” chính là Tam độc: Tham, Sân, Si, trong thuyết pháp của Phật giáo. Chỉ cần có “một” trong “ba thứ độc” đó sẽ khiến người ta triền miên sống trong khổ hạnh……….
Read moreY ĐỨC VIỆT NAM (dưới chế độ Cộng sản)
Bệnh Viện thì to nhưng tình người thì không còn có tại các bệnh viện ở Việt Nam ngày nay nữa!
Read moreNhà Văn Phan Nhật Nam
Năm 2017, ông được nhà văn Hữu Thỉnh mời về Việt Nam nhưng ông đã từ chối.
…..Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân Lực Miền Nam như trên vừa kể ra, với tính khách quan, độc lập của người không liên hệ đối với sinh hoạt của giới văn hóa, học thuật trong nước, ở Hà Nội trước, sau 1975.. Tôi có thư nầy để trả lời mời gọi mà ông Hữu Thỉnh đã trực tiếp gởi đến cá nhân tôi nhằm thực hiện tiến trình gọi là "Hòa Hợp Hòa Giải". Câu trả lời trước tiên, dứt khoát là: Tôi xin được hoàn toàn từ chối sự mời gọi vì những lẻ…….
Read moreMÁU VÀ HOA (Lê Đình Quang)
Dân chúng chạy trốn Việt Cộng
Với vũ khí tối tân của Nga và khối cộng.
Người dân Quảng Trị bồng bế nhau chạy giặc.
Giặc cộng.
Họ chạy về nơi có sắc áo Rằn Ri. Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa.
Hơn 50 ngàn người dân của 3 quận đầu của Tỉnh trong tổng số 230 ngàn dân Quảng Trị, bỏ nhà bỏ cửa trốn chạy giặc cộng.
Quân ta phải phá sập cầu Đông Hà, lui về phòng tuyến Mỹ Chánh.
Đoạn đường 10 cây số về Mỹ Chánh được gọi là Đại Lộ Kinh Hoàng.
Thịt xương của những người dân chạy giặc biến thành một lớp xền sệt trên đoạn đường tử khí này.
53 năm trời đã trôi qua.
Bọn việt cộng ngụy tạo Lịch Sử. Bôi đen Lịch Sử.
Bọn bò đỏ,bọn trí thức ngụy biện cho tội ác này.
Chúng ta có thể ngồi yên sao?
Băn tới viên đạn cuối cùng. Viết cho cạn dòng mực máu trong tim.
Không thể nào để cho tội ác này chìm trong Lịch Sử.
Không thể nào để cho xương máu của những người Lính Việt Nam Cộng Hòa bị lãng quên.
Họ đã chiến đấu tới giọt máu cuối cùng cho nhiệm vụ Bảo Quốc An Dân
Read moreMột Chút Lịch Sử Y Khoa Đại Học Đường Saigon- 1954-1975 ( Giáo Sư Trần Ngọc Ninh)
Xin clik vào link dưới đây để đọc toàn quyển sách.
CHÚC ANH EM VỀ BẮC BÌNH AN
CHÚC ANH EM VỀ BẮC BÌNH AN”.
Ngày trao trả tù binh ở sông Bến Hải, Việt Nam Cộng Hòa giăng một tấm băng-rôn trắng với dòng chữ nhân nghĩa: “CHÚC ANH EM VỀ BẮC BÌNH AN”.
Đó không chỉ là một lời chúc, mà còn là minh chứng cho tấm lòng nhân bản của miền Nam tự do. Người lính VNCH nhìn kẻ ở bên kia chiến tuyến, dù khác lý tưởng nhưng vẫn là “anh em”, vẫn mong họ trở về với gia đình, với mảnh đất phía Bắc trong bình an.
- Trong khi miền Nam nói “anh em”, thì miền Bắc gọi miền Nam là “ngụy”.
- Trong khi miền Nam mong “bình an”, thì miền Bắc ca tụng “cờ in máu chiến thắng”.
- Trong khi miền Nam đau xót với cảnh “huynh đệ tương tàn”, thì miền Bắc reo hò “đường vinh quang xây xác quân thù”.
Bắc Việt đã biến dân tộc thành một chiến trường đẫm máu, gieo hận thù để phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Họ đã không ngần ngại:
- Xua thiếu niên, phụ nữ vào chỗ chết, rồi phong “anh hùng”, điển hình là Võ Thị Sáu, Nguyễn Văn Trỗi, Lý Thị Năm…
- Biến làng mạc đến đô thị thành biển máu, gọi là “giải phóng”. Huế Mận Thân có biết bao mồ chôn tập thể? Miền Nam bao nhiêu lần bị đánh bom khủng bố, bị pháo kích tiêu điều?
- Đẩy hàng triệu thanh niên miền Bắc vào cuộc chiến phi nghĩa, coi cái chết là “vinh quang” xây trên xác người anh em mà họ gọi là “quân thù”.
Y chang như bọn khủng bố hồi giáo bị dụ ôm bom giết người tự sát để được lên thiên đàng.
Nếu miền Nam chọn nhân bản và hòa bình, thì miền Bắc chọn bạo lực và khát máu. Bức ảnh này chính là bằng chứng sống động nhất cho chúng ta thấy rõ:
- Một bên là lòng nhân ái của Việt Nam Cộng Hòa, chiến đấu không chỉ cho tự do, mà còn để giữ gìn phẩm giá dân tộc.
- Một bên là sự tàn bạo, khát máu của cộng sản Bắc Việt, phò chủ nghĩa ngoại lai, phản bội dân tộc nhưng nhân danh “giải phóng” và “thống nhất” trong khi chính họ là kẻ gây ra chia rẽ dân tộc suốt 80 năm qua.
VNCH không thắng được cộng sản, vì cộng sản thắng bằng sự khát máu và dối trá không giới hạn. Nhân từ với kẻ thù trong một cuộc chiến ý thức hệ độc ác chính là tự sát. Nhưng thất bại của VNCH không đồng nghĩa với thất bại của lý tưởng. Ngược lại, nó chứng minh rằng tự do, nhân bản, và lòng nhân ái không thể bị giết chết.
Lịch sử đã và sẽ mãi ghi nhận rằng VNCH ngã xuống trong danh dự, còn cộng sản “thắng” trong tội ác. Chế độ cộng sản là một chính quyền phi chính nghĩa, dựa trên bạo lực và lừa dối và rồi sẽ lụi tàn bởi sự man rợ và dối trá đó.
Nhận Xét về Phim Mưa Đỏ (MX Lê Quang Liễn)
Người lính Việt Nam Cộng Hòa cho tù binh Việt Cộng uống nước.
Nhận Xét về Phim Mưa Đỏ
Vào cuối tháng 8 năm nay (2025), nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam cho trình chiếu cuốn phim Mưa Đỏ, do Cục Điện Ảnh của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam thực hiện.
Cuốn phim Mưa Đỏ được dàn dựng công phu, nhằm tái hiện một giai đoạn bi thương trong lịch sử dân tộc, đặc biệt là trận chiến đẫm máu tại Cổ Thành Quảng Trị năm 1972. Tuy nhiên, do tính chất của sản phẩm mang màu sắc tuyên truyền, phục vụ mưu đồ chính trị, một số cảnh trong phim đã được hư cấu hoặc phóng đại quá nhiều so với thực tế.
Việc hư cấu trong phim, truyện là lẽ thường. Nhưng đó là với các tác phẩm giải trí, còn khi các tác phẩm mang tính cách lịch sử, thì sự thật phải được tôn trọng. Những bộ phim ngoại quốc về phòng hơi ngạt, lò thiêu của Đức Quốc Xã, về vụ thảm sát Nanking do quân Nhật gây ra hoàn toàn trung thực, vì nó dựa trên tài liệu là hàng ngàn tấm ảnh, thước phim ghi lại và có hàng vạn, hàng chục vạn người chứng kiến và kiểm chứng.
Từ khi phim Mưa Đỏ chiếu ra công chúng ở Việt Nam cho đến nay, đã tạo ra nhiều luồng dư luận trái ngược. Đa số những người ở miền Bắc, đặc biệt là giới trẻ sinh ra sau cuộc chiến (kể cả giới trẻ miền Nam), vì không hể theo dõi tài liệu trên sách báo ngoại quốc, thì tin rằng những tình tiết bi hùng của phim là sự thật. Còn những người miền Nam, đặc biệt những quân nhân từng tham chiến trải dài hơn hai mươi năm thì nhìn thấy rất rõ sự phóng đại, xuyên tạc ác ý của người làm phim.
Tôi là quân nhân thuộc binh chủng của Quân Lực Thủy Quân Lục Chiến VNCH, người được vinh dự có mặt trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam vào mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 trên chiến trường Quảng trị từ Tháng 3/1972 cho đến ngày kết thúc 15/9/1972. Với tư cách và danh dự của một người chính trực, tôi có thể nêu ra những điều tôi đã thấy và biết trong trận đánh Cổ Thành Quảng Trị.
1.- Về thời gian và địa điểm:
Trong phim "Mưa đỏ," các trận đánh đều diễn ra trong lòng Thành cổ từ những ngày đầu tiên.
Sự thật:
Ông Trịnh Hòa Bình, một cựu binh Bắc Việt, từng có mặt chiến đấu ở Cổ Thành Quảng Trị, nay là bác sĩ đã về hưu, xác nhận rằng nhà làm phim đã sai khi cho rằng các trận đánh diễn ra bên trong Cổ Thành. Theo ông,
Ông viết: “Điều đó sai cơ bản với lịch sử: từ diễn biến các trận đánh đến hiện trường tái hiện các đường hầm.”
Ông chia sẻ: "Phần lớn thời gian của 81 ngày đêm là chiến đấu ở các khu vực, làng xã xung quanh Thành cổ, tức là bên ngoài thành. Thành cổ Quảng Trị là một khu hình vuông, phía sau là sông Thạch Hãn, 3 hướng còn lại là Bắc, Đông, Nam, là những chỗ giao tranh. Không đánh nhau ở trong Thành cổ, cho đến ngày thứ 81.
Cả thành cổ ấy, mỗi chiều hơn 500m, diện tích chừng 1/4 km² mà riêng quân ta đã tới 8 tiểu đoàn thì chỗ đâu mà nhét được. Và nếu chui hết vào đó thì chỉ cần một lượt B52 ném xuống là chết ráo! Nhiệm vụ của lực lượng bảo vệ Quảng Trị là phòng ngự không cho địch vào được Thành cổ. Nghĩa là đánh nhau ở xung quanh."
Sự thật như ông Bình nói, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến được lệnh thay thế Sư Đoàn Nhảy Dù từ ngày 27/7/1972 để tái chiếm Thị Xã và Cổ Thành Quảng Trị cho đến 15/9/1972. Từ ngày 10/9/1972, chúng tôi bắt đầu những cuộc thăm dò xâm nhập vào Cổ Thành và mờ sáng 13/9, các Tiểu Đoàn 3 và 6 Thủy Quân Lục Chiến đột nhập vào thành và thanh toán các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt. Như thế, bên trong Cổ Thành chỉ có giao tranh từ 10/9 cho đến 14/9/1972.
Xin nói thêm chi tiết: Các cuộc giao chiến để chiếm từng ngôi nhà, khu vực trong Thị Xã Quảng Trị như Bệnh Viện, chợ, trường học là chính yếu. Trong Cổ Thành chỉ bị pháo kích. Chỉ có những ngày sau cùng, hai Tiểu Đoàn 3 và 6 Thủy Quân Lục Chiến đột nhập vào góc đông bắc và đông nam Cổ Thành để đánh đuổi các đơn vị Cộng Sản Bắc Việt, khi đó họ đã mất hết tinh thần, kiệt quệ vì đói.(chi tiết lính Bắc Việt xin ăn do Trung đội trưởng Vũ Duy Hiền thuộc Đại Đội 3/TĐ 3 cho biết)
2.- Đối xử với tù binh Bắc Việt:
Hư cấu sai sự thật: Trong phim Mưa Đỏ, có cảnh lính VNCH đốt sống tù binh.
Thực tế: Đơn vị của tôi là Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến đã đánh chiếm Bộ Chỉ huy quân miền Bắc tại Dinh Tỉnh Trưởng Quảng Trị sáng ngày 15/9/1972, bắt sống gần 20 tù binh quân miền Bắc. Chúng tôi đã nhường một phần thuốc men, băng bông, cả thức ăn để băng bó, chăm sóc vết thương và cho tù binh ăn uống. Đa số các tù binh còn rất trẻ chỉ trên dưới 20 tuổi, thân thể gầy ốm, sợ sệt, lo âu; có lẽ do bị nhồi sọ xuyên tạc về sự dã man của “ ngụy quân”!?
Là những người miền Nam, được giáo dục tinh thần nhân đạo từ truyền thống cha ông để lại và các tư tưởng tiến bộ dân chủ Tây Phương, chúng tôi coi trọng sinh mạng và nhân phẩm của con người, dù đó là kẻ thù, hay tù binh bắt tại mặt trận. Là cấp chỉ huy trong TQLC, chúng tôi không bao giờ chấp nhận hoặc dung túng việc hành hạ những người đã buông súng vì trái với quân luật và luật pháp VNCH. Trên chiến trường khi giao tranh ác liệt thì phải cố giết nhau vì lẽ “ bắn chậm thì chết” nhưng khi đối thủ đã đầu hàng thì được đối xử một cách nhân đạo. Việc ngược đãi tù binh hoàn toàn không phải là chủ trương của chính phủ hay quân đội miền Nam. Nhiều tù binh mà đơn vị tôi bắt được từ tuyến Mỹ Chánh cho đến dinh Tỉnh Trưởng thuộc các đơn vị như Trung Đoàn 66/SĐ304, Trung Đoàn 101/SĐ325, và các Trung Đoàn 48, Triệu Hải tại Dinh Tỉnh Trưởng Quảng Trị là những nhân chứng sống về cách đối xử nhân đạo của TQLC.
Chính ông Trịnh Hòa Bình cũng nhận xét rất khách quan, ông viết như sau:
"Dưới góc độ là phim lịch sử, tôi đánh giá Mưa đỏ chưa đạt yêu cầu. Đừng nói vì thời gian gấp gáp quá, bởi hạn mức thời gian là do chúng ta tạo ra. Đừng nói vì kinh phí hạn hẹp, bởi có những điều không phải do kinh phí. Cũng đừng nói 'Nữ đạo diễn làm được phim thế này là hay rồi'. Nói như vậy là bao biện và có hàm ý phân biệt giới tính"....
“Cảnh lính VNCH đốt tù binh là không đúng, họ không làm thế đâu. Qua đoạn này người xem có thể nghĩ lính VNCH rất dã man, hung bạo. Thực tế thì họ cũng là người Việt, sống nhân văn.”
Nhận xét:
Những chi tiết trong phim Mưa Đỏ là hư cấu xuyên tạc cố tình, có chủ đích gây căm thù, khinh ghét đối với những người đã phục vụ chế độ VNCH. Hóa ra những lời nói rất văn vẻ đầy tính nhân đạo, hòa hợp hòa giải dân tộc của giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam rằng “đồng bào sống ở nước ngoài là những khúc ruột ngàn dặm” chỉ là đầu môi chót lưỡi, dối trá để mồi chài, lôi kéo những kẻ nhẹ dạ, chưa biết CS là thế nào !!
Đã năm mươi năm sau chiến tranh, lẽ ra phe thắng cuộc cần tỏ ra cho thế giới thấy họ đã có nếp văn minh, hiểu biết, để tích cực hàn gắn vết thương chung của dân tộc; thì họ vẫn còn ngoan cố, nuôi dưỡng hận thù đối với những người miền Nam mà họ đã tước đoạt hết tự do, tài sản, xô đẩy phải ly hương.
Người thắng trận viết lại lịch sử theo ý họ. Đúng! Nhưng đừng quên còn gần 3 triệu người tại Hải Ngoại và hàng chục triêu người trong nước từng biết quá nhiều về tội ác của cs trong 20 năm chiến tranh.
Đừng quên rằng sách báo, phim ảnh của Miền Nam hiện vẫn được tìm lại để chứng minh tất cả sự thật mà phe cs cố tình bóp méo, xuyên tạc. Có thể nói không sai rằng phía cs thường đổ lên đầu đối phương những tội ác mà chính họ từng thực hiện, điển bình như cảnh chôn sống hàng ngàn đồng bào Huế năm Mậu Thân 1968.
Viêc phân biệt giữa sự kiện lịch sử trung thực và các chi tiết hư cấu rất quan trọng vì nó góp phần xóa đi những định kiến độc hại trong nhận thức của người ít am tường lịch sử.
Bài này được viết nhằm cung cấp thông tin khách quan, giúp người đọc đặc biệt là thế hệ trẻ, nhận thức đứng đắn về quá khứ, tránh những hiểu lầm hoặc suy nghĩ sai lệch về con người và các lực lượng tham gía trận chiến.
Mục đích vừa tôn trọng giá trị nghệ thuật của phim nếu có, vừa giữ gìn sự thật về lịch sử, góp phần giáo dục thế hệ trẻ về tinh thần nhân đạo, lòng yêu nước và trách nhiệm với dân tộc.
Quê Nhà, Quê Người ( Trần Mộng Tú)
………Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.
Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.
Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?……
Chúng Ta Chỉ Có Thể Cùng Nhau Đi Một Đoạn Đường (Bùi Tưởng Vân)
Chúng Ta Chỉ Có Thể Cùng Nhau Đi Một Đoạn Đường
Tất cả những gì có mặt trong cuộc đời này, từ con người, mối quan hệ, đến tài sản, danh vọng… đều khởi lên từ nhân duyên. Không có gì tự nhiên mà đến. Cũng không có gì mãi mãi thuộc về ta.
Việc ta gặp một người, yêu quý hay ghét bỏ họ, tất cả đều là quả của những nhân duyên đã tạo trong nhiều kiếp sống trước.
Có người vừa gặp đã thấy thân thương, như đã từng gắn bó sâu sắc đâu đó trong quá khứ. Có người vừa nhìn đã khó chịu, bực bội, đó không phải vì họ xấu, mà bởi ta và họ từng oán kết sâu dày trong quá khứ.
Mỗi đứa con, mỗi người bạn đời, mỗi người thân… chỉ là người lữ khách có duyên ghé qua đời ta. Họ đến, rồi họ đi. Họ đến khi duyên khởi. Và sẽ rời đi khi duyên tan. Chúng ta thường khổ vì lầm tưởng rằng:
“Cái gì đến với mình thì là của mình.
Thật ra không phải vậy.
Người con ngoan ngoãn, tài giỏi, đột nhiên rời cõi đời sớm… không phải là oan nghiệt, mà có thể là họ chỉ ghé ngang cõi người một đoạn, để trả một chút duyên, rồi tiếp tục hành trình theo phước nghiệp cao hơn.
Như một số tiền chuyển nhầm vào tài khoản, ta vui mừng, nghĩ là tài sản của mình. Nhưng đến khi ngân hàng xin lại, ta buồn bã, than trách.
Nhưng đó chưa bao giờ là của ta cả. Chỉ là một duyên tạm. Người con ấy, người bạn ấy, người thân ấy… cũng thế.
Sự thật là: Chúng ta chỉ có thể đồng hành cùng người khác một đoạn đường.
– Cha mẹ chỉ đi với ta đến một khúc tuổi thơ, rồi rời đi trước.
– Con cái chỉ gắn bó một giai đoạn, rồi có cuộc đời riêng.
– Người bạn đời cũng đến rồi đi, theo cách đời sống sắp đặt.
– Bạn bè, người thân, ai rồi cũng có lúc không còn bên nhau nữa.
Vậy nên, hãy trân quý từng khoảnh khắc hiện tại, khi duyên còn. Hãy yêu thương đúng cách, không dính mắc. Biết rằng: Gặp nhau là duyên. Ở bên nhau là nợ. Hết duyên, hết nợ, ai rồi cũng phải đi.
Tập buông để nhẹ lòng.
Đừng khư khư giữ lấy những thứ vốn không thuộc về mình mãi mãi.
Tất cả tài sản, người thân, địa vị, tình cảm… đều chỉ là duyên trần, có thì quý, hết thì buông.
Nếu không buông, thì khi duyên tan, ta sẽ khổ. Nếu biết buông, thì ngay cả khi chia ly, ta vẫn mỉm cười
Hãy nhìn đời bằng con mắt nhân duyên, để:
– Không quá đau khi mất mát.
– Không quá chấp khi được trao.
– Và không quá khổ khi phải chia xa.
Ai đi qua đời ta, xin cảm ơn họ
Ai rời khỏi đời ta, xin chúc họ bình yên.
Vì tất cả chỉ có thể cùng đi với nhau một đoạn đường.
Nguyện cho tất cả ai hữu duyên đọc được bài này, biết trân trọng những gì đang có, biết buông bỏ những gì đã qua, và sống nhẹ nhàng, thảnh thơi giữa cõi đời vô thường.
Bùi Tưởng Vân.
Những Mảnh Vỡ (Hồ Thụy Mỹ Hạnh , Đặc San Lâm Viên)
…………Vì tôi hiểu thứ gì đã vụt mất khỏi tầm tay thì đừng nên phí sức đuổi bắt chỉ làm ta đuối sức, đó là lý do tôi dừng lại để lắng nghe lòng tôi nghĩ gì! Chàng không hề hiểu tôi, trong khi con người đến một tuổi nào đó ai cũng chỉ cần một người hiểu, lắng nghe mình hơn là một người yêu mình, chúng tôi không còn trẻ nữa...
………Có những người khi quay lưng trong sự im lặng họ không để lại một lời dù là lời chào từ biệt, có những mối tình người ta rời khỏi nhau không phải vì họ hết yêu mà vì không muốn phải đau lòng hơn nữa, đó là trường hợp của tôi và Văn!
Read moreDính Như Sam (Song Thao)
Trong một lần tới thăm Hải Học Viện Nha Trang cách đây khoảng vài chục năm, tôi đã thấy một cặp sam sống trong một lồng kính. Phải thú nhận là tôi rất ngạc nhiên. Chúng dính vào nhau, một con trên một con dưới. “Dính như sam” thì tôi thuộc nằm lòng nhưng không ngờ chúng dính cứng như vậy. Dò hỏi nhân viên của Viện, tôi được cho biết hai con dính vào nhau như vậy suốt ngày đêm. ……
Chuyện dính nhau khắng khít như vậy được người đời tôn vinh, như biểu tượng của sự chung tình. Chẳng vậy mà nhiều nước có những truyền thuyết về sự chung thủy này……
Read morePhụ nữ thực sự mong muốn điều gì nhất?
…….Câu hỏi này đã gây khó khăn cho ngay cả những nhà thông thái bậc nhất, huống chi là một người trẻ tuổi như vua Arthur. Đối với ngài, dường như đây là một câu hỏi không có lời giải đáp, nhưng dẫu sao điều đó vẫn còn tốt hơn nhiều so với cái chết. Arthur đành tiếp nhận câu hỏi và hẹn ngày cuối cùng của kỳ hạn 1 năm sẽ đưa ra câu trả lời. ……..
Read moreNHẬN VƠ (Trần Trung Chính)
Động từ “nhận vơ” được từ điển định nghĩa như sau = nhận về mình cái biết rõ là không phải của mình.
Cộng Sản Việt Nam hay còn gọi là Việt Cộng đã “nhận vơ” nhiều sự kiện lịch sử, nhưng trong phạm vi bài viết này, người viết chỉ nêu4sự kiện quan trọng, đó là DANH XƯNGNGUYỄN ÁI QUỐC, DANH XƯNGVIỆT MINH, HIỆP ĐỊNH ĐÌNH CHIẾN GENEVE 1954 và HIỆP ĐỊNH PARIS 1973
Read more"How many kidneys do we have?"(Djlee)
"How many kidneys do we have?"
At a medical school, a professor looked at a student and asked,
"How many kidneys do we have?"
"Four!" the student answered.
"Four?" the professor replied, sounding proud and ready to embarrass the student. He was one of those teachers who enjoyed pointing out others' mistakes. Turning to his assistant, the professor said, "Bring some grass, because there’s a donkey in the room."
"And a coffee for me!" the student quickly added, speaking to the assistant.
The professor got very angry and threw the student out of the classroom. But that student was actually the well-known humorist Aparicio Torelly Aporelly (1895–1971), also called the 'Baron of Itararé.'
As he left the room, the student boldly corrected the angry professor:
"You asked me how many kidneys we have. We have four kidneys — two are mine and two are yours. The word ‘we’ means more than one person. Enjoy your coffee… and the grass is for you."
Djlee
Chúng ta có bao nhiêu quả thận?
Tại một trường Y Khoa, một giáo sư nhìn vào một sinh viên và hỏi,
“Chúng ta có bao nhiêu quả thận?”
Người sinh viên trả lời:” bốn”
Bốn, ông giáo sư lập lại, giọng kiêu hãnh và sẵn sàng làm xấu hổ người sinh viên. Ông ta là một trong số những người thầy thích chỉ ra lỗi lầm của những người khác.
Quay sang ngưởi phụ tá, ông giáo sư nói: “Đem một ít cỏ vào đây, bởi vì có một con lừa trong phòng này”
“Và cà phê cho tôi”, người sinh viên nói nhanh thêm với người phụ tá.
Ông giáo sư nổi giận và đưổi người sinh viên ra khỏi lớp. Nhưng thật ra người sinh viên này đã là nhà khôi hài nổi tiếng Aparicio Torelly Aporelly ( 1895-1971) cũng còn được gọi là “Baron of Itararé”.
Người sinh viên khi ra khỏi lớp, mạnh dạn sửa sai ông giáo sư tức giận, :
Ông hỏi tôi: “ Chúng ta có bao nhiêu quả thận, Chúng ta có bốn quả thận- Hai qủa của tôi và hai quả của ông,. Chữ chúng ta có nghĩa là nhiều hơn một người. Hãy thưởng thức cà phê của ông ……và cỏ đó là cho ông.
Nguồn cội xót xa (Phạm Tín An Ninh)
- Mày biết không, nghe con bồ tao bật đèn xanh, bảo là đã được sự đồng ý của bố mẹ, ông già tao với mấy bà dì từ Vĩnh Long khăn gói ra Nha Trang xin làm lễ hỏi trước một tuần rồi làm đám cưới. Sợ không môn đăng hộ đối, tao phải nhờ ông đại tá chỉ huy phó dẫn nhà trai đến nói chuyện với ông bà. Ông chồng thì vui vẻ tay bắt mặt mừng, tao thấy đời cũng còn lên hương. Tới lúc mọi người đứng vào vị trí “thao diễn nghỉ”, bà vợ mới nghiêm mặt phán cho một câu làm tao muốn xỉu luôn tại chỗ.
- Câu gì mà ghê gớm như lời chúc tết của “bác” trước tết Mậu Thân vậy? Tôi đùa.
- Bà hỏi ông già tao: Ông hỏi con trai của ông, là lương tháng của cậu ta có đủ cho con gái tôi mua xà phòng giặt quần lót nó hay không mà đòi cưới với hỏi.
Có vài lần đi chơi chung với Long và cô vợ hụt này. Nàng khá xinh xắn dễ thương, gốc Bắc Kỳ 54, nên giọng Hà Thành còn “ngàn năm văn vật” lắm. Cha mẹ cô là chủ một hảng thầu có máu mặt ở Nha Trang, nàng thì học xong tú tài thì theo nghiệp mẹ cha, kinh doanh, làm chủ mấy cái sạp vải trong chợ Đầm, và còn làm thêm cái nghề tay trái là theo bà mẹ thầu cung cấp thực phẩm cho khóa sinh trong các quân trường. Chính cái nghề phụ này mà cô nàng gặp và mết Long, một chàng trưởng phòng trẻ tuổi cao ráo đẹp trai.
Qua mấy năm tình yêu còn mặn nồng hơn nước biển Nha Trang, nhưng biết bà mẹ chê lính nghèo, nên nàng không dám mở lời. Cuối cùng thì nàng năn nỉ ông già. Cái đám hỏi là do chính ông đưa đường chỉ lối. Ông hiền lành tốt bụng, nhưng kẹt một nỗi là mọi việc bà vợ đều nắm quyền. Mà đã là vợ nắm quyền thì cái nhà sẽ trở thành vô phúc. Tôi đã từng nghĩ, miền Nam sụp đổ cũng có sự góp phần không nhỏ của những bà vợ mấy ông lớn ưa nắm quyền chồng,
Sau đám hỏi bất thành, ông già nó trở về Vĩnh Long, buồn và tủi thân nên bệnh cả mấy tháng trời. Nó bảo là vẫn nặng tình với cô con gái, nhưng rất hận bà già bắc kỳ giết giặc.………
Read moreTRỞ VỀ NGHỀ CŨ (Bác Sĩ Nguyễn Duy Cung)
Vài lời mở đầu
Tôi học dưới bác sĩ Nguyễn duy Cung vài lớp nhưng biết và nhớ tên bác sĩ Cung tuy chỉ có những thời gian gặp nhau ngắn ngủi khi thực tập ở nhà thương, bởi anh Cung người Nam, tác phong tư thái điềm đạm, mặt mày sáng sủa đẹp trai. Lúc ra trường anh Cung làm công chức bộ Y tế; tôi là dân Bắc kỳ di cư, bị trưng tập phục vụ trong quân đội một thời gian rồi giải ngũ vào ban giảng huấn trường Y khoa đại học Sài gòn, khu giải phẫu tiểu nhi bệnh viện Nhi đồng. Hai môi trường khác hẳn nhau. Chẳng bao giờ gặp. Đọc bài viết của anh Cung do bác sĩ Đặng Vũ Thúy Doan chuyển đi, thấy anh Cung là người đôn hậu, cũng trải qua những thăng trầm chìm nổi sau cuộc đổi đời tháng 4/1975 và cũng có những người bạn thân tốt như anh Chu bá Bằng đã từng ở Kontum với tôi một thời gian, nên tôi tính sẽ tìm gặp lại nói chuyện xưa cho vui. Ai ngờ anh đã quá vãng. Thật là điều đáng tiếc.
Bác sĩ Trần Xuân Ninh
**
…………..Sau khi tốt nghiệp bằng hành nghề của tiểu bang California và bằng giải phẫu của trường Loma Linda, trước khi rời nhà thương Loma Linda, GS Bruce Branson chủ nhiệm khoa Giải phẫu của Trung tâm Loma Linda, yêu cầu tôi trình bày tại Hội trường lớn của Trung tâm đề tài: “Cuộc vượt thoát bằng đường biển của một bác sĩ Giải phẫu Việt Nam, nguyên Tổng Quản Đốc Trung tâm Thực tập Y khoa Gia Định-Bệnh viện Nguyễn Văn Học, kiêm chủ nhiệm khoa Giải phẫu”..
Một đề tài không liên quan gì tới ngành chuyên môn, nhưng tôi biết được chủ ý của giáo sư là muốn cho tôi có cơ hội để nói lên ý chí của mình, bởi vì có ý chí thì mới có thành quả được, tôi cố gắng sắp xếp lại câu chuyện cho mạch lạc và trình bày bằng tất cả sự thật trong trái tim mình. . Sau buổi nói chuyện, cử tọa đứng dậy vỗ tay tán thưởng, và tự động xếp một hàng dài lên bắt tay, an ủi và tỏ lòng mến trọng tôi. Tôi được Giáo sư Branson trao cho một ngân phiếu 200 đồng tượng trưng tiền thù lao của Thuyết trình viên.
…………..Tôi đã tình nguyện hy sinh ở lại nhà thương Nguyễn Văn Học vào giờ phút chót để mổ cho hàng trăm thường dân bị trúng đạn pháo kích của CS, để rồi bị CS bắt ngay trong phòng mổ và bị đưa đi các trại tù cho đến chân tôi bị suy yếu vì thiếu dinh dưỡng.
Được tạm tha trở về nhà thương làm việc vì nhu cầu chuyên môn giải phẫu lồng ngực. Tôi vẫn một lòng tận tụy cho bệnh nhân không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, mặc dù tôi phải làm việc trong phòng mổ một thời gian dài không lương với những tủi nhục chua xót của kẻ chiến bại bị phân biệt đối xử trong chế độ CS. Thỉnh thoảng tôi còn phải đến những nơi thật là hắc ám để trình diện, ban đêm tôi phải xách tầm vông và dây luộc ra ngồi dưới cột đèn đường Duy Tân, canh gác khu phố dưới sự giám sát của Công an. Nhà tôi ở cũng không yên ổn, cơ quan an ninh của phường tự tiện vô lục soát bất cứ lúc nào.
“Không có gì quý hơn độc lập- tự do”. Mỉa mai thay câu nói này lại đặt trong chánh sách đàn áp độc tài của Cộng Sản. . Người dân không còn sự lựa chọn nào khác hơn là ra đi để thoát khỏi gông cùm đó. Chúng tôi trân mình chịu đựng cho đến ngày vợ tôi tổ chức cho cả gia đình an toàn trốn được xuống Rạch Giá tìm đường vượt biển …Trải qua những gian nan thập tử nhất sanh trên biển cả bao la để được tới đảo và cuối cùng tới được bến bờ tự do trên đất Mỹ. Rồi tôi cố gắng học hành để được đặc biệt thâu nhận vô trường Đại học Loma Linda, trở lại nghề nghiệp cũ làm Bác sĩ Giải phẫu Y khoa.
Họ Đến Và Chết Vì Tự Do.
THọ đến không phải để tìm cảm hứng nghệ thuật. Họ đến để kể lại câu chuyện của tự do – câu chuyện mà chính người Việt đôi khi cũng quên mất phải kể bằng lòng biết ơn.
hời ấy, có một thế hệ lính Mỹ tuổi mười tám, đôi mươi, chưa hôn ai bao giờ, đã phải hôn đất Việt lần cuối. Có đứa ngã ở An Lộc, có đứa nằm lại Khe Sanh. Họ không biết rành tiếng Việt. Họ chẳng hiểu bánh tét với bánh chưng khác nhau ra sao. Nhưng họ hiểu một điều giản dị: có những nơi người ta bị giết chỉ vì không chịu cúi đầu. Và họ quyết không để điều ấy tiếp diễn, ít nhất là ở cái nơi gọi là Miền Nam Việt Nam.
Read more