• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

Một Ngày Không Thể Quên (MX Dr Đông Vân)

March 29, 2026 Ninh Tran

Một Ngày Không Thể Quên.

                                                                                           MX Dr Đông Vân.

Đã có bao nhiêu tháng tư đến rồi đi, nhưng tôi chưa bao giờ viết về ngày tháng đen tối đó của dân tộc. Nay có người hỏi tôi:

-Tại sao phải nhớ ngày quốc hận?  

Biết trả lời sao cho ngắn ngọn và tạm đủ để người bạn không hiểu lầm ngày đó với Ngày đi tìm tự do v.v...của những người tị nạn CS nhưng nay, họ lại muốn xóa tội cho VC để hy vọng chúng nó cho chút cháo cầm hơi.

Trong đời sống, ai cũng có bao nhiêu là “ngày tháng không quên”, từ ngày vào đời của bản thân, đến ngày “hui nhị tì” của thân thuộc, và những ngày liên quan đến những đổi thay trong cuộc sống riêng tư cũng như của quốc gia... Riêng ngày 30-4-75 lại liên quan đến cuộc “đổi đời” của cả dân tộc thì làm sao ta có thể quên được. Không phải chỉ ngày hôm nay mà cho đến trăm năm sau con cháu vẫn phải ghi nhớ. Không phải chỉ nhớ “công lao xâm lược” của Baác và Đảng, mà còn phải nhớ bao nhiêu tội ác “vĩ đại” của loài súc sinh đã gây ra cho dân tộc. Những đau thương sâu đậm của bao nhiêu bạn bè tôi cảm nhận như của chính mình, mối hận đó kiếp nầy không trả được thì chết mang theo chứ khó lòng quên được, khác chi mối tình của nàng Kiều, của Trương Chi :

“Thù nhà” chưa trả cho ai

“Hận nước”mang xuống tuyền đài chưa tan.

Ngày nào bao nhiêu trai hùng hiên ngang khắp 4 vùng chiến thuật chống xâm lăng giữ yên bờ cỏi để rồi vì “tội ác” đó mà phải lâm cảnh khổ sai! Ngày nay, bao nhiêu tài năng của dân tộc buộc lòng ruồng bỏ quê hương ngục tù tan tác khắp 5 châu. Còn nỗi đau nào lớn hơn? 

Nhớ để đừng bao giờ dẫm lại vết xe cũ: ngây ngô, khờ khạo tin lời đường mật của CS. Tinh thần của ngày 30-4 chính là lời nhắc nhở, kêu gọi những người còn chút lương tri bổn phận giải cứu quốc gia dân tộc khỏi gông cùm của CSBV.

Cái khổ tâm chúng ta gặp phải là người lương tri ít mà kẻ lươn lẹo thì như cát ngoài sa mạc. Người có lương tri thường rất bền gan, kẻ lươn lẹo chuyên nghề nương gió bẻ măng. Hằng năm vào dịp Tết cứ nhìn cảnh tấp nập ở phi trường Tân Sơn Nhứt đủ để...chán cái mớ đời. Ngày ngày có biết bao nhiêu hình ảnh quảng cáo các chuyến bay thẳng từ Mỹ, Pháp, Úc...về VN. Đối với “những du khách” nầy, VN là một quốc gia như bao nhiêu nước khác: không có vấn đề gì đối với họ cả. Chuyện Tết Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa...đối với họ là chuyện xưa rồi, không can dự gì đến họ, hơi đâu nhớ chuyện “tào lao” chi cho mệt.

Họ về ăn Tết, về du hí, về dưởng lão - để trâu già còn có dịp gặm cỏ non cho đỡ thèm. Những cái “đầu tôm” nầy không còn nhớ, còn biết họ là ai thì làm gì còn nghĩ đến chuyện nước non. Họ không đủ trí để hiểu rằng cúi đầu xin VC cho phép nhập cảnh là một điều nhục nhã. Khi tôi có dịp đề cập chuyện nầy với một ông đồng nghiệp, ông ta chỉ cười rằng ông đâu có xin xỏ ai, vì đã có tổ chức lo hết. Một người tốt nghiệp đại học mà hèn ngu như thế thì dân còn biết trông cậy vào ai? Tôi bỗng nhớ văn hào Chateaubriand đã từng than rằng:

-Il y a des temps où l’on ne doit dépenser le mépris qu’avec économie, à cause du grand nombre de nécessiteux. 

(Có lúc phải tiện tặn khi dùng tiếng khinh bỉ vì có quá nhiều người cần).

Mỗi năm việt kiều mang về hàng chục tỉ USD giúp VC xây dựng “bằng mười lần trước”, trường tồn trong gian trá, cướp bóc, bạo ngược...Làm sao diệt cộng được đây? Chưa kể đến những nhà hảo tâm – tâm tốt nhưng dạ tối om - về xây cầu xi măng thay cho cầu khỉ, chữa bịnh cho dân thay cho nhà nước XHCN. Cai trị một lũ dân đa số vừa hèn nhát, vừa ngốc nghếch kể ra sướng thiệt: chỉ cần lên giọng, trợn mắt là nói gì cũng nghe, đút cho chút cháo là bảo gì cũng làm!

Quên ngày quốc hận chỉ có những kẻ tiểu nhân, khéo che giấu trọng tội phản bội dân tộc dưới những mỹ từ “quên đi quá khứ đấu tranh để hướng về tương lai an bình, dân tộc hòa hợp”. VC vẫn ngu ngơ tưởng rằng dân Nam dốt nát chưa hiểu rằng dầu không bao giờ hòa hợp được với nước. Ai còn lên tiếng kêu gọi hoà hợp hòa giải với VC chắc chắn kẻ đó nếu không là VC cũng là người đệ nhứt ngu trong thiên hạ. 

Thứ đến là những kẻ tự xưng yêu chuộng hoà bình - họ làm như thiên hạ đều thích chiến tranh. Vì yêu hoà bình nên họ sẵn sàng chui dưới trướng của lũ cộng nô để được yên thân, điển hình là những việt kiều về “thăm nhà”. Quả thật chẳng có cái dại nào giống cái dại nào! Muốn yên thân trong chế độ CS cũng không khó lắm, chỉ cần biết làm người đui- điếc- câm và nhứt là biết sợ. Đại khái là sống như một loại súc vật, mất dần khả năng suy nghĩ, khả năng sáng tạo, và sẽ không còn biết thế nào là tự do, bản chất đặc thù của loài người. Nôm na là sống như loải vô tri, vô giác...Tôi lại nhớ đến văn hào E. Hemingway,trong chuyện For whom the bell tolls ông viết rằng :

      It’s better to die on your feet than to live on your knees.

                 (Tốt nhứt, nên chết đứng hơn là sống quì)

Ước gì tất cả chúng ta và nhứt là những việt kiều thường xuyên về thăm nhà biết, hiểu và nhớ câu nói nầy.

                                                                 MX Nguyễn Văn Dõng.

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Một Ngày Không Thể Quên., MX Dr Đông Vân
Comment

HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI MỸ VỀ CẤP CHỈ HUY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4.1975 (Phạm Phong Dinh)

March 29, 2026 Ninh Tran

Tướng Trần Văn Hai

Đa số sách báo Mỹ viết về chiến tranh Việt Nam không tường thuật nhiều về những ngày, những giờ phút cuối cùng của Miền Nam một cách chính xác. Điều dễ hiểu là, những người Mỹ làm việc tại Miền Nam đã được di tản nhiều ngày trước khi quân đội Bắc Việt vào Sài Gòn, nên những chi tiết về giờ thứ 25 rất ít được ghi nhận. Tuy nhiên, cũng có vài tác phẩm viết lại những sự việc xảy ra những ngày cuối tháng Tư, như cuốn Goodnight Saigon của Charles Henderson, Decent Interval của Frank Snepp, hay cuốn Last Man Out của James E. Parker.

 Tác phẩm Goodnight Saigon (Giã Biệt Saigon) nghiêng nhiều về tường thuật những diễn biến quân sự từ những thảm họa trên cao nguyên và ngoài Quân Khu 1, đến những ngày hấp hối của Sài gòn, những xao động của dân chúng. Một vài câu chuyện về những nhân vật dân sự như nhà văn Mai Thảo, diễn viên Kiều Chinh.

 Trong cuốn Decent Interval (Khoảng Thời Gian Coi Được), tác giả Frank Snepp chú trọng nhiều về những diễn biến và xáo trộn chánh trị ở Hoa Kỳ và Miền Nam. Đặc biệt ông tường thuật cuộc ra đi trong đêm 25.4.1975 của Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm. Cái tựa đề đã nói thay cho chánh sách của chánh quyền Hoa Kỳ, hay nói chính xác, là công việc để đời của ông Henry Kissinger, khi ông này tiên liệu sau Hiệp Định Ba Lê thì Việt Nam Cộng Hòa chỉ còn sống sót được chừng một năm rưỡi nữa là cùng. Đó là khoảng thời gian coi được cho một cái chết từ từ, nếu chết nhanh quá thì coi cũng… kỳ.

 Tuần lễ cuối của tháng Tư, khi Tổng Thống Thiệu đã ra đi, thì ông Henry đã sốt ruột hỏi nhau với những cộng sự, rằng không biết giờ này VNCH đã chết chưa.

 Ở con người Kissinger tương phản hai thái cực kỳ dị. Khi còn trong cuộc hòa đàm thì ông ta nhũn nhặn chìu chuộng Hà Nội đủ mọi thứ, đến đỗi Tổng Thống Thiệu đã bực tức hỏi thẳng ông Phó Đại Sứ Mỹ tại Sài Gòn khi ông ta nài nỉ Tổng Thống Thiệu chịu ký Hiệp Định: “Các ông đại diện cho người Mỹ hay đại diện cho Bắc Việt”.

 Bằng mọi giá, ông Kissinger phải ký cho được Hiệp Định Ngừng Bắn Ba Lê, đưa tù binh Mỹ về nước, và chấm hết. Nhưng khi Bắc Việt ngổ ngáo vi phạm hiệp định, tái phát chiến tranh, thì ông lại bênh vực VNCH và đòi trừng phạt Hà Nội. Chẳng biết là ông diễn tuồng, điều mà ông gọi là lương tâm của nước Mỹ, hay là thật lòng. Những dẫu sao thì quốc hội Mỹ cũng đã quyết định thay giùm ông, rằng VNCH phải chết.

 Tác phẩm Last Man Out (Người Cuối Cùng Ra Đi) của James E. Parker là hồi ức về những ngày công tác tại Việt Nam trong cương vị của một nhân viên CIA có trách nhiệm liên lạc và thu thập tin tức quân sự với những cấp chỉ huy của QLVNCH, rồi tổng hợp làm phúc trình cho cơ quan CIA tại Sài Gòn. Ông Parker đang làm việc ở chi nhánh CIA Cần Thơ, thì ông nhận lịnh thuyên chuyển về Vị Thanh, tỉnh lỵ của tỉnh Chương Thiện. Đối với người Việt Nam, thì Chương Thiện là một địa danh ít người muốn đến, còn theo Parker thì bên ngoài tỉnh lỵ bước ra mấy bước là đã ngửi thấy mùi Việt Cộng. Nên bất cứ người Mỹ nào về làm việc ở đấy đều được đồng nghiệp gọi tên giễu (nickname) là Dead Man (Người Chết).

 Tuy vậy khi về Vị Thanh, Parker nhận ra rằng Việt Cộng chẳng bao giờ muốn làm phiền ông ta, ông được an toàn. Từ đấy Parker suy luận rằng, chúng chẳng muốn khiêu khích Hoa Kỳ bằng cách giết một CIA Mỹ trong những khoảnh khắc cuối cùng của cuộc chiến, chẳng có lợi gì mà có khi còn làm cho anh Mỹ nổi giận quay trở lại thì khốn. Cứ để cho những người Mỹ tà tà làm việc cho đến ngày họ cuốn gói ra khỏi Việt Nam, bởi ngày ấy chẳng còn lâu la gì.

 Công tác ở Miền Tây, là nhân viên đại diện cho CIA Cần Thơ, Parker có dịp tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của vùng châu thổ Cửu Long, những nhân vật đầy giai thoại: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai và Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Đặc biệt, trong những ngày cuối cùng của tháng Tư, chiếc trực thăng của Parker gần như hàng ngày đáp xuống Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh của Chuẩn Tướng Hai để nghe ông trình bày quân tình, dân tình lúc ấy, rồi sau này nhiều người đã ngỡ rằng người Mỹ đến mời Chuẩn Tướng Hai ra đi.

 Nhưng nếu người Mỹ thực sự có ý định đưa Chuẩn Tướng Hai đi, thì ông cũng sẽ khảng khái từ chối, như Tổng Thống Trần Văn Hương từ chối các ông Đại Sứ Mỹ Martin và Đại Sứ Pháp Mérillon, thề ở lại chia xẻ hoạn nạn với chiến sĩ và đồng bào của ông. Hay Thiếu Tướng Lê Minh Đảo từ chối sự mời mọc của người Mỹ, ông thề ở lại cùng sống chết với chiến hữu của ông.

 James Parker đã dành nhiều trang kể lại những cuộc tiếp xúc với những vị chỉ huy cao cấp của quân đội Việt Nam, cuộc gặp đầu tiên là với Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, lúc ấy ông đang là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, bản doanh sư đoàn đặt tại Vị Thanh, kính mời quý độc giả cùng theo dõi (chú thích trong ngoặc là của chúng tôi):

 Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, tiếp đón chúng tôi rất niềm nở. Ông Tướng nói Anh ngữ hơi chậm nhưng phát âm rõ ràng, cho biết sư đoàn của ông có trách nhiệm bảo vệ vùng hạ châu thổ. Sư Đoàn trong thế bị áp đảo về quân số nhưng ông đã làm tất cả những gì có thể, ông chọn lựa mục tiêu. Ông không muốn tấn công vào những điểm kiên cố của quân cộng, bởi ông nghĩ rằng ông sẽ bị tổn thất nhân mạng nhanh chóng. Vì ông đang ở trong một cuộc chiến quá lâu dài, ông phải bảo vệ nhân lực và nguồn tiếp liệu của ông. Ông nói với tôi rằng ông không thể xoay chuyển cục diện ở đây, nếu ông muốn tạo một chiến thắng thì quân Bắc Việt chắc chắn sẽ đưa nhiều quân đến nữa. Tôi hỏi ông:

- Tại sao chiến đấu một cuộc chiến đang thấy thua rõ?

Ông Tướng hỏi vặn lại, rồi mỉm cười:

- Tôi còn có sự chọn lựa gì nữa không? Nhưng đây là đất nước của chúng tôi.

 Vị Thanh là nơi hiểm nghèo nhứt ở Miền Nam, không có lý lẽ nào để nuôi hy vọng ở đây. Quân địch đầy dẫy chung quanh thành phố. Tại sao lại mạo hiểm để cho những người Mỹ bị địch cầm giữ trong giờ thứ mười một này. Những tháng sau, tôi làm việc nhiều thời gian trong Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21, thu thập tin tức trong vùng hạ châu thổ, cuối cùng tôi được cho phép thường xuyên tiếp xúc với Phòng 2 và Phòng 3 Sư Đoàn.

 Trong lúc đó thì Tướng Hưng có mặt hầu hết ngoài mặt trận. Chiếc trực thăng chỉ huy của ông cất cánh mỗi buổi sáng sớm đưa ông đến những địa điểm xa xôi nhứt để ông có thể thăm hỏi những cấp chỉ huy. Tôi chỉ gặp ông hầu như vào lúc ban đêm, lúc thì dùng bữa tối, lúc thì uống với nhau. Thỉnh thoảng thì tôi cũng gặp ông Tướng vào lúc ban ngày trong văn phòng của ông. Thời gian dần trôi, thì cuộc gặp gỡ của chúng tôi trở nên thoải mái nhiều, chúng tôi thích thú sự hiện diện của nhau.

 Terry (nhân viên CIA mà Parker đến thay thế) giới thiệu tôi với vị Tỉnh Trưởng, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông Đại Tá được tuyên dương là Chiến Sĩ Xuất Sắc Của Năm (1972), trước khi ông đến nhậm chức ở Chương Thiện, một vinh dự gặt hái được từ chiến công anh hùng của ông chống quân Bắc Việt ở An Lộc. Ông đã bị thương rất nặng, mất một phần mặt của ông. Khi tôi gặp ông, thì phần bị mất ấy đã được chữa trị bằng phẫu thuật, từ cái nhìn đầu tiên thì tôi đã có thể nhận ra một vết thẹo dài chạy dọc theo bên hàm. Đại Tá Cẩn có một quan niệm rất lạc quan về chiến tranh, dù cảnh quan buồn tẻ ở Vị Thanh. Ông đúng là người lính của những người lính, dũng cảm và thanh liêm. Ban đêm ông thường đi xuồng đến những đồn bót xa xôi nhứt để phát lương cho binh sĩ. Ông nói rằng ông có dưới tay nhiều chiến sĩ giỏi mà có thể chiến đấu chống cộng sản đến khi họ chết hoặc là đất nước được thanh bình.

 Những buổi tối của tôi với Chuẩn Tướng Hưng càng lúc càng thân tình. Ông thường hỏi thăm về gia đình tôi, về Hoa Kỳ cùng những gì đang xảy ra bên ấy. Ông rất quan tâm đến văn học Mỹ nên tôi thường có dịp nói về các tác giả Hoa Kỳ và tác phẩm của họ. Mặc dù tôi thường đọc hai, ba cuốn sách mỗi tuần ở Vị Thanh, nhưng tôi lại chưa đọc những cuốn mà Tướng Hưng hỏi tôi. Về phần ông, thì ông nói về lịch sử và chuyện chiến tranh ở Đông Dương. Ông thường nói chuyện một cách có cân nhắc và chậm rãi, hay mỉm cười dù đang đề cập đến những sự việc nghiêm trọng. Từ ông toát ra một vẻ rất tự tin và ánh lên sự trầm tĩnh.

 Trong tháng 2 (1975), cấp chỉ huy ở Cần Thơ và Sài Gòn thúc giục, Tướng Hưng cho quân tấn công một đơn vị lớn Bắc Việt về phía Đông Chương Thiện thuộc rừng U Minh, là một khu vực cộng quân chiếm đóng từ lâu. Cuộc tấn công này là chiến dịch lớn nhứt từ lúc tôi về tỉnh Chương Thiện. Ông Tướng áp dụng tất cả nguồn yểm trợ của Không Quân mà ông có. Mặc dù ông sở hữu nhiều khẩu đại bác do quân đội Mỹ để lại, ông lại có khó khăn khi di chuyển chúng vì sự hạn chế phi vụ chuyển vận. Ông cũng thiếu thốn những tiếp liệu cần thiết và đầy đủ để trang bị cho lực lượng tấn công. Thí dụ, ông có rất nhiều mìn claymore nhưng thiếu ngòi nổ, đạn pháo binh cũng thế, có nhiều nhưng rỉ sét. Do vậy, sư đoàn chịu nhiều thiệt hại. Chiến sĩ của ông chiến đấu rất dũng cảm. Tôi hiểu nỗi đau đớn của ông Tướng, và tôi hiểu niềm hãnh diện của ông đối với những người lính ấy, dù bị thương vong rất nhiều nhưng họ vẫn tiếp tục tiến tới.

 Khi trận chiến tàn, quân Bắc Việt bị đẩy lùi vào rừng U Minh, Tướng Hưng vẫn không chắc rằng ông đã thực sự chiếm thượng phong. Ông đã dùng quá nhiều nguồn tiếp liệu mà ông có. Cho cái gì mới được? Mấy ngày sau, một thứ mùi kinh khủng tuôn vào chỗ tôi cư ngụ. Tôi đã từng ngửi thấy mùi này, đó là mùi của thịt thúi, của người chết. Một thông dịch viên cho tôi biết nhà xác sư đoàn nằm giữa khu tôi ở và cô nhi viện tỉnh. Những xác tử sĩ nằm chờ được chở đi. Phương tiện chuyên chở đã hiếm hoi mà phòng lạnh cũng không. Một số xác được lấy về từ khu vực chiếm đóng của cộng quân. Dẫu sao thì khi tôi muốn chạy xa khỏi khu nhà ở, thì ông Tướng đã xoay sở phương tiện đưa xác tử sĩ đi trong tuần.

 Tháng sau (10.3.1975), Ban Mê Thuột thất thủ, Bộ Tư Lệnh Tối Cao ở Sài Gòn tái phối trí lực lượng để bảo vệ phần còn lại của Miền Nam. Sư Đoàn của Chuẩn Tướng Hưng di chuyển về bảo vệ khu vực phía Bắc Cần Thơ, ông Tướng được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó khu vực phía Nam Sài Gòn (Quân Khu 4).

Ngày 20.3.1975, Huế thất thủ.

Ngày 30.3.1975, Đà Nẵng mất.

 Ở Cần Thơ, Tướng Hưng làm việc với Jim D. (Sếp CIA Cần Thơ) và những sĩ quan liên lạc quân sự, nhưng ông tỏ ra thích làm việc với tôi ngay lần đầu gặp gỡ hơn là với những người sĩ quan này. Jim D. bảo tôi lên Cần Thơ thường xuyên hơn để làm việc với ông Tướng. Tôi có kế hoạch trở lại Vị Thanh mỗi tuần hay mỗi hai tuần để coi lại khu vực trú ngụ và nghe thuyết trình quân tình từ Đại Tá Mạch Văn Trường, Tân Tư Lệnh Sư Đoàn 21 đang chỉ huy những đơn vị còn lại ở đấy (Một ngày trước khi ra đi, ngày 24.4.1975, Tổng Thống Thiệu ký nghị định đặc cách thăng Chuẩn Tướng cho Đại Tá Trường. Ông là vị Tướng được thăng chức sau cùng nhứt của cuộc chiến).

 Khu vực càng lúc càng thu hút sự quan tâm là con đường Quốc Lộ 4 chạy dài theo hướng Tây và Tây Nam từ Sài Gòn, phía Bắc sông Bassac (tức sông Hậu Giang), rồi đổ vào vùng châu thổ. Các đơn vị của Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm bảo vệ quốc lộ, Chuẩn Tướng Hưng sắp xếp cho tôi được nghe thuyết trình từ Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Tướng Hưng cho biết ông từng phục vụ trong sư đoàn lúc còn trẻ. Ông cố vấn sư đoàn lúc đó là con người đầy giai thoại Trung Tá John Paul Vann, một nhân vật đầy quyền lực đối với quân đội Nam Việt Nam. Cuối cùng thì ông đã chết (trong một tai nạn trực thăng ở Kontum, tháng 6.1972).

 Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh và diện kiến Chuẩn Tướng Hai trong văn phòng của ông. Ông Tướng đúng là một bản sao của một sĩ quan Mỹ với bộ quân phục sạch thẳng nếp, tay áo xắn lên quá khuỷu tay. Ông Tướng nói Anh ngữ rất lưu loát (khi còn là Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ, người ta luôn thấy trong tay Chuẩn Tướng Hai nếu không là một cuốn kinh Phật, thì cũng là một cuốn sách tự học Anh Văn. Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông cũng đã từng được gửi đi thụ huấn khóa tham mưu ở Hoa Kỳ). Đôi mắt trên khuôn mặt đầy đặn của ông ánh vẻ nghiêm khắc và ông chẳng tỏ ra thân thiện. Tôi hỏi ông Tướng về tình hình.

- Anh muốn biết tin tức, anh nhân viên chánh phủ Hoa Kỳ, tôi muốn cơ phận cho trực thăng, tôi muốn đạn dược.

- Ngài đang nói chuyện với lầm người rồi, điều ấy chẳng phải là công việc của tôi.

- Anh chính là chánh phủ Hoa Kỳ. Chánh phủ Mỹ hứa luôn cung cấp tiếp liệu cho chúng tôi để chúng tôi có thể chiến đấu. Chúng tôi có thể làm được chuyện ấy, chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, nếu chúng tôi có đạn và phi cơ. Hãy nói lại với chánh phủ của anh điều đó rồi tôi sẽ nói anh nghe những gì đang xảy ra ở đây.

- Vâng, tôi sẽ báo cáo rằng quân đội đang thiếu hụt tiếp liệu.

Ông Tướng chằm chằm nhìn tôi một lúc lâu, cuối cùng ông nói:

- Người Mỹ các anh không thường giữ lời hứa với người Việt chúng tôi.

 Ông Tướng tiếp tục nhìn tôi qua làn khói thuốc, chờ đợi phản ứng của tôi. Khi tôi không tỏ thái độ gì, ông nhún vai và bắt đầu thuyết trình. Ông cho biết binh sĩ của ông chiếm giữ những vị trí trên Quốc Lộ 4 và hành quân đến biên giới Kampuchea để bảo vệ vùng lãnh thổ dưới Sài Gòn. Khu vực này phần lớn là những cánh đồng ruộng trồng lúa. Tinh thần binh sĩ rất cao, ông có thể ngăn chống lực lượng địch cấp sư đoàn của Bắc Việt trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên tinh thần binh sĩ có thể suy sụp nếu sư đoàn đối đầu với lực lượng địch lớn hơn và nếu đạn dược hao hụt. Ông tiên đoán rằng quân Bắc Việt sẽ tấn công sớm, mà ông thì không có tái tiếp tế. Sư đoàn ông đang trực diện với Sư Đoàn 9 Bắc Việt do Tướng Di Thiên Tích chỉ huy, mà đã chiến đấu trong khu vực này từ trước năm 1965.

- Tướng Tích có thể là tướng chỉ huy xuất sắc nhứt mà Bắc Việt có. Anh có biết chiến hiệu (slogan) của sư đoàn ấy là gì không? Là “Quét Sạch Kẻ Thù”. Kẻ thù ấy là tôi.

Có nọc độc trong giọng nói của ông. Quân Lực VNCH đang sụp đổ ở phía Bắc, ông buồn phiền và cay đắng. Không giống như Tướng Hưng, Tướng Hai không triết lý cho tương lai. Ông giận dữ. Tôi đưa ý kiến rằng có thể có cuộc thương thuyết ngừng bắn mà từ đó bảo vệ được chủ quyền của chánh phủ Miền Nam. Ông Tướng nhìn tôi không nói, tôi không rõ ông đang nghĩ gì. Khi tôi trở về Cần Thơ, tôi báo cáo với Jim D. buổi gặp mặt ở Sư Đoàn 7 Bộ Binh, rồi kết thúc bằng sự việc ông Tướng muốn đạn dược và cơ phận. Jim D. nhíu mày nhìn tội

- Đưa chuyện ấy vào báo cáo gởi cho Washington, và đứng nói với tôi nữa.

 Tôi thường xuyên đến thăm Chuẩn Tướng Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Ông hiếm khi cười. Ông Tướng thường ngồi trên một cái ghế gỗ đằng sau bàn làm việc, ẩn đằng sau khói thuốc khi tôi đến Bộ Tư Lệnh Tiền Phương gần biên giới Miên. Mỗi lần nói chuyện với nhau, thì ông Tướng thường gợi lại những điều mà ông cho là “Sự Can Thiệp Đầy May Rủi” của Quân Đội Hoa Kỳ. Những điều ông nói, đại khái như:

- Giữa hai nền văn hóa có một sự khác biệt lớn lao, người Mỹ các anh luôn muốn chúng tôi suy nghĩ và hành động y hệt như các anh. Thực ra thì chúng tôi đâu có thích các anh hay chánh sách của các anh… Anh có nghe tôi không? Chúng tôi không thích các anh bảo chúng tôi phải làm gì. Nhưng chúng tôi cần sự giúp đỡ để tồn tại, và chúng tôi biết các anh có lợi thế nhìn chúng tôi sinh tồn. Nhưng không có nghĩa là các anh có quyền xía vào công việc và nền văn hóa của chúng tôi.

Tại sao các anh không đưa quân vô Kampuchea. Quân Bắc Việt đang ở đấy đấy, tại sao các anh thì không? Nếu các anh vượt đường xa đến đây để chận đứng chủ nghĩa cộng sản, tại sao các anh không tiến vào đất Miên nơi có những căn cứ của cộng quân rồi đánh cho chúng tiêu tùng. Tại sao các anh không vào Lào? Tại sao các anh không dùng cơ giới nặng ủi sạch con đường Hồ Chí Minh ở đó. Tình hình quân sự ở đây rất đơn giản. Tại sao các anh hành động như những thằng khùng? Người Việt chúng tôi cho là các anh khùng. Anh nói gì về điều đó, anh CIA? Các anh ngáo làm việc cho một tổ chức ngáo.

 Sau khi ông Tướng đã giảng thế nào là cách điều khiển chiến tranh, sau khi gọi tôi bằng đủ thứ danh xưng, lập đi lập những chuyện ấy, nổi giận lên, thì ông mới nói tới chuyện quân tình trong khu vực. Trong những lần tiếp xúc tại Bộ Tư Lệnh, dần dà giữa ông Tướng và tôi cảm thấy thoải mái với nhau hơn. Không thân thiết, nhưng thoải mái, chúng tôi biết vị trí của nhau. Có thể là do thời gian hai năm ở Lào tôi có nhiều bạn bản xứ, nhưng cũng có thể ông Tướng nhận biết được sự cảm thông và kính trọng của tôi đối với cảm niệm của ông về Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm ở thời điểm mà rất nhiều cấp chỉ huy khác chỉ nghĩ đến bản thân họ. Cũng có thể khi chúng tôi cảm thấy thoải mái vì tôi là người khách thường xuyên của sư đoàn.

 Thượng Nghị Sĩ Frank Church phát biểu trong cuộc họp Thượng Viện ngày 10.4.1975, nói rằng thế là đủ rồi (enough is enough), Quân Đội Nam Việt Nam tự lo liệu lấy. Trong khi đó thì Hạ Viện cũng đã bác bỏ yêu cầu quân viện khẩn cấp 722 triệu mỹ kim và 250 triệu cho kinh tế của Tổng Thống Ford (con số này là do Tướng Weyand lập ra và đệ trình sau khi đi quan sát tình hình quân sự ở Việt Nam về. Còn con số 700 triệu cho tài khóa 1974-1975, rồi bị cắt xuống 300 triệu đã bị cắt bỏ tàn bạo từ lâu). Quốc Hội chỉ đồng ý cấp ngân khoản dùng cho việc di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.

 Ngày hôm sau, trực thăng của Air America (có hợp đồng chuyên chở cho CIA) đưa tôi đến gặp Tướng Hai. Ông Tướng không đứng dậy chào khi tôi bước vào văn phòng. Rất bất ngờ như bước ra từ cõi sương mù, ông nói chậm rãi, hành động của chánh phủ tôi giống như cục phân, nghị sĩ Church xấu xa hơn Hitler, nước Mỹ không còn danh dự, quân đội nước tôi đã vi phạm quy luật hành xử chung của chiến sĩ khi quay lưng với chiến hữu và bỏ rơi họ trên chiến địa.

 Ông Tướng đứng dậy và tiến đến gần tôi, đôi mắt ông đỏ hoe, bàn tay ông sờ vào báng súng lục, chằm chằm nhìn tôi không che dấu sự giận dữ từ thái độ của ông. Trong trạng thái căng thẳng đến điểm khó kiềm chế, những ngón tay của ông nắm chặt lấy báng súng. Khoảnh khắc ấy qua đi, ông thở dài:

- Tôi có thể giết anh nhân danh những con người dũng cảm đã hy sinh trong cuộc chiến này. Tôi có thể giết anh vì chánh phủ của anh đã không cố gắng chiến thắng.

Tôi đứng lặng thinh, run rẩy. Tôi nhỏ nhẹ nói:

- Chiến tranh đang tàn lụi, cuộc chiến đấu đã hoàn thành. Ngài phải chấp nhận những gì đã xảy ra, ngài phải chấp nhận số phận.

Chuẩn Tướng Hai hỏi lại:

- Tôi nghe ông Kissinger của anh ngày kia nói rằng Việt Nam đã chết. Ông ta có biết là chúng tôi vẫn còn sống ở đây không?

 Tôi không thể trả lời. Cuối cùng thì ông Tướng nhún vai, giọng khàn đục không còn hơi. Ông nói cho tôi nghe tin tức mới nhứt về cuộc điều quân của quân địch mà ông quan sát từ trên phi cơ trên vùng biên giới Việt-Miên. Ngày hôm sau, 15.4.1975, tôi bay đến Sư Đoàn 7 từ sáng sớm. Như thường lệ, ông Tướng rầy rà tôi về hành động của Hoa Kỳ:

- Đâu là người bạn của Miền Nam khi Miền Nam cần? Tôi có thể gọi ai đây? Quân giặc đã đến ngưỡng cửa của chúng tôi rồi, đất nước tôi trong cơn nguy khốn tận cùng. Ai sẽ tới tiếp cứu chúng tôi?

Phía bên kia biên giới Miên, ông đã quan sát thấy quân cộng tập trung lên con số đông đảo, cơ giới và chiến cụ liên tục di chuyển đến hai mươi bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày.

- Phi cơ bỏ bom của các anh đâu? Chúng ta đã trông thấy địch lộ diện, đúng là thời điểm dội lên đầu chúng. Chúng chuyển quân rầm rộ trước chiến sĩ của tôi, tôi cần giúp. Hãy giúp tôi, anh bạn CIA.

Như thường lệ, ông ngồi trên chiếc ghế gỗ nhìn tôi sau màn khói thuốc.

 Ngày 17.4.1975, Phnom Penh rơi vào tay Khmer Đỏ. Tôi khởi sự đến gặp Chuẩn Tướng Hai mỗi ngày. Ông Tướng cho biết quân Bắc Việt tiếp tục tập kết ngay phía bên kia biên giới, chúng đưa đến chiến xa, cầu nổi và pháo binh. Bộ đội mới, tươi rói đã đến mà ông suy đoán sẽ là nỗ lực chánh tiến đánh Sài Gòn. Đó là mục tiêu thực sự của cộng quân. Cộng quân tập trung đông đảo như vậy không phải là để tấn công Sư Đoàn 7 Bộ Binh hay chiếm lấy QL4. Thỉnh thoảng tôi đến thăm Chuẩn Tướng Hưng ở Cần Thơ. Ông biết rõ tình hình quân sự toàn quốc, nhưng ông vẫn bình tĩnh và vẫn thư thả đợi cái gì tới sẽ tới . Mười sáu tỉnh của vùng châu thổ chưa có thành phố nào rơi vào tay cộng quân, với một nửa dân số của Miền Nam vẫn được an toàn.

 

Trong cuộc gặp ngày 19.4.1975, Tướng Hai cho tôi biết có vẻ như là không có thêm quân cộng tập kết ở vùng biên giới nữa, chúng đang điều động đến các vị trí. Ông nghĩ rằng khi chúng bắt đầu đội hình với bộ đội mới vào ở gần biên giới, phía sau những đội công binh bắt cầu, với đoàn chiến xa nặng húc về phía Sài Gòn, cuộc tấn công sẽ nổ ra. Cộng quân sẽ mất bảy ngày để xuất phát từ đất Miên vượt qua vùng Đồng Tháp Mười và tiến về Sài Gòn. Sư Đoàn 7 của ông Tướng chỉ có thể làm chậm tốc độ tiến quân của chúng mà thôi. Tướng Hai nói:

- Chúng tôi không thể chận đứng chúng, quân địch quá đông mà quân chúng tôi quá ít.

 

Ngày 21.4.1975, Xuân Lộc, một trong những cứ điểm cuối cùng của QLVNCH ở phía Bắc Sài Gòn thất thủ (thiệt ra chỉ di tản theo lịnh của Trung Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III&Quân Khu 3 về bảo vệ Sài Gòn), sau khi đã anh dũng chận đứng đà tiến của một lực lượng lớn quân Bắc Việt. Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu cũng đã từ chức trong ngày ấy.

 

Tôi đáp trực thăng đến Bộ Tư Lệnh SĐ7BB trong ngày 22.4.1975. Phòng làm việc của ông Tướng tối quá, ông đang ngồi trên chiếc ghế quen thuộc và hút thuốc.

- Những chiến xa nặng của Bắc Việt đang vào đội hình, bộ binh dàn trận phía sau. Chúng sắp sửa xuất phát, Sài Gòn sẽ rơi vào tay Bắc Việt trong vòng bảy ngày, 29.4.1975.

 

Ông Tướng đưa cao chiếc tách cà phê nóng lên, làm một cử chỉ vinh danh những người lính đã hy sinh và chào đón tương lai, nhưng ông không cười. Ý định của quân cộng thiệt rõ ràng đối với Chuẩn Tướng Hai. Chúng sẽ đánh lấy, chiếm được Sài Gòn trong bảy ngày nữa, mà Sư Đoàn 7 thì không thể chận chúng lại được. Tôi đến gặp Chuẩn Tướng Hưng buổi chiều cùng ngày. Ông cho hay từ buổi sáng sớm quân Bắc Việt đã vượt biên giới ở khu vực gần các đơn vị của Chuẩn Tướng Hai và tiến về hướng Sài Gòn. Tướng Hưng đã lệnh cho lực lượng ít ỏi Không Quân và Pháo Binh chuẩn bị chống lại cuộc tiến quân của quân địch, nhưng có lẽ cũng không làm chúng khựng lại được. Ông Tướng vẫn vẻ bình tĩnh và giữ gia đình gần bên.

 James E. Parker cùng các đồng sự CIA giúp được nhiều nhân viên Việt Nam và thân nhân ở Cần Thơ thoát được ra biển trong những ngày cuối cùng và được vớt lên chiếc tàu buôn Pioneer Contender.

 Đứng trên cầu tàu, tôi quay nhìn về hướng Việt Nam, bất giác tôi chợt nghĩ trong một thoáng thiệt rõ ràng, rằng dù chúng tôi đã thua trận, nhưng chúng tôi đã hành động đúng khi tới đó và chiến đấu. Lịch sử sẽ rộng lượng phán xét ý định tốt của chúng tôi đến giúp cứu một đất nước bị xâm lấn. Chúng tôi đã không thắng vì những chánh trị gia, những nhà hoạch định chánh sách Hoa Kỳ đã đưa ra những quyết định xấu xa đầy tội lỗi, từ lúc khởi đầu cho tới lúc tàn cuộc.

 Đối với tôi, cái di sản bất tử của cuộc chiến là những người lính đã đáp lời gọi của đất nước, hy sinh thân sống ở Việt Nam. Trong thời điểm của những giá trị chao đảo, họ đã khẳng định những nguyên tắc trường cửu của Trách Nhiệm.Vì Tổ Quốc họ đã tự dấn mình trong những truyền thống Mỹ đẹp đẽ nhứt của những người lính chiến Mỹ. Họ đã chết trẻ rất Danh Dự trong chiến tranh. Mỗi người lính đều là những anh hùng.

 Hướng về phía bờ biển, tôi đứng nghiêm chào đúng quân cách, chậm rãi. Tôi đứng lặng thinh trong một khoảnh khắc, rồi quay người đi xuống bên dưới. Cuộc chiến đã chấm dứt.

Trắc trở hàng ngàn người tỵ nạn Việt Nam, con tàu Pionneer Contender nhổ neo buổi sáng sớm hôm sau hướng mũi tàu tiến về hướng Đông. Việt Nam mờ nhạt dần từ phía sau.

 

PHẠM PHONG DINH

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags HỒI ỨC CỦA MỘT NGƯỜI MỸ VỀ CẤP CHỈ HUY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA TRONG NHỮNG NGÀY THÁNG 4.1975, Phạm Phong Dinh
Comment

Đóa HOA QUỲNH MÙA ĐÔNG (T. Nguyen)

March 14, 2026 Ninh Tran

Cô đến Canada khi còn là một thiếu nữ 18 tuổi, mang theo trong vali vài bộ quần áo, một cuốn sổ tay, và một trái tim còn nguyên vẹn niềm tin rằng cuộc đời sẽ mở ra như một cánh đồng lúa chín. Nhưng đời sống ở xứ người không phải cánh đồng, mà là một khu rừng rộng, đẹp nhưng lạnh, và đôi khi khiến người ta lạc lối.

        Năm 18 cô được học bổng du học. Năm 22 tuổi cô xong đại học ngành toán tại đại học Western, London. Cô được ở lại, đi dạy đã 20 năm tại một trường trung học nhỏ. Thành phố cô sống không lớn, đủ yên bình để nghe tiếng gió lùa qua hàng thông mỗi sáng, nhưng cũng đủ cô quạnh để mỗi tối, khi đóng cửa căn hộ, cô nghe rõ tiếng thở dài của chính mình.

       Cô sống xa cộng đồng người Việt. Không hẳn là không có, chỉ là quá thưa, quá rời rạc, và ai cũng bận mưu sinh. Nhiều lúc cô cũng muốn kết nối với cộng đồng nhưng có một khoảng cách vô hình của người đi trước và sau. Cô từng thử hẹn hò với vài người bản xứ. Họ tử tế, lịch sự, đúng giờ, chia tiền rạch ròi. Không phải vì họ không tốt mà vì cô không tìm thấy cái cảm giác “được thuộc về”, thứ cảm giác mà người Việt hay gọi bằng những từ rất mộc: thương nhau, lo cho nhau, cậy nhờ nhau khi nghèo khó.

Read more
In Văn Hóa, Giáo Dục Tags T. Nguyen, Đóa HOA QUỲNH MÙA ĐÔNG
Comment

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

March 13, 2026 Ninh Tran

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG

 Cũng như nhiều người trong chúng ta, trong những ngày tĩnh lặng của tuổi vào thu, tôi mong còn dịp trang trải những điều giữ trong tâm qua bao năm tháng dài của cuộc đời, để tìm thanh tịnh cho tâm thần.

Một trong những hoài vọng này là được gởi lời cảm tạ đến những người đã đi qua đời tôi và đã ít nhiều cho tôi diễm phúc được yêu, dù tôi có biết hay không, dù tôi có nhớ những phút giây hạnh phúc này không, và nhứt là tôi có hình dung họ là ai hay không.

Lý do tôi hơi dài giòng nơi đây vì từ tuổi trưởng thành và đi xây cuộc đời mới trên quê hương thứ hai sau khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn một ngày đất thảm trời sầu tháng tư đen, tôi không còn nhớ nhiều về quãng đời trước đó. Không nhớ không phải vì tôi không muốn nhớ, nhưng trong tâm tưởng của tôi, một phần rất lớn của dĩ vãng chỉ là một tờ giấy trắng, không hình ảnh, không ký ức. Tôi không buồn lắm vì quanh tôi còn có người thân, gia quyến đôi khi nhắc nhở hay đem lại cho tôi vài khoảng của dĩ vàng mà tôi đã quên.

 

Một người bạn y khoa biết tôi như thế, có nhã ý giúp tôi nhìn lại những vùng dĩ vãng đã mất bằng y thuật hypnosis nhưng sau khi cân nhắc kỹ càng tôi cảm ơn lòng thành của người bạn này nhưng đành khước từ nhã ý ấy. Theo tôi nghĩ, nếu tiềm thức của tôi đã khiến tôi quên những khoảng thời gian đó chắc nó có lý do rất chính đáng.Trong cuộc sống nhiều cam go này có những trường hợp quá bi lụy khiến con người phải cố mà bỏ qua cho được để còn tiếp tục sống và thích nghi với đời sống mới. Vì thế tôi chấp nhận một đời sống với đầy khoảng trống trong ký ức.

Nhưng có những lúc tôi buồn vì với thích ứng đó tôi đành phải chấp nhận mất đi những khoảnh an vui của thời dĩ vãng vì hình như ký ức tâm tư không lúc nào cũng phân biệt và chọn được phần nào nên quên, phần nào phải giữ lại, nên quên phứt tất cả. Tôi không quá buồn vì không giữ được những kỷ niệm vui nhưng điều tôi buồn nhất là tôi đã không nhớ được nhiều người đã thương tôi, yêu tôi trong dòng đời dĩ vãng, bạn bè, thân quyến gần xa, người yêu, người tình. Nên hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn những người đó đã có thạnh tình với tôi và cũng xin lỗi họ nếu ngày xưa đó họ nghỉ tôi không quan tâm hay trọng tình ý của người chung quanh mình nhứt là nếu tôi, vì lý do nào tôi không nhớ, đã phụ chân tình của họ.

Hôm nay tôi viết bài này vì tháng qua trong một cuộc họp gia đình của chị em chúng tôi lâu năm sống phân tán nhiều nơi trên xứ Mỹ và châu Âu, tình cờ một người em tôi hỏi về một người yêu cũ của tôi ngày vừa mới lớn. Tôi ngẩn ngơ không biết người đó là ai và cô em của tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu làm sao mà tôi không nhớ người đó,

Yến bào tôi rằng

“Chị thật tình không nhớ sao. Ngày xưa đó chị khóc cả tuần vì cha chúng mình muốn gả chị đi lấy chồng nhưng chị không chịu vì người yêu của chị vừa ngỏ ý với chị”. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, tôi phải vâng lời nghiêm đường mà tiến tới cuộc hôn nhân với một người chưa từng quen biết. Đó là một trong những chuyện não lòng mà tôi đã không còn ý thức.

  Lại một lần nữa, cũng trong một cuộc họp mặt gia đình khác, có một người đến, tự giới thiệu là cháu của tôi. Phượng nói "ba cháu mất rồi nhưng mẹ cháu vẫn hằng nhắc đến cô, mẹ mến cô lắm vì ngày xưa khi mẹ về với cha cháu, cô đã đón mẹ cháu vào gia đình rất  nồng hậu, mẹ cháu gởi lời thăm cô". Lại một lần nữa tôi ngần ngơ và khó lòng, khó xử không biết nói gì hơn là lí nhí lời cám ơn, vì tôi không nhớ họ là ai cà. Thật buồn cho những mất mác đó.

Ngày nay tôi tự hỏi nhữngchuyện quan trọng như thế mà tôi không nhớ thì còn những chuyện gì khác mà tôi đã quên. Nhưng thôi, những gì đã qua thì nên cho đi qua, buông xả trên dòng tâm linh.

Đời người là thoáng trăm năm, thoáng đến, thoáng đi trong chốn phù vân. Ai biết ngày mai sẽ ra sao, và biết ai còn ai mất.

Nên hôm nay tôi xin viết lời tạ từ cám ơn về những người đã đi qua đời tôi, đã cho tôi ít nhiều hạnh phúc. Và cùng lúc tôi xin gởi lời chân thành tạ lỗi với những người mà tôi vô ý hay không cố ý làm họ buồn.

Về người yêu mà em tôi vừa nhắc, tôi xin chân thành gởi lời xin lỗi muộn màng vì tôi không vẹn tình nghĩa với anh.

Và những người khác mà tôi không nhớ cũng xin cho tôi gởi lời từ tạ và cám ơn.

   Nhưng, viết để mà viết chứ trên thực tế những lời cảm tạ và xin lỗi này chỉ là làn gió thoảng trong mênh mông không trung hay dải Ngân Hà nhiều tinh tú, vỉ làm sao mà đến được người nhận khi tôi không còn biết họ là ai, những người của dĩ vãng mịt mờ sương khói.

Thành ngữ Pháp có câu “L’homme propose mais Dieu díspose”. Tôi không muốn dịch sát nghĩa nhưng tương tự tiếng mình cùng ý nghĩa “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”phải đồng có cùng lúc thì mới đủ căn duyên cho sự hữu hình của sự việc. Vì thế, dù bao mong muốn nhưng lời cảm tạ và xin lỗi, tôi có cơ duyên được viết nhưng người có nhận được hay không còn tùy duyên nợ của họ đối với tôi.

Dù sao tôi cũng mong rằng những lời chân thành muộn màng này giải tỏa được phần nào nợ duyên của tôi trong dòng đời dâu bể và cho tôi giấc ngủ bình an trong mùa thu đông của cuộc đời.

 Hôm nay, ngồi viết bài này bên giòng liên hoa trên sóng, tôi nghe lòng thanh thản, không buồn không vui, những ước mơ như cánh chim trời hay nước xuôi về biển cả, với lời cầu nguyện thầm lặng, tôi xin buông xả những điều sân si của cuộc sống, để tâm lắngđọng trên dòng thiên nhiên.

Tôi cũng xin cảm tạ ân trời, tình đất mẹ thiên nhiên luôn ban cho ta nguồn tĩnh lặng, những vẻ đẹp đất trời tuyệt mỹ, cho ta được lắng dịu tâm trần lao chao và tìm nguồn chân như trong bể dâu đời sống.

 THƠ: TRÊN SÓNG LIÊN ĐÀI

Đây vùng trời nước rạng vầng dương,

Lững thững thuyền mây cánh buồm trương,

Đôi cánh hạc ngàn đùa mây sóng,

Dịu dàng làn gió vén màn sương,

 

Ríu rít rộn ràng tiếng gọi đàn,

Lành lót trong sương liệng én vàng,

Du dương trên gió trầm bỗng sóng,

Văng vẳng trời xa khúc tiêu ngàn.

 

Trên sóng liên đài sương ngọc ngời,

Áo hoa phơn phớt ánh vàng trời,

Dìu dịu khúc trong vờn đá cuội,

Sơn tuyền trầm mặc tiếng sương rơi.

 

Tĩnh lặng hư không trời bâng khuâng,

Đạt thành ai quảng chốn phù vân,

Ngộ giác duyên phần trong tĩnh mịch,

Chân như huyền ào rạng tâm trần.

 

Trên sóng liên hoa bùn chằng đọng,

Sơn tuyền lờ lững cánh bè rong,

Hồn thiên nghệ sĩ hòa thi nhạc,

Tuyệt mỹ an nhiên vẽ non bồng.

 

Bồng lai tiên cảnh chằng đâu xa,

Chẳng vùng phố thị, chốn phồn hoa,

Dù ai vằng tiếng lời phù ảo,

Chằng chao thanh tịnh tâm an hòa.

 

Sơn lâm đồi núi tiếng quê nhà,

Văng vẳng trong sương lời sơn hà,

Năm châu bốn bể đường vinh nhục,

Giữ rạng vào hồn tiếng mặn mà.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG
Comment

Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa,....(Nguyễn Quỳnh Hoa )

March 10, 2026 Ninh Tran

 Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa, Cư Xử; Hậu Quả của Chế Độ Chính Trị Từ Cả Thế Kỷ Nay!

 Người miền Nam, dù đã sống trong chế độ CS hơn 50 năm, vẫn còn bảo lưu được nếp văn hóa đẹp do chế độ Cộng Hòa vun đắp từ truyền thống của tổ tiên.

Đầu tuần, xin mời quí vị đọc một bài viết khá hay của một nữ văn sĩ gốc Hà Nội.Ít ra, Hà nội vẫn còn những người công chính như nhà văn Nguyễn Quỳnh Hoa., có lẽ là hậu duệ của giới tư sản Hà thành còn sót lại.

Bài viết của nhà văn Nguyễn Quỳnh Hoa - một người Hà Nội chánh gốc.

Tôi là người Hà Nội và rõ ràng tôi có niềm kiêu hãnh của mình, luôn là thế. Sự kiêu hãnh ấy khiến tôi vừa có một nửa kiêu kì, vừa có một nửa tò mò. Tôi nhìn thế giới bằng ánh mắt của người tin rằng mình hiểu nhưng vẫn sẵn sàng để bị lay động.

Chuyến bay từ Nội Bài vào một tối cuối năm khiến tôi suy nghĩ nhiều hơn thường lệ. Tôi tình cờ đứng gần hai gia đình trẻ - một nói giọng Bắc, một nói giọng Nam. Không rõ là ngẫu nhiên hay do trí nhớ chọn lọc, nhưng trong nhiều chuyến bay quay lại Nhật, tôi thường bắt gặp những tình huống tương tự. Chúng dần trở thành một thứ định kiến trong tôi, và tôi xin thú thật như vậy, dù rõ ràng nó thật phiến diện.

Tôi muốn nói trước điều này, dù có phần buồn: Trong những lần tiếp xúc ngắn ngủi với người miền Nam trên các chuyến bay ấy, tôi thường mang về những ấn tượng tốt. Từ tác phong đến cách giao tiếp, mọi thứ đều nhẹ nhàng và có chừng mực. Cách họ xếp hàng, quan sát lối đi, để ý người khác dường như luôn chừa ra một khoảng vừa đủ cho sự lịch thiệp. Trong nhà vệ sinh sân bay, giữa dòng người mệt mỏi, tôi đã nhiều lần nghe thấy một giọng miền Nam rất khẽ:

“Dạ, xin lỗi cho em qua.”

Một câu nói nhỏ thôi, nhưng đủ khiến lòng người dịu lại.

Rồi tôi quay về với chuyến bay gần đây nhất. Trong khu vực nhập cảnh khai báo hành lý, tôi đứng sau hai gia đình Việt, lại là một Bắc, một Nam và cả hai đều có con nhỏ. Ở gia đình miền Bắc, người chồng liên tục càu nhàu vợ vì con khóc, vì con đòi đồ chơi, vì chiếc bánh mang theo có chứa chà bông. Giọng nói gắt gỏng vang lên giữa không gian vốn đã căng thẳng, khiến tôi có phần e ngại. Người vợ thì cúi gằm mặt, lặng lẽ và ngại ngùng.

Ở phía bên kia, gia đình miền Nam hoàn toàn trái ngược. Người chồng bế con suốt quá trình làm thủ tục, thỉnh thoảng quay sang hỏi vợ có mệt không, lặng lẽ xử lý mọi giấy tờ mà không một lời than phiền.

Tôi khó gọi tên cảm giác của mình lúc ấy. Chỉ biết rằng đó không phải lần đầu tôi chứng kiến những cảnh tương tự, từ cách xếp hàng, cách nói chuyện trong gia đình, cho đến thái độ với người xa lạ. Tôi không muốn và cũng không tin vào việc phân biệt vùng miền. Tôi luôn phản đối điều đó. Nhưng ít nhất, trong những khoảnh khắc rất đời và rất ngắn ấy, tôi buộc phải thừa nhận, trong tôi nảy sinh một sự ngưỡng mộ. Không phải vì họ đến từ đâu, mà vì cách họ đối xử với nhau và với thế giới xung quanh, đủ tử tế để được nhìn nhận một cách xứng đáng.

Và chính ở đó, tôi bắt đầu thấy niềm kiêu hãnh của mình không còn đứng vững như trước.

Tôi chợt nhận ra, niềm kiêu hãnh mà tôi mang theo, thứ tôi từng nghĩ là bản sắc Hà Nội, đôi khi đã bị tôi nhầm lẫn với quyền được khó chịu. Quyền được cáu kỉnh khi mệt, được lớn tiếng khi không vừa ý, được tin rằng sự thẳng thắn của mình là trung thực, còn sự dịu dàng của người khác chỉ là tính cách. Tôi đã sống đủ lâu trong những con phố hẹp, những căn nhà chật, những buổi sáng chen chúc để tin rằng gắt gỏng là điều có thể thông cảm. Nhưng có lẽ, thông cảm quá lâu, người ta sẽ quên mất cách giữ gìn.

Đứng giữa sân bay, nơi không ai thực sự thuộc về, tôi thấy rõ sự khác biệt giữa chịu đựng và chăm sóc. Hai đứa trẻ khóc như nhau, cùng mệt mỏi sau một chuyến bay dài. Nhưng cách người lớn phản ứng đã tạo ra hai thế giới khác hẳn. Ở một bên, mệt mỏi được trút xuống người gần nhất. Ở bên kia, mệt mỏi được gánh lên vai một người, rồi vì thế, nhẹ đi cho cả gia đình.

Tôi tự hỏi, phải chăng điều tôi ngưỡng mộ không nằm ở vùng miền mà nằm ở một thứ văn hóa ứng xử đã được rèn giũa qua nhiều thế hệ? Một văn hóa coi sự nhỏ nhẹ không phải là yếu đuối mà là lựa chọn. Coi việc giữ giọng thấp xuống là một cách giữ gìn nhân phẩm cho cả mình và người đối diện. Trong cái cách nói “dạ” rất khẽ ấy, tôi nghe thấy không phải sự nhún nhường. Đó là sự tự tin, tự tin rằng mình không cần lớn tiếng để được tôn trọng.

Tôi nghĩ về Hà Nội của tôi, thành phố mà tôi yêu bằng một tình yêu vừa kiêu kì vừa mệt mỏi. Hà Nội từng rất chậm, rất ý tứ. Người ta từng biết hạ giọng trong bữa ăn, biết tránh làm phiền người khác, biết giữ thể diện cho nhau bằng im lặng. Nhưng rồi nhịp sống gấp gáp, những va chạm dồn nén và cảm giác luôn phải giành phần hơn đã khiến chúng tôi quên mất rằng lịch sự cũng là một dạng sức mạnh.

Có lẽ vì thế mà tôi tò mò. Không phải tò mò về miền Nam như một đối cực, mà có lẽ tôi tò mò về khả năng lựa chọn của con người. Là lựa chọn nói nhẹ hay nói nặng, lựa chọn bế con hay trách vợ, lựa chọn làm dịu một không gian hay làm nó căng thêm. Những lựa chọn rất nhỏ nhưng tích tụ lại thành khí hậu tinh thần của một cộng đồng.

Khi chuyến bay kết thúc, tôi kéo vali đi giữa dòng người nhập cảnh. Tôi vẫn là người Hà Nội, với niềm kiêu hãnh của mình. Nhưng niềm kiêu hãnh ấy, sau những chuyến đi, đã bắt đầu đổi hình dạng. Nó không còn là cảm giác mình đến từ đâu, giờ đây nó đã là câu hỏi mình đã đối xử với người khác như thế nào.

Có những lúc, người ta lớn tiếng không phải vì mạnh mẽ, có lẽ phần nhiều vì đã kiệt sức. Kiệt sức vì phải gồng lên suốt một quãng đời dài, vì phải chứng minh mình đúng, mình hơn, mình không thua kém. Tôi đã quen với thứ mệt mỏi ấy đến mức tưởng nó là bản lĩnh. Cho đến khi đứng giữa sân bay xa lạ, nhìn một người đàn ông lặng lẽ bế con, tôi mới thấy, hóa ra bản lĩnh có thể im lặng và im lặng ấy không hề yếu ớt.

Tôi chợt nghĩ về những người đàn ông Hà Nội quanh mình, những người cha, người chồng, người anh. Phần nhiều đều yêu gia đình nhưng lại hiếm khi được dạy cách thể hiện tình yêu mà không làm đau người khác. Yêu, trong nhiều trường hợp, đồng nghĩa với lo lắng; lo lắng kéo theo kiểm soát; kiểm soát sinh ra cáu gắt. Và rồi, sự quan tâm biến thành áp lực, lúc nào không hay. Có lẽ, chúng tôi đã học cách gánh trách nhiệm nhưng chưa học đủ cách chia sẻ gánh nặng.

Sân bay lúc ấy đông hơn. Tiếng loa thông báo, tiếng bánh xe vali, tiếng trẻ con khóc hòa vào nhau thành một thứ âm thanh mệt mỏi rất người. Tôi đứng giữa đó, bỗng thấy mình không còn muốn quan sát để so sánh nữa. Thay vào đó, tôi muốn quan sát để hiểu. Hiểu rằng mỗi vùng đất sinh ra con người với những cách chịu đựng khác nhau. Có nơi dạy người ta phải cứng, có nơi dạy người ta nên mềm. Và cả hai, suy cho cùng, đều là cách để sống sót.

Nhưng sống sót khác với sống đẹp. Và sống đẹp, có lẽ, bắt đầu từ những điều nhỏ đến mức dễ bị coi thường - một câu xin lỗi, một cái hỏi han, một cánh tay chìa ra đúng lúc. Sự tử tế không cần hoàn cảnh thuận lợi để tồn tại.

Khi tôi bước ra khỏi sân bay, không khí lạnh tràn vào phổi. Thành phố mới đón tôi bằng sự im lặng quen thuộc của một nơi tôi đã chọn để sống. Tôi kéo cổ áo lên, đi chậm lại. Trong đầu tôi, niềm kiêu hãnh Hà Nội không còn đứng ở vị trí đối đầu với sự ngưỡng mộ miền khác. Nó đứng cạnh, khiêm tốn hơn, lắng nghe hơn, lặng lẽ hơn.

Có lẽ, trưởng thành không phải là thôi kiêu hãnh, mà là học cách đặt niềm kiêu hãnh ấy xuống thấp hơn người khác một chút. Thấp đến mức mình có thể cúi đầu xin lỗi. Thấp đến mức mình có thể bế con thay vì trách móc. Thấp đến mức, giữa một sân bay đông người, giọng nói của mình không lấn át giọng ai khác, chỉ đủ để giữ lại một chút ấm áp cho những người đang rất mệt.

Tôi chợt hiểu vì sao những câu nói nhỏ nhẹ lại có sức bền đến thế. Chúng không gây ấn tượng mạnh tức thì, nhưng thấm vào lòng rất sâu. Như mưa phùn Hà Nội, không ồn ào, không dữ dội, chỉ đủ để làm ướt áo ai đó đi rất xa. Có điều, mưa phùn mà kéo dài quá, cũng khiến người ta lạnh. Có lẽ, điều chúng tôi thiếu không phải là sự dịu dàng mà là sự dịu dàng đúng lúc, không biến thành nhẫn nhịn.

Tôi không còn muốn biện minh cho vùng đất mình sinh ra, cũng không muốn lý tưởng hóa vùng đất khác. Mỗi miền đều có những vết xước riêng, những nỗi mệt riêng. Điều duy nhất tôi muốn giữ lại, sau những chuyến bay dài và những lần đứng giữa đám đông vô danh, là khả năng tự hỏi mình. Trong khoảnh khắc này, mình có thể làm gì để không khiến người khác nặng thêm?

Tôi vẫn là người Hà Nội. Tôi vẫn yêu thành phố ấy với tất cả những mâu thuẫn của nó. Nhưng giờ đây, tình yêu ấy không còn đi kèm với sự bảo vệ mù quáng. Nó đi kèm với mong muốn sửa mình, chậm rãi, vụng về, nhưng thành thật. Và có lẽ, đó là cách duy nhất để niềm kiêu hãnh không trở thành gánh nặng, chỉ là trở thành một thứ ánh sáng đủ dịu, để soi đường cho chính tôi và cho những người đi ngang qua đời mình.

Nguyễn Quỳnh Hoa

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Nguyễn Quỳnh Hoa, Nam và Bắc: Khác Biệt Văn Hóa, .
Comment

Hồi Ký Của Một Bác Sĩ ( Võ Tam Anh)

March 8, 2026 Ninh Tran

Một bác-sĩ “cách-mạng” từ Bắc vào, hăm-hở đến tiếp-thu bệnh-viện Vĩnh-long sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã thốt ra câu nói đầu tiên với chúng tôi : "Các anh là kẽ thù của nhân-dân, đáng tội chết..." Tuy mới mấy ngày sau khi "giải-phóng" nhưng tai chúng tôi cũng đã quen với câu nói đó, chỉ có khác là lần này được phát ra từ miệng một bác-sĩ mà chúng tôi chờ đợi để hy-vọng thấy được một nụ cười hay một chút thông-cảm trong tình đồng-nghiệp. Chẳng khác gì những cán-bộ khác, bác-sĩ cũng tuông ra câu học thuộc lòng: "Nhưng Đảng và Nhà-nước khoan-hồng tha tội chết cho các anh..."

May thay, chúng tôi được tha tội chết, nhưng thay vào đó, phải lảnh cái án "dở sống dở chết " kéo dài năm này qua năm nọ trong các nhà tù, nhường sự-nghiệp lại cho các đồng-nghiệp mới, huênh-hoang trong cái độc-quyền nhân-đạo với các bảng hiệu « Lương Y như Từ-mẫu » treo nhan nhản khắp xó xỉnh trong bệnh-viện.

Có lẽ Cụ Hippocrate ở dưới suối vàng cũng không khỏi phẫn-nộ khi các môn-đệ ở Miền Bắc không chịu học lời thề Cụ dạy trước khi ra trường:

"Tôi thề sẽ giúp đở các đồng- nghiệp và gia-đình họ trong cơn ngặt nghèo, tôi sẽ mất hết danh-dự và bị khinh-bỉ nếu tôi không giữ lời thề đó".

Trước mặt thì đồng-nghiệp gọi chúng tôi bằng "anh", nhưng quay lưng lại là "thằng", là "chúng nó" ngay, không hiểu là vì thói quen, vì văn-hóa, vì mặc-cảm hay vì chính-sách.

Ngày đầu tiên mới đặt chân lên đất Bắc trên con đường lưu đày, khi mà tầm mắt đang còn ngỡ-ngàng với rừng sâu núi thẳm, khi mà thể xác và tinh-thần chưa lai tỉnh qua cuộc hành trình định-mệnh kinh-hoàng, thì chúng tôi được đón tiếp vồn-vã bởi một đồng-nghiệp. Vồn-vã không phải để thăm hỏi sức khỏe hoặc để an-ủi một lời nào, mà để tịch-thu thuốc men và dung cụ y-khoa mà chúng tôi mang theo, nhất là để tò mò tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống "phồn-vinh giã-tạo" ở trong Nam.

Câu nói đầu tiên và gần như là câu chào hỏi ở cửa miệng mỗi khi gặp nhau: "Anh ăn mấy lạng ?" (gạo mỗi ngày), làm chúng tôi bở ngở không biết đâu mà trả lời. Thì ra cái quan-tâm hàng đầu của nền y-khoa miền Bắc là cái bao-tử, và xã-hội được chia ra làm nhiều loại bao-tử khác nhau tùy theo đẳng-cấp và sự trung-thành với Đảng: 120 lạng ,150 lạng, 170 lạng.... cái hàn-thử-biểu để đo vị-trí mình trong xã-hội. Kế đó là thắc mắc về những phần thịt đươc bồi-dưỡng trong những ngày lể, ngày Tết…

Thấy chúng tôi không ở cùng một tần-số trong cái hội-chứng đường ruột đó, bác-sĩ bèn lên mặt chỉ-đạo: "Chớ có trốn trại nghe, không thoát đâu ". Quả-nhiên lời khuyên có chấp-chứa ít nhiều tình thật đó lại là không sai. Chỉ có vài ngày sau khi đặt chân đến cái nơi núi rừng chằng chịt mang tên Sơn La đó, khi chưa xác định được vị-trí trong cái bản-đồ mênh-mông của miền Thượng-du Bắc Việt, thì một số anh em đã lần lượt trốn trại rồi lần lượt bị bắt lại để gánh chịu những hình phạt ghê gớm đang chờ sẵn. Trong số đó phải kể đến hai đồng-nghiệp, một Thiếu-tá Y-sĩ- trưởng Trung-tâm Hồi-lực ở Sài-gòn và một Y-sĩ Đại-úy Thủy-quân Lục-chiến, đã thoát khỏi lao tù vì đã trốn qua "bên kia thế -giới" sau khi không thành-công trong cuộc tổ-chức trốn qua "bên kia biên-giới".

Sau một thời gian xáo trộn, chúng tôi gồm có 8 bác-sĩ, 1 nha-sĩ, 2 dược-sĩ được tập-trung lại để thành-lập một "trạm-xá " có nhiệm-vu săn sóc sức khỏe cho anh em tù trong vùng. Bằng những phương-tiện của thời-đại đồ...tre, với kỹ thuật từ thời Hoa-đà, chúng tôi cũng được an-ủi bằng một số thành-công trong nhiệm-vụ chửa trị, và đã lưu lại cho chúng tôi nhiều kỹ niệm khó quên. Anh T. bị bệnh phung cùi, bọn cai tù ghê sợ, biệt giam trong một cái chòi giữa rừng, thường ngày chúng tôi đến thăm viếng, theo dỏi bệnh tình, chia nhau từng củ sắn củ khoai, khích lệ cho nhau cho đến ngày về. Anh H. bị mất trí vì trúng độc khi ăn phải trái cây rừng, suốt ngày la hét, phải cách ly trong một túp lều ở giữa rừng, chúng tôi chia phiên nhau túc trực ngày đêm bên cạnh để canh chừng, nhưng cuối cùng anh cũng qua đời.

Phải kể đến những trường hợp giải-phẩu theo kiểu...rừng, với tất cả liều lỉnh rủi may. Trang-bị bằng một bộ trung-phẩu dã-chiến của Trung quốc và một lò hấp ướt (autoclave), với mấy bình ê-te (ether) và cái masque Ombredane là dụng cụ đánh thuốc mê hở (circuit ouvert) cổ lổ sĩ dùng trước thế chiến 1914-1918. Trong những "bloc" được ngăn cách bởi những tấm phên tre và tấm vải mùng, muổi mòng tha hồ bay lượn, dưới ngọn đèn dầu và đèn pin, mà nhờ trời chúng tôi cũng thành-công được trong nhiều trường hợp, những chấn-thương vì tai-nạn lao-động, hay trường hợp anh N. bị tắc nghẻn ruột, phải giải-phẩu để tái tạo một hậu-môn tạm thời, phải theo dỏi và săn sóc từ A đến Z trong nhiều tháng với sự tận-tình của mọi người nên kết quả rất khả-quan, vân vân và vân vân.

Chúng tôi đã đóng tất cả các vai trò trong việc điều trị, từ lao-công, y-tá, phụ mổ, gây mê, cầm dao, rồi hậu-phẩu, vệ-sinh, giặt giủ v...v...bù lại khỏi phải đi lao-động đốn vầu, đốn nứa, đẩy xe trong những lúc đó.

Một sự tình cờ khiến chúng tôi phải giải-phẩu cấp cứu thành-công cho một tên cán bộ bị viêm ruột thừa cấp-tính mà không biết chở đi đâu. Mấy tháng sau, nhân dịp Tết Nguyên-đán 1978, có mấy cán-bộ trong ban chỉ-huy trại đến cám ơn chúng tôi, và tưởng-thưởng bằng một tấm hình chụp chung mấy anh em chuyên-môn trong bệnh-xá, một kỹ-niệm độc nhất vô nhị của những ngày tù ở Sơn La. Tiếng đồn lên tới Bộ chỉ huy Đoàn. Một số cán-bộ có thiện tâm muốn mở tầm hoạt động của chúng tôi cho dân chúng trong vùng Mường Thải, huyện Phù-yên, nơi mà xưa nay dân chúng chưa hề thấy đươc cục xà bông chớ đùng nói chi đến viên thuốc tây. Thế rồi dân chúng đến xin chửa trị mỗi ngày một đông, tuy thuốc men chẳng có gì nhiều nhưng cũng giúp ích được một số lớn trường hợp và ít ra cũng giúp họ làm quen với y-khoa ngày nay thay vì phải uống lá rừng suốt đời. Khi đặt ống nghe vào ngực, có người đã huênh-hoang khoe rằng là được... rọi điện.

Đông nhất là phần chửa răng. Ngậm một cái răng sâu năm này qua tháng nọ như một cái đinh đóng vào óc, nay được nha-sĩ nhẹ nhàng xoi xỉa với một cái máy quay đạp bằng chân, hoặc nhổ đi mà không đau đớn gì, thật là một điều mà dân Mường ở đó không bao giờ mơ tới.

Một đêm nọ, đang lúc giữa khuya, một cán bộ VC cầm cây đèn bảo xăm xăm bước vào phòng giam chúng tôi, bảo rằng một người đàn bà trong bảng Mường đang nguy kịch vì đẻ không ra đã hai ngày nay. Anh Thức, chuyên môn về phụ-khoa được cử đi cấp-cứu. Trong môt gian nhà sàn rộng rải không có vách ngăn, ở giữa là cái bếp lửa cháy suốt ngày đêm, dăm ba người đàn ông ngồi quanh nói chuyện ồn ào tỏ vẻ lo lắng, ở trong góc một người đàn bà đang quằn quại rên la một cách tuyệt-vọng. Trong khi mọi người bu quanh chăm chú và nghiêm-nghị nhìn anh Thức khám bệnh như nhìn một phù thủy đang làm phép, anh Thức bình tỉnh khám thấy rằng đó là một trường hợp song thai, hai đứa bé ôm quàng lấy nhau mà lại nằm ngang, không đẻ ra bằng đường tự-nhiên được. Phải chở đi bệnh-viện để mổ lấy con ra, nhưng anh Thức quên rằng chuyện đó không thể có được ở đây. Không làm gì hơn được, anh bèn tạm thời dẹp sách vở qua một bên mà cố gắng xoay một đứa cho cái đầu ở vị trí thuận-lợi để ra trước, rồi đến đứa kia, cuối cùng được mẹ tròn con vuông, trong sự rối rít cám ơn của mọi người mà trước đó đã được học tập để coi chúng tôi như những kẽ ác ôn, lúc nào cũng sẳn sàng "cho một mũi tên độc".

Từ đó các cô gái Mường trong bản cũng tự -nhiên hơn, cưới đùa mỗi khi tắm suối mà có chúng tôi đi lao động ngang qua, có khi còn chọc ghẹo nửa. Có anh trong phút chốc bốc đồng đã quên mình là tù đang đói rách, cũng gồng mình nhảy xuống tắm theo, chỉ tiếc là không có sẵn cục xà bông để tặng mấy cô Mường, lúc đó hẳn là muôn phần quý giá hơn cả viên kim cương đem tặng đào ở Sài–gòn nửa. Về sau mỗi cô gái Mường lại đươc đặt cho cái tên của một ca sĩ nổi tiếng, nào là Mai-Lệ-Huyền, Phương-Dung, Giao-linh, Phương-Hồng-Quế v…v…, để rồi lúc chiều về, trong khi ngậm-ngùi nhai từng hột bo bo, thường kể cho nhau nghe rằng hôm nay đi rừng gặp được ca-sĩ nào, ai nghe tưởng như mới đi phòng trà về mà tạm quên trong giây lát cái cảnh nước sông công tù mình đang sống.

Một hôm, một cô giáo hớt ha hớt hãi tìm tới chúng tôi, vì chồng cô, một bộ đội công-tác ở trong Nam được về nghỉ phép, bổng nhiên thấy mình mẩy nổi mề-đay lên đỏ rần, ngứa khắp cả người. Chúng tôi đoán là bị dị-ứng với trứng gà, vì thường ngày đi lao-động ngang qua trường học, thấy cô giáo cứ o bế mấy con gà để chờ ngày chàng về mà bồi-dưởng. Chúng tôi bèn lục lạo đươc mấy viên thuốc Phénergan đưa hết cho cô.

Mấy hôm sau đi lao-động gặp lại, chúng tôi hỏi : "Sao ? Anh nhà đã đở chưa ?" Cô vui vẻ trả lời : "Thuốc các anh cho hay quá, khỏi ngay". Chưa kịp hỏi thêm thì bổng thấy cô cúi mặt e thẹn, ấp úng nói thêm như không muốn cho chúng tôi nghe: " Nhưng ngủ li bì, về phép có năm ngày mà ngủ như chết suốt cả năm ngày" .Chúng tôi hối hận vì đã cho thuốc ngủ mà không dặn trước, làm cho cô phải bỏ lở một cơ-hội bằng vàng !

Thế rồi trạm-xá càng ngày càng đông khách, dân chúng từ xa cũng nghe đồn kéo lại để cho trạm-xá được hoạt-động đúng với danh-nghĩa y tế của nó. Thiện-cảm và uy -tín càng tăng thì, ngược đời thay, cấp chỉ-huy Trại càng lo lắng. Cuối cùng, Uỷ-viên Chính-trị trên Đoàn lập tức ra lệnh không được khám bệnh cho dân nửa, vì trái với chính-sách, và ný-nuận rằng từ mấy ngàn năm nay họ đã chửa trị bằng lá rừng thì đã sao đâu !

Chúng tôi trở lại lao-động, cũng đốn vầu đốn nứa như những anh khác.

Phải cái tội cao giò, tôi thường được chọn đi công tác gánh hàng ở xa, để gánh luôn tất cả tủi nhục của kiếp làm… tôi mọi. Buổi sáng ra đi thì còn dể chịu, trời mát, gánh nhẹ. Nhưng buổi trưa lúc trở về, trời nắng gắt miền núi như đốt cháy da, lại phải leo đèo, mồ hôi chảy giọt, bụng đói cồn cào, cái đầu nặng trỉu, chiếc đòn gánh đè nặng trên vai đang nghiền nát da thịt như những con dao. Người cán-bộ đi theo cũng không quên máng thêm vào chiếc nón cối, cái áo trấn-thủ mà hồi sáng mang trong người vì trời lạnh, nay không cần nửa thì tội gì mà không để cho rảnh tay, vì tay đang bận cầm cây roi, một thứ thời trang của cán-bộ quản-giáo khi đi bên cạnh tù. Đã thế mà khi gặp một bạn đồng-hành, cán-bộ cũng không quên niềm-nỡ mời :"Đồng-chí có mang gì không, đưa cho nó gánh luôn". Tôi nghe mà rụng-rời, mắt hoa lên mà không dám nhắm lại vì sợ ngả sẽ không bao giờ dậy lại được, cũng không dám nhìn xa hơn mấy đầu ngón chân vì sợ không đủ can-đảm để bước thêm...

Một hôm vì nhu-cầu cấp-cứu một bệnh-nhân tù đang nguy kịch, tôi được cử theo một cán-bộ đến bệnh-viện Phù-yên để xin mấy chai nước biển. Đã lâu bị giam hãm giữa bốn bức tường núi, nay được dịp thấy lại làng mạc với cảnh sinh-hoạt của nhân-dân, lòng cũng không khỏi thích-thú vì tầm mắt đươc hé rộng ra một chút và thỏa -mãn thêm tánh tò mò nghề-nghiệp muốn biết tổ-chức y-tế miền Bắc ra sao mà các "đồng-nghiệp " đề cao như là đúng hàng đầu trên thế-giới.

Huyện Phù-yên thuộc tỉnh Sơn La, nằm giữa một thung-lũng nhỏ, bốn bề là núi nhưng rất nên thơ. Từ trại tới huyện phải đi qua ngọn đèo Bang xinh xinh, có con đường mòn uốn quanh, có hoa rừng thơm ngát. Từ trên nhìn xuống gần giống như một bức tranh Tàu, mờ mờ ảo ảo., rải rát nơi nơi là nhũng túp lều lụp xụp bám theo sườn núi.. Bước vào huyện phải qua một con suối lớn, mùa khô thì chỉ là một suối đá hiền-hòa thơ-mộng, nhưng khi mưa xuống thì trở nên một thác lũ kinh-hoàng. Bắt ngang qua suối là một cây cầu treo, gió thổỉ đu đưa, mà lại được anh em tù gán cho cái tên rất hấp-dẩn để cho trí tưởng-tượng được nâng cao là cầu Golden Gate. Mỗi khi gánh hàng qua Golden Gate, tôi có cảm-tưởng như mình đang là một nghệ-sĩ đu giây trong một đoàn xiệc mà có thể hụt tay bất cứ lúc nào..

Bên kia cầu là một túp lều không vách, gió lộng bốn phía, đó là trường học với dăm bảy em bé ốm tong teo, bụng ỏng thề lề, mỗi đứa cầm một que củi đang cháy quơ qua quơ lại trước người cho đở lạnh trong những bộ áo Mường mỏng manh. Trong khi các em nghêu ngao hát bài "Hôm qua em mơ thấy Bác Hồ...." thì cô giáo đang chăm chú ngồi vá áo, mắt đăm chiêu, hình như cũng đang mơ thấy những chuyện mà dĩ-nhiên khác hơn là thấy Bác Hồ. Hình ảnh đó làm cho tôi có cảm tưởng rằng Cụ Cao-Bá-Quát đã đi ngang qua đây để cảm-hứng mấy câu thơ:"Một thầy một cô một chó cái, Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi."

Bên cạnh trường là một cái "cối giả gạo" có lẽ đã được sáng chế từ đời vua Thần Nông. Nước từ con suối nhỏ đươc dẩn qua một máng xối đục từ một thân cây, chảy xuống một thân cây dài khác, một đầu là cái chày, đầu kia đục thành một máng chứa nước. Hể máng đầy nước thì cái chày tự -động ngóc lên, rồi nước bị đổ ra ngoài để cho chày giả xuống cái cối ở đằng trước. Cứ thế mà tiếp-tục, cối cứ giả ngày giả đêm, tạo nên một tiếng đập nhịp nhàng khô khan để đánh thức cô giáo và lủ học trò khỏi ngủ gật.. Năm thì mười họa, một năm vài lần cối mới có gạo để giả, vì dân phải đóng cho nhà nước hết ba phần tư số thu hoạch, vốn đã nghèo nàn trên những mãnh ruộng bằng bàn tay xếp thành từng tầng trên sườn núi.

Khi đến cổng bệnh-viện, tôi được chứng-kiến một cảnh tấp-nập khác thường, nghỉ bụng rằng chương-trình y-tế ở đây đã thành-công vì được dân-chúng hưởng-ứng đông đảo. Mọi người bu quanh một tấm bảng, hình như để theo dỏi một thông-báo gì quan-trọng của bệnh-viện về một biện-pháp y-tế nào đó chăng. Lại gần, tôi thấy rõ thông-báo như sau "Hôm nay bệnh-viện có mổ lợn, bán theo giá chính-thức. Đồng-bào nào muốn mua xin ghi tên ở phòng ngoại-chẩn". Tôi suýt té ngửa vì sau bao nhiêu năm hoạt động trong ngành y- tế tôi vẫn chưa biết được rằng cung-cấp thực-phẩm cho dân chúng cũng là một khía cạnh trong chương-trình y-tế.

Trái với cảnh xôn-xao ngoài cổng, trong bệnh viện lại vắng tanh. Tìm cho ra người thủ-kho để xin thuốc thì được biết cô gái Mường này bận đi hái bông lau về làm nệm để tặng một cô bạn gái sắp về nhà chồng, một tục-lệ không thể bỏ được của người Mường. Lân la mãi mới gặp được bác-sĩ trực, vị này không mấy niềm-nỡ vì đang bận cải-hoạt (có nghĩa là cải-tiến sinh-hoạt để cho đời sống vui tươi hơn) bằng cách ngốn nghiến mấy củ khoai. Bác-sĩ trực cho biết "Chỉ có bác-sĩ thủ-trưởng mới có quyền quyết-định, nhưng bác-sĩ đang bận mổ."

Tôi thất-vọng chán chường, nghỉ đến bệnh-nhân ở trại đang hấp-hối mong chờ mấy giọt nước hồi-sinh, nghỉ đến con đường về vừa nắng gắt vừa phải leo giốc, nghỉ đến cái dạ-dày đang cồn-cào vì sáng nay không may đọc được mấy chữ "thịt lợn" trên bảng thông-cáo mà nước bọt cứ chảy dài (chẳng lẽ tôi lại biến thành con chó của Pavlov, hể nghe tiếng chuông là dịch tiêu -hóa cứ tuôn chảy, rồi hay sao?) Tôi buồn rầu thất vọng, không biết bao giờ bác-sĩ trưởng mới mổ xong, vã lại áo quần lem-luốc thế này làm sao gặp được bác-sĩ ở khu giải -phẩu. Tôi đánh bạo tìm đến bác-sĩ trực hỏi : "Thế tôi có thể gặp bác-sĩ thủ -trưởng được không ?"

Lần này vị y-sĩ trực vui vẻ trả lời (vì đã ngốn xong mấy củ khoai): " Được chứ, có gì đâu, anh ấy đang bận mổ lợn dưới ao đấy mà". Tôi như từ cung trăng rơi xuống !

Quả nhiên, cách đó không xa, cạnh bờ ao, năm ba người đang bao quanh một con lợn đã cạo lông trắng nõn nằm trên một tấm thớt lớn. Trong khi đó, bác-sĩ thủ-trưởng bệnh-viện, mình trần, quần xắn tới bẹn, áo bờ-lu vắt ở hàng rào, đang nhanh nhẹn ra tay mổ bộ đồ lòng với tất cả sự nhanh nhẹn và khéo léo của một...đại giải -phẩu gia. Lẽ tất nhiên tôi phải chờ cho ông bạn đồng-nghiệp thanh toán xong con lợn để giải -quyết cho mấy chai nước biển rồi mới hân-hoan ra về. Ra tới cổng, tôi gặp lại đám dân-chúng cũng đang hân hoan thở phào nhẹ nhõm như tôi khi được tin bác-sĩ đã mổ xong.... lợn.

Trên đường về, lần này chiếc đòn gánh đè nặng lên vai không còn cho tôi cảm-giác đau đớn như trước nửa, vì đầu óc tôi đang bị ám-ảnh bởi một ý-tưởng muôn phần nặng-nề hơn, vì tôi đã nhìn thấy được sự thật, đã chứng-kiến tận mắt một hiện-tượng sinh-hoạt phản-ảnh lối sống của những "đồng-nghiêp" bên kia bức màn tư-tưởng.

Phương-vũ VÕ Tam-Anh.

In Văn Hóa, Quán Chiếu, Giáo Dục Tags Hồi Ký Của Một Bác Sĩ, Võ Tam Anh
Comment

Ngựa (BÁT SÁCH)

March 2, 2026 Ninh Tran

Ngựa


Một kỷ có 12 con giáp. Mỗi độ xuân về, các báo thi nhau viết về con giáp của năm sắp tới, và Tập San Y Sĩ cũng không tránh khỏi thông lệ đó.


Bát Sách đã viết hai bài về con dê và con trâu; Năm Mùi Bát Sách cà kê dê ngỗng đủ thứ để chọc cười thiên hạ. Năm Sửu, Bát Sách tản mạn về mấy câu ca dao tục ngữ có liên quan tới con trâu. Sang năm Ngọ, Bát Sách vừa đủ một giáp, lên lão, nên lại viết một chút về con giáp mà mình cầm tinh. Bát Sách không nhắc tới ca dao tục ngữ, không nói đến các giống ngựa hay như ngựa Đại Uyển, ngựa Mông Cổ, mà viết về những con ngựa nổi tiếng trong lịch sử và tiểu thuyết.


Trong thần thoại Hy Lạp, người ta kể chuyện con ngựa thành TROIE. Hồi đó, đế quốc Hy Lạp vây thành TROIE đã 10 năm mà không hạ nổi. Sau, Ulysse dùng mưu, làm một con ngựa thật lớn, rỗng bụng, để các dũng sĩ núp ở bên trong, rồi giả thua, cho Hector chiếm ngựa đem vào thành. Đêm đến, Ulysse cùng các chiến hữu chui ra, giết quân canh, mở cổng thành để quân Hy Lạp tràn vào. Thành TROIE bị chiếm, và người đẹp Hélène qua tay người khác.


Ở Việt Nam, ai cũng biết con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên Vương, người anh hùng đã đánh đuổi giặc Ân, cứu nước. Phù Đổng Thiên Vương được quân lực Việt Nam Cộng Hòa tôn vinh làm Thánh tổ của ngành thiết giáp, binh chủng xung kích mũ đen rất hào hùng mà Bát Sách đã hãnh diện phục vụ trong 2 năm đầu của đời quân ngũ.


Đời Trần, sau khi oanh liệt đánh bại quân Mông Cổ lần thứ hai, Thánh Tông và Nhân Tông trở về đế đô hoang tàn, thấy những con ngựa đá ở hoàng thành cũng tang thương, vương đầy bùn đất, tưởng tượng rằng ngựa đá cũng vì dân vì nước mà tham chiến chống ngoại xâm; Thượng hoàng Thánh Tông đã cảm tác 2 câu thơ:


Xã tắc lưỡng bồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.


Xã tắc hai phen bon ngựa đá

Non song muôn thủa vững âu vàng.


Trung Hoa, xứ của những huyền thoại, có rất nhiều con ngựa nổi tiếng. Trong Anh hùng xạ điêu, Quách Tĩnh cưỡi Hãn huyết bảo câu - Bát Sách nghĩ phải gọi là Huyết hãn bảo câu mới đúng, vì con ngựa nầy có mồ hội đỏ như máu. Hình như đó là một loại ngựa Mông Cổ đặc biệt, vóc nhỏ nhưng khỏe và chạy rất nhanh, nên tuy chở cả 2 vợ chồng Quách Tĩnh, Hoàng Dung mà các ngựa khác không theo kịp. Cặp vợ chồng này sát cánh nhau, len lỏi trong chốn giang hồ, nhờ Huyết hãn bảo câu mà nhiều phen thoát hiểm.


Thuyết Đường là một bộ tiểu thuyết, nửa lịch sử, nửa hoang đường, trong đó có nói tới 2 con ngựa rất đặc biệt:


Hô lôi báo là ngựa của Thượng Sư Đồ, tướng nhà Tùy. Con ngựa này đuôi sư tử, lông loang lổ như lông báo, cái bướu trên đầu có chùm lông trắng. Khi giao tranh, nếu bất lợi, Thượng Sư Đồ nhổ một sợi lông trên bướu, Hô lôi báo sẽ gầm lên như sấm, phun khói đen mù mịt, làm ngựa của đối phương ngã lăn ra. Tần Thúc Bảo, tướng nhà Đường, nhiều lần dùng mưu mới cướp được Hô lôi báo- Trình Giảo Kim, bạn Tần Thúc Bảo, vì thù Hô lôi báo làm mình ngã ngựa, đã lén nhổ hết chùm lông trắng nên nó hầu như bị câm, cả đời chỉ gầm thêm được có 3 lần.


Mộc vĩ câu là ngựa của Tả Hùng, đại tướng Cao Ly. Ngựa nầy không có đuôi- khi chủ vỗ mông thì nó thét lên một tiếng, và lòi cái đuôi cứng như gỗ, dài hơn một trượng, bất thần quật vào đối phương. Trong trận tranh võ trạng ở Dương Châu, Ngữ Vân Thiệu là anh hùng thứ 5 đời Tùy Đường, bị đuôi của Mộc vĩ câu đập chết. Khi đó, Tần Thúc Bảo cưỡi Hô lôi báo ra đấu với Tả Hùng. Anh này cũng dùng miếng cũ định giết đối phương, nhưng Thúc Bảo, vì đã đề phòng nên tránh thoát. Đuôi của Mộc vĩ câu đánh trúng đầu Hô lôi báo. Hô lôi báo đau quá, gầm lên một tiếng, Mộc vĩ câu ngã lăn ra, quăng Tả Hùng xuống đất : chủ và ngựa đều bị Thúc Bảo đảm chết.


Thời Hán Sở tranh hùng, nổi tiếng nhất là ngựa Ô Truy của Hạng Vũ. Con ngựa này liên quan đến một thiên tình sử tuyệt đẹp, vừa hào hùng, vừa bi thảm. Ngày đó Hạng Vũ còn trẻ tuổi, chưa có tiếng tăm gì, nhân đi qua thôn Nam-Phụ, đã giúp dân trừ một con quái vật thường đến giết người và phá hoại mùa màng. Thật ra, quái vật đó chỉ là một con thần mã rất cao lớn, hùng dũng, lông đen tuyền mà Hạng Vũ đặt tên là Ô Truy. Vì tướng mạo oai phong, vì tài nghệ siêu quần, vì có công với dân làng mà Hạng Vũ lọt vào mắt xanh của người đẹp Ngu Cơ, và hai người nên duyên cầm sắt. Trong suốt thời gian chinh chiến, tranh hùng với Lưu Bang, Hạng Vũ với Ngu Cơ lúc nào cũng sát cánh như hình với bóng.


Tại Cai Hạ, Hạng Vũ bị quân Hán vây khổn, nhưng binh lực chưa đến nỗi kiệt quệ. Với tài vũ dũng của mình, Hạng Vũ vẫn có thể phá vòng vây, trốn thoát để chờ ngày phục hận. Đêm đó, trời thu buồn man mác, sương lạnh mịt mờ, chợt có tiếng tiêu của Trương Lương (tướng Hán) văng vẳng từ xa vọng lại, tiếng còn, tiếng mất rất bi ai não nùng, toàn những điệu ca buồn của nước Sở. Quân của Hạng Vũ, vốn người Sở, nghe tiếng tiêu động tình hoài hương từ từ bỏ trốn hết... Lúc gần sáng, Hạng Vũ chỉ còn hai tướng Chu Lan, Hoàn Sở và 800 đệ tử ở bên mình.


Hạng Vũ sai bầy tiệc, cùng Ngu Cơ đối ẩm. Lúc đó, Hạng Vũ dường như nản chí, tuyệt vọng, than thở cùng Ngu Cơ:


Lực bạt sơn hề ! khí cái thế.

Thời bất lợi hề ! Truy bất thệ,

Truy bất thệ hề ! khả nại bà ? Ngu hề !

Ngu hề ! nại nhược hà ?


Cụ Tản Đà dịch như sau:

Sức nhổ núi chừ! Hùng khí đời ai bì

Thời không lợi chữ! Con ngựa Truy không đi.

Ngựa Truy không đi chừ! Biết làm sao ?

Ngu Cơ chứ! Ngu Cơ. Tính làm sao?


Ngu Cơ họa lại trong tiếng nấc nghẹn ngào:

Hán binh dĩ lược địa,

Tứ diện Sở ca thanh.

Đại vương chí khí tận.

Tiện thiếp bà tiêu sinh ?


Bài này, Bát Sách mạn phép dịch thoát theo thể lục bát:

Hán binh làm chủ chiến trường

Điệu ca nước Sở bốn phương não nùng

Đại vương chí khí đã cùng

Thiếp xin liều thác tạ lòng tri âm.


Sau đó Ngu Cơ tự sát bằng chính thanh gươm của Hạng Vũ. Hạng Vũ đau đớn phẫn hận, nhảy lên Ô Truy, phá 8 vòng vây quân Hán mà không ai địch nổi. Hai tướng thân cận bị vây khổn, đã liều mình, các đệ tử cũng lần lượt gục ngã. Chiều tối, khi chạy đến một ngôi chùa hoang, Hạng Vũ chỉ còn 9, 10 đệ tử. Để Ô Truy nghỉ ngơi, Hạng Vũ cặm cụi mài gươm, chuẩn bị cho cuộc chiến mất còn sắp tới. Sáng ra, quân Hán trùng trùng điệp điệp reo hò đuổi theo. Hạng Vũ vừa chiến đấu vừa chạy đến Ô Giang. Có người đình trưởng đậu thuyền đợi Hạng Vũ, khuyên Hạng qua sông. Thấy tình hình đã tuyệt vọng, nhưng với tinh thần bất khuất, Hạng quyết định ở lại tử chiến, đem ngựa Ô Truy tặng đình trưởng. Ô Truy nhìn chủ, mắt buồn vời vợi... Khi thuyền đến giữa sông, nó nhẩy xuống nước trầm mình, Hạng Vũ sau đó cũng tuẫn tiết. Bên bờ Ô giang, còn ma kiếm thạch là nơi Hạng Vũ mài gươm. Nơi phần mộ của Ngu Cơ, mọc lên một loại cỏ xanh tuyệt đẹp, gọi là Ngu mỹ nhân thảo. Người sau gọi mộ Ngu Cơ là Thanh trủng, vì ở đó cỏ màu xanh, trong khi ở chung quanh toàn là cỏ màu vàng.


Đời Tam Quốc, có Đích Lư và Xích Thố


ĐÍCH LƯ là con ngựa cao lớn, vạm vỡ, cực kỳ hùng dũng của Trương Vũ. Trương bại trận, Triệu Vân cướp được ngựa, dâng cho Lưu Bị là chủ tướng của mình. Lưu Bị lúc đó còn hàn vi, nương nhờ Lưu Biểu nên lại đem ngựa dâng Biểu. Biểu thích lắm đi đâu cũng cưỡi. Có người xem tướng ngựa giỏi là Khoái Việt tâu với Biểu:


Con ngựa này, dưới mắt có vũng chứa lệ, trán có điểm trắng, chính là giống Đích lư hại chủ, chúa công không nên cưỡi.

Biểu nghe vậy, sợ lắm, đem Đích lư trả lại Lưu Bị. Có người đem lời Khoái Việt mách với Lưu Bị, Bị khẳng khái trả lời:

Tiên sinh yêu mà dạy cho, Bị xin thâm cảm tấm lòng; nhưng nghĩ người ta sống chết có số mạng, há một con ngựa có thể hại nổi.


Bị tuy được Biểu tín cẩn, nhưng vợ Biểu và các tướng chỉ muốn giết Bị để trừ hậu hoạn, vì họ biết Bị là tay anh hùng, có chí lớn. Một lần, các tướng của Biểu đuổi gấp, Bị một mình một ngựa chạy tới Đàn Khê thì đường cùng. Bị giục ngựa xuống khe, tính lội qua thì ngựa sa lầy, Bị đã than:


Mày thật là giống hại chủ. Đích lư, Đích lư hôm nay hại ta rồi !

Ngựa bỗng vọt lên, nhảy qua khỏi Đàn Khê. Bị thoát nạn và gặp Tư Mã Huy, người đã giới thiệu cho Bị sau này tìm được Phục Long Gia Cát Lượng và Phượng Sồ Bàng Thống là hai quân sư đại tài. Tiếc rằng truyện không nói Đích lư về sau ra sao. Khi vào chiếm Tây Thục, Bị đã đổi ngựa cho Bàng Thống lúc xuất quân, Thống và ngựa đều bị loạn tên mà thác ở Lạc Phượng Ba. Chả hiểu con ngựa chết đó có phải Đích lư hay không?


XÍCH THỐ: Là con ngựa toàn thân đỏ như lửa, không một sợi lông tạp màu, dài một trượng, cao 8 thước, oai dũng như rồng như hổ, ngày đi ngàn dăm. Xích Thố vốn của Đổng Trác, chức Thái sư nhà Hán. Lúc đó, Đổng Trác đang kình địch với Đinh Nguyên, cha nuôi của Lã Bố. Bố là người rất khỏe, nhưng hữu dũng vô mưu, lại bất nhân bất nghĩa nên Lý Túc, bộ hạ của Trác, khuyên Trác đem Xích Thố tặng Bố để dụ hàng. Quả nhiên, Bố giết Đinh Nguyên, theo Trác, và lại nhận Trác làm cha nuôi. Sau Tư Đồ Vương Doãn dùng mỹ nhân kế, cho Điêu Thuyền quyến rũ cả Trác lẫn Bố để hai tên này ghen mà giết nhau. Kẻ bất nghĩa Lã Bố, một lần nữa, lại giết cha nuôi là Đổng Trác. Sau đó loạn lạc lung tung. Khi Lã Bố bị Tào Tháo, lúc đó là Thừa tướng nhà Hán, giết chết, Xích Thố về tay Tháo.


Quan Công, em kết nghĩa của Lưu Bị, khi bị Tháo vây khốn ở Thổ Sơn, thế cùng lực kiệt phải đầu hàng. (Quan Công tên Vũ, trước khi kết nghĩa với Lưu Bị làm nghề bán đậu hũ, được dân Tàu kính trọng, kiêng tên nên gọi như vậy). Tháo vốn yêu tài Quan Công nên rất hậu đãi, 3 ngày một tiệc nhỏ, 5 ngày một tiệc lớn và đem tặng con ngựa Xích Thố. Lúc đó, Lưu Bị thất lạc, Quan Công phải bảo vệ gia đình nghĩa huynh, phò nhị tẩu, vợ của Bị là Cam và My phu nhân. Tháo vốn là tay thâm hiểm, để Quan Công ở chung nhà với chị dâu, tạo dịp cho xẩy ra việc loạn luân. Theo truyền thuyết, đêm đêm, Quan Công chẻ cây nến làm hai, một nửa để phòng nhị tẩu, một nửa để phòng mình, đọc sách. Khi Quan Công dò được tin Lưu Bị, ông treo ấn “Hán Thọ Đình Hầu” ở giữa nhà, quá ngũ quan, trảm lục tướng, vạn dặm tìm nghĩa huynh.


Khi thế chân vạc đã thành 3 nước là Ngụy (Tào Tháo), Ngô (Tôn Quyền), Thục (Lưu Bị) chia 3 nước Tàu, sử gọi là thời Tam quốc. Quan Công trấn thủ Kinh Châu 20 năm, sau bị tướng Ngô là Lã Mông, Lục Tốn dùng mưu, cướp Kinh Châu, Quan Công thua, chạy về Mạch Thành. Trên đường vào Thục, Quan Công bị phục kích. Quân Ngô dùng thừng và mác móc chân Xích Thố, Quan Công ngã ngựa bị Mã Trung bắt được. Xích Thố lúc đó về tay Mã Trung, nhưng ngựa thương chủ bỏ ăn mà chết.


Quan Công với xích thố, và Quan Bình, Chu Xương có rất nhiều huyền thoại. Dân Trung Hoa thờ ông khắp nơi. Đôi câu đối nói về ông rất được truyền tụng:

XÍCH diện bỉnh XÍCH tâm, kỵ XÍCH thố truy phong, trì khu thời vô vong XÍCH đế.

THANH đăng quan THANH sử, trượng THANH long yểm nguyệt, ẩn vi xứ bất quý THANH thiên.

(mặt đỏ như lòng son, cưỡi ngựa xích thố truy phong, rong ruổi nơi đâu cũng không quên xích đế (vua Hán). Bên đèn xanh, đọc sử xanh, cầm đao rồng xanh vành nguyệt, dù ở nơi vắng vẻ nào cũng không thẹn với trời xanh).


Viết đến đây, Bát Sách nghe lòng bùi ngùi. Đọc lại sách vở, người ta có khi buồn man mác, có khi phẫn hận, có khi thương cảm, có khi băn khoăn tự hỏi tại sao định mệnh trớ trêu để dòng lịch sử có trăm điều ngang trái.


Hạng Vũ với Lưu Bang chẳng hạn. Các sử gia thường cho rằng, Hạng Vũ vì bất nhân, tàn bạo nên thất bại, Lưu Bang vì nhân nghĩa mà thành công. Sự thật chưa hẳn đã đúng như vậy. Người ta trách Hạng Vũ đã chém Tống Nghĩa và giết Nghĩa đế. Tống Nghĩa là đại tướng, có nhiệm vụ cứu nước Triệu, nhưng chần chờ không chịu tiến quân, Hạng Vũ chém Tống đem quân cứu được nước Triệu. Chém một người mà cứu được cả nghìn người khỏi bị chết oan vì chiến bại, đó chính là quyết định hợp thời của một đại tướng có tài. Nghĩa đế là một đứa trẻ, dòng dõi vua Sở, được Hạng Lương, chú của Hạng Vũ, tôn lên làm vua. Trong khi Hạng Vũ xông pha trận mạc, trăm chết một sống, để cướp đất chiếm thành thì Nghĩa đế ngồi hưởng phú quý, lại còn lên mặt tác oai tác phúc thì nếu ở địa vị Hạng Vũ, mọi người bình thường có lẽ cũng sẽ làm như vậy. Vũ giết Nghĩa đế cũng như vua Lê Thái Tổ của ta giết Trần Cao mà thôi. Sự thể nó phải như vậy, có chỉ mà gọi là ác.


Nếu Hạng Vũ bất nhân thì đã giết chết Lưu Thái Công và Lã hậu, là cha và vợ của Lưu Bang, khi hai người này lọt vào tay Hạng, và chính Lưu Bang cũng không toàn mạng khi hội yến ở Hồng Môn. Lưu Bang nhân ở chỗ nào ? Khóc Nghĩa đế, khóc Hạng Vũ, chỉ là nước mắt cá sấu. Nếu Bang có nhân có nghĩa, thì đã không giết Hàn Tín là người có công lớn trong việc tranh bá đồ vương của mình. Lưu Bang cũng như cộng sản ngày nay, toàn lên giọng giả nhân giả nghĩa, vì nước vì dân để lừa thiên hạ. Hạng Vũ thua chỉ vì không có mưu thần phò tá. Lưu Bang thắng nhờ công sức của Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà.


Giờ đến truyện Quan Công. Ông là bố nuôi của Bát Sách. Số là ngày xưa, song thân của Bát Sách sinh được 2 gái rồi bằng đi 5 năm, không sinh nở gì nữa. Các cụ thường nói “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại” nghĩa là bất hiếu có 3 không con nối dõi là tội lớn nhất. Song thân Bát Sách lúc đó rất lo buồn. Nhờ một bác sĩ Pháp là Paterson điều trị, thân mẫu Bát Sách khỏi bệnh nên mới có người viết bài ngày nay ! Song thân của Bát Sách đâu biết rằng, sau Bát Sách còn mấy thằng em trai nữa, nên khi Bát Sách ra đời, hai cụ bèn đem Bát Sách lên đền Quan Thánh, tức là đền thờ Quan Công, bán Bát Sách cho ông để ông bảo vệ. Tuy là con nuôi Quan Công, nhưng đọc Tam Quốc Chí thấy họ khen Quan Công quá mức, những chỗ khen nhiều khi gượng gạo làm Bát Sách cũng thấy khó chịu. Họ khen ông trung nghĩa, nhưng khi thất trận ở Thổ Sơn, ông đã hàng Tào Tháo. Một trong những điều kiện ông đưa ra là “Hàng Hán chẳng hàng Tào”. Lúc đó, ông đang phò Lưu Bị, còn Tào Tháo là Thừa tướng nhà Hán. Dù Tào Tháo lộng hành, ép chế vua Hán, điều kiện của ông vẫn có vẻ ấu trĩ và hoạt kê. Họ khen ông là quang minh chính đại, phò nhị tẩu mà không làm điều ám muội. Thời gian ông thất lạc với Lưu Bị, cùng nhị tẩu ở Hứa Xương là 12 năm ! Thời gian này quá dài, liệu ông có giữ được cho mình trong trắng?


Bát Sách hỏi như vậy là có lý do. Theo “Tam Quốc ngoại truyện” La Quán Trung, tác giả Tam Quốc, khi viết đến đoạn Quan Công phò nhị tẩu, đã viết không giống với truyện ta đọc ngày nay. Một đêm, họ La mơ thấy Quan Công hiện về khẩn khoản “xin tiên sinh nhẹ tay nên họ La mới xé hết đoạn đã viết và viết lại. Có thể Quan Công là một tướng tài (trấn thủ Kinh Châu 20 năm), rất can đảm (để Hoa Đà mổ tay, nạo xương mà không cần thuốc tê) nhưng ông tự cao tự đại một cách quá đáng. Chẳng hạn, khi Tôn Quyền cho người sang cầu thân, xin cưới con gái Quan Công cho con trai mình, Quan Quân đã mắng sứ giả:


Con gái ta là giống hùm, ai gả cho giống chó.

Mà lúc đó, Tôn Quyền làm vua nước Ngô, còn Quan Công tuy trấn thủ Kinh Châu, nhưng xuất thân chỉ là người bán đậu hũ. Lại nữa, lúc thua trận, chạy thất điên bát đảo tới Mạch Thành, tìm đường về Thục, các tướng khuyên đi đường nhỏ để tránh phục binh, Quan Công còn nói: dẫu có phục binh, ta há sợ gì ?


Sơ sơ thế thôi, Bát Sách không dám viết nhiều, sợ mang tội bất hiếu với nghĩa phụ.


Đang nói về ngựa mà lại xoay qua tản mạn về người và việc thì quả nhiên Bát Sách vẫn còn...bát sách.


Trở lại chuyện ngựa. Hết ngựa hay thì đến phiên 3 con ngựa hèn là Bát Văn, Bát Vạn và Bát Sách. Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã nên 3 con ngựa này mới gắn bó với nhau. Hồi ở Việt Nam cả 3 tung vó từ Bắc vào Nam, chạy cùng trời đất. Sau ngày quốc hận, lại vượt biển tới Mỹ châu. Đang là ngựa hoang, tự do phơi phới, giang hồ quen thói vẫy vùng, nhất đán bị đeo hàm thiếc, tròng dây cương, bịt mắt. Ngựa hoang bèn thành ngựa kéo xe ! Ngựa Bát Văn còn đỡ, được chủ khéo nuôi, có da có thịt. Ngựa Bát Vạn và Bát Sách thì than ôi, gầy trơ xương, ngày ngày khập khễnh kéo xe thổ mộ. Mỗi khi nhìn bức tranh “Thiên mã hành không” con ngựa què về già không khỏi ngậm ngùi nhớ về dĩ vãng.


Nhưng thôi, năm ngựa tới rồi, xin chúc quý vị khỏi phải làm thân trâu ngựa, và chúc cho các ngựa khác đỡ phải kéo xe: mà ví dầu có phải kéo xe đi nữa thì đừng có ai nhè bánh xe mà thọc gậy.


BÁT SÁCH

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Ngựa, Bát Sách
Comment

CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ (VŨ THẾ THÀNH)

March 2, 2026 Ninh Tran

  1. Tôi không hiểu sao, tiếng Việt mình gọi là tình mẫu tử, tình phụ tử - chữ tình bao hàm bản năng trong đó, không thể tách rời. Nhưng hiếu thảo lại là - "lòng" hiếu thảo. Chữ "lòng" mang tính tự nguyện, nên hiếu thảo là lựa chọn của tâm, không phải nghĩa vụ. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học. Tôi chỉ cảm nhận như thế.

   Lòng hiếu thảo có tính phổ quát, dù là tự nguyện, thì hiếu thảo ở đâu, phương Đông hay phương Tây gì cũng thế. Chỉ có điều thể hiện khác nhau.

   Câu chuyện ấy khiến tôi nghĩ, có lẽ mỗi nền văn hóa có một cách riêng để thể hiện lòng hiếu thảo. Tôi đọc được status của một phụ nữ Mỹ chia sẻ chuyện cô đến thăm mẹ ở viện dưỡng lão. Cả tuần cô mới sắp xếp được một ngày đến thăm, tuần nào cũng thế. Khi cô đến, bà cụ đã ngồi chờ sẵn ở sân viện. Hai mẹ con chuyện trò đủ thứ. Khi cô về, bà cụ cũng ngồi ở sân viện, dõi mắt trông theo. Cô lên xe, ngoái lại, vẫn thấy cụ đang nhìn theo. Cô chia sẻ điều này trên Facebook, bằng giọng văn viết vội, không đầu không đuôi, lại sai chính tả. Cô bị ám ảnh bởi đôi mắt "trông theo" của mẹ.

   Tôi cũng bị ám ảnh khi đọc những dòng chia sẻ của cô. Tôi nhớ lại đôi mắt của mẹ tôi, cũng dõi nhìn tôi như thế, khi tôi phải đi công tác xa vài ngày, trong những ngày tháng bà bệnh nặng. Bà sợ không kịp nhìn thấy tôi lần cuối trước khi qua đời.

   Với phương Tây, lòng hiếu thảo không đồng nghĩa với "ở cạnh và tự tay chăm sóc". Bác sĩ và điều dưỡng có chuyên môn chăm sóc tốt hơn. Điều này rất thực tế. Đi làm cả ngày, có khi đi công tác xa, chăm sóc thể nào được, khi tuổi già mong manh.

   Hiếu thảo là làm thế nào để cha mẹ được chăm sóc đúng cách, tự quyết định mà không lệ thuộc con cái. Con cái chỉ cần thỉnh thoảng tới thăm. Và nếu cần, hỗ trợ viện phí cho nhà dưỡng lão.

  Ở ta, ảnh hưởng văn hóa Nho giáo, lòng hiếu thảo bị ràng buộc nặng nề bởi đạo lý và xã hội, và cả sự kỳ vọng của cộng đồng. Chút tiền trợ cấp, theo pháp luật, không nói lên điều gì về hiếu thảo. Chăm sóc cha mẹ già mới là vấn đề.

2.   Thế hệ con cái bây giờ sống trong đô thị, dù làm việc gần hay xa, đều muốn ở riêng. Mô hình gia đình, tam tứ đại đồng đường hầu như biến mất, may ra còn sót lại đâu đó ở nông thôn.

   Cha mẹ sống chung với một đứa con nào đó cũng đang dần thu hẹp. Lập gia đình là ra ở riêng. Vẫn thỉnh thoảng về thăm nom cha mẹ, vẫn hỏi han qua điện thoại hằng ngày. Nếu ở chung, con cái sẽ chăm sóc cha mẹ theo cách riêng của chúng. Áp lực xã hội còn quá nặng nề, chưa đủ để con cái nghĩ đến đưa cha mẹ già vào viện dưỡng lão, dù là đóng phí không rẻ, tùy dịch vụ.

   Bọn già tụi mình cũng thế. Căn nhà không chỉ là căn nhà, mà đó còn là tài sản chắt chiu, chất chứa biết bao ký ức một thời vất vả, vì bổn phận gia đình. Căn phòng ở viện dưỡng lão dù tiện nghi đến đâu cũng chỉ là nhà thuê, không phải là "home", mà là "house".

   Sự xung đột nửa tây nửa ta như thế quả là một thách thức để thích nghi. Thách thức không chỉ với con cái, mà còn với tuổi già. Con cái chăm sóc chúng ta theo kiểu hiện đại. Còn tuổi già bọn mình mong muốn những gì ở tuổi xế chiều? Khi mà đầu óc lãng đãng, chuyện xưa thì nhớ, chuyện nay thì quên.

   Chúng ta chưa đủ tinh thần để tách rời khỏi căn nhà. Hầu hết người già muốn được sống gần con cháu, không chỉ vì cần giúp đỡ vật chất, mà vì là mong muốn được hiện diện, được nghe tiếng người, được thấy đời sống tiếp nối. Mong muốn đó không phải là "lệ thuộc" vào con cái, mà là một cách níu kéo sợi dây với đời.

   Đôi lúc chúng mang con cái về nhà gửi cả ngày, vợ chồng chúng đi chơi. Vừa là nhờ vả, vừa là ân huệ với tuổi già - mà chắc là ân huệ thiệt. Tuổi già thèm thủ thỉ với trẻ thơ. Chẳng phải chúng ta đã mua bánh kẹo sẵn, chờ đợi bọn trẻ đến đấy sao? Vừa chăm sóc, vừa chiều chuộng, vừa hỏi han. Chỉ có già mới kiên nhẫn lắng nghe, những câu hỏi thật nhanh, và quên thật nhanh của trẻ con. Dù sao, đó cũng là chút chứng tỏ mình còn có ích, con cái mới nhờ vả, chứ chưa vô dụng.

   Có khi mình trông con cho chúng, không đúng như chúng dặn, là bị cằn nhằn. Nghĩ cũng buồn!

   Dù sao, con cái còn quan tâm, chăm sóc đến mình là điều đáng mừng. Dù là quan tâm cho có lệ, hay thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi cũng là điều đáng mừng rồi.

   Nếu có đứa nào tới lui chăm sóc là điều vượt quá mong đợi của tuổi già. Hãnh diện chứ! Nhưng mọi chăm sóc của chúng thường theo xu hướng hiện đại. Có điều gì đó mà đôi khi tuổi già miễn cưỡng nghe theo để khỏi phụ lòng.

   Miễn cưỡng nghe như là chịu đựng… Có cách quan tâm, chăm sóc nào khác không?

 3.  Thỉnh thoảng, con cái đặt "món ngon mẹ nấu", ship về tận nhà cho mình, nhưng chẳng bao giờ chúng đãi người già "món ngon con nấu".

   Con nấu thế này, có ngon như hồi xưa mẹ nấu không? Khẩu vị người già dù đã thay đổi ít nhiều, nhưng trong khoảnh khắc sẽ hồi tỉnh lại. Tuổi già sẽ chỉ bảo, phải làm thế này, thêm thứ nọ mới đúng. Già rồi, đi đứng hết nổi, nhưng cũng cảm thấy mình còn có ích đôi chút, còn "truyền nghề" cho chúng. Niềm vui tuổi già chỉ giản dị thế thôi.

   Nhưng có đứa nào chịu làm "món ngon con nấu" đâu. Chúng đặt hàng vài phút là có "món ngon mẹ nấu". Ký ức ẩm thực tuổi già bị lãng quên!

Người già thèm những món ăn quen thuộc. Thèm để nhớ một thời gian khổ, mà sao hồi đó ngon lạ thường. Món phá lấu, chẳng hạn. Hồi trước, ngày nào rủng rỉnh chút đỉnh, tôi mua đĩa phá lấu. Phần chúng nhiều gấp ba bốn phần mình. Nhìn chúng ăn ngon lành, ăn xong còn thòm thèm. Cha mẹ nào nuốt nổi phần mình nữa.

   Bây giờ thèm, mình mua món phá lấu. Chúng cằn nhằn, chê món phá lấu mất vệ sinh. Ăn nội tạng heo bò làm tăng mỡ máu, có hại cho sức khỏe. Chúng ép mình phải ăn "món ngon mẹ nấu" mà chúng đặt hàng. Có đứa còn ép mình ăn kiêng, chỉ toàn món chay hảo hạng. Không ăn đúng như thế lại cằn nhằn.

   Hồi đó mình thèm món phá lấu, nó cũng thèm. Mình nhường hết cho nó. Bây giờ mình thèm phá lấu, chúng lại bắt mình ăn "nem công chả phượng" như cách chúng nó. Món ăn dĩ vãng của tuổi già đã bị bỏ rơi!

   Tôi làm ở phòng lab, điều chỉnh chính xác từng giọt dung dịch từ burette để định lượng. Bây giờ tay chân vụng về, rót nước từ bình đun vào chai, rơi vãi. Con cái cằn nhằn, nói để chúng làm. Không, tôi muốn tự làm những gì có thể làm được. Các bạn già cũng thế, phải không?

   Thế hệ chúng ta làm cật lực, bất kể ngày đêm chỉ để trang trải gánh nặng gia đình. Bây giờ ngồi không, như kẻ vô dụng. Thật khó chịu!

   Không ít bạn già, theo chân các đoàn thể tôn giáo, đóng góp và giúp đỡ những nơi bị thiên tai, những vùng đói kém. Cũng làm được chút gì đó có ích cho đời.

   Tôi cũng vậy. Tôi vẫn viết lai rai về an toàn thực phẩm, chỉ muốn chia sẻ lại chút kiến thức, không chỉ lý thuyết, mà cả những kinh nghiệm tích lũy suốt mấy chục năm. Có được một người nghe, và làm theo cũng là niềm vui.         Không làm được chuyện lớn cho đời thì làm chuyện nhỏ, dù là rất nhỏ. Còn hơn ngồi than thở và phẫn nộ những chuyện chướng mắt ở đời.

   Gần hết cả đời, chúng ta đã cho đi. Già rồi, có cần gì nữa đâu, mà chỉ sợ mình thành gánh nặng hoặc bị lãng quên. Nếu sợ, đó là sợ tình thương pha lẫn lòng thương hại.

   Các bạn trẻ, xin đừng tước đi niềm kiêu hãnh cuối cùng của tuổi già. Đừng "xả láng" báo hiếu, để rồi chăm sóc quá đáng - Hãy để chúng tôi tự làm. Đừng khuấy động mặc cảm vô dụng tuổi già.

 4.  Quê mẹ tôi không trồng lúa được, vì nước sông dâng cao cả vài tháng, chỉ có thể trồng bắp, khoai, vài loại rau ngắn ngày. Năm 1945, quê mẹ tôi chết đói nhiều lắm, tứ tán cả. Ngay từ hồi tôi 4 tuổi, bà đã dạy tôi phải biết quý hạt gạo. Hạt cơm rơi xuống phải nhặt lên.

   Khi mẹ tôi mất, tôi bỏ lên Đà Lạt. Đêm giao thừa đầu tiên, không có bà bên cạnh. Tôi nâng ly rượu, chợt nhớ "hạt cơm rơi". Tôi ngước nhìn bàn thờ, và tự hỏi - Đời bà gian truân thế nào? Nước sông dâng cao như vậy, khi nước rút, làm sao nhận ra mồ mả ông bà? Bà bỏ lên Hà Nội kiếm sống thế nào? Vào Sài Gòn, bà bán xôi. Tôi chưa bao giờ hỏi bà cách đồ xôi thế nào, chọn nếp ra sao? Còn nhiều câu hỏi trong đầu, nhiều điều tôi muốn biết nữa, nhưng không thể…

   Những năm cuối đời, nếu ai hỏi chuyện xưa, mẹ tôi nói cả giờ. Tôi chỉ miễn cưỡng nghe vài phút, rồi lên lầu. Còn nhiều công việc mưu sinh phải làm. Tôi nghĩ, chỉ cần chăm sóc bà đầy đủ là được.

 

   Thế hệ chúng ta lớn lên trong chiến tranh - Khổ! Tàn cuộc chiến - Khổ. Khổ đủ kiểu, tùy môi trường xuất thân. Ở cái thời "rau muống bổ hơn thịt bò" - Thật xấu hổ! Có lẽ mấy bà khổ nhất - Cái khổ ngấm ngầm mà dai dẳng. Đó là cầm giỏ ra chợ với chút xíu tiền. Làm sao thu vén cho bữa ăn gia đình. Những năm tháng đó, làm sao ai biết? Mà có ai muốn biết đâu!

   Tuổi già ở nhà là một thế giới khép kín, cô đơn giữa mọi tiện nghi, giữa những "món ngon mẹ nấu", và những cú điện thoại "chăm sóc" quá kỹ lưỡng của con cái. Muốn được chia sẻ, nhưng có ai lắng nghe để chia sẻ? Con cái ư?

   Tôi chỉ nín lặng chấp nhận "quả báo", không dám cưỡng cầu. Nhưng mấy bà thì tâm tư chất chứa đủ thứ. Về nhà dồn nén, dồn nén… Các bạn marketing rất tinh quái, nếu biết số phone, sẽ gọi lại tỉ tê đủ thứ, và chào bán thực phẩm chức năng. Sa bẫy là điều dễ hiểu. Đừng trách tuổi già! Marketing biết lắng nghe họ hơn con cái.

   Già rồi, cổ lỗ sĩ mọi thứ. Dĩ vãng cũng cổ lỗ sĩ. Nhu cầu lắng nghe nhiều nhất, nhưng cũng mong manh nhất. Tôi thì quá muộn rồi! Ai còn cơ hội thì chớ bỏ lỡ.

   Tuổi già muốn được chăm sóc. Muốn chỉ vì gìn giữ sự kết nối, không phải muốn để lệ thuộc. Muốn được làm theo ý nguyện, muốn được tôn trọng, và muốn được lắng nghe, nhưng bất khả.

   Sự lạc nhịp giữa hai thế hệ, những mong muốn chăm sóc tuổi già chỉ là giấc mơ. Tôi biết - Chỉ là giấc mơ thôi. 

Vũ Thế Thành

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ, VŨ THẾ THÀNH
Comment

NÉT ĐẸP THIÊN THẦN (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

February 28, 2026 Ninh Tran

NÉT ĐẸP THIÊN THẦN

Vâng, nàng đẹp lắm, vẽ đẹp dịu dàng, đoan trang, thùy mị của tâm hồn không hào nhoáng, không phô trương.

Nàng không đẹp mê hồn như bóng liêu trai đêm trăng lạnh hay kiêu sa đài các như Mỵ Nương trên vọng nguyệt lầu làm se sắt tâm chàng Trương Chi.

Nàng đẹp như làn gió thoảng mặt hồ gương, như lời san hô hòa âm trùng dương gió nhẹ, thanh thoát như cánh thiên thần trong ngày gió bão che chở chàng chiến sĩ giữa làn súng đạn gian nguy.

Tôi gặp nàng trong một chiều chinh chiến. Má nàng hồng như ráng chiều hôm, mắt nàng rưng rưng lệ, tay cầm cuộn băng chặn dòng máu trên tay của một người thương binh trẻ. Tôi quen nàng trong phút giây đó, thầm lặng, u buồn, vì cùng lo cho người thương binh, nàng là nữ cứu thương, tôi là y sĩ dã chiến cho trung đoàn thủy quân lục chiến vùng Trung Lương mịt mờ hỏa tuyến. Sau khi băng bó cho anh, và chuyển anh về lều thương binh, chúng tôi ngồi uống chén trà giải lao. Tôi hỏi nàng; “Sao cô khóc, chắc cô quen người này?”

Nàng ngước nhìn tôi, ánh mắt thật buồn và bảo khẻ:

"Thưa bác sĩ, tôi không quen anh nhưng gương mặt phong trần của anh sao giống như anh của tôi còn đang mất tích trên chiến trường Hạ Lào nên tôi không ngăn được dòng nước mắt thương anh và thương anh của tôi cùng mẹ tôi vẫn mỏi mòn trông chờ tin của anh tôi. Không tìm được lời an ủi thỏa đáng, tôi chỉ nhìn nàng mắt còn rươm rướm lệ mà nghe lòng chùng xuống, thương cho mọi người trong cuộc chiến điêu tàn trên quê hương thân yêu.

Như đọc được ý nghỉ của tôi, nàng khè bào;

"Cám ơn bác sĩ hỏi nhưng chuyện riêng của gia đình tôi cũng chỉ là một giọt muối trên biển đau thương của dân mình".

Im lặng trùm xuống hai người mang nỗi buồn chất ngất. Chiến tranh là thế. Không ai biết ngày mai sẽ ra sao và ai còn ai mất, người ở lại tâm hồn rách nát với mất mát và thương tiếc. Hận thù chủ nghĩa vô nhân không xóa được gì trong nỗi khổ đau tràn lan. Mong muốn hòa bình chỉ thực hiện được với xương máu hy sinh để đổi thay vận nước. Bao nhiêu máu xương sầu khổ mới đủ cho nắng lại về với đường quê hương và tâm hồn người hoạn nạn?

Trong chiều dần tắt, ánh đèn lói của căn lều cấp cứu, chúng tôi ngồi trầm lặng với những ý nghĩ miên man buồn.

Khói trên tách trà vừa tàn thì tiếng người hạ sĩ theo bước anh đến với chúng tôi:

“Xin bác sĩ và cô trở lại ngay phòng cấp cứu, trực thăng vừa đáp xuống với một số thương binh từ phòng tuyến”.

Chúng tôi hối hả trở lại việc làm và đêm nay lại như mọi đêm khác, thương binh đến, thương binh đi, người còn, người mất. Chúng tôi vẫn miệt mài với sứ mệnh của mình.

Sau đêm đó, tôi theo trung đoàn về phòng tuyến khác và bặt tin người nữ cứu thương đáng thương này. Tôi mong anh nàng trở về bình yên, cho mẹ nàng thôi lau dòng lệ, cho gia đình nàng đầu không quấn vầng tang trắng, cho nàng còn được nở một nụ cười xinh mà tôi chưa có dịp thấy. Chắc nụ cười này sẽ tăng vẻ đẹp mặn mà của nàng. Riêng tôi vẫn luôn giữ hình ảnh một thiên thần tuyệt mỹ trên chiến trường quê hương, mang theo từng bước trong cuộc đời rày đây mai đó, mong một nhiệm mầu một ngày còn được gặp lại nàng và nhìn nụ cười trên khuôn mặt thùy mị và tâm hồn thanh cao của nàng.

Ai biết ngày sau sẽ ra sao?

 

Vâng, mầu nhiệm ước mơ đã đến với tôi nhưng rất khác với ý tưởng của tôi.

Mười năm sau, tôi gặp lại nàng trong một ngày cứu trợ bão lụt miền Trung xứ quê.

Tôi về lại xứ dân nghèo đất cằn sỏi đá cùng phái đoàn cứu trợ Việt Kiều từ Cali xứ Mỹ, nơi tôi đã định cư nhiều năm qua.

Trên chiếc ghe nhỏ tấp vào bờ mang chồng chất quần áo, chăn chiếu và gạo, muối, thực phẩm khô, tôi hoang mang nhìn hàng người nhỏ bé thầm lặng đợi chờ cứu trợ.

Sau một ngày chuyền tay những món quả nhỏ nhoi cho dân làng bị bão lụt hoành hành, một bóng người mành khành bước đến trước chúng tôi trong màu áo lam như sương khói và giọng thanh thoát trên khuôn mặt hiền hòa, ánh mắt dịu dàng, chuyển lời cảm ơn của dân làng.

Trong ngỡ ngàng tôi nhận ra khuôn mặt trong mơ của mình. Nàng vẫn đẹp dịu dàng, và trên nét đoan trang thùy mị còn thêm phảng phất nét thanh tịnh của tâm hồn không còn vướng bận nỗi sầu riêng tư.

Người sư nữ trong màu áo nâu sòng đẹp huyền diệu nét vị tha của khoảng vô thường tâm linh là người trong mộng tưởng của tôi suốt cuộc đời lãng bạt phong trần từ quê hương binh biến cho đến vùng quê thứ hai của đời người, giờ đây tôi đã được gặp lại.

Đường trần hai nẻo cuộc đời,

Thăng hoa một chuyện tình thời chiến chinh,

Tôi giờ trút áo nhà binh,

Giữ tâm lưu luyến ngày mình tương giao,

Ngắn giây phút tâm ao dào,

Ngắn giờ an ủi đổi trao dưới đèn.

Nàng giờ tâm nguyện tòa sen

Phật đài, thanh tinh bon chen sóng trần.

Riêng tôi lòng lắng si sân,

Thảo vầng thi tứ, vịnh lần sơ giao.

Thôi thì tâm chằng ao dào,

Ngắn duyên tao ngộ, thanh màu nghĩa nhân.

Ước duyên gặp nẻo phủ vân,

Nhiệm mầu tao ngộ trong lần mai sau.

Kiếp sau chẳng nặng thương đau,

Chẳng mùi bom đạn, đẹp màu yêu thương.

Tình là thanh thản miên trường,

Cõi chân thánh thiện, thiên đường tâm giao.

 Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, NÉT ĐẸP THIÊN THẦN
Comment

Có Một Tình Yêu

February 27, 2026 Ninh Tran

Có Một Tình Yêu

 Hiên chủ nhà mời Phượng ra sau nhà uống chút rượu trong khi hai bà vợ của hai ông đang rủ nhau đi shopping. Đàn bà hầu như ai cũng thích shopping kể cả lúc đi du lịch hay đi chơi đâu đó họ cũng không chịu ngồi yên ở nhà.

Khi Phượng bước ra cái deck đã thấy Hiên bày xong chai rượu cùng 2 cái ly, đĩa sausage vừa hâm nóng và đĩa dưa leo muối chua trên chiếc bàn tròn có bộ ghế xinh đẹp.

Trời mùa Xuân buổi trưa mát mẻ với nhiệt độ khoảng 70 độ F. thật thú vị khi được ngồi ngoài trời nhâm nhi ly rượu ngon cùng với bạn hiền và thiên nhiên tươi đẹp.

Bây giờ Phượng mới ngắm kỹ cảnh trí cái deck nhà Hiên hơn. Hôm qua hai vợ chồng Phượng đến nhà bạn sau khi được sắp xếp chỗ ở trong căn phòng lịch sự vợ chồng Phượng chỉ thoáng nhìn cái deck sau nhà qua khung cửa kính nơi phòng ăn chứ chưa có dịp ra ngoài.

Phượng nhìn những chậu hoa bày trang trí nơi sát hàng rào deck làm bằng gỗ sơn màu trắng nổi bật những đóa hoa hồng đỏ thắm và nơi góc hàng rào một cái chuông gió lửng lơ đang nằm đợi gió. Phượng bật thốt lên:

– Hoa hồng và chuông gió …

Hiên bình thản:

– Hoa hồng và chuông gió có gì lạ đâu.

Phượng khẽ đáp:

– Tôi thích ngắm hoa hồng và nghe chuông gió trong gió.

– Ừ thì đẹp đấy, nhưng chiều nay tôi và anh ngồi đây để uống lai rai chứ chẳng phải ngắm hoa suông.

Hai người ngồi đối diện nhau mỗi người tay cầm ly rượu của mình và nói chuyện đời, nhưng những hoa hồng màu đỏ kia bất chợt làm lòng Phượng xao động. Có phải vì hơi men làm cho tâm hồn chàng lênh đênh? Có phải vì cảnh Xuân nắng đẹp gió êm và hoa xinh đã làm tâm hồn chàng thức dậy một kỷ niệm cũ?

Hình bóng nào vừa thoáng qua và chưa chịu bay đi…

 

Uống cạn mấy ly rượu thì Hiên rủ Phượng vào nhà nghỉ ngơi nhưng Phượng nói:

– Anh Hiên cứ vào nhà nghỉ trưa đi tôi thích ngồi đây thêm một lát, không gian này đẹp quá.

Phượng ngả người ra ghế phóng tầm mắt nhìn ra những chậu hoa hồng có những hoa màu đỏ thắm xinh đẹp, lòng Phượng nhói lên một niềm thương nhớ, một niềm đau. Nàng đã đến và nàng đi đã bao năm..

Phượng rời vợ con đi vượt biên đến Mỹ định cư năm 1985, sau một thời gian ổn định cuộc sống độc thân tại chỗ nơi xứ người thì Phượng gặp Thương, từ lần gặp gỡ ban đầu hai người đã cảm thấy quyến luyến nhau và tình yêu đến nhanh như cơn mưa bất chợt đổ xuống mảnh đất khô cằn hai tâm hồn cô đơn khao khát …

Cha mẹ Thương đã mất trong chiến tranh, gia đình người chú họ thương tình đứa cháu bơ vơ đã cho nàng đi cùng chuyến tàu vượt biên và đến Mỹ sớm hơn Phượng vài năm.

Yêu nhau tưởng như không thể nào xa nhau nhưng một khoảng cách vô hình đã chia cách hai người.

Phượng kể cho Thương nghe về hoàn cảnh mình, chàng còn vợ và hai đứa con nơi quê nhà đang chờ mong và sẽ bảo lãnh họ sang Mỹ đoàn tụ.

Thương chấp nhận làm người vợ không bao giờ cưới của Phượng, nàng yêu chàng, được sống bên chàng ngày nào là vui ngày ấy.

Họ sống với nhau như đôi vợ chồng son trong một căn phòng apartment rẻ tiền nhưng có bàn tay khéo léo của Thương tổ ấm trở nên sạch đẹp và ấm cúng. Một chiếc giường rộng, một bàn ăn nhỏ, một khung bếp hẹp mà biết bao hạnh phúc đi qua từng ngày, từng mùa, từng lúc thời tiết ấm lạnh nắng mưa.

Căn phòng ở tầng trệt có một khỏang đất nhỏ sân sau đủ cho nàng trồng vài cây hoa hồng đỏ và treo bên hiên nhà một cái chuông gió. Hai thứ này nàng và Phượng cùng yêu thích.

Mỗi chiều đi làm về Phượng thường vào bằng lối cửa sau nghe tiếng chuông gió reo và lướt mắt qua những đoá hoa hồng đỏ để quên đi những mệt nhọc của một ngày làm việc. Hoa hồng nở kéo dài từ mùa Xuân đến mùa Thu và chớm vào Đông, chỉ thực sự héo hon tàn tạ trong gió Đông lạnh. Nhưng tình yêu của họ dài đủ bốn mùa và hết năm này qua năm khác.

Thương nhiều lần thì thầm bên chàng:

– Hoa Hồng đỏ biểu tượng của tình yêu, điều đơn giản này cũng là tình em yêu anh.

Ngày xưa chàng và Yến yêu nhau cũng hẹn thề cũng quấn quýt nhưng không đủ lửa đam mê như tình yêu của chàng và Thương.

Chàng và Yến đi đến hôn nhân, tình yêu và tình vợ chồng vẫn êm đềm. Yến đã thu vén tiền bạc để chàng đi vượt biên tìm tự do, chàng là cột trụ của gia đình, Phượng sẽ bảo lãnh vợ con sang Mỹ tìm cuộc sống mới mẻ và tương lai cho hai con, đó là mộng ước hai vợ chồng chàng đã xây đắp.

Hơn 6 năm kể từ ngày Phượng đến Mỹ mới được tin vợ con sắp sang Mỹ đoàn tụ.

Phượng đau đớn bị giằng co giữa tình vợ chồng và tình yêu với Thương, chàng không thể bỏ vợ con nhưng cũng không muốn chia lìa người mình yêu.

Có những ngã ba đường người ta không thể cất bước về một phía nào.

Phượng chỉ biết an ủi nàng và cả chính mình:

– Dù muốn dù không em phải quên anh, em sẽ lập gia đình và có những đứa con. Cố lên nhé Thương.

– Em chỉ có một tình yêu là anh.

Phượng nghĩ đó là lời nói lãng mạn trong phút giây đắm say, thời gian sẽ là liều thuốc nhiệm màu nhất để phôi pha những ân tình những kỷ niệm. Chàng luôn cầu nguyện cho người mình yêu sẽ có mối tình khác, sẽ trăm năm hạnh phúc.

Phượng đã thuê một căn nhà 3 phòng để đón vợ con sang.

Trước ngày vợ con Phượng đến Thương đã ra đi, ra đi biền biệt để Phượng không phải bận lòng.

Mối tình già nhân ngãi non vợ chồng khéo dài 3 năm bỗng chỉ là một giấc mơ…

Hôm Phượng ra phi trường đón vợ con vui ít buồn nhiều. Bên vợ con với bao trách nhiệm Phượng vẫn cảm thấy một nỗi trống vắng khó tả.

Chàng bắt đầu cuộc sống mới với vợ con cũ, Yến hội nhập vào cuộc sống ở Mỹ nhanh chóng, nàng càng ngày càng khác xưa, cô Yến hiền dịu khép nép bên chồng không còn nữa, nàng xông xáo lanh lợi và bon chen với người đời. Yến đã bĩu môi chê chồng:

– Anh qua Mỹ thời gian dài mà tài sản chẳng có gì, vợ con qua anh đón vào căn nhà cũ này, mà lại đi thuê nữa… Thảm quá!

Phượng bị tổn thương vì bao công sức làm việc, sống tiết kiệm gởi tiền về cho vợ con của chàng đã bị vợ đổ sông đổ biển.

Yến đi học nghề làm nails, thành thạo nghề nàng mua tiệm làm chủ, mọi sự việc đều may mắn với Yến. Kiếm tiền càng nhiều Yến càng coi thường chồng, Phượng bỗng lép vế vợ lúc nào không hay.

Lạc lõng trong tình yêu vợ chồng Phượng càng thương nhớ Thương, nàng đã yêu chàng không so sánh thiệt hơn, căn nhà thuê có 3 phòng là nơi Yến bất bình rẻ rúng nhưng căn phòng nhỏ bé apartment rẻ tiền đã là nơi hạnh phúc nhất của Thương.

Sau đó vợ chồng chàng đã mua một căn nhà mới rộng đẹp, mỗi khi có dịp đi qua khu apartment cũ Phượng thường dừng chân nhìn lại căn phòng của chàng và Thương ngày nào, tiếc nuối và bâng khuâng tự hỏi có ai trồng hoa hồng đỏ và treo chiếc chuông gió nơi góc vườn ấy không?. Có ai yêu nhau như chàng và Thương ngày ấy không?

Những năm qua Phượng vẫn nghĩ đến Thương dù chẳng thể thay đổi được cuộc đời nhau… Thì ra tình yêu chàng dành cho Thương chưa bao giờ nguôi.

Hôm nay nhìn những chậu hoa hồng đỏ nhà Hiên, Phượng lại chạnh lòng và nhớ Thương quá chừng. Hơn 10 năm xa nhau rồi có lẽ Thương đang bận bịu với cuộc sống bên chồng bên con, không biết có giây phút nào Thương nhớ đến chàng?…

Phượng đang lơ mơ ngủ thì tiếng Yến oang oang ngay bên cạnh:

– Trời ơi, hết chỗ ngủ sao mà anh nằm đây hả, hả?

Phượng mở choàng mắt, hình bóng Thương vụt biến mất khi trước mặt chàng là Yến đưa chàng trở về thực tế:

– Ngoài này mát mẻ anh uống tí rượu rồi ngủ quên…

Yến khó chịu

– Người gì mà chỗ nào cũng ngủ, tới nhà người ta anh phải lịch sự chứ

Phượng đã quen với những lời đanh đá của vợ. Khi không thể thay đổi được điều gì đó thì người ta đành chấp nhận sống với nó, như người bệnh sống với bệnh, như người đi biển đi sông sống cùng với sóng to, thác lũ…

Yến ngoe nguẩy đi vào trong nhà và ra lệnh:

– Anh vào mà sửa soạn, chúng ta đi ăn cùng với anh chị Hiên …

-oOo-

Ngày cuối cùng ở nhà bạn, vợ chồng Phượng mời vợ chồng Hiên đi ăn cơm chiều để tạm biệt.

Họ đến một nhà hàng Việt Nam ăn bữa cơm ngon, vui vẻ thân mật.

Ăn xong khi mọi người đứng lên sắp sửa ra về thì giữa những người khách đi lại qua bàn ăn chị Hiên đã nhận ra ai đó chị reo lên:

– Thương ơi… có phải em đó không?

Phượng giật mình vì cái tên đã từng vang vọng trong trái tim chàng từ quá khứ cho đến bây giờ…

Người phụ nữ trẻ đi bên cạnh đứa bé trai đã dừng chân lại bên chị Hiên và cũng mừng rỡ:

– Chị Hiên, em đây. Không hẹn mà gặp chị vui quá …

– Hai mẹ con em đi đâu mà lạc vào nhà hàng này?

– Hôm nay em có công việc qua đây…

Chị Hiên ríu rít quay ra giới thiệu:

– Coi như duyên hạnh ngộ, tôi đã gặp lại các bạn cũ cùng một lúc. Đây là vợ chồng anh Phượng chị Yến là bạn hàng xóm xưa ở Việt Nam, còn đây là mẹ con Thương cô bạn hàng xóm lâu nay của chúng tôi tại thành phố này, Thương đã dọn nhà đi nơi khác chỉ cách nhau một tiếng lái xe mà cả năm nay chúng tôi mới gặp lại nhau …

Phượng run người như đang lên cơn sốt và Thương cũng đang sững sờ nhìn chàng. Họ cũng là người xưa của nhau, họ đã nhận ra nhau.

Yến vô tình và xã giao:

– Vợ chồng tôi hân hạnh được biết chị Thương

– Vâng, Thương cũng hân hạnh được biết anh chị.

Hỏi thăm nhau vài câu xong chị Hiên nhanh nhẩu:

– Thôi hai mẹ con Thương vào bàn gọi bữa ăn đi rồi về nhà kẻo trời tối. Chị cũng đưa khách về sáng mai họ có chuyến bay sớm…

Mọi người chào nhau, Phượng vẫn bàng hoàng nhìn Thương, chàng thấy đôi mắt nàng nhìn chàng tuy cố tạo ra bình thản mà vẫn bối rối đượm buồn và hình như sắp sửa đẫm lệ.

Phượng là người bước đi chậm nhất, chàng chưa nói được với Thương một lời tao ngộ nên chân bước đi không đành, nhưng chàng yên lòng Thương cũng đã có gia đình con cái, có một bến bờ cuộc đời như chàng từng mong muốn.

Bất giác chàng quay đầu nhìn lại và thấy Thương vẫn đứng sững nơi đó đang dõi nhìn theo chàng, nàng cũng chưa nói được lời tao ngộ nào với Phượng. Hai người chỉ cách nhau một khoảng cách chục bước chân mà xa nhau vời vợi.

Vừa đi ra chỗ đậu xe chị Hiên vừa kể:

– Cô Thương này dễ thương như cái tên của cô ấy. Ngày Thương mới về đây thuê một căn nhà nhỏ cuối đường khu nhà tôi, chúng tôi đã là bạn bè hàng xóm khá thân, cô vừa dọn đi nơi khác cho gần chỗ làm việc mới.

Anh Hiên chợt nhớ ra vội xen vào nói với Phượng:

– Đấy, đấy là cô bạn đã tặng hoa và chuông gió cho cái deck của nhà tôi mà anh đã thích. Lúc nãy tôi quên không kể cho cô Thương món quà cô tặng đã thêm người thưởng ngoạn.

Ôi, một chút tri kỷ chẳng ai quên. Phượng bối rối tưởng như mọi người đã đọc được tâm trạng của chàng lúc này với Thương. Chàng gượng cười:

– Thế gian này cả vạn, cả triệu người thích hoa hồng và nghe chuông gió.

Yến thẳng thừng:

– Trồng hoa đẹp mắt thật đấy nhưng tôi vẫn thích những gì thực tế hơn, vì thời tiết không cho phép nên tôi trồng một cây chanh trong chậu mùa đông phải bê vào garage hay nhà kho vất vả lắm..

Chị Hiên ngạc nhiên:

– Chị Yến thích cây chanh đến thế!

– Chỉ vì tôi thích món thịt gà luộc ăn với lá chanh, lá mọc ra không kịp cho tôi hái nữa đó.

Mọi người cười ồ vui vẻ và dường như quên chuyện cô Thương. Phượng băn khoăn tìm cách để được nhắc đến tên nàng:

– Cô Thương tặng anh chị Hiên hoa và chuông gió để khi cô đi xa anh chị vẫn nhớ đến cô…

Chị Hiên gật gù:

– Ừ nhỉ… thỉnh thoảng ra deck nhìn hoa nhìn chuông gió tôi vẫn nghĩ đến Thương, đến hai mẹ con cô ấy…

Giọng chị Hiên chợt bùi ngùi:

– Ngày Thương về đây bụng mang dạ chửa, Tôi đoán cô có một chuyện tình dang dở chắc là rất đẹp nên cứ ở vậy nuôi con đến bây giờ, thằng bé mười tuổi rồi chứ ít gì, mấy lần tôi có ý định làm mai giới thiệu cho Thương một người đàn ông tốt nhưng cô ấy nói nửa đùa nửa thật em chỉ lấy người nào giống y như người cũ của em hoặc là không bao giờ. Thì ra có tình yêu bất diệt luôn đi cùng với thời gian.

Phượng từ bàng hoàng này đến bàng hoàng khác, mỗi lời nói của chị Hiên làm chàng ngạc nhiên và đau đớn thắt ruột thắt gan. Chàng nhớ những ngày cuối trước khi chàng đoàn tụ với vợ con, chàng và Thương càng quấn quýt bên nhau, linh tính cho chàng biết thằng bé là kết quả của những lần ái ân đầy nước mắt mà nồng nàn say đắm ấy. Vậy mà lúc nãy chàng chưa kịp nhìn kỹ thằng bé.

Yến tỏ vẻ ngưỡng mộ:

– Phải là một mối tình thắm thiết và tri kỷ lắm họ mới chung tình đến thế…

Phượng thẫn thờ lặp lại:

– Phải là một mối tình thắm thiết và tri kỷ lắm họ mới nhớ nhau đến thế.

Bốn người đã ra xe. Ngay lúc này Phượng bỗng thấy mình lại đứng ở ngã ba đường.

Chàng muốn chạy lao vào trong nhà hàng để đến bên Thương ôm gọn nàng trong vòng tay yêu thương, để thốt lên hàng vạn lời nhung nhớ và rồi Thương sẽ âu yếm cầm tay chàng chạm vào tay thằng bé kia để hai cha con nhận ra nhau.

Nhưng chiếc xe anh Hiên lái đã lăn bánh, vợ chồng Hiên và Yến lại vui vẻ nói về một đề tài nào đó.

Chiếc xe tăng tốc độ chạy nhanh về phía trước mà tâm hồn Phượng tràn ngập thương yêu lẫn khổ đau đang tuyệt vọng chạy ngược về phía sau nơi nhà hàng có hai mẹ con Thương còn ngồi trong đó.

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Có Một Tình Yêu
Comment

Mùa Xuân Thần Thoại (Nguyễn Thị Thêm)

February 26, 2026 Ninh Tran

Tôi bước xuống phi trường Narita mà tưởng mình còn mơ ngủ.

 Kéo chiếc vali nhỏ tôi cố chạy theo cho kịp mẹ nuôi. Mẹ dừng lại nhìn tôi mỉm cười từ ái.

      Thoáng chốc mẹ đã quên mình là lính đi nhanh. Còn tôi chân có vấn đề và là một đứa bé trong trại mồ côi lần đầu tiên ra khỏi Việt Nam. Mẹ đưa tay định kéo hành lý dùm tôi. Nhưng tôi giữ lại và cương quyết tự làm cho mình. Bề nào tôi cũng là một thanh niên ở độ tuổi đang lớn.

        Mẹ đi sát bên tôi. Hai mẹ con trình giấy tờ ở hải quan và xuống nhận hành lý. Qua khu vực kiểm soát hai mẹ con đẩy xe ra ngoài. Đây là lần đầu tiên tôi được đi máy bay và thật vô cùng tuyệt vời tôi được đến nước Nhật. Một đất nước mà tôi chỉ biết qua sách vở và trong những giấc  mơ.

       Tôi không biết làm sao để diễn tả tâm trạng tôi lúc này. Mọi thứ vượt ngoài tầm hiểu biết và tưởng tượng của tôi. Tôi nhắm mắt lại và thầm thì với chính mình:

-Đây là nước Nhật. Mình đang ở nước Nhật.

       Tôi không thể hình dung được đi máy bay là như thế này. Sự phục vụ của phi hành đoàn lịch sự nhã nhặn như vậy.  Máy bay có đủ những tiện nghi cần thiết cho hành khách. Thức ăn đựng trong những hộp nho nhỏ còn nóng hổi và ngon như thế.Tôi đã đặt chân đến nước Nhật với những con người và phương tiện tân tiến nhất nhì thế giới. Ơn trên đã mở cho tôi cánh cửa của thiên đàng. Tôi bước vào đó ngỡ ngàng với cái chân tàn tật với tâm hồn đầy sẹo của quá khứ.

       Mẹ không để tôi đẩy hành lý mà kêu tôi đi theo. Một người trung niên đã đợi sẵn bên ngoài. Mẹ giới thiệu đây là bạn cùng đơn vị của mẹ.   Tôi run run bắt tay sau lời chúc mừng của bác ấy. Bác đẩy xe và mẹ bấm thang máy để đi lên. Bãi đậu xe ở tầng lầu. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Tôi không thể hiểu họ nói những gì, chỉ biết họ rất thân tình, vui mừng gặp lại nhau.

        Để túi xách nhỏ vào xe. Tôi ngồi vào băng sau và thấy mình như say sóng. Mọi việc diễn tiến như chuyện cổ tích mà tôi giống như cô bé Lọ Lem được hoàng tử chọn để kết hôn.

*****

       Tôi là một đứa bé mồ côi từ lúc mới sinh ra đời. Không phải cha mẹ tôi chết mà họ đã vứt tôi trước cửa nhà một vị hảo tâm. Tôi chỉ nghe mẹ nuôi tôi nói như vậy. Người mẹ nuôi tôi không phải là người phụ nữ da trắng đang ngồi phía trước xe. Mà là một người phụ nữ VN đã bị mất con trong một lần sinh khó. Người chồng phản bội đã bỏ bà với cái thai trong bụng để đi theo một người đàn bà khác trẻ đẹp hơn.

       Đau khổ cùng cực vừa mất con lại mất chồng. Mẹ nuôi tôi gục ngã và trở nên loạn trí, lúc nào cũng đi tìm con. Bà nghĩ con mình còn sống và đang bị thất lạc ở một nơi nào đó. Ông Bà ngoại tôi đem con gái về chăm sóc. Với trái tim yêu thương con vô tận, ông bà đã đến bệnh viện xin một đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi đem về cho con gái, nói là đã tìm được đứa cháu ngoại bị thất lạc. 

       Đứa con đó cũng không phải là tôi, mà là người con nuôi lớn nhất của mẹ. Mẹ tôi lần hồi bình phục với đứa con còn đỏ hỏn mới đôi ba ngày tuổi. Ông bà ngoại coi đứa bé như ruột thịt. Thương yêu và hết lòng chăm sóc. Rồi tiếng lành đồn xa. Thêm một đứa trẻ mới sinh được vứt trước nhà ông bà ngoại. Rồi đứa thứ hai và tới tôi là đứa thứ ba.

       Mẹ tôi đã vứt tôi trước cửa nhà này và biến mất. Không biết bà có núp ở một góc nhà nào đó để theo dõi tiếng khóc của tôi. Hay rình xem mẹ nuôi tôi đã làm gì với đống vải nhăn nhúm quấn lấy tôi mới sinh được 3 ngày tuổi. Nói chung là bà ra đi không thương tiếc.

        Đương nhiên là tôi không biết gì hết. Tôi không biết cha mẹ mình là ai và vì sao họ bỏ rơi tôi. Tôi không biết lúc đó mình khóc nhiều hay ít? Tôi bú sữa bò hay nước cháo để sống còn.Tôi dễ nuôi hay èo uột, Bốn đứa con nít chỉ biết ăn biết bú khóc mãi không thôi. Hẳn chỉ có những người có trái tim thật nhân từ và nhẫn nại mới mở lòng ra cưu mang như vậy. Ông bà ngoại làm việc nhiều hơn để nuôi bầy cháu nhỏ không ruột thịt với mình. Mẹ nuôi tôi mất một đứa con, nhưng có đến 4 đứa khác để bù trừ. Mẹ quên cả bệnh, mẹ quên cả bản thân mình. Mẹ quần quật cả ngày để chỉ sống vì chúng tôi. Nhà không giàu có mấy, còn ít đất đai ông bà để lại, ông bà ngoại cắt bán dần để nuôi chúng tôi.

      Khi tôi lớn hơn một chút, tôi nhận thức được tôi khác hơn các anh chị của mình. Một cái chân tôi không đi được. Tôi đi từng bước khó nhọc mà người xung quanh gọi tôi là “Thằng thọt”. Tôi buồn lắm mỗi khi chạy chơi với các anh chị trong nhà. Tôi luôn bị thua thiệt vì sự không nguyên vẹn của mình. Trong tôi là sự mặc cảm về thân phận tật nguyền.

      Mẹ nuôi tôi không gì vậy mà hất hủi tôi. Bà yêu thương tôi hơn các anh chị khác. Bà thường gọi đùa tôi là “Con trai đích tôn” Lúc đầu tôi không hiểu gì cả vì trước tôi đã có anh Ba. Sau này trong một lần trò chuyện tôi đã hiểu và thương yêu ông bà ngoại và mẹ hơn bao giờ hết.

       Nguyên do là lúc nhỏ tôi bị sốt tê liệt. Ông bà ngoại đã bán nốt miếng đất hương quả ông bà cố để lại cho cháu đích tôn mà chạy chữa cho tôi.   Tôi thoát chết, nhưng một chân đã bị rút teo lại.Tội nghiệp mẹ tôi đã cố gắng tập cho tôi đi lại, bao nhiêu thuốc thang để cái chân tôi được như bây giờ. Tôi mang một cái chân bất toàn và mang nghĩa tình bất tận của ông bà và mẹ tôi. Những người không hề có dính dáng với máu mủ, ruột thịt.

       Tôi lớn lên trong căn nhà tình nghĩa đó. Ông bà ngoại ngày một già, tiền bạc cũng không còn. Mẹ tôi bôn ba buôn bán không đủ nuôi mấy miệng ăn đang độ tuổi lớn. Chúng tôi không thể đến trường đều đặn mà phải cùng nhau đi làm để phụ kiếm sống. Các anh chị tôi thay nhau vừa bán vé số vừa đi học. Tôi cũng vậy, la lết ở các bến xe, nhà hàng để kiếm cơm .

       Ông ngoại bệnh nặng,  mẹ tôi phải ở nhà chăm sóc. Tôi 8 tuổi ôm tập vé số len lỏi chốn chợ đời. Trái tim nhân hậu của con người dường như bị đánh mất trong xã hội lừa đảo. Tôi thường xuyên bị đánh vì giành mối.   Có lúc về nhà trắng tay, cả xấp vé số lẫn tiền bị trấn lột. Có những cạm bẫy mà xã hội đã đưa anh em chúng tôi lạc bước. Đồng tiền của người nghèo đổi bằng nhiều thứ trong đó có sự gian xảo lọc lừa. Đồng tiền nhàu nát và bẩn thỉu, có khi đổi bằng nước mắt và cả chính máu và mạng sống của mình.

       Bụi đời cũng có lắm phe nhóm, băng đảng, tốt và xấu. Ngoại và mẹ dạy chúng tôi phải lương thiện và nhịn nhục. Lương thiện chỉ từ chết đến bị thương. Bản năng sinh tồn không cho phép con người khoanh tay khi bị đàn áp và ức hiếp. Anh Ba tôi đã không nhịn nổi phải  chống cự và đánh lộn để bênh vực em. Một lần gây ra ẩu đả đổ máu đụng đến công an can thiệp.

       Cuối cùng của bi kịch đời người là tất cả anh em chúng tôi bị lôi ra khỏi vòng tay mẹ nuôi và bị đưa vào trại mồ côi. ( trừ chị Hai tôi có giấy tờ xin nuôi chính thức. )

       Tôi rời xa căn nhà thân yêu đã cưu mang tôi khôn lớn là ngày giỗ đầu ông ngoại. Năm đó tôi vừa 12 tuổi. Một đứa bé tàn tật, mồ côi lăn lóc chợ trời mưu sinh thì thiên hạ nhìn tôi không mấy mỹ cảm. Còn tôi, tôi đã biết mái nhà xiêu vẹo thiếu thốn mọi thứ có tình thương yêu thật sự.   Còn trại mồ côi nơi tiếp nhận những đứa bé bụi đời chỉ là giải quyết vấn nạn của xã hội. Tôi không muốn đi vì mẹ nuôi tôi bây giờ hay đau yếu. Bà ngoại tôi già rồi cần người chăm sóc đỡ đần. Đã đến lúc chúng tôi giúp đỡ họ phần nào, nhưng chúng tôi bị buộc phải xa lìa trong nước mắt. Tôi tự nhủ với lòng sẽ có ngày trở về phụng dưỡng trả ơn.

       Tất cả chúng tôi bị đưa lên xe và bước vào một cuộc sống mới. Nơi đây giống như là nơi tập trung cải tạo, giáo dục thiếu nhi mồ côi lẫn bụi đời. Chúng tôi phải sống với rất nhiều bạn đồng trang lứa. Họ cũng lang thang để kiếm sống như chúng tôi. Tuy nhiên tôi có phước hơn họ là đã từng có một mái nhà, có ông bà và mẹ. Có gia đình ấm cúng thương yêu dù chẳng ruột rà. Còn họ đủ mọi thành phần bị gom bắt đưa về đây . Có bạn hút xì ke lên cơn nghiện la hét cả đêm. Có bạn người đầy những vết sẹo vì đâm thuê chém mướn. Có bạn chuyên nghề móc túi hay dẫn gái ăn sương. Họ thích sống bụi đời. Họ tự do quậy phá quen rồi. Họ không muốn cuộc sống tù túng bó buộc nơi này. Tâm lý của họ là phó cho định mệnh. Họ tin đời họ chẳng bao giờ có tương lai tươi sáng. Họ không hề muốn thay đổi làm lại cuộc đời.

       Nghe lời dặn dò của mẹ nuôi trước lúc ra đi. Tôi siêng năng học chữ, học nghề. Tôi không trốn trại ra ngoài. Tôi chấp hành kỷ luật dù khó đến đâu. Tôi nhịn nhục dù bị bức hiếp rất nhiều của những người bạn chung phòng. Tôi tự nhủ:” Không thể chống trả được, thì đây là cơ hội  để học và thay đổi ” Tôi nhớ lời ông ngoại đã nói” Dù chân con có tàn tật, nhưng đầu óc con minh mẫn. Hãy cố gắng.” Đêm đêm tôi úp mặt xuống gối khóc vì nhớ mẹ nhớ ông bà. Tôi nhớ quá chừng căn nhà nghèo nàn dột nát mà ấm cúng thâm tình. Họ tuy không giàu có, nhưng trái tim và lòng nhân ái của họ thật bao la.

       Một ngày tôi được gọi lên văn phòng. Trước mặt tôi là một người phụ nữ da trắng trung niên. Đây là người đã làm thủ tục để xin con nuôi tại Việt Nam và được giới thiệu tới nơi này. Không hiểu vì lý do gì  mà tôi được chọn ra đây với hai người bạn khác. Những người đạt đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu của hai bên. 

       Tôi lặng người đi vì hồi hộp. Tôi có được chọn không? nếu chọn tôi sẽ đi đâu?. Cuộc sống thế nào? Tôi còn có cơ hội để thăm viếng và giúp đỡ mẹ nuôi tôi  không? Tôi run run cúi mặt lo lắng. Người phụ nữ có mái tóc vàng thật đẹp, gương mặt phúc hậu bước lại gần tôi. Bà nắm bàn tay tôi ấm áp. Bà nhìn tôi trìu mến. Có lẽ thành tích của tôi ở trường khiến bà hài lòng. Bà không hề kỳ thị với cái chân tật nguyền của tôi. Trong mắt bà tôi nhìn thấy sự cảm thông, chia sẻ và yêu thương.

       Tôi được mời lên văn phòng nhiều lần để làm thủ tục giấy tờ. Tôi bằng lòng làm con nuôi người phụ nữ có gương mặt phúc hậu ấy. Tôi sẽ có thêm một bà mẹ. Sẽ bước qua một bước ngoặt mới. Tôi sẽ cố gắng học tập và làm tốt bản thân. Còn những gì kế tiếp thật tình tôi không dám nghĩ đến.

        Người nhận nuôi tôi là một người phụ nữ Mỹ độc thân. Bà là nữ Đại Úy không quân trong quân lực Hoa Kỳ. Bà là một người tham gia nhiều chương trình từ thiện tại VN. Hiện tại bà đang công tác tại một căn cứ không quân của Mỹ tại Nhật Bản.

Sau bao nhiêu lần mẹ nuôi tôi đi đi về về, tốn rất nhiều tiền để hoàn tất giấy tờ thủ tục. Tôi chính thức được công nhận làm con nuôi của mẹ Lisa theo đúng luật định. Bà là một người phụ nữ có lòng hảo tâm. Khi nghe tôi kể về quá khứ của mình, bà đã đến nhà mẹ nuôi tôi và giúp đỡ cho họ. Bà cho tôi đi học thêm sinh ngữ và chỉ dạy tôi rất nhiều về cuộc sống ở Mỹ để dễ hội nhập

*****

       Tôi đến nơi này, một căn cứ không quân Hoa Kỳ trong lòng nước Nhật. Hai mẹ con tôi sống trong một căn hộ được chính phủ cấp khang trang. Tôi được giới thiệu với các bạn bè của mẹ. Ban đầu tôi rất mặc cảm vì thân thế của mình. Nhưng dần dà tôi mới thấy rõ những tư tưởng phóng khoáng của người Mỹ. Họ tôn trọng giá trị và tự do của mỗi con người không phân biệt xuất thân. Những người lính nơi đây cho tôi một cảm giác ấm áp tình thân như người trong một gia đình.

       Tôi thấy mình thật hạnh phúc và may mắn có thêm một bà mẹ nuôi hết sức tốt bụng. Bà đã coi tôi như con đẻ, chăm sóc tôi chu đáo, chuẩn bị cho tôi tất cả để tôi không thiếu thốn thứ gì. Bà đã bỏ tất cả thời gian sau giờ công tác để dạy tiếng Anh cho tôi. Trong nhà mọi nơi, mọi chỗ đều có gắn những mẩu giấy nhỏ ghi rõ tên bằng Anh ngữ của đồ vật đó. Bà lấy ngày nghỉ để dẫn tôi đi chơi. Chỉ cho tôi và dạy tôi nói cho đúng. Bà mời cô giáo đến tận nhà dạy tôi học thêm để theo kịp bạn bè khi tới lớp.

       Mỗi ngày bà nấu cho tôi những món ăn Mỹ lẫn Việt Nam mà bà học được trên Internet. Có khi ngon, có khi dở nhưng tôi rất thích vì mẹ đã nấu bằng cả trái tim. Bà đã cho tôi một tấm gương về cuộc sống tự lập và sự tốt đẹp của người quân nhân Hoa Kỳ.

       Tôi đã đến trường và có nhiều bạn. Mỗi sáng tôi ra đón xe bus trước nhà để đến trường trong căn cứ . Tuy hơi khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ nhưng tôi cố gắng nghe và cố gắng rèn luyện. Tôi là một thanh niên đầy đủ sức khỏe. Một học sinh trung học có triển vọng. Tôi có một người mẹ tốt bụng xinh đẹp và tài ba. Tôi sẽ đi lên bằng chính đôi chân không được nguyên vẹn của mình. Bằng nghị lực và niềm tin vào ngày mai tôi tin tôi sẽ thành công.

       Con người không ai có thể chọn xuất thân của mình. Tôi đã không may mắn được mẹ ruột thương yêu, đùm bọc. Mẹ bỏ rơi tôi có lẽ vì mẹ có nỗi khổ riêng tư. Tôi cám ơn mẹ không vất tôi ở thùng rác hay bên vệ đường mà đặt tôi vào tay một gia đình nhân đức. Hai người mẹ nuôi cho tôi thấy tình mẫu tử tuyệt vời trong trái tim người phụ nữ. Tôi không trách mẹ ruột và càng yêu kính mẹ nuôi. Trong đời tôi may mắn có đến 3 bà mẹ. Xin ơn trên cho tất cả các bà mẹ của tôi đều được bình an.

       Tôi cũng không mặc cảm mình là người Việt nam nói không rành tiếng Mỹ.Rồi ngày qua ngày tôi sẽ nói rành rọt như họ. Tôi cũng không vì cái chân không được nguyên vẹn mà bỏ rơi ý chí và ước mơ của mình. Tôi sẽ học giỏi và sẽ là một bác sĩ quân y tương lai như mẹ nuôi. Tôi sẽ giúp đỡ những trẻ em khuyết tật, những đứa bé mồ côi từng khổ sở như tôi.

       “Không có gì là không thể thực hiện nếu mình quyết tâm.” Mẹ nuôi tôi đã nói với tôi như vậy. Tôi tin tưởng bà sẽ bên cạnh giúp tôi thực hiện ước mơ của mình. Nơi căn cứ cũng có vài gia đình sĩ quan người Việt. Tôi đã đến đó, đã được cùng họ trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Tôi đã nhận những thân tình và những lời dặn dò khuyên bảo. Đây là đồng hương, là những người cùng chung ngôn ngữ và màu da. Tôi đến với họ thường xuyên mỗi khi rảnh rang. Tôi nghe họ kể chuyện đời họ, chuyện về người cha Sĩ quan đi tù Cộng Sản. Chuyện người mẹ bán hết đồ đạc để thăm nuôi. Chuyện những người anh, người chị vượt biên trên biển cả. Chuyện những ngày đầu đến Mỹ và lý do tại sao họ có mặt ở đây.     Những câu chuyện thật bi thương và cảm động mà những ngày ở VN tôi không hề nghe hay biết. Tôi đã được thấy một lá cờ khác lá quốc kỳ mà tôi được biết. Lá cờ vàng với ba sọc đỏ mà con trai người cựu Sĩ quan VNCH trân trọng cất giữ.

       Tôi đã được ăn những thức ăn VN thật ngon và có những đứa em rất dễ thương để vui đùa và yêu thương. Đất nước Mỹ, quê hương Việt Nam của tôi nằm trong căn cứ này. Một căn cứ ấm áp tình người, tình đồng đội và tình gia đình.

       Tôi không hề cô đơn hay cảm thấy lẻ loi mà tôi thấy mình rất hạnh phúc. Ơn trên đã không bạc đãi mà đã cho tôi rất nhiều ân sủng và phước lành. Tôi phải nắm lấy những may mắn đó mà bước tới bằng tấm lòng biết tri ân và báo đáp. Tôi đã nhờ mẹ Lisa nối đường dây để tôi liên lạc với mẹ và bà ngoại. Vài tháng tôi dành dụm tiền quà để gửi về VN giúp đỡ Mẹ Có lần mẹ Lisa đã gửi số tiền khá lớn để trang trải tiền bệnh viện cho ngoại tôi. Một ngày nào đó trong tương lai tôi sẽ về lại VN. Bằng chính đồng lương của mình kiếm được, tôi sẽ xây nhà cho mẹ nuôi và bà ngoại. Tôi sẽ cho mẹ tôi sống cuối đời no ấm, đầy đủ và hạnh phúc. Đứa con mẹ nhặt trước cửa nhà sẽ không bao giờ quên công ơn của mẹ.

       Tôi đã ở đây một thời gian khá dài. Tôi đã được Mẹ Lisa cho đi thăm viếng những thắng cảnh ở Nhật. Tôi đã thấy hoa Anh Đào rực rỡ trên đất nước Phù Tang. Đã thấy mùa thu tuyệt đẹp trong căn cứ, trong công viên lẫn khắp nẻo đường Nhật Bản. Tôi đã chạm được với tuyết và nhìn tuyết rơi trắng xóa mùa Đông. Tôi đã có bạn học, tôi đã có tất cả những gì tôi từng mơ ước.

Mẹ Lisa lại nói với tôi:

-Mẹ là quân nhân, là lính Mỹ phục vụ nước ngoài, mẹ không được ở một nơi cố định. Chỉ còn hơn một năm nữa chúng ta sẽ đổi đến một nơi khác mà mẹ không biết ở đâu. Cho nên con phải ráng học, chấp nhận và thích ứng khi con sẽ phải đến học một trường khác, quốc gia khác. Mỗi nơi chúng ta đến cho ta một bài học về xứ sở và con người, ngôn ngữ và đời sống nơi đó. Nó sẽ giúp cho con kiến thức và tầm nhìn xa hơn. Hãy thưởng thức và ghi nhận những gì con biết. Không ai dễ có được sự trải nghiệm đó đâu con. 

        Mùa Xuân đã về trong căn cứ. Tôi cùng mẹ tham dự những buổi liên hoan dành cho gia đình binh sĩ. Tôi hãnh diện làm con của mẹ, tôi hãnh diện là con trai một người lính Mỹ.Tôi cố gắng học tập, giúp mẹ những việc nặng nhọc, tôi phụ mẹ cắt cỏ, quét lá, dọn dẹp nhà cửa và nấu cho mẹ những món ăn VN mẹ thích. Tôi sẽ cho mẹ niềm vui để mẹ xóa đi nỗi buồn cô đơn của một người phụ nữ độc thân. Tôi sẽ cho mẹ một tình cảm mẹ con ấm áp. 

       Gia đình chúng tôi lấp lánh ánh đèn trên cây thông Giáng Sinh. Hạnh phúc bao trùm hai mẹ con tôi trong đêm giá lạnh. Tình yêu thương không phân biệt màu da và chủng tộc. Mẹ con tôi hai con người thiếu thốn tình mẫu tử. Chúng tôi sẽ bù đắp cho nhau và xây dựng mái ấm gia đình. 

        Ngày tết Nguyên Đán năm nay rơi vào ngày cuối tuần. Mẹ tôi cũng trang trí trong nhà vài hình ảnh ngày tết mà mẹ mua ở Việt Nam. Ngày mồng một, gia đình thiếu tá Nguyễn mời chúng tôi tới nhà. Năm nay mẹ bác ấy đến thăm và ở lại ăn Tết cùng con. Tôi mặc áo quần lịch sự. Mẹ Lisa mặc áo dài VN màu kem in những cánh mai vàng thật đẹp. Mẹ nói mẹ đã mua khi về VN làm giấy tờ mà chưa bao giờ được mặc.

       Nhà bác Nguyễn mời thêm nhà bác Hiến cũng ở trong căn cứ. Ba gia đình VN vui Tết quê hương. Mẹ bác Nguyễn cũng mặc áo dài, bà khen mẹ Lisa mặc áo dài quá đẹp. Bà vui vẻ nhận những lời chúc của các con cháu và mọi người. Bà chúc mọi người sức khỏe và thành công, chúc tôi học giỏi. Bà tặng chúng tôi những bao lì xì màu đỏ, màu vàng có in hình lá cờ VN hoặc trống đồng rất đẹp. Thú thật lần đầu tiên tôi cầm trên tay phong bao có hình lá cờ vàng với ba sọc đỏ. Thật lạ và đẹp. Một biểu tượng của lịch sử mà tôi cần phải học hỏi. Hôm đó tôi được ăn Tết VN thật sự. Bà đã cho chúng tôi thưởng thức thịt kho tàu, canh khổ qua, nem, chả giò và phở bò thật ngon. Bà nói ở đây không có điều kiện nên bà không thể gói bánh tét hay bánh chưng, bà chỉ gói ít bánh tét chuối ăn cho vui để nhớ. 

       Đây là cái Tết đầu tiên mà tôi đón nhận với tất cả niềm vui hạnh phúc và hy vọng. Đêm nay tôi sẽ ngủ thật ngon với nhiều mộng đẹp tương lai.  Mùa Xuân nơi đây, trong căn cứ này  sẽ là mùa Xuân thần thoại của riêng tôi.

Nguyễn thị Thêm.

(Viết thay cho cháu Tuấn khi gặp cháu trong căn cứ Yokota Nhật Bản)

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Mùa Xuân Thần Thoại, Nguyễn Thị Thêm
Comment

Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ ( Từ Thức)

February 26, 2026 Ninh Tran

“Vào năm giảm tô, ông nội bị bắt giam. Ông bị treo lên, đầu dọng xuống đất. Sao lại dọng đầu ông xuống đất, sau này tôi hỏi mẹ. Mẹ bảo, để cho ông có nuốt vàng vào trong bụng thì nhả ra. Họ dọng đầu ông như thế từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối. Cho đến lúc không tra khảo gì nữa thì tống vào tù”.

Đó là một cảnh đấu tố trong cuốn “GIA ĐÌNH” của Phan Thúy Hà (Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam) ra mắt năm 2020. Tác giả đi gặp, ghi lại lời kể của những nhân chứng còn sống sót thời Cải Cách Ruộng Đất kinh hoàng, đẫm máu ở miền Bắc, từ 1953 tới 1956.

“ĐOẠN ĐỜI NIÊN THIẾU” là cuốn thứ hai, cùng một đề tài, vừa được Hội Nhà Văn xuất bản ở Hà Nội (2023). Người đọc, dù đã biết, đã đọc những chuyện tàn khốc, man rợ về những cuộc đấu tố, sẽ sững sờ trước những sự kiện, những kỷ niệm sống, vượt xa sức tưởng tượng của những nhà văn giầu tưởng tượng nhất. Hơn cả cái tàn ác, cái làm cho người đọc kinh hoàng là sự hủy hoại tình người, mà Tô Thùy Yên gọi là cái “thương tổn nặng nề cho nhân phẩm.”

Gấp sách lại, người đọc tự hỏi: Tại sao con người có thể độc ác, tàn tệ với nhau đến như vậy? Nhất là đây không phải là nghĩa vụ “uống máu quân thù”. Đối tượng không phải là giặc Pháp, cũng chưa có “Mỹ Ngụy”.

Đối tượng là những người láng giềng, cha mẹ, anh em, chiến hữu đã cùng nhau vào sinh ra tử, những người cùng đổ máu để xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa, hôm trước là chiến sĩ gương mẫu, hôm sau bị quy là địa chủ bóc lột, vì có vài sào ruộng, một con trâu, một đàn gà. Hay chỉ vì một chút hận thù, ganh ghét cá nhân.

39 GIA ĐÌNH TAN NÁT

“Mẹ tôi nói: cha đấy con. Cha con là người vừa bị bịt mắt dải khăn đen kia. Cha giật dải khăn đen ra: Tôi không có tội gì cả. Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm. Chủ tịch HCM muôn năm (…) Buổi chiều trước ngày cha bị bắn, mẹ đưa cơm cho cha. Cha ăn cơm xong, người ta trả cái giỏ đựng nồi cơm cho mẹ. Mẹ thấy ở dưới đáy nồi mẩu giấy nhắn của cha: Ai ngờ vô tội mà chết oan. Âu cũng là số kiếp. Gắng mà nuôi con. Sau này Đảng có hỏi thì trình bày tới nơi tới chốn (Gia Đình; trang 171)

Đây không phải là một cuốn sách hư cấu. Dưới hai cái tựa hiền lành, gần như lạnh lùng, tác giả ghi lại lời kể của các nhân chứng, không một lời bình luận. Những dữ kiện trần truồng, không gói ghém, càng khiến cái man rợ man rợ hơn. Sự thực, cũng chẳng cần bình luận. Sự kiện, tự nó nó nói. Khi cái man rợ lên tới tột độ, lời bình luận trở thành thừa thãi.

Gia Đình (274 trang) là chuyện của 19 người; Đoạn Đời Niên Thiếu (250 trang), 20 người, tổng cộng 39 gia đình tan nát. Mỗi trang là một thảm kịch. Mỗi câu chuyện trong hai cuốn sách có cái tựa mang tên người kể chuyện: Lê Xuân Đài, Đặng Thị Dung, Đặng Văn Chương v.v…

Đoạn trích trên đầu bài là lời kể của nhân chứng Võ Tá Tạo (Gia Đình; trang 49-53).

Ngoài ông nội, bị treo ngược đầu, sau đó chết vì bệnh, “bác Võ Tá Cảnh, con trai cả của ông bà, chết trong trại giam. Có người nói bác tự vẫn (…). Anh chết, em phải thế mạng. Cha tôi, Võ Tá Tân, phải đền tội thay Võ Tá Cảnh. Cha về làng để nhận án tử hình thay thế bác Cảnh (…).

Trên quả đồi trọc, những bó đuốc giơ lên. ‘Cho mi nói một lời cuối cùng với bà con nông dân’. Cha nói: Con thưa bà con nông dân, con là một thằng phản dân, phản đảng, phản nước, con xin ông bà nông dân tha tội bắn cho con… Ba phát súng. Ở nhà chúng tôi nghe rõ. Cha tôi gục xuống.”

Trước khi xử tử, người ta quy tội. Có người bị hành hạ vì tội đã học tiếng Pháp, chắc chắn là để làm mật thám cho Tây. Có người bị kết án vì lý do ngớ ngẩn: Thằng Bản (địa chủ bị gọi là thằng, xưng con, bất chấp tuổi tác) chặt cây ngụy trang chỉ điểm cho giặc. Bởi vì có lần bà ta đi ngang ngõ thấy cha tôi bắc thang trèo cây, tỉa bớt cành lá (Gia Đình; trang 27).

Tội trạng như vậy, đủ để bị trói, bị quỳ trên sỏi đá, cho dân làng nhục mạ. “Buổi chiều, tôi gấp một chiếc giẻ may vào phần đầu gối chiếc quần cho cha quỳ đỡ đau buốt. Đứa nào may thêm vải này cho mày? Dạ thưa, con tự may. Lớp giẻ độn sau chiếc quần bị tháo ra. Đêm đó cha bị quỳ lâu hơn, đá nhọn dồn lên đầu gối sắc hơn hôm qua (Gia Đình; trang 28).

Cái đói, cái dã man hơn cả thú vật giữa người với người, cái nhục mạ, hành hạ thân xác, tinh thần những nạn nhân vô tội, và cái chết bi thảm, rùng rợn, của những người bị đạp ra khỏi xã hội hiện diện trên mỗi trang giấy. Một xã hội chỉ có nhu cầu ăn cho no, sẵn sàng đạp lên xác người khác để có bát gạo. Trò giải trí duy nhất là đi coi, hay tham dự đấu tố, cái vui duy nhất là nhục mạ, giết người trước đó là anh em, láng giềng hay ruột thịt.

CÁI TÀN ÁC MAN RỢ

Con đi bộ đội, một bà mẹ bị ép buộc hiến đất, hiến của cho cách mạng:

“Chum, vại, đàn trâu bò mẹ bán hết để mua công trái quốc gia, đóng thuế nông nghiệp (…). Mẹ được tặng bằng “Gia đình vẻ vang”. Con nhà người ta bị bắt đi tù, bị mang ra bắn, con mình được bằng khen. Mẹ bảo tôi tìm cho mẹ một cái ống tre khô, cuộn tròn tấm bằng khen, cất vào ống tre, để lên đầu giường. Một đêm, mẹ đang ngủ, dân quân gọi ra hội quán. Hôm sau tôi mang cho mẹ mấy củ khoai, thấy hai chân mẹ bị cùm, mẹ khóc. Hơn tháng sau, dân quân giải mẹ về, gọi tôi ra quỳ cùng với mẹ. Họ ra lệnh gì mẹ tôi cũng dạ (Đoạn Đời Niên Thiếu).

Ngoài sân như hội trường. Tiếng quát tháo, tiếng giành nhau đồ đạc. Cờ quạt dựng lên từ ngõ vào. Mẹ và bà nội bị bắt đi đâu không ai biết (…). Em tôi đói. Tôi cũng đói. Em lả dần và chết bên cạnh tôi. Người đấm đá vào lưng, vào gáy mẹ. Người ta lấy báng súng tọng lên lưng mẹ (Gia Đình; trang 39).

CÁI CƯỚP GIỰT

Đó là một xã hội cướp bóc, từ trên xuống dưới, công khai.

Nhà nước cướp: “Lúa chưa kịp phơi khô. Phải nộp hết. Gọi là thuế nông nghiệp’’ (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18). Thuế nông nghiệp, thuế khả năng và hàng chục thứ thuế khác. Nhiều người bị kết án tử hình sau khi đã cống hiến tất cả, nhưng vẫn chưa đủ.

“Cha bị bắt đi quản huấn. Ở nhà, thỉnh thoảng mẹ tôi bị bắt đến nhà một cố nông để khai báo còn cất bao nhiêu vàng bạc, lúa gạo. Còn gì mà khai báo. Vàng bạc đã cúng hiến cho kháng chiến trong “tuần lễ vàng”, lúa gạo đã cúng hiến cho chiến dịch ba tháng “góp gạo nuôi quân”, mùa lúa cuối cùng đã nộp hết cho thuế nông nghiệp” (Gia Đình; trang 55)

Mặc dầu vậy, “mẹ tôi bị trói cổ tay bằng sợi dây xỏ mũi trâu bò, treo lên cành cây bưởi ở mé sân, chân không chạm đất. Đàn con ngồi trước mặt mẹ, chứng kiến mẹ bị treo lơ lửng” (Gia Đình; trang 56)

Bị nhà nước cướp sách, dân đói, cướp lẫn nhau. Mang nhau ra sỉ vả, tra tấn, hành hạ hay chém giết chỉ để cướp một cái chiếu sạch, một cái nồi đồng.

-Mẹ dậy nhóm bếp, bẻ nửa nải chuối cho vào niêu luộc. Ánh lửa hất ra đường, cốt cán Hoe Năng đi tuần phát hiện, vào kiểm tra đang nấu gì. Chuối ở đâu ra (…). Tịch thu, của ni không phải của mi. Hoe Vinh bê niêu chuối trên bếp lẫn nửa nải chuối chưa luộc, mang đi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 34).

Cái cảnh cướp giựt, từ một miếng cơm, không biết nên cười hay nên khóc:

-Cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên. Đang ăn, dân quân đứng ngoài nhìn vào. Mẹ nhanh trí làm động tác như đang húp cháo. Nghĩ là ăn cháo, dân quân bỏ đi” (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 50)

-Trước khi đi ngủ, tôi xếp mười chiếc nón vào hai cái thúng. Sáng dậy gánh đi chợ hạ. Ra đầu ngõ bị dân quân tịch thu. Đây là âm mưu của địa chủ phân tán tài sản. Từng là chiến sĩ thi đua, được cả trường tôn trọng, nay gặp những chuyện vô lý như thế, tôi uất ức, khó chịu. Nhiều đêm không ngủ được, tôi nghĩ đến chuyện tự tử (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 70).

Một người cha đi tù, chuyển lời về nhà:

“Các con cứ để cho họ lấy hết. Một cái vung cũng không được giấu. Các con cố giữ lại thứ gì, tội cha to thêm thứ đó. Các con giữ thêm một đồ vật, cha bị kết tù thêm một năm” (Gia Đình; trang 34).

CÁI ĐÓI

Cái đói là một ám ảnh lớn. Trang sách nào cũng có chuyện ăn vỏ khoai, ăn lá cây, giành giựt nhau một nắm cơm, một bát cháo.

-Bán 10 viên (kẹo vừng), lời 4 viên. Các cháu đói quá, ăn vụng mất của o, đang lời thành lỗ. Chị dâu làm bánh tẻ, bánh ít đem ra chợ. Người ta xúm lại bóc bánh ăn rồi đi, không trả tiền (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18)

–Làm việc cả ngày, được nghỉ trưa một tiếng để ăn cháo. Chị nấu ăn hôm đó dùng thùng thuốc trừ sâu đựng cháo. Thùng chưa vệ sinh sạch. Mấy người ăn bị ngộ độc. Họ nghi tôi, con địa chủ, bỏ thuốc độc vào nồi cháo. Không ai ăn cùng mâm, không nói chuyện với tôi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 20).

Đôi khi người đọc mỉm cười: Mẹ bị tố, cả nhà đói, người anh đi bộ đội gởi về tặng em một… trái mìn, để đánh cá. Mìn nổ trên mặt nước, chỉ chết vài con cá mương (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 36).

CÁI SỢ

Cai trị bằng cái sợ là một chính sách, một lý thuyết chính trị của Lénine, được Staline, Mao, Pol Pot và những đệ tử Việt Nam trung thành áp dụng triệt để.

Sợ từ khi còn ngồi ghế nhà trường: “Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết sợ gì (Gia Đình; trang 42).

“Văn đệ tứ, phải chọn giữa 3 đề, đề 2: Bình luận một câu của Trường Chinh, đề 3: Phương pháp tả người của Nguyễn Du. Cả lớp làm đề 3. Dại chi làm đề kia, viết hớ hênh một câu mất lập trường là nguy (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 21).

Cái sợ bám vào nhân thân suốt đời, như một người cao tuổi, trong Gia Đình, tới nay vẫn không dám thắc mắc một chuyện gì:

“Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai, tôi vẫn là một ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một chuyện gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình, cầm bút lên tôi lại run”.

CÁI CHẾT

Hậu quả của sự tàn bạo là cái chết. Chết vì bị treo cổ, treo đầu ngón chân, bị đánh đập, tra tấn, vì đói, vì tự tử.

-Chị ngồi tựa lưng vào gốc cây dối, dải yếm trễ xuống, thằng con như con nhái bén vẫn đang nhai vú mẹ. Lúc đó chị đã chết rồi mà tôi không biết (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 41).

-Bà nội chết vì rét hay vì đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ, bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà, thấy hai chiếc xương sườn bị gẫy (Gia Đình).

HUẤN LUYỆN CĂM THÙ

Người ta tự hỏi: tại sao những người nông dân, vốn hiền lành, đã trở thành ác quỷ? Con người có thể trở thành thánh, hay thú vật, tùy môi trường sống, tùy giáo dục. Lịch sử đã chứng minh điều đó, với xã hội Đức dưới thời Hitler, Nga dưới Staline, Tàu dưới Mao, Cao Miên dưới Pol Pot. Việt Nam không phải là một ngoại lệ, nếu điều đó có thể an ủi người Việt.

Tất cả trò đấu tố đều học của Tàu, cố vấn Tàu sang dạy cách xử án, quy định tỷ số địa chủ phải mang ra làm thịt. Đó là một xã hội xây dựng trên sự căm thù, được dạy dỗ, tập luyện từ nhỏ, từ ghế nhà trường:

– “Thầy giáo nói hôm nay nghỉ học để tối đi đấu tố địa chủ… Xen vào những buổi đi học bình thường là những buổi nghỉ học để tối đi dự đấu tố. Học sinh đến trường tập trung. Mỗi em một bó đuốc, vừa đi vừa hô. Tôi cũng hô to không thua gì các bạn (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 64).

-Tấm biển “Địa chủ” dựng trước sân. Tôi hất đi thì hôm sau thằng bạn học cùng trường đến dựng lên. Trước đây nó cùng đội thiếu niên, tôi liên đội trưởng, nó liên đội phó (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 49).

Được dạy dỗ như vậy, bọn trẻ thơ ngây trở thành ác quỷ. Có lẽ cái giết sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ, nó còn ghê rợn hơn cả chuyện giết người.

-Bị đuổi dạy, thầy giáo Banh nấu nước chè xanh đi bán ở các làng khác, khi về đến đầu làng bị nhóm trẻ con xúm vào đập vỡ hết bát, ném xuống sông, thầy ngồi khóc trên cầu (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 87).

-Ê, con địa chủ, con địa chủ. Mấy đứa lao vào tôi. Bọn con gái không đánh được thì giật tóc, gõ đầu, cấu véo. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về đến nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này (Gia Đình; trang 41).

NHỤC MẠ

Giết người chưa đủ, đánh tan nát gia đình nạn nhân chưa đủ, chia nhau từng cái chổi cùn chưa đủ, còn phải nhục mạ người sống, người chết:

“Vườn của bác đã là vườn của nông dân. Không được chôn địa chủ trong vườn nông dân” (Gia Đình; trang 23).

Có lẽ cái nhục mạ nạn nhân, cái thú man rợ khi tước đoạt luôn nhân phẩm con người chỉ có dưới chế độ cộng sản, đặc biệt là cộng sản Tàu và đàn em. Dưới những chế độ độc tài khác, thường thường chỉ có cái ác.

SỬA SAI

Năm 1957, Đảng nhận lỗi, sửa sai. Nhưng lỗi là lỗi của những phần tử quá khích. Đảng không thể có lỗi. Tại trường học, những ông hiệu trưởng, giáo viên trước đây được khen ngợi đã thành công trong việc giúp học sinh đấu tố nhau, bị kết tội do địch gài vào để phá hoại.

Nhà nước xin lỗi, thế là xong, yên chuyện, ai về nhà nấy, như không có chuyện gì xẩy ra. Như có người vô tình chạm vào tôi ngoài đường, xin lỗi. Dạ, không có chi.

Dù sao, chuyện Đảng công khai xin lỗi cũng cho phép gia đình nạn nhân được khóc công khai những người đã bỏ mạng. Và cho phép rất nhiều tác phẩm về “Cải Cách Ruộng Đất” ra đời mà tác giả không đi tù hay mất mạng.

Mặc dù vậy, cái sợ hình như vẫn đâu đó.

Đại tá nhà văn Phan Kế Toại, đề tựa cho cuốn Gia Đình, đề cao việc làm của tác giả, coi trọng việc đi tìm sự thực, không quên thòong một câu, cho chắc ăn: “Mọi người cần chung tay cố gắng trân trọng sự đổi mới, gìn giữ thành quả dân chủ để đất nước không bao giờ trở lại thời kỳ ấu trĩ như thế nữa”.

“Thành quả dân chủ”! Câu kết luận politically correct không khỏi khiến người đọc mỉm cười, khi nghĩ đến thực trạng Việt Nam ngày nay về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng…

Trong cùng một bài tựa, ông Toại kể: “Trong gia đình tôi (…), nhiều người đã bị quy địa chủ, phú nông hoặc phản động. Người bị tịch thu tài sản, người tự vẫn, người bị bắt giam, bị cùm chân, người bị xử tử”. Dùng chữ “ấu trĩ” cho một xã hội lở lói khủng khiếp như vậy có lẽ hơi nhẹ.

Bao nhiêu người là nạn nhân của “cách mạng”? Theo BBC, nhà nghiên cứu Mông Cổ Balazs Szalontai khai thác các tài liệu Đông Âu và Liên Xô, đưa ra con số 7,7 triệu người dân và hàng trăm gia đình “buộc phải tham gia và chịu hệ lụy” chỉ trong đợt giảm tô. Trong đợt chính thức Cải Cách Ruộng Đất, 4 triệu người “chịu tác động”. Tác giả Hoàng Minh Chính đưa ra con số nửa triệu người (5% dân số miền Bắc) bị phỉ quyền Hà Nội giết hại.

Riêng “Cải Cách Ruộng Đất”, theo Bernard Fall, 50.000 bị xử tử, ít nhất gấp đôi bị đày đọa đi tù lao động khổ sai. (BBC 3/2/2022)

Le Livre Noir du Communisme (Sổ Đen của Chủ Nghĩa Cộng Sản) do sử gia Stéphane Courtois chủ biên, cũng đưa ra con số 50.000 người bị xử tử, từ 50.000 tới 100.000 người bị đưa đi tù lao động khổ sai. 

Le Livre Noir là một cuốn sách dày 662 trang, do các sử gia, ký giả, giáo sư Pháp biên soạn, tố cáo những tội ác man rợ của cộng sản quốc tế, với 100 triệu nạn nhân đã bỏ mạng để xây dựng “XHCN”.

Từ Thức

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ, Từ Thức
Comment

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH ̣̣ ̣Huỳnh Anh Trần-Schroeder

February 25, 2026 Ninh Tran

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH

Họ gặp nhau trong một buổi cắm trại hướng đạo vùng Lâm Đồng cao nguyên.

Sáng tinh sương, chàng vừa đưa tay vuốt mái tóc bồng trong gió rừng, ngắm cảnh nước cuốn trên dòng suối róc rách, bỗng nghe tiếng cười khúc khích tiếp theo là”thôi đẹp rồi, khỏi cần trau chuốt”.

Quay lưng lại, chàng thấy nàng cười tươi bên cụm lan rừng ven bờ suối.

Rồi tiếp theo là

Khỏi cần xưng tên, biết anh là Sói tốt tướng, thuộc tráng đoàn Bạch Mã Lam Sơn”

Chàng nheo mắt hỏi

“Giỏi lắm! Nhưng tốt tướng xin xét lại vì còn tùy nhãn quan người nhìn. Thế còn cô tên là gì?”

Chưa có tên rừng, nhưng nếu có chắc là én ranh mảnh, én tào lao hay én chọc quê, tùy người chọn.

Tôi xin chọn “yến mỹ miều”

“Ớ cái anh chàng vô duyên, chưa quen mà đã nịnh đầm rồi.

Én nầy là én lang thang.

Cuối rừng mượn gió trêu chàng tráng sinh,

Nắng lên đẹp lối bình minh,

Nhanh lời thơ mọn, chúc xinh tháng ngày,

Chúc ai thơ thẩn khoan thai,

Ngắm sen trong ánh sương mai ngọc ngà,

Chằng hẹn nhưng trót quen ta,

Xin lời tâm nguyện trên nhà bon chen,

Xa gần trước lạ sau quen,

Nhớ ngày tao ngộ, bờ sen ven rừng.”

 Thế là họ quen nhau một buồi đẹp trời rừng núi cao nguyên.

Thế rồi họ yêu nhau, cùng chung tâm tưởng giúp đời theo lời khuyên của Baden Powell và sau đó theo lời nguyền Hippocrates sau những năm dài học trình y khoa.

Ngày trên quê hương chiến tranh tăng tốc độ khắp quan hà núi sông, chàng vừa học xong năm cuối trường y, “mùa hè đỏ lửa” 1972 anh “xếp áo thư sinh theo tiếng gọi lên đường” vào quân y lăn lóc khắp các vùng hỏa tuyến quê mình. Nàng khoác áo trắng tình thương thêu chữ thập hồng ngược xuôi các trạm y tế hậu phương cùng tiền tuyến đem hành trang học trình đỡ đần chăm sóc thương binh cùng người dân họa hoằn trong những vùng khói lửa quê hương, ngày đêm cầu nguyện cho hòa bình trở lại, cho non nước lại xanh màu, dân tình thôi đau thương và người yêu trở về với mình, dù lành lặn hay mất mác vài khoảng thân hình nhưng vững niềm tin nơi loài người còn nhân tính và xứ quê hết vận mạt.

Họ xây dây cát đằng trong một buổi tinh sương bên bờ suối ở khu rừng họ gặp nhau ngày nào. Họ yêu nhau tha thiết, quên ngày xa cách những lúc chàng hành quân. Những ngày về phép tưng bừng vui nhộn. Cuộc đời rày đó mai đây, họ trân quý từng phút bên nhau, họ cho nhau những gì đẹp nhất trên đời, không bao giờ hờn giận nhau hay hận sầu quê hương vì biết sinh ra trong thời binh biến, chẳng biết ra sao ngày sau, một ngày có nhau là một ngày hạnh phúc vô biên. Họ cảm ơn đất trời, mỗi mùa sao sáng dưới chân Thánh Giá, mỗi buồi quỳ dưới tòa sen Phật Đài, nghe lòng lắng dịu nỗi sầu nhân thế.

Rồi năm tháng dần trôi. Gia đình lại thêm hồng phước với hai con, một trai, một gái, thêm tiếng cười ngày cha về phép.

Rồi tháng tư đen bỗng đến trong nghẹn ngào trên đất nước lầm than.

Rồi gia đình cùng qua cửa thần phù trên Thái Bình Dương khổ ải.

Nơi xứ lạ quê người thành quê hương thứ hai, cuộc sống đầy thử thách lại bắt đầu, tìm tình người trong nỗi sầu vong quốc, tìm ánh tương lai cho đàn con và ngày tĩnh lặng thu đông cuộc đời cho song đường hai bên người còn, người mất.

Bát ngát ruộng vườn ngô lúa mì mang nguồn sống mới, tuy khác lạ với ruộng vườn phù sa, cây trái xum xuê của miền nhiệt đới, nhưng đây là mảnh đất nhiệm mầu có chân tình thiên hạ, tâm hiền người dân làng quê xứ nhỏ của bao la xứ Mỹ. Nơi đây con của họ lớn lên, không nuôi dưỡng hận thù bất đắc dĩ, biết nhận thức nét đẹp thiên nhiên và cao cà lòng người với người dân nhiều hiểu biết văn hóa hơn dân xứ xưa của mình nhưng vẫn giữ lòng chất phác như người dân Việt của những ngày họ vừa lớn, vừa biết yêu thương.

Không như một số người y khoa đồng môn, đồng khóa đã đến bến bờ xứ Mỹ như họ mà vẫn đua đòi công hầu danh tướng sống nơi tụ tập dân Việt nhiều xa hoa như vùng Quận Cam Cali hay thủ đô Hoa Thịnh Đốn, vừa se sua thành tích, vừa nổ miệng khoe của, khoe thành tích con em chức cao đổ đạt, họ cần mẩn làm y sĩ làng quê, vui với sự giúp đỡ y tế cho dân làng và vui thú điền viên. Cuộc đời thật thanh bình, con cái hòa hợp, hòa đồng, trưởng thành với người bản xứ.

 Hôm nay là ngày kỷ niệm thứ  năm mươi  ngày họ gặp nhau.

Tay trong tay, hai bóng người lững thững dạo đường mòn ven núi, trong rạng đông sương gieo thánh thót trên chốn thiên nhiên âm thầm thanh tịnh.

Trên thảm cỏ xanh viền bờ suối vờn bọt sóng, họ ngồi cạnh nhánh cây nửa chìm nửa nổi trên dòng nước. Vuốt tóc nàng, chàng thầm thì trong gió rù rì qua rặng cây:

Cánh én yêu kiều, nhạn rừng hoang,

Hồn thơ lai láng, giấc mơ vàng,

Thương em qua dặm ngàn dâu bể,

Từ bình minh én dựng mùa xuân,

Đến độ thu đông, tuổi ân cần,

Tình sói miên man, dâu bể chẳng nề.

Sáng rạng đông hay cuối dương tà,

Tình ta tha thiết, tình mặn mà,

Thương em như lụa ngà trăng giăng,

Như bóng nguyệt lồng ngọn hải đăng,

Như đường tàu sóng hoa giăng trắng,

Trắng mơ màng người yêu dưới trăng.

Giờ đây sương khói mờ nhân ảnh,

Vẫn thương người em đẹp như tranh,

Bờ rừng ven suối lời ranh mành,

Trộm trái tim anh về chốn vườn thanh.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH
Comment

Viên Đạn Cuối Cùng (Bảo Định)

February 13, 2026 Ninh Tran

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trãi qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi dục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẵng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẩn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.

Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngũ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngã tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cải lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cọng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sữ. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giãi tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khoẽ. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.

Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vở. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.

Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL.Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:

- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hãi quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẳn sàng.

- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.

- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.

- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.

- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lữa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.

Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giãi phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:

- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặc khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăng bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra hỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!

Bảo Định - 30/4/2006.

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trãi qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi dục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẵng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẩn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.

Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngũ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngã tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cải lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cọng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sữ. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giãi tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khoẽ. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.

Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vở. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.

Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL.Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:

- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hãi quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẳn sàng.

- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.

- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.

- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.

- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lữa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.

Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giãi phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:

- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặc khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăng bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra hỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!

Bảo Định

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Viên Đạn Cuối Cùng, Bảo Định
Comment

Nửa Ổ Bánh Mì (Song Tử - Nguyễn Vân An)

February 13, 2026 Ninh Tran

Đây không phải là một bộ truyện ngôn tình sắc - sủng ướt át ngập cảnh nóng. 
Cũng không phải một bộ truyện teen tình yêu đầy ảo tưởng.
Không tình yêu, không tình dục… tôi chỉ muốn viết về một người mà đối với tôi, tình cảm ấy còn to lớn hơn gấp trăm ngàn lần tình yêu.

Ba mẹ tôi đến với nhau nhờ sự gắn ghép giữa bà nội của mẹ và mẹ của ba. Ý tôi muốn nói ở đây chính là ba mẹ tôi không hề yêu nhau trước khi làm đám cưới.
Mẹ của ba - tức bà nội tôi từng kể rằng ba trước khi kết hôn với mẹ đã có người yêu, nhưng bà nội không thích cô gái kia nên một mực ép ông cưới mẹ… Ba cũng không thể cải lời bà nên ngậm ngùi chia tay mối tình ấy mà cưới mẹ về.

Không bao lâu thì anh trai - người mà tôi muốn nói đến ra đời.

Năm đó hạn hán kéo dài, gia đình tôi đã nghèo lại càng nghèo hơn. Mẹ không còn sữa cho anh tôi uống nữa, khi đói thì khóc thét lên mẹ lại mang nước cháo cho anh tôi uống tạm qua cơn đói, ấy vậy mà anh tôi vẫn lớn lên, tuy hơi ốm một chút… nhưng thật khỏe mạnh.

Nhà tôi không có đất đai gì nhiều, được bà nội cho một ô ruộng để canh tác kiếm gạo sống qua ngày, ba tôi thường đi làm thuê làm mướn bên ngoài để kiếm tiền lo cho gia đình. Anh tôi được gửi sang nhà nội nếu đến ngày làm đồng án, cứ thế cuộc sống trôi qua.

Đến khi tôi được sinh ra, là lúc anh trai tôi lên bảy tuổi. Bà nội thường nói, tôi chính là may mắn của gia đình, vì năm tôi sinh ra cũng là năm mưa thuận gió hòa, lúa trúng đầy đồng. Ba tôi lại được ông chủ nhận làm quản lý của một kho lúa. Gia đình tôi nhờ vậy mà thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy vậy cũng chỉ đủ ăn qua ngày… nói là khá giả thì không đúng.

Năm tôi lên sáu tuổi, cũng đã đủ nhận thức mọi việc xung quanh mình. Tôi và anh trai là hai cực đối lập nhau, anh tôi thì sau khi đến trường đều ở nhà dọn dẹp nhà cửa nấu cơm giúp mẹ rồi học bài, còn tôi thì chỉ thích rong chơi ngoài đường cùng tụi thằng Tý, thằng Tèo. Ấy vậy mà mẹ tôi chẳng mắng tôi câu nào, ba thì mãi lo làm đến tối khuya mới về… người duy nhất thường la mắng và đánh đòn tôi chính là anh tôi.

“Viết bài chưa?” - Giọng nói đầy uy quyền của anh trai tôt thốt lên.

“Đi chơi về sẽ viết.” - Lúc ấy tôi không gọi anh tôi là anh, thường xưng là mày tao.

“Viết bài xong mới được đi chơi.”- Anh vừa ngồi trên bàn học vừa nói. “Bước ra khỏi nhà tao đập gãy chân.”

“Mày giám đánh tao, tao méc ba” - Tôi thách thức rồi cũng chạy ra khỏi nhà.

Tôi mang ba ra hù vì ba rất thương tôi, và có đôi phần lạnh lùng với anh - điều này thì sau này tôi mới nhận ra.

Tôi thường cùng thằng Tý và thằng Tèo chơi bắn bi ngoài sân phơi lúa của nhà thằng Tèo, nhà nó rộng lớn thuộc dạng giàu có trong làng, nó chỉ cho tôi và thằng Tý vào chơi vì có lần nó bị bọn xóm trên đánh trên đường, tôi và thằng Tý đã đánh bọn kia cứu nó, từ đó ba đứa trở thành bạn thân với nhau.

Thường thì tôi thích chơi bắn bi tam giác, còn hai đứa nó thích chơi bắn bi chia mức… Chỉ là tôi bắn bi rất giỏi, bắn bi tam giác một lần sẽ ăn được rất nhiều bi của tụi nó. Có lần xếp chín viên bi vào hình tam giác vẽ trên mặt đất, chỉ một mình tôi bắn đã ăn hết sạch chín viên khiến tụi nó tức lắm, nhưng không làm gì được.

“Chơi bắn bi chán rồi, tao có cái này hay hơn” - Thằng Tèo nói, sau đó nó vào trong nhà mang ra một cái cù tròn tròn được đẽo tỉ mĩ, nó dùng dây tung một cái cái cù liền xoay rất nhanh.

“Ai làm cho mày đó.” - Tôi hỏi.

“Ba tao mua trên thị xã” - Tèo đáp.

“Cho tao mượn coi.” - Thằng Tý thích thú.

Tôi nhìn thấy cũng thích, sau khi chơi chung cùng thằng Tèo con cù của nó tôi về nhà nằng nặc đòi ba tôi mua cho một cái. Nhưng ông tuy thương tôi nhưng thời đó việc mua những thứ này là phung phí, vậy là tôi bị đòn một trận rồi khóc lớn mà đi ngủ.

Hôm sau, khi tôi đi học về đến nhà thì nhìn thấy anh tôi đang cặm cụi làm gì phía sau nhà, tôi tò mò chạy xuống xem, thì ra anh tôi đang tự tay đẽo con cù cho tôi. Tôi cảm thấy vô cùng vui sướng, lúc đó tôi không còn ghét anh tôi nữa, nhưng cũng chỉ là lúc đó thôi.

Cù anh tôi làm quay còn nhanh và lâu hơn của thằng Tèo nữa, nó năn nỉ tôi đổi với nó nhưng tôi nhất quyết không chịu. Đến một lúc nó mang ra năm đồng tiền bảo rằng muốn mua lại con cù của tôi, số tiền năm đồng khi ấy với tôi như một gia tài, tôi đồng ý bán cho nó.

“Thằng Út đâu, mau ra đây.” - Tiếng la rất lớn trước cửa nhà tôi, còn Út chính là tên của tôi.

Mẹ tôi chạy ra trước, còn tôi thì đứng phía sau cửa, tôi nhận ra người đàn bà kia chính là mẹ thằng Tèo đang nắm tay nó qua nhà tôi, trên tay bà ta là con cù mà tôi bán cho thằng Tèo.

“Chị tìm thằng Út có chuyện gì vậy ạ?” - Mẹ tôi bất ngờ hỏi.

“Chị dạy con kiểu gì hả, mới còn nhỏ đã dụ con tôi trộm tiền nhà đề mua cái này của nó… Mau gọi nó ra trả lại năm đồng cho nhà tôi mau.” - Bà ta mắng chửi.

Mặt tôi tái mét, lần này xem ra sẽ bị ăn no đòn.

“Mày có lấy năm đồng của thằng Tèo không?” - Mẹ tôi hỏi.

Tôi từ trong túi móc ra năm đồng đưa về phía trước, giọng rung rung đầy lo sợ: “ Là nó đòi mua, con không có dụ nó ăn cắp tiền.”

Mẹ thằng Tèo sau khi chửi bới đủ thứ, lấy lại năm đồng kia rồi quăng lại con cù của tôi xuống đất bỏ về nhà. Mẹ tôi nhìn hàng xóm bu lại coi thì xem ra rất tức giận, bà lôi tôi vào trong đóng của lại, bắt tôi nằm úp lên giường.

“Lỗi không phải của thằng Út, mẹ không được đánh nó.” - Mẹ tôi đưa cây roi lên, giọng anh trai tôi vang lên.

“Mày còn binh nó, tao đánh cả mày luôn.” - Mẹ tôi vút một roi vào mông tôi, tạo thành một lằn đỏ ửng. Còn tôi thì khóc thét lên.

Đến roi thứ hai thì tôi không cảm thấy đau nữa, mẹ tôi thì tức giận vứt roi xuống đất mà nói: “Đúng là thứ mất dạy.”

Thì ra roi thứ hai kia anh trai tôi đã dùng tay đỡ giúp tôi, lúc đó tôi cũng thấy lạ, thường ngày anh đánh tôi rất ác… nay lại đỡ đòn giúp tôi như vậy.

Lần đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng mẹ tôi đánh tôi cho đến tận bây giờ, bà vẫn không hề ngó ngàng đến tôi, cũng không buồn nói chuyện với tôi quá ba câu.

Năm tôi lên lớp ba, anh trai tôi cũng vừa vào cấp ba nên nhà tôi càng chật vật hơn vì lo cho chúng tôi ăn học. Mặc dù trường cấp ba rất xa nhưng anh tôi hằng ngày vẫn đi bộ từ năm giờ sáng để kịp đến trường, còn tôi thì hằng ngày vì tiện đường đến nơi ba làm việc nên được ba chở đi bằng chiếc xe đạp duy nhất trong nhà.

Tôi vẫn bị anh tôi đánh vì tội ham chơi, lười học. Anh tôi thì học rất giỏi, năm nào cũng được lãnh thưởng và được giấy khen, cũng nhờ có anh tôi kèm cặp tôi hằng ngày mà tôi vẫn thế lên lớp đều đều, tuy nhiên tôi vẫn không gọi anh bằng anh như hiện tại.

Năm đó mẹ tôi không làm ruộng nữa mà theo người ta lên thị xã làm công nhân, vì còn có gia đình nên mẹ đi đi về về không ở lại như các cô chưa chồng. Sáng mẹ thường mua một ở bánh mì rồi cắt làm đôi để trên bàn, để anh em tôi ăn sáng trước khi đi học. Tôi thường dậy trễ hơn anh nên khi dậy tôi chỉ nhìn thấy nửa phần còn lại trên bàn.

Hôm ấy vào tờ mờ sáng, tiếng gà gáy vang dội cả một phương, tôi buồn tiểu nên bật dậy đi ra nhà vệ sinh. Khi quay về phòng đi ngang qua bàn cơm nhìn thấy anh trai tôi đang mở hai phần nửa ổ bánh mì ra xem.

“Mày làm gì đó.” - Tôi hỏi.

“Chưa sáng đâu, vào ngủ đi.” - Anh trai tôi lấy phần nửa ổ bên trái rồi nói.

Tôi lườm lườm anh rồi vào phòng mình ngủ mà ấm ức, tôi lại càng ghét anh trai tôi hơn.

Quả nhiên sáng hôm sau khi ăn nửa ổ bánh mì kia, tôi phát hiện bên trong nó ít thịt hơn bình thường.

Không biết ai nói gì, anh trai tôi bắt tôi gọi anh ấy là “anh” chứ không được hổn láo như trước nửa. Tôi nhất quyết không chịu, cuối cùng bị anh tôi đánh cho một trận tơi bời cho đến khi gọi anh ấy là “anh”. Tôi cứng đầu nhất quyết không chịu gọi, lúc đó anh tôi mới nói: “Mày không chịu gọi là anh, anh cũng sẽ mặc kệ mày giống mẹ.”

Năm đó lúa trúng, ba ở mãi trong kho làm việc, tôi không chịu được đành gọi anh ấy là “anh” cho đến tận hôm nay.

Vỏn vẹn hai năm trôi qua, anh tôi tốt nghiệp cấp ba thì tôi chuẩn bị vào cấp hai. Không nói ra nhưng tôi biết anh muốn thi lên đại học, ba tôi thì nói nhà không có điều kiện nên bảo anh ra kho làm cùng ba. Mẹ tôi và ba tôi cải nhau rất nhiều lần đó, tôi chỉ nhìn thấy mẹ khóc rất nhiều rồi khi nhìn thấy tôi thì ánh mắt rất dữ tợn. Lúc ấy, anh trai tôi đã lôi tôi ra ngoài đồng… tôi chỉ biết đi theo vì không dám ở nhà với mẹ lúc ấy.

“Anh sẽ không đi đâu, dù ba có cho.” - Anh không nhìn tôi, nhìn về phía ánh mặt trời đang lặn phía đằng tây.

Thật ra tôi không thích anh, nói đúng hơn là rất ghét anh nhưng nghĩ đến lúc anh đi học xa nhà tôi lại chột dạ như không muốn. Bởi, tôi sợ tôi không còn ai để ghét, không còn ai mắng chửi, không còn ai bắt tôi học bài.

“Nhưng mẹ muốn anh đi.” - Tôi đáp.

Anh xoa đầu tôi, mái tóc tôi thời ấy còn để hai mái rất ngố, nó xù lên như một thằng dở người.

“Anh đi rồi, ai giành ăn bánh mì với mày.” - Anh cười lớn.

Nhắc đến bánh mì, tôi quên kể cho các bạn nghe một chuyện, buổi sáng hôm ấy, tôi cũng buồn tiểu nên đi tiểu, lần này cũng thấy anh tôi đang làm gì đó trên hai phần bánh mì của tôi và anh. Tôi định bước ra nhưng nghe tiếng mẹ đành thụt lùi.

“Mày làm gì đó.” - Mẹ tôi lên tiếng.

“Không có gì, mẹ để quên đồ ạ? “ - Anh tôi hỏi.

Mẹ tôi bước lại lấy nửa ổ bánh mì trên tay anh, nhìn vào bên trong liền tức giận: “Tao có đối không tốt với nó đâu, tại sao mày phải nhường hết thịt cho nó.”

Anh tôi cười: “Thằng Út còn nhỏ, cần nhiều dinh dưỡng để học… con lớn rồi… chỉ cần no bụng.”

Tôi nhận ra… thì ra… anh tôi nhường cho tôi thịt bên trong ổ bánh mì từ đó tới giờ, lần đó vì bị tôi phát hiện mà không thể trút thịt qua nửa ổ của tôi được. Ngay từ lúc ấy, thật ra tôi đã bớt ghét anh đi nhiều. Và điều đó tôi cũng giấu trong tim cho đến ngày hôm nay. Từ sau ngày đó… tôi lấy lý do muốn được chọn lựa nên dậy rất sớm để lấy phần bánh của mình trước anh, thật ra tôi không muốn anh tôi chỉ ăn mỗi vỏ bánh như vậy.

Vậy là anh không thi lên đại học mà giúp ba ra kho phụ người ta vác lúa vào kho, còn tôi vẫn đến trường hằng ngày vô lo vô nghĩ. Mỗi tối anh tôi vẫn dạy tôi học bài, vẫn không cho tôi đi chơi… và vẫn đánh đòn nếu tôi bị điểm kém.

“Mùi gì lạ vậy?” - Tôi đang học thì nghe mùi rất lạ.

“Lo làm bài đi, đừng nhiều chuyện” - Anh tôi ngồi bên cạnh.

“Nhưng mùi rất khó chịu.” - Tôi nhăng lại.

“Anh đi ra ngoài một chút, khi vào chưa làm xong biết tay anh.”

Khi anh tôi đi ra ngoài, mùi kì lạ kia cũng biến mất… sau này tôi mới biết đó là mùi rượu thuốc trị nhức mỏi người, thì ra anh làm việc nặng nhọc nên bị đau lưng.

Tôi vào cấp ba, mọi người hối thúc anh cưới vợ… anh chỉ cười rồi lắc đầu: “Đợi thằng Út vào đại học, anh cưới vợ rồi ai canh nó học bài.”

Nhờ có anh nên tôi ngày càng học tiến bộ hơn, tôi liên tiếp được học sinh giỏi rồi thi huyện thi tỉnh được giải thưởng rất cao. Ba tôi tự hào lắm hay mang ra khoe với hàng xóm, anh chỉ cười cười khi nhìn thấy thành tích của tôi… còn mẹ tôi, tuyệt nhiên không quan tâm đến.

Tôi nhận ra cái mùi hôi trên người anh ngày càng nồng hơn, cảm thấy lưng anh tôi ngày càng cong hơn… nhưng tôi lại phớt lờ vì nghĩ anh bị đau lưng thông thường.

Ba mẹ tôi thường xuyên cải nhau hơn, tôi cũng không biết nguyên do chỉ vì mỗi khi họ cải nhau anh lại kéo tôi đi ra ngoài ruộng. Nhiều khi anh không nói gì, gương mặt chỉ hiện một nét buồn khắc khổ.

“Mày có người yêu chưa Út.” - Anh tôi hỏi.

“Người yêu gì, em còn nhỏ mà.” - Tôi đáp.

“Bằng tuổi mày, là tao có người yêu rồi đó.” - Anh tôi nằm lên đống rơm vàng ngoài ruộng, đôi môi hơi cười.

“Vậy sao anh không chịu cưới chị ấy đi.” - Tôi cũng nằm bên cạnh anh.

“Cuộc đời này đâu phải muốn là được, mày gáng học biết không… mày mà không đậu đại học thì tao đập gãy chân mày.”

Năm tôi học mười hai, cũng gần đến ngày đăng kí thi đại học… tôi phân vân không biết thi trường nào thì anh tôi lại nói: “Mày thích làm cái gì thì thi cái đó, đừng nghe lời người khác mà phân tâm… Gáng thi đậu, rớt là về làm ruộng thấy cha mày luôn biết chưa.”

Tôi được ba cho tiền đi luyện thi, vì chương trình luyện thi đại học vượt quá hiểu biết của anh. Anh trai tôi - chỉ là một thằng vác gạo ngoài kho… nhưng với tôi anh còn hơn cả một người thầy, hơn cả một người cha người mẹ… bởi vì tôi ghét anh lắm, ghét đến mức không muốn khiến anh thất vọng.

Tôi đậu đại học, ba tôi rất tự hào mang tôi khoe với cả làng. Anh tôi chỉ đứng nhìn giấy gọi nhập học mà mỉm cười hài lòng. Tôi thu xếp quần áo, chuẩn bị lên thành phố lớn để bước vào trường đại học.

“Cầm lấy mà lên đó cần gì thì mua, tiền ba làm ra lúc nào cũng đưa cho mẹ… Mẹ lại tiết kiệm nên có lẽ sẽ khó khăn cho mày.” - Anh tôi đưa cho tôi một số tiền.

“Cảm ơn anh.” - Tôi không biết nói gì ngoài hai từ ‘cảm ơn” bởi vì không có anh tôi sẽ không có ngày hôm nay.

Anh tôi không đáp… đi ra ngoài cho tôi tiếp tục thu dọn.

“Sao mày có thể cầm tiền anh mày để dành cưới vợ mà không suy nghĩ, mày đúng là ích kỉ như thằng cha của mày.” - Mẹ tôi bước vào phòng nói, gương mặt cau có.

Tôi không đáp… nhìn số tiền trên tay… bỗng dưng rơi nước mắt. Nước mắt của một thằng con trai, lần đầu tiên rơi không phải vì mẹ tôi mắng… mà chính là vì tôi cảm thấy tôi rất thương anh trai tôi, anh ấy đã vì tôi mà hy sinh quá nhiều.

Trước khi đi, tôi mang số tiền kia nhét vào dưới gối ngủ của anh. Anh không ra tiễn tôi, chỉ có ba tôi chở tôi ra bến xe rồi đưa tôi đến trường. Lần đầu tiên tôi xa nhà, người tôi nhớ chỉ có anh trai tôi.

Ở trong kí túc xá trong trường, tôi nghe thầy quản sinh gọi tên mình ra cổng có người tìm… tôi cứ ngỡ ba tôi đến tìm nhưng thật bất ngờ người đến tìm tôi lại là anh trai tôi. Dáng người cao cao gầy gầy, cái lưng cong cong theo năm tháng… từ phía xa tôi nhìn anh trai tôi… tự khi nào tôi đã ích kỉ như lời mẹ tôi nói, tôi đã không nhìn thấy nét già đi hơn cái độ tuổi của anh.

“Sao mày không mang theo tiền, để tao phải mang đến cho mày.” - Anh tôi đưa số tiền về phía tôi.

“Tiền anh lấy vợ, em không lấy đâu.” - Tôi từ chối.

“Tao không lấy vợ, mày cầm lấy mua gì thì mua.” - Anh tôi nhét vào túi tôi.

“Sao lại không lấy vợ, anh giữ đi… em ở đây rất tốt.” - Tôi nhất định không lấy.

Tôi ra trường, trở thành một kỹ sư và làm việc ở thành phố lớn… còn anh trai tôi hằng ngày vẫn vác những bao gạo nặng trĩu đôi đôi vai đầy mùi rượu thuốc. Ba tôi vẫn xem tôi như niềm tự hào của ông, anh trai tôi vẫn im lặng để nhìn tôi bước trên con đường thành công.

Vào một ngày nọ, mẹ tôi đến tìm tôi trong căn phòng trọ mà tôi thuê ở, tôi hơi bất ngờ vì suốt bao năm qua mẹ tôi chưa hề đến thăm tôi dù chỉ một lần.

“Mẹ, mẹ vào nhà đi ạ.” - Tôi ái ngại.

“Tôi không có nhiều thời gian nói chuyện với cậu, chỉ muốn cầu xin cậu một việc.” - Mẹ tôi nói, trên khóe mắt bà đã nhăng đi theo thời gian.

“Mẹ nói chuyện gì kì lạ, vì sao lại là cầu xin.” - Tôi hỏi.

“Anh trai cậu bị thận nhưng nhất quyết không chịu đi bệnh viện, giờ nó nằm liệt ở nhà ai nói gì cũng không đi… Nó thương cậu từ nhỏ, cậu hãy nói giúp tôi.” - Mẹ tôi nói, giọng nói rung rung đầy xa lạ.

Tôi ngay lập tức đón chuyến xe sớm nhất về quê, con đường về quê tôi khá xa… tôi lại nóng lòng muốn gặp anh, đã bao lâu vì có quá nhiều việc mà tôi không về thăm anh, tôi dần quen với cuộc sống thành thị mà quên đi sự chăm sóc từ anh. Tôi đã lớn, tự nhận thấy bản thân phải báo đáp anh.

“Mày về làm gì, tao không sao hết.” - Anh trai tôi nói.

“Nghe lời em, đi bệnh viện đi anh.” - Gương mặt anh xanh xao, gầy ốm.

“Từ khi nào mày có quyền đó hả, mày dù có lớn thì mãi mãi cũng là thằng Út em trai tao, hiểu không, dù có chuyện gì xảy ra mày vẫn mãi là em trai tao.”

Tôi không nghe lời anh, tôi nhất quyết không nghe lời anh tôi nữa… anh có đánh gãy chân tôi tôi cũng không muốn nghe lời anh nữa. Tôi và mẹ đưa anh đến bệnh viện, bác sĩ nói anh đã bị suy thận giai đoạn cuối do làm việc lao lực, tuy nhiên đã ủ bệnh quá lâu không điều trị kịp thời… nếu không tiến hành ghép thận sẽ không thể qua khỏi.

Gia đình tôi vẫn nghèo… dù lúc ấy tôi đã có việc làm nhưng chỉ là một sinh viên vừa ra trường, và điều duy nhất tôi có thể cho anh chính là quả thận của tôi.

Tôi không cho anh biết chuyện tôi sẽ cho anh một bên thân của tôi, anh ngồi trên xe lăn để tôi đẩy anh ra ngoài công viên hít thở không khí trong lành. Tôi ngồi bên cạnh anh, không nói gì… tôi biết vì tôi mà anh trai tôi rất đau đớn.

“Út, tao sắp chết rồi phải không?” - Anh tôi hỏi.

Tôi lắc đầu: “Không, anh sẽ không sao?”

“Mày biết vì sao mẹ không thương mày không, tao nghĩ mày đủ thông minh để nhận ra điều đó.” - Anh trai tôi nói.

Tôi lắc đầu: “Em không biết nhưng đối với em… mẹ vẫn mãi là mẹ.”

“Vì bả không phải người sinh ra mày, năm đó ba phát hiện tao không phải con ổng… nên ổng đi tìm cô người yêu trước khi cưới bả. Cuối cùng thì mang mày về… kiểu như trả thù. Và tao với mày lớn lên trong cái gia đình như vậy, cho nên từ nhỏ tao đã bắt mày học… mày phải học thật giỏi thì người khác mới không có cơ hội chê cười mày.”

Tôi có chút bất ngờ, nhưng trên hết là đã giải tỏa được thắc mắc rằng vì sao mẹ luôn lạnh nhạt với tôi.

“Tao với mày không có ruột rà máu mủ gì cả, vậy nên mày không cần ở đây chăm sóc tao.” - Anh tôi lắc đầu: “Tao chết cũng không được phép khóc hiểu chưa.”

Trên đường đến bệnh viện để chuẩn bị thủ tục hiến thận, một y tá đến nói với tôi rằng anh tôi đã trút hơi thở cuối cùng… Lý do chính là anh tự sát. Tôi không hiểu vì sao anh lại làm vậy, nhưng mẹ tôi nói rằng vì anh biết tôi muốn hiến thận cho anh, anh chỉ muốn tôi là một người toàn vẹn, thành công và không bị người đời chê cười.

Tôi lại cãi lời anh, tôi khóc rất nhiều…

Nhưng tôi tin… anh sẽ không đánh gãy chân tôi… vì anh chỉ hù dọa tôi thôi…. anh thương tôi hết luôn cả thương bản thân anh.

Còn tôi… tôi nhận ra… dù tôi và anh không hề có huyết thống… anh vẫn mãi là người tôi tôn trọng và yêu thương nhất. Tình cảm đó… chưa bao giờ tắt... 

 

Song Tử (Nguyễn Vân An)

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Song Tử (Nguyễn Vân An), Nửa Ổ Bánh Mì
Comment

Đi Thăm Nước Mỹ (Nguyễn Thị Thanh Dương)

February 5, 2026 Ninh Tran

     Ông Sĩ ngồi ở bàn, bên ấm chè nóng, ông đang tra thuốc vào chiếc điếu cày và châm lửa hít một hơi, xong khoan khoái ngửa mặt ra thả một làn khói bay mù mịt. Bà Sĩ ngồi dưới đất, cạnh bàn, đang lo gói ghém lại các món qùa trước khi bỏ vào túi xách cho chồng. Bà hài lòng khoe:

– Toàn là cây nhà lá vườn ông nhá, long nhãn khô, măng khô, bột sắn giây, tự tay tôi làm cả… Những thức này nghe nói ở bên Mỹ quý hiếm lắm, tìm không có, đào không ra đâu…

Ông Sĩ ra vẻ hiểu biết:

– Thiếu giống gì, hàng của ta xuất khẩu sang Mỹ nhiều lắm, đến củ giềng ăn thịt chó cũng có nữa là. Để sang Mỹ tôi sẽ ăn thịt chó Mỹ xem có béo không? Chó tư bản nhà giàu mà.

Ông Sĩ hớp một ngụm chè để vài giây cho thấm thía mới gật gù:

– Chè mộc Thái Nguyên ngon thật. Bà có mua chè này mang sang Mỹ làm quà  không, hử?

– Sao không chứ. Những gì ông dặn tôi mua tất….

Bà Sĩ đứng lên, phủi bụi quần và ân cần bảo chồng:

– Xong hết cả rồi, ông đi ngủ sớm mai còn ra phi trường Nội Bài, mai tôi cũng dậy sớm nấu cho ông nắm cơm nếp ăn đi đường.

– Gớm, bà cứ làm như ngày xưa lúc tiễn tôi lên đường trở về đơn vị sau lần tôi hiếm hoi về phép thăm nhà không bằng. Nhưng mà đi xuất cảnh sang Mỹ ai lại mang món cơm nếp nhà quê này chứ?

Bà Sĩ âu yếm gắt:

– Ăn cho nó chắc bụng, không gì bằng cơm nhà quà vợ.  Ông đừng có mà sĩ diện.

       Suốt mấy ngày nay, biết tin ông Sĩ sắp đi Mỹ du lịch, họ hàng, làng xóm đã thăm hỏi, chúc mừng không ngớt, và nội bộ nhà ông cũng bận rộn tíu tít, lo sửa soạn hành lý và … tâm lý không ngớt.

       Đời cứ như là mơ, ông Tượng, người em của ông Sĩ di cư vào Nam từ năm 1954 và di tản sang Mỹ năm 1975 đã mời ông Sĩ chuyến đi du lịch này.

       Ngày di cư ấy bố ông đã dẫn thằng em 12 tuổi vào Nam trước, ông Sĩ ở nhà với mẹ, sẽ vào Nam sau. Nhưng chuyến đi Nam ấy không thực hiện được, gây ra cảnh chia lìa một gia đình 4 người mà nửa Nam nửa Bắc. Ông Tượng quyết không bao giờ trở về Việt Nam nếu đất nước còn chế độ cộng sản, ông chỉ liên lạc với người anh duy nhất của mình qua thư từ hay điện thoại và thỉnh thoảng gởi tiền về giúp anh chị. Ông Tượng mời anh sang Mỹ chơi, coi như một món quà hào hiệp tặng anh, trước là thăm thân nhân sau là đi cho biết đó biết đây.

       Hai anh em hai lý tưởng khác nhau, ông Sĩ đi bộ đội miền Bắc suốt một thời tuổi trẻ để giải phóng miền Nam cho đến khi đúng tuổi giải ngũ. Ông Tượng là lính miền Nam, chiến đấu chống lại quân đội Bắc Việt. Sau chiến tranh hai anh em đều sống sót, nhà ông may mắn thế, nhưng biết đâu có những nhà khác, anh em, cha con hay chú cháu đã đối diện nhau nơi chiến trường, xả súng vào nhau để giành phần chiến thắng mà nào hay tình máu mủ liên hệ… 

       Cha mẹ đều lần lượt qua đời mà chẳng thấy mặt nhau sau lần chia ly vì thời cuộc ấy, chỉ còn hai anh em nên ông Sĩ háo hức muốn gặp lại thằng Tượng em ruột của mình lắm...

       Ngày xưa bố ông rất mê chơi cờ tướng, nên đặt tên các con theo từng quân cờ, người anh cả mang tên Nguyễn văn Tướng qua đời khi lên 3 tuổi vì một cơn bạo bệnh, người con thứ hai là ông Sĩ và người kế tiếp là Tượng thì mẹ ông phát bệnh gì đó mà không thể sinh đẻ được nữa, nếu không thì anh em ông còn … kéo dài thêm mấy quân cờ nữa như Xe, Pháo, Mã, Tốt, vì thuở ấy nhà nào cũng bảy, tám đứa con là chuyện thường. Ông Sĩ cũng háo hức muốn biết mặt mũi nước Mỹ nó ra làm sao mà ghê gớm thế, có thể làm ảnh hưởng cả thế giới và một thời đã xâm chiếm miền Nam Việt Nam để miền Bắc của ông phải vất vả, bao nhiêu thanh niên nam nữ lên đường thi hành nghĩa vụ quân sự và bao nhiêu người đã gởi thây nơi rừng núi chiến trường miền Nam, mất xác, mất tăm tích cho đến tận bây giờ.

      Tất cả chi phí chuyến du lịch qua Mỹ dĩ nhiên đều do người em lo. Nhà nghèo xác nghèo xơ, chuyện đi Tây đi Mỹ du lịch là một giấc mơ vĩ đại cả đời ông không dám nghĩ tới, thì bây giờ cơ hội trong bàn tay dại gì ông từ chối. 

       Sáng hôm sau ông Sĩ thức dậy sớm, nhưng bà đã dậy sớm hơn ông từ lúc nào, cơm  nếp nấu xong bà gói trong lá chuối, với một gói muối vừng để tiện mở ra ăn. Đám con cháu cũng lần lượt đến tiễn ông Sĩ lên đường. Thằng con trai cả sẽ làm nhiệm vụ chở bố ra phi trường Nội Bài. Từ quê ông ra Hà Nội mất gần 1 tiếng, từ Hà Nội ra phi trường Nội Bài mất thêm khoảng 40 phút nữa.

       Hai bố con đến phi trường Nội Bài, bố con dặn dò nhau xong thì ông Sĩ bước vào trong, ông hoa mắt vì lần đầu tiên trong đời mới được biết  phi trường là gì. Ông cầm cuốn hộ chiếu chìa ra để trình bày và hỏi thăm, người ta chỉ cho ông chỗ xét gởi hành lý trước..

       Cô hải quan đanh đá thô bạo đưa tay bới túi hành lý, cô định mở từng bọc một thì ông Sĩ biết điều móc túi ra, ông tần ngần suy nghĩ, nó trông phong lưu và đẹp người thế, trong khung cảnh phi trường hoành tráng thế, mà đưa tiền ít chắc không xứng đáng lại thêm rắc rối?

       Ông đành lấy ra 5 trăm ngàn đồng Việt Nam dúi vào tay cô, kẻo cô mở tung toé ra thì giờ đâu ông xếp lại cho được :

– Chẳng có gì đâu, ít thực phẩm khô làm quà thôi mà…

Nhận được tiền, cô hải quan dịu dàng, tươi tỉnh ngay:

– Thế mà bác không nói cho cháu biết trước. Thôi, bác yên chí, hành lý này sẽ chuyển lên chuyến bay với bác.

      Kinh nghiệm lo xa của ông thật hữu ích, ông đã bảo bà để một số tiền mặt cho ông “đi đường”, hễ có giao thiệp với bất cứ nhân viên cấp nào, ngành nghề nào phải có tiền mới giải quyết được sự việc. Tiền có sức mạnh ghê gớm, tiền cất tiếng nói thay người.

       Xong việc ký gởi hành lý, ông Sĩ thảnh thơi ôm cái xách tay và lại hỏi thăm chỗ đăng ký lên máy bay, lại hết chỗ nọ đến chỗ kia, cuối cùng ông đã tìm ra đúng chỗ, ông đang ngơ ngác chưa biết phải làm gì thì bị anh hải quan ngồi sau chiếc bàn dài, mặt non choẹt, quát xa xả:

– Ông kia, đưa giấy tờ đây, làm mất cả thì giờ của người khác!!

– Vâng ạ, có hộ chiếu xuất cảnh đầy đủ đây ạ… người xuất cảnh là tôi Nguyễn Văn Sĩ, sinh năm.…

Anh Hải Quan bực mình ngắt ngang:

– Khi nào cần tôi hỏi, ông không phải khai. Giấy nhập cảnh nữa, xuất khỏi đây ông sẽ đến đâu. Đấy là thủ tục.

       Ông lại móc túi quần qua hai ba lớp gói, lớp bọc để lôi ra giấy nhập cảnh trân trọng đặt lên mặt quầy cho anh hải quan. Tướng tá sang cả và mặt anh ta lạnh lùng càng làm ông Sĩ cảm thấy mình thấp hèn và hồi hộp như một kẻ đang đợi được ban ơn:

– Thưa anh, thế đủ chưa ạ? cần gì nữa không ạ?

Anh hải quan lại quát:

– Ông ạ, ạ... gì mà lắm thế? có im đi không cho người ta làm việc.

       Ông Sĩ im ngay tức khắc, liếc nhìn sang anh hải quan bên cạnh đang “làm việc” với một người nước ngoài, nhã nhặn, lịch sự, ông ngạc nhiên tự hỏi :” Hai anh hải quan này cùng làm một việc, nhưng tính khí khác nhau? hay chắc tại mình và ông nước ngoài kia khác nhau?  mà hai cảnh đối xử một trời một vực thế nhỉ?”

       Anh hải quan của ông đã xét giấy tờ xong, anh ta đẩy mạnh mớ giấy tờ về phía ông, suýt nữa thì cuốn sổ hộ chiếu quá đà rơi xuống đất nếu ông Sĩ không nhanh tay đỡ kịp. Anh hải quan không thèm nói một câu, nhưng ông biết là đã xong, vội thu gom giấy tờ của mình bỏ vào bọc, vào túi và bước theo lối có mũi tên chỉ dẫn để ra chỗ cổng vào máy bay, để nhường chỗ cho người khác tiến lên.

       Tới đây tưởng đã được yên thân, nhưng khi ông cẩn thận và thân ái hỏi một cô mặc đồng phục nhân viên phi trường đang ngược chiều đi đến :

– Có phải lối này ra chỗ máy bay không cháu?

       Thay vì trả lời 3 chữ “vâng đúng rồi” để tiết kiệm năng lượng trong người, cô gái tốn công cau có, gắt gỏng bằng một câu dài hơn:

– Có một lối này ông còn hỏi gì nữa…?

Ông Sĩ bất chấp lối ăn nói “sinh sự” ấy,  vẫn tươi cười và thân ái:

– Thế hả, bác cám ơn cháu.

       Vừa trả lời ông Sĩ vừa rảo bước thật nhanh, kịp lúc người ta đang gọi loa mời hành khách lên máy bay.

       Vào trong máy bay gặp các cô tiếp viên Việt Nam, ông Sĩ lại… giật mình vì cảm thấy chưa thoát nạn, nhưng ông tự trấn an :  “Đã ngồi vào trong máy bay là chắc ăn rồi, có bị chúng nó gắt gỏng nữa cũng không thành vấn đề”.

       Các cô tiếp viên hàng không Việt Nam trông ai cũng sáng sủa, trẻ đẹp và sang cả như mấy người  hải quan lúc nãy, ông Sĩ tự kết luận phi trường là chỗ làm việc của những đứa con nhà giàu quyền thế, khác hẳn với mấy đứa cùng trang lứa ở quê ông, mặt mày tối tăm, ngu dốt và đáng thương như miếng thịt ôi trên phản thịt chợ chiều 30 Tết.

       Các cô tiếp viên hàng không đẹp mà kiêu kỳ xa cách quá, ông lại tưởng như mình không phải là hành khách trên chuyến bay, mà đang đi nhờ họ thì đúng hơn, nên ông không dám làm phiền, biết thân biết phận ngồi gọn gàng và im thin thít tại chỗ, dù có nhiều thứ lạ, ông muốn cất tiếng hỏi han lắm, nhưng chẳng dại gì mở miệng để bị mắng như lúc nãy hỏi đường cô nhân viên.

       Máy bay rời Việt Nam đến phi trường Nhật Bản, ông lại lạc vào mê cung lần nữa, kinh hoàng hơn vì chung quanh không còn nhiều người Việt Nam. Thà bị mắng, bị gắt như ở phi trường Nội Bài còn là đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, còn dễ dàng hỏi thăm, đằng này xứ lạ quê người. Nhưng khi ông chìa vé, chìa hộ chiếu ra chẳng biết nói câu tiếng Nhật nào mà cũng được người ta giúp đỡ rất tận tình, dẫn tay ông ra tận chỗ cổng máy bay mà ông cần. Thế là ông nhẹ cả lòng, ngồi tại chỗ quyết không đi đâu xa, sợ lạc mất cái cổng máy bay này. Bây giờ ông Sĩ mới thong thả mở gói cơm nếp của bà vợ ra ăn trong thời gian chờ máy bay mấy tiếng đồng hồ. Từ phi trường Nội Bài gặp các sự sách nhiễu vô lý, ông thấy gói cơm nếp của vợ thật có lý, có tình.

       Lên chuyến bay ở Nhật, từ Nhật cách Việt Nam chẳng bao xa, mà không khí, con người đã khác nhau xa, nhân viên trên máy bay ân cần giúp đỡ ông tìm ghế ngồi, chỉ cách cài dây an toàn, và giúp ông để túi hành lý vào khoang tàu với nụ cười và nét mặt tươi tắn...

      Tiếp viên hàng không Nhật nổi tiếng khắp thế giới về việc phục vụ lịch thiệp, nhã nhặn, chu đáo đối với hành khách trên các chuyến bay. Họ quả là những người có giáo dục rất tốt, rất đáng khâm phục!

       Lần này ông ngồi gần khung cửa sổ và tâm hồn tự tin thanh thản hơn nên tha hồ làm chủ tình hình, ông ngả đầu ra ghế để nhìn ngắm bên ngoài, từ lúc máy bay từ từ lăn bánh, rồi lấy đà cất cánh lên cao dần, thành phố càng lúc càng xa ở phía dưới, ông sợ lắm, nhưng cũng thú vị lắm, không ngờ trong đời mình có lúc được đặt chân vào phi trường để xuất ngoại, được “đi mây về gió” thế này.

       Các cô tiếp viên Nhật Bản cũng xinh đẹp, lịch lãm, cao sang không thua gì các cô tiếp viên hàng không Việt Nam nhưng họ thật là thân thiện, họ mỉm cười kiên nhẫn nhìn ông ra dấu chỉ trỏ các món thức ăn, nước uống nào mà ông muốn trên suốt chuyến bay dài từ Nhật đến nước Mỹ xa xôi. Bây giờ ông thật sự là một hành khách được phục vụ tận tình và trân trọng.

       Ông náo nức nghĩ đến nước Mỹ, nghĩ đến thằng em và đám con cháu nhà nó, cũng như họ hàng làng nước mà ông có thể sẽ gặp trong thời gian thăm viếng.

       Xuống tới phi trường Los Angeles tiểu bang California lúc 12 giờ trưa hôm sau, ông Sĩ thêm một phen choáng váng đến hoang mang, phi trường to lớn và náo nhiệt như cả thế giới, toàn thể nhân loại đều tụ họp ở đây, người ta nói đủ thứ tiếng làm ông nghe mà điếc cả tai.

       Ông lắng tìm nghe tiếng Việt Nam, nhìn khuôn mặt Việt Nam và đi theo họ cho chắc ăn, ông chỉ có một túi hành lý ký gởi nên hải quan Mỹ làm rất nhanh chóng. Họ hỏi, thì có người hành khách Việt Nam bên cạnh dịch lại cho ông, ông trả lời không mang thực phẩm có thịt, cá. Thế là anh hải quan xét hàng tin ngay, chẳng buồn mở ra kiểm tra ông nói thật hay không. Người Mỹ sao mà dễ tin người thế chứ.

       Xong ông xếp hàng dài chờ trình giấy tờ nhập cảnh vào Mỹ mà lòng vẫn chưa hết kinh ngạc vì anh hải quan Mỹ xét hàng vừa rồi, ông vui lây và tự hào vì đã được người ta tin tưởng vào lời nói của mình.

       Người này tử tế bao nhiêu ông lại nghĩ đến người kia bấy nhiêu, nét mặt câng câng đáng ghét của cô hải quan xét hàng hóa ở phi trường Nội Bài khi lục mở túi hành lý của ông, và bộ mặt ấy bỗng biến thành tươi cười hơn hớn khi nhận được tiền ông đút lót.

Bây giờ so sánh hai sự khác biệt, ông mới thấy đau đớn vì tiếc tiền, ông lẩm bẩm chửi khẽ:

– Tiên sư con quạ mổ! Tiên nhân con nặc nô! làm tao mất toi năm trăm nghìn đồng bạc.

      Đến lượt ông Sĩ đối diện với ông hải quan Mỹ, ông nộp giấy xuất nhập cảnh ra, nhìn ông hải quan Mỹ to béo kềnh càng, ông Sĩ khiếp vía, ông Mỹ chưa quát tháo gì mà ông Sĩ đã hồi hộp, mồ hôi như rịn cả ra dù trong điều kiện không khí mát lạnh.

Xem xong các giấy tờ một cách thành thạo và nhanh chóng, ông hải quan Mỹ nhìn ông Sĩ và nói:

– Welcome to USA .

       Ông Sĩ chẳng hiểu gì, hồn vía lên mây, vội vàng lục túi áo, túi quần, thì chị Việt Nam đứng cạnh bên ngạc nhiên hỏi:

– Bác tìm gì thế?

Ông ghé tai chị Việt Nam nói nhỏ:

– Chẳng biết ông hải quan Mỹ hoạnh họe gì, giấy tờ tôi đủ cả, thôi cứ biếu tiền cho xong chuyện. Ở đây họ có tiêu tiền Việt Nam không?

Chị Việt Nam bật cười như vừa bị ai thọc vào nách:

– Bác ơi là bác, ai hoạnh họe gì bác, ông hải quan nói lời chào mừng bác vào đất nước Mỹ đấy.

Ông Sĩ ngạc nhiên kêu lên:

– Thế à? Ai quen biết gì nhà ông ấy mà chào mừng nhỉ …

– Thì họ lịch sự xã giao mà bác.

       Giây phút này ông Sĩ nhớ ngay đến bộ mặt trơ trơ lạnh lùng và cách ăn nói hỗn hào, trịch thượng của anh hải quan ở phi trường Nội Bài, anh ta là người Việt Nam, đáng tuổi con cháu ông mà cư xử với ông còn thua ông hải quan người Mỹ khác dòng, khác giống này nữa.

Chị Việt Nam giục:

– Thôi bác cất giấy tờ kẻo rơi mất và ra ngoài đi, chắc người nhà bác đang đợi bên ngoài đấy…

       Ông Sĩ hớn hở khoác túi xách lên vai, tay còn lại xách cái túi lớn và đi theo dòng người ra ngoài…

       Ông đi từ ngơ ngác này đến ngơ ngác kia khi nhìn cảnh và người xung quanh, cho đến khi cả đám thân nhân chạy ùa ra đón ông:

– Anh Sĩ đấy à? Em là Nguyễn văn Tượng đây…

– Chào bác Sĩ, chúng cháu là con ông Tượng.

       Ông không thể nào nhận ra thằng Tượng em ông ngày xưa, ông từng cõng nó trên vai dù hai anh em suýt soát tuổi nhau, bây giờ nó bệ vệ hồng hào, khiến ông phải thốt lên:

– Giời ạ, chú Tượng mà tôi cứ tưởng ai, dù nhìn hình rồi mà tôi vẫn không nhận  ra chú, trông cứ như tổng giám đốc hay thủ trưởng cơ quan ở thủ đô Hà Nội. Nhưng sao chú vẫn nhận ra tôi, hở?

Ông Tượng thành thật:

– Dĩ nhiên là qua hình anh gởi, nhưng nhìn thấy một ông Bắc kỳ ngơ ngác giữa phi trường Los. này thì không ai ngoài anh.

Ông Sĩ vẫn chưa tỉnh cơn mê:

– Người ở đâu mà lắm thế! cứ ồn ào và nhốn nháo như tôm tươi nhảy trong rổ …

       Mọi người lên xe hơi để về nhà, vì con cháu ông Tượng ra đón đông nên phải đi làm ba xe làm ông Sĩ thầm thán phục khi biết chúng nó đứa nào cũng có ô tô riêng. Ông chợt nhớ ra vội dặn dò con ông Tượng:

– Này các cháu, chạy xe cẩn thận nhé kẻo xe bốc cháy như ở Việt Nam đấy.

Ông Tượng trấn an lại ông anh:

– Anh đừng lo, hiện tượng xe gắn máy và xe hơi bốc cháy chỉ có ở Việt Nam, chắc vì xăng dầu bị pha chế do lòng tham của con người mà ra thôi.

       Xe hơi chở ông Sĩ từ phi trường Los Angeles đi vù vù qua những con đường, lên đến highway 405 song song là 6 hàng xe làm ông Sĩ không tin vào mắt mình, ông cẩn thận đếm đi đếm lại mấy lần. Trên đầu ông cũng là cầu highway, ông nhìn phía trước, những đường cầu highway chạy dài chồng chất hai ba tầng, tạo thành những đường cong uốn lượn, chỗ cao chỗ thấp vừa hoa mỹ vừa hiện đại với dòng xe cộ nườm nượp mà chóng cả mặt.

       Đường xá ở Mỹ sao mà cao siêu và vĩ đại thế, nơi đâu cũng toàn xe là xe, đông như đi trẩy hội, mà tuyệt nhiên ông Sĩ không nghe một tiếng còi xe nào, chả bù cho tại Việt Nam, chỉ phố huyện của ông thôi mà xe cộ ngược xuôi, xe nọ qua mặt xe kia, bất chấp ai trước ai sau và còi xe thì luôn kêu inh ỏi để người ta biết mà tránh né nhau, chứ đèn đường hay dấu hiệu luật lệ giao thông chẳng hiệu quả gì, hình như chỉ để phô trương và triển lãm, đến nỗi người ta có cảm tưởng rằng nếu xe không có còi thì đừng hòng ra đường. 

Ông Sĩ phải thốt lên:

– Sao mà nhiều cầu vượt đến thế, sao mà nhiều xe cộ đến thế? chỉ riêng nước Mỹ này đã ngốn hết bao nhiêu xăng dầu của thế giới rồi còn gì!

Los Angeles

       Qua khỏi cầu highway 405, xe chở ông Sĩ đang đi vào một thành phố, rồi đến những khu đường vắng vẻ dần, khi xe dừng lại trước một bảng hiệu stop màu đỏ khá lâu thì ông Sĩ ngạc nhiên hỏi ông Tượng:

– Sao ngừng lâu thế?

– Bảng “Stop” là phải ngừng hẳn xe anh ạ.

– Ối giời, bảng gì thì bảng, nhưng chỗ này vắng vẻ không có ai thì ta cứ linh động mà đi chứ ngừng làm gì cho phí thì giờ?

– Luật lệ ở Mỹ ai cũng phải tôn trọng, dù là lúc nửa đêm không một bóng người cũng vậy.

Ông Sĩ gật gù khen:

– Ở Mỹ thật là tự giác, chả bù cho ở Việt Nam ta cứ làm liều cho đến khi bị phát giác.…

       Những khu nhà cư dân hiện ra, ông Sĩ thất vọng khi nghĩ nhà em trai mình ở một nơi vắng vẻ như thế này chắc không khá giả gì. Ông Tượng như đọc được ý tưởng trong đầu ông anh, bèn giải thích:

– Nhà em ở trong khu này, một trong những khu vực nhà cửa có giá của California

Ông Sĩ hỏi lại:

– Ở nơi hiu quạnh thế này mà lại đắt đỏ thế kia à?

– Vâng, ăn thua địa thế, nhà trên đồi, trên núi còn đắt hơn nhà dưới mặt đất. Chỉ những ai tiền triệu trở lên mới mua nổi nhà trên ấy thôi.

– Lạ nhỉ, ở Mỹ cái gì cũng ngược đời, ở quê mình, đồi núi bỏ không, làng xã phải khuyến khích người dân lên phát quang làm rẫy trồng khoai sắn tăng gia vì lúa gạo không đủ ăn, chứ làm gì có chuyện dọn lên đồi, lên núi mà ở cho hoang lạnh lẻ loi.

Ông Tượng kể thêm:

– Nhà ở càng gần biển càng đắt, nhất là những căn nhà sát ngay bờ biển.

– Ối giời, ở Việt Nam chỉ những nhà nghèo mới ở sát biển, đối diện với sóng gió làm hao mòn nhà cửa, biển lấn đất liền có ngày nuốt chửng cả nhà và người chứ quý hóa gì.

Ông Tượng hỏi thăm sang chuyện nhà :

– Nghe nói thằng út nhà anh làm việc ở công ty gì trên huyện, có khá không ?

– Chỉ “túc tắc” thôi. Được mỗi ưu điểm là khỏi chân lấm tay bùn như làm ruộng.

Ông Tượng ngạc nhiên:

– Anh nói “túc tắc” là gì? Em không hiểu…

– Là công việc lằng nhằng tạm đủ sống qua ngày. Trước anh có cho nó học tiếng Trung mà không xin được việc làm ở thành phố đành về làm công nhân phố huyện vậy.

Ông Tượng lại hỏi và chép miệng than thở:

– Tiếng Trung là gì? Việt Nam bây giờ nói nhiều từ lạ quá em không hiểu nổi…

Ông Sĩ giải thích:

– Cuộc sống tất bật quá nên người ta phải nói tắt và hình tượng cho nhanh hiểu chú ạ. Tiếng Trung là Trung quốc, còn Singapore thì gọi là “Sing” cho ngắn gọn, chú hơi đâu mà lăn tăn. À, hai từ “Lăn tăn” là hình tượng đấy, nghĩa là chú cứ để tâm hồn thanh thản như dòng nước bình lặng, đừng suy nghĩ, thắc mắc như khi dòng nước gợn sóng lăn tăn. Hiểu chưa?

Ông Tượng trả lời mà nét mặt vẫn còn hoang mang:

– Vâng, em sẽ cố gắng hiểu.

       Về đến nhà, sau vài phút chào mừng thăm hỏi nhau rối rít, ông  Sĩ lại lục đục với mớ hành lý, lôi ra giấy tờ và nghiêm chỉnh nói với em:

– Chú đưa anh ra công an khu vực khai tạm trú cho xong việc đã….

Ông Tượng bật cười không khác gì chị Việt Nam lúc nãy ở phi trường Los Angeles :

– Ở Mỹ không ai xét hỏi giấy tờ anh đâu.

Ông Sĩ không tin:

– Chú nói thế nào?  Nếu công an khu vực không xét giấy tờ, thì chú cứ dẫn anh ra chào họ một tiếng cho phải lẽ, sau này họ không kiếm cớ bắt bẻ, làm tiền mình chú ạ… với lại chị có dự trù sẵn một ký chè Thái Nguyên để biếu họ đây.

Ông Tượng ngưng cười, cũng nghiêm chỉnh để giải thích:

– Nước Mỹ không có anh công an khu vực, không ai phải khai tạm trú tạm vắng. Họ đã xét giấy nhập cảnh của anh ở cửa  khẩu phi trường, thế là xong.

– Thế anh đi ngoài đường họ có xét hỏi giấy tờ không?

– Không tin ngay bây giờ anh cứ ra đường đi khơi khơi xem có ai biết anh mới vừa đến Mỹ không? Ngay cả người hàng xóm bên cạnh cũng không hề biết nữa là…

Ông Sĩ vẫn ngơ ngác:

– Thật thế ư? Chẳng lẽ người Mỹ lại sơ hở thế? quản lý đất nước và con người lỏng lẻo đến thế?

       Ông Sĩ  ngồi thừ người vì chưa hết sửng sốt, cả đời ông quen thuộc với nếp sống xã hội chủ nghĩa, đã ngấm vào thịt da xương tủy ông những thủ tục, luật lệ, nên ông tưởng nó theo ông dù ông đi đâu, đến đâu.

       Hôm nay, ông là một cựu chiến binh cộng sản, cựu kẻ thù của Mỹ, kẻ đã một thời từng mong tiêu diệt những lính Mỹ trên quê hương Việt Nam, theo đúng câu tuyên truyền “Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào” đang chễm chệ ngồi ngay trong lòng nước Mỹ, vậy mà không hề bị họ để ý, nghi ngờ hay làm khó khăn gì cả, quả là chuyện lạ lùng.

       Buổi chiều, ông Sĩ ăn cơm cùng gia đình ông Tượng, có cả các con ông Tượng ở gần đấy sang chơi, trò chuyện đủ thứ. Gia đình ông Tượng bàn nhau kế hoạch sẽ đưa ông Sĩ đi chơi những nơi trong thành phố, rồi đi thăm thân nhân khác, tại những thành phố hay tiểu bang khác. Thật là nồng nhiệt, thân tình và vui vẻ.

       Tối hôm đầu tiên nằm ngủ ở Mỹ, trong nhà của em trai mình, trong một căn phòng riêng sạch sẽ đầy đủ tiện nghi, giường nệm, chăn gối thơm tho, phòng tắm, cầu tiêu ngay bên cạnh, ông Sĩ tưởng như mình lạc vào cõi mộng nào.

       Bao nhiêu năm đời bộ đội nằm bờ bụi, đói khổ, hết chiến tranh thì về quê, cảnh nhà nghèo nàn túng thiếu, ông nào biết có những cảnh đời tiện nghi sung sướng như thế này, ông Sĩ ao ước giá mà bà vợ cùng đi với ông để cùng được hưởng, vì mai kia ông có kể lại chắc gì bà ấy hình dung ra được .

       Ông thao thức mãi chưa ngủ được, phần vì thay đổi giờ giấc, phần vì lạ nhà, lạ cảnh. Ông lan man nhớ lại lúc ở phi trường Los. Anh hải quan đã tin cậy lời ông, một người xa lạ, mới gặp lần đầu một cách dễ dàng mà không xét hỏi thêm gì về hành lý của ông cả.

       Ông chạnh lòng nhớ đến chuyện xa hơn, sau ngày đất nước hoà bình, ông Sĩ làm đơn xin hưởng lương hưu cựu chiến binh. Từ làng xã, đến các đơn vị đều biết ông bao năm đi bộ đội, vậy mà  người ta hành hạ ông phải chạy từ quê lên huyện, lên thành phố, trở về đơn vị cũ, gặp thủ trưởng xưa, xin bao nhiêu chữ ký, bao nhiêu thứ xác nhận chòng chéo, vòng vo đến dư thừa thì họ mới cho hoàn tất hồ sơ.

       Bao nhiêu công lao và xương máu của ông đã đổ ra trong chiến tranh, mà chút quyền lợi đền bù cho ông sao nhiêu khê, khó khăn đến thế !

       Lòng ông  lại chập chờn những nỗi vui buồn, vui vì anh em ông có ngày đoàn tụ nhìn thấy nhau, ông sẽ có mấy tháng rong chơi ở nước Mỹ to đẹp này, buồn vì ông thấy hai cảnh đời khác biệt.

       Gia đình ông Tượng sang Mỹ, 3 đứa con đều ăn học thành tài cả, đứa nào cũng có bằng cấp đại học trở lên, có nhà cửa riêng, còn gia đình ông Sĩ cũng 3 đứa con thì 2 đứa lớn theo nghiệp cha ông làm ruộng, cuộc sống nghèo nàn lam lũ chẳng biết đời nào mới ngóc đầu lên nổi, thằng út đậu xong cái bằng phổ thông trung học, ông đã tìm cách cho nó thoát ly cảnh đồng ruộng, để cuộc đời đỡ vất vả, xin làm công nhân ở một hãng sản xuất đồ gốm trên huyện mà cũng tốn bao nhiêu công phu nhờ cậy giới thiệu và đút lót quà cáp mới được nhận vào.

       Ông ngậm ngùi thầm trách bố ông sao ngày xưa không đem cả vợ con đi, mà kẻ trước người sau cho mộng đời dang dở, thì ngày nay cha con ông chắc cũng chẳng thua kém gì cha con ông Tượng.

       Bố ông yêu thích môn cờ tướng, chơi cờ tướng giỏi, vậy mà ván cờ cuộc đời ông chỉ tính sai một nước cờ mà thiệt thòi cả mấy đời người.

       Hết nghĩ chuyện nọ đến chuyện kia, ông Sĩ bỗng lo xa khi nghĩ đến 3 tháng du lịch ở Mỹ rồi sẽ trôi qua, ông sẽ trở lại Việt Nam, đối diện với cảnh sống nghèo nàn thường lệ, và  trước mắt là đối diện với cuộc hành trình trở về từ Mỹ. Xưa nay ông đã quen bị đối xử bất công trong mọi tình huống của cuộc sống rồi, có bị quát, bị mắng cũng chai đá rồi. Nhưng từ phi trường ở Nhật Bản đến phi trường ở Mỹ ông đã được đối xử một cách công bằng, lịch sự, hoàn toàn khác biệt ở phi trường Nội Bài, ông chợt thấy một thế giới khác tử tế hơn nơi ông sinh ra và lớn lên cho đến bây giờ.

       Trời ơi, lượt về ông sẽ gặp lại những bộ mặt từ chuyến bay hãng hàng không Việt Nam ấy, đến phi trường Nội Bài gặp mấy đứa hải quan ấy, mà ông thêm ngao ngán… 

       Ông chỉ muốn chúng nó biến mất trong đầu óc ông để ông ngủ yên tối nay và thoải mái tận hưởng những ngày du lịch một đất nước lạ đời và thăm lại các người thân sau bao nhiêu năm dài xa cách.

Nguyễn Thị Thanh Dương

 

Chiều thứ năm Jan. 22, em dâu gọi phone hỏi:

-          Chị đi chợ chưa?

-          Ngày mai. Chị đi chợ hàng tuần vào buổi trưa thứ sáu, em biết rồi mà, cũng như chị biết em chỉ đi chợ vào thứ bảy, là ngày “off” của em không phải trông coi 2 đứa cháu nội đứa thì nhõng nhẽo đứa thì phá như giặc.

Giọng em dâu khẩn cấp:

-          Em để chồng coi 2 cháu, mới đi chợ về nè, nên gọi để chị biết là chợ búa rất đông, nhiều kệ hàng bị vét sạch trống trơn y như thời Covid 19  vì cơn bão mùa Đông sắp sửa “quét” qua nhiều tiểu bang trong đó có tiểu bang Texas, cụ thể là vùng Dallas Fort Worth của chúng ta rất nặng. Chị đi chợ kẻo hết hàng, vài ngày nữa thời tiết sẽ tuyết lạnh giá băng…

Em dâu khoe :

-          Ngoài thực phẩm dự trữ em mua đèn cầy, đèn pin phòng hờ cúp điện.

Cô em dâu tôi là vua lo xa. Tôi ..chảnh:

-          Ôi, mưa gió bão tuyết có mù trời phải ngồi nhà thì chị càng thích, tha hồ làm thơ.

Biết là tôi nói đùa em dâu vẫn hờn mát:

-          Chị lại sang nhà em xin mấy pao gạo về nấu đỡ như mùa Covid19 là cùng chứ gì. Không có cơm ăn ngồi đó mà làm thơ.

Em chồng mà như…má chồng. Tôi vẫn nghĩ thế về cô em dâu đáng yêu của tôi, bà chị đểnh đoảng,  cô em thường ra tay đỡ đần chỉ dẫn. Có lần dịp lễ Tạ Ơn nhà em dâu tổ chức và mời các anh chị em con cháu trong gia đình khá đông, hơn chục người, tôi góp phần sẽ mang theo món xôi vò. Tôi bưng khay xôi đến muộn. Tôi xin lỗi cả nhà đang chờ và than thở với em dâu:

-          Chị bận bù đầu bù cổ vì khay xôi vò này nên đến muộn.

-          Xời ơi, có một món xôi mà tới bù đầu bù cổ. Từ sớm tới giờ em làm được mấy món đây nè.

Hinh như năm nay 2026 nước Mỹ đang trải qua một mùa Đông thật lạ lùng, tháng 12 sang tháng một nhiều tiểu bang vẫn ấm áp. Texas của tôi cũng thế, thỉnh thoảng tôi còn phơi đồ ngoài sân sau, còn ngắm lá Thu vàng của cây maple nhà đối diện sân trước cho đến  ngay hôm nay cuối tháng Một, cỏ trong vườn vẫn còn  màu xanh chưa thèm tàn tạ héo úa sầu đông dù có tin dự báo vài ngày nữa Texas sẽ có bão tuyết, tuyết rơi rất nhiều. Nhưng tôi vẫn …lạc quan hi vọng ở nơi đâu tuyết rơi dày 30- 40 inch, nhưng Texas chỉ bị…sơ sơ thôi.

Văn phóng bác sĩ gia đình vừa gọi cancel cái hẹn của tôi vào thứ hai Jan 26. Tôi thông cảm, đi khám sức khỏe tổng quát hàng năm mà đi ngay vào lúc bão tuyết thì lại mang bệnh cảm lạnh về nhà chứ ích gì..

……………..

Tôi đi chợ mỗi thứ sáu lúc 1 giờ trưa và thường về nhà lúc 4 giờ chiều, trời đất sáng sủa lái xe an toàn suốt cả 4 mùa, dú thế em dâu vẫn phê bình: “ Chị giữa trưa đi chợ, không giống ai”.

Tôi đi chợ “quốc tế”, từ chợ Mễ, tới chợ Việt, chợ Hàn quốc và cuối cùng là chợ Mỹ. Vụ này thì chồng mắng  “Bà có bao nhiêu tiền, nhà này ăn uống bao nhiêu mà bà đi tới 4 chợ?”.

Những chợ này rất gần nhau, quanh quẩn nhau chỉ chừng 1 mile nên tôi “lê la” đi được nhiều chợ.

Hôm thứ sáu Jan 23, 2026 thời tiết khoảng 40 độ F nên tôi nhởn nhơ đi chợ, giữa trưa gió thổi mạnh, nên tôi trang bị đầy đủ mũ áo mùa Đông. Thế mà khi xuống xe để vào chợ gió lạnh luồn lỏi thấm qua tấm áo len dày, thấm qua khăn quàng cổ chẳng nương tay.

Chợ đầu tiên là chợ Mễ El Rancho ( có khi tôi đi thêm chợ Mễ Fiesta…nữa cơ vì cũng thuận đường). Ôi trời, chợ đông đúc hơn những thứ sáu khác, tôi cũng rộn rịp mua hàng và kiên nhẫn xếp hàng tính tiền. Tới chợ Việt Nam chợ Bến Thành, tới chợ Hàn Quốc New Market, chợ nào cũng đông người. Thì ra không chỉ em dâu tôi lo xa mà thiên hạ cũng đang lo cơn bão mùa đông đang kéo đến.

Thấy người ta mua sắm quá tôi không dám tin là Texas xứ nắng nóng của tôi luôn an toàn trong mùa đông nữa. Tôi cũng phải mua thực phẩm dự trữ như em dâu dặn dò.

Ghé vào tiệm bánh mì Việt Nam định mua mấy ổ bánh mì thịt và mấy đồng mì không…để dành lỡ cúp điện. Ối trời, tiệm bánh mì cũng đang đầy khách xếp hàng order không có chỗ cho tôi chen chân. Tôi nản quá thôi thì lát nữa mua bánh mì sandwich Mỹ…ăn tạm vậy. Tôi sang lò đâu hũ, mua  đậu hũ chiên sẵn cũng chỉ…để dành lỡ cúp điện. Mấy khay đậu hũ hành chiên, đậu hũ nấm chiên, đậu hũ xả ớt chiên mọi hôm đầy ắp, hôm nay khay nào cũng…trống vắng, còn lèo tèo mấy miếng đậu hũ vụn vỡ. Cô nhân viên nói:

-          Chị chờ nửa tiếng đi, đậu hũ đang chiên..

Thì giờ đâu mà tôi đứng đây đợi để mua mấy đồng đậu hũ chiên kẻo về trễ thì gió càng thêm lạnh, trời mùa đông càng mau tối lái xe nguy hiểm lắm. Tôi an ủi là nhà hãy còn mấy hộp đậu hũ mua ở Costco, không sợ thiếu …chất.  

Đến chợ Mỹ Kroger, người Mỹ cũng lo xa không kém dân Việt dân Mễ, quầy sữa, trứng, quầy đồ khô mì hộp, bánh mì cũng trống trải cô đơn. Đi qua một dãy hàng tôi thấy mấy người Mỹ đang  mua đồ hôp thức ăn cho chó mèo. Những thú cưng cũng được chủ lo lắng no đủ trong mấy ngày mưa bão. Sướng nhé.

Mua sắm xong tôi đẩy xe chợ Kroger ra ngoài bãi parking, xe tôi thường đậu chỗ xa chỗ vắng cho dễ tiến tới hay lui lại, vừa chông chênh đẩy xe chợ vừa chống lại với gió quật vào mặt vào người lạnh buốt. Mới chỉ là gió, mai mốt đây là bão và tuyết rơi thì sẽ kinh khũng thế nào.

Về đến nhà an toàn trong căn phòng ấm, buổi tối tôi vào computer mở email bạn bè thấy các bạn cũng đang xôn xao về cơn bão mua đông ở Mỹ, người nọ hỏi thăm người kia, họ cũng mua dự trữ thực phẩm, đèn pin, đèn cầy y như cô em dâu của tôi. May quá tôi đã kịp “giác ngộ”  và mua sắm những thứ như họ rồi. Mấy bạn khác ở Montreal Canada cũng lên tiếng than lạnh, nhiệt độ âm – 23 độ C tức – 9 độ F, tối qua còn bị cúp điện đến 4 giờ sáng mới có lại. Toronto và Quebec city bị bão tuyết. Không biết có “liên quan” gì với cơn bão tuyết bên Mỹ không nhỉ?

Xem trên  Yahoo và you tube những hình ảnh thành phố chìm trong màu tuyết trắng, tuyết bay mù trời, nếu có ai đó đi trên đường chắc họ sẽ lạc lối về.

Tối nay thứ bảy khi tôi đang viết bài này, sân sau sân trước nhà tôi tuyết đã phủ kín và tuyết vẫn đang rơi, từ trong nhà qua khung cửa sổ tuyết trắng sáng lên dưới anh đèn đường một vẻ đẹp hoang lạnh. Cơn bão tuyết đang đến vùng Dallas Fort Worth TX của tôi và những tiểu bang khác.

Chốc nữa tôi đi ngủ, tôi sẽ cầu mong, sẽ ước ao ngày mai thức dậy cơn bão tuyết đã…đổi hướng, đã.biến mất, bão đã rủ nhau ra sông ra biển và tan biến vào hư vô trả lại mùa đông bình thường cho nước Mỹ, cho tất cả chúng ta.

Nguyễn Thị Thanh Dương

In Giáo Dục, Văn Hóa Tags Đi Thăm Nước Mỹ, Nguyễn Thị Thanh Dương
Comment

SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI (NGUYỄN QUANG LẬP)

January 28, 2026 Ninh Tran

SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI

 Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

 Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. 

 Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kì.

 Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

 Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

 Thằng Minh khoe cái cassete ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassete là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. 

 Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassete của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casete, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca số 7. Kết thúc Sơn ca số 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

 Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. 

 Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

 Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

 Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. 

 Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời. 

 Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ.

 Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

 Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. 

 Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn. 

 Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

 Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

 Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. 

 Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

 Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác.

 Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác - Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác - Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.

 Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. 

 Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị.

 ****     Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.     *****

 (NGUYỄN QUANG LẬP)

In Giáo Dục, Văn Hóa, Góp Nhặt Đó Đây Tags SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI, NGUYỄN QUANG LẬP
Comment

Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi (Lê Diễm Chi Huệ)

January 28, 2026 Ninh Tran

Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi

Khói hương nghi ngút tỏa

Người về trong sương đêm

Cõi trần gian lây lất

Bỗng rơi một vệt sầu!

Từ nhỏ tôi là một đứa trẻ khác với chúng bạn: ốm yếu nhút nhát và thường chơi một mình. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với khung cảnh núi rừng thâm u. Tôi không nhớ đã yêu trăng tự lúc nào, chỉ nhớ là rất mê ngắm trăng, một cái thú mà lắm lúc làm cho mẹ tôi phải phàn nàn. Mẹ năm lần bảy lượt gọi tôi vô ăn cơm tối, nhưng tôi cứ lưỡng lự vì mải say sưa vân du cùng bóng nguyệt. Giữa núi rừng hoang vu tĩnh mịch, tôi bầu bạn cùng trăng và ánh trăng là niềm an ủi vô tận. Ánh sáng mờ đục rọi xuống sân nhà đã cùng tôi dệt bao mộng mơ. Khung cảnh tứ bề hoang vu. Cả ngày tôi chơi với bóng trăng và lẩn thẩn một mình. Trong khi những đứa trẻ ngang lứa với tôi vui đùa vô tư lự, thì tôi lại thích ngồi một mình trầm ngâm suy nghĩ vẩn vơ hoặc để hồn chu du buồn theo gió sầu theo mây. Tôi hay tưởng tượng những áng mây tích tụ và tan là những hình hài luôn biến đổi. Tâm hồn tôi mẫn cảm, mau khóc mau buồn, và có lẽ đó cũng là lý do tôi trở thành một người nội tâm về sau.

Tôi không biết là những đặc tính của mình khiến cho tôi lọt vào mắt xanh của các vị ở cõi giới vô hình hay tôi có căn duyên với họ, nhưng từ nhỏ tôi có một vài trải nghiệm tâm linh mà tôi thường nghe gia đình kể lại. Tôi không để tâm vào những điều tâm linh xảy ra với tôi cho lắm vì tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì nhiều . Qua Mỹ tôi lo vùi đầu vào việc học hành để tiến thân không có thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác, cho đến khi mãi sau này. Dù đã trưởng thành, tôi luôn mang một cảm giác lạc lõng giữa chốn đông người. Có lẽ từ nhỏ tôi quen bầu bạn với chính mình, với tiếng nói tữ bên trong nên nội tâm của tôi là người bạn đồng hành trong sự tĩnh lặng vô biên. Rồi cuộc đời đưa đẩy tôi đứng trước những biến cố đầy rẫy thị phi, những con người mà tôi không gây thù oán nhưng lời nói và hành động đầy ác tâm của họ đã đẩy tôi đến bờ tuyệt vọng. Giữa khổ đau tột cùng, tôi cảm nhận dường như có một lực vô hình chạm vào người mình và vực tôi dậy. Tôi bỗng trở nên mạnh mẻ, sắc bén không như yếu đuối, dễ vỡ trước kia. Những điều cần nói cần viết như có ai rót vào tư tưởng khiến tôi trở nên nhạy bén mà bản thân tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên. Đó là lần đầu tiên tôi va chạm những rong rêu bọt bèo trần gian.

Biến cố kéo theo những rối rắm khác khiến tôi cảm giác mình như bị cuốn trôi trong cơn lũ. Bỗng anh xuất hiện, người xưa của tôi đã chết cách đây hai mươi năm, khiến tôi như trời trồng. Anh được giao sứ mệnh bảo hộ tôi. Vốn là người nhạy cảm nhưng cứng đầu, tôi hấp thụ nền giáo dục bên Mỹ nên đầu óc tôi nặng khoa học: phải mắt thấy tai nghe tôi mới tin. Sự xuất hiện của anh, người mang sứ mệnh bảo hộ đã dập cái bản ngã của tôi bao trận và nghiền nát tất cả sự hiểu biết ít ỏi của tôi về cõi giới vô hình, một cõi giới song song với cõi người trần. Và sự tỉnh thức tâm linh dường như tự kích hoạt trong tôi kể từ đó. Tôi cảm niệm sâu xa về sự cứu rỗi vô hình đúng lúc từ các vị trong cõi giới bên kia nên phát nguyện trường chay, và không ngờ đó cũng là bước ngoặc lớn trong cuộc đời tôi.

Mười năm không phải là chuồi thời gian quá dài cũng không phải là quá ngắn nhưng với một người thích chiêm nghiệm như tôi thì có quá nhiều điều để chia sẻ. Ở cái cõi nhân gian mấy ai hiểu, tôi không quan tâm ai nghĩ tôi thế nào, khen hay chê ra sao, tôi làm những điều từ cái biết, cái thấy từ bên trong. Tôi vẫn là một con người bình thường với những hỉ nộ ái ố như bao người khác, tuy nhiên điều khác hơn là những cảm xúc đó luôn đi kèm theo sự quán chiếu. Quan trọng nhất, những cái “tự nhiên biết”, và “tự nhiên thấy” đến với tôi những lúc tôi cần là điều bản thân tôi không thể giải thích được. Bài học lớn nhất mà tôi luôn ghi nhớ là chớ phán xét người . Anh thường nhắc nhở ” em không được phán xét người nghe em. Họ như vậy là do nghiệp quả.”. Lòng trắc ẩn và nhìn căn cơ của người là điều tôi suy xét để có cái nhìn cảm thông hơn về lời nói hay hành động của người khác. Khi lòng trắc ẩn có mặt thì tâm sân hận khó có cơ hội hoành hành.

Những người lấy bên ngoài làm nền tảng hạnh phúc dễ khiến tâm bị mù mờ bởi họ trở thành nô lệ cho bản ngã. Một cái tâm mù mờ sẽ khiến họ khó phân biệt đúng sai, thiện ác, điều này ảnh hưởng đến lời nói và hành động và cuối cùng tự chuốc lấy khổ đau từ sự bất an bên trong. Muốn có trí tuệ tâm linh, chúng ta phải rèn luyện và dọn rác thân tâm mỗi ngày. Thử thách lớn nhất là chúng ta sống trong một xã hội được định hướng sẳn nên khó vượt lên trên để tìm sự chân thật, sự trong suốt đến từ bên trong. Muốn có sự chân thật, trong suốt đó chúng ta bắt buộc phải làm cuộc giải phẩu nội tâm, và bớt quan tâm thói thường thế gian. Carl Jung, nhà tâm lý học nổi tiếng từng nói: “Who Who looks outside, dreams; who looks inside, awakes”. Những người vọng ngoại là người mơ, những kẻ đi vào bên trong là những người tỉnh. Tất cả những điều mà chúng ta hơn thua để có được từ hư danh đến chiếc mặt mạ hoàn hảo cũng chỉ là “giai thị hư vọng”, thấy vậy chứ không phải vậy bởi nó cũng chỉ là những huyễn hóa mà chúng ta ôm chặt bất chấp khổ đau.

Mười năm anh đã cho tôi biết bao kiến thức tâm linh, quán chiếu bản thân, quán chiếu về cõi sống cõi chết để tôi tiếp tục là một lữ khách tỉnh thức giữa trần gian. Anh dìu dắt tôi qua bao biến cố. Anh là bậc thầy tâm linh đầu tiên của tôi. Bên cạnh anh, những lời phỉ báng, mạ lỵ, thị phi, đố kỵ từ những người tôi biết, những người tôi không biết, những người tôi chưa biết là bậc thầy tâm linh thứ hai. Họ cho tôi cơ hội rèn luyện tâm bởi họ hy sinh nhân phẩm, chuốc nghiệp để tôi thực hành hạnh nhẫn nhục, nâng cao trí tuệ tâm linh của mình. Bậc thầy tâm linh thứ ba là người thương của tôi, là Bồ Tát giữa trần gian, che chở cho tôi trước những lầy lụa của người đời. Anh cho tôi thấy ví dụ sống của một cái tâm thiện giữa bể dâu với trùng trùng thử thách và cũng cho tôi không gian để tôi có thể trầm mình trong thế giới riêng, với sự thương yêu và thấu cảm, bởi hơn ai hết anh hiểu căn duyên của tôi trong kiếp này. Và cuối cùng Đức Phật là bậc thầy tâm linh lớn nhất của tôi bởi sau trải nghiệm tâm linh, tôi hay đối chiếu và chiêm nghiệm những giáo lý của Đức Phật với những điều tôi học hỏi từ người bảo hộ vô hình để được thông suốt hơn.

Giữa muôn trùng duyên nghiệp đan xen, chúng ta đã hụp lặn từ bao nhiêu kiếp và mang theo bao chủng tử để mãi trôi lăn trong vòng luân hồi. Những bậc thầy tâm linh của chúng ta là những người góp phần vào việc xây dựng cho chúng ta một ngôi nhà tâm linh nơi mà trí tuệ vượt ra ngoài cái hữu hạn, và cho chúng ta an trú trong tỉnh thức giữa dòng cuồng loạn thế gian. 

01.26.2026

Lê Diễm Chi Huệ

In Quán Chiếu, Văn Hóa Tags Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi, Lê Diễm Chi Huệ
Comment

Nợ Còn Vương (Phương Hoa )

January 26, 2026 Ninh Tran

Hình trên NET

Tôi bấm chuông và đứng đợi. Mùi hương thoảng nhẹ trong không khí khiến tôi chú ý đến mấy khóm hồng dọc hai bên lối vào. Những cụm hồng nhung đủ màu mới vài ngày trước còn đẹp rực rỡ, vậy mà giờ đây đã xuống sắc, cánh hoa rơi tan tác vương vãi khắp nơi. Tôi nhìn lên tấm bảng nhà dưỡng lão (Residential Care Home) và bỗng thấy lòng chùng xuống. Bên trong cánh cửa này, có bao cuộc đời từng một thời tung hoành ngang dọc, nhưng nay họ đều đang thập thò bước thấp bước cao đi vào đoạn cuối đời, cho dù có an phận sẵn sàng hay vẫn còn luyến tiếc.

Cửa mở, tôi bước vào và nghiêng mình làm một điệu bộ vui với các cụ già đã được nhân viên đưa ra ngồi sẵn quanh phòng thể dục chờ tôi:

– Chào mọi người. Chúng ta bắt đầu nhé!

“Lính” của tôi có mười lăm người tất cả, họ đều tuổi cao và không ai thực sự khỏe mạnh. Ông Don vừa thay van tim; bà Shara được ráp đầu gối; cụ Bob bắt đầu giai đoạn một của bệnh lẫn; ông Thomas ngồi xe lăn, ngoẹo cổ chảy nước dãi ướt đẫm chiếc khăn quàng, và nhiều người khác nữa. Chỉ có một người Việt độc nhất trong viện dưỡng lão này, là ông Tam Nguyen. Ông Tam khoảng chừng bảy mươi, tướng dữ dằn với hàm râu quai nón giống nhà độc tài Fidel Castro. Ông cũng từng bị tai biến, đi đứng hơi khập khiễng phải dùng chiếc ghế đẩy (walker).

Mỗi tuần tôi đến đây ba lần, vào buổi chiều sau khi đi làm về. Trong giờ đầu, tôi tập các cụ thực hành những bài thể dục đặc biệt dành cho người cao niên để giúp máu huyết lưu thông. Một tiếng đồng hồ còn lại, tôi đọc sách báo, kể chuyện phim, ra những câu đố, hoặc hỏi chuyện xưa, nghề nghiệp cũ, giúp họ vận dụng trí óc. Tất cả thành viên trong viện dưỡng lão đều trò chuyện thân thiện với tôi, trừ ông Tam. Ông có vẻ rất cô đơn, tâm trạng xem ra bất thường. Lúc nào trên mặt cũng hiện vẻ khó chịu kiểu “hận đời,” dù ông không làm phiền ai. Nghe nói người con trai độc nhất đưa ông vào đây cả năm nhưng đến thăm có vài lần, mỗi lần vài chục phút. Điều kỳ lạ là, ông nói tiếng Anh cả với tôi chứ không thèm dùng tiếng Việt.

 

Thấy ông Tam sống lẻ loi trong cái cộng đồng toàn Mỹ nên thỉnh thoảng tôi đem đến cho ông và cụ Bob cùng phòng vài món ăn do tôi làm. Khi thì ít cuốn chả giò, lúc đĩa bánh ướt cuộn tôm thịt. Lần nào ông cũng chỉ nói “Thank you,” ăn mà chẳng hề có một lời khen chê, trong khi ông Bob trầm trồ liền miệng. Tôi thường tìm cách trò chuyện dù ông ít khi trả lời, và sự kiên nhẫn của tôi rồi cũng kết quả. Có lần ông đã mở lòng thố lộ với tôi, vẫn bằng tiếng Anh, về ông.

Ông Tam vượt biển và đến Mỹ định cư năm 1979. Đi học rồi ra làm việc cho Bưu Điện Mỹ mấy chục năm, mới về hưu vài năm nay. Khi tôi hỏi sao chẳng thấy con trai ông đến thăm, ông trả lời lơ đãng, không biểu lộ chút cảm xúc nào, như đang nói chuyện của người khác:

– Thằng Trí thường đi làm xa. Vợ nó vẫn ở trong nhà tôi, nhưng không muốn gặp tôi.

Sau đó già Tam lại thu mình vào vỏ như con ốc, những gì tôi biết về ông chỉ có vậy. Mọi người đang tập bỗng có tiếng bấm chuông. Nhân viên bận nên tôi ra mở cửa, và thật bất ngờ thấy một người Việt Nam đến tìm ông Tam. Đây là lần đầu tiên có người đến thăm Già Tam “Con bà Phước” nên tôi rất mừng, vội đưa ông ta vào. Ông Tam ngạc nhiên nhìn người khách đến sững sờ, bàn tay ông run run giữ chặt thành ghế.

– Ông thầy! Sao mà lại ra nông nỗi? Người khách nói như muốn khóc, liếc nhìn cái ghế có bánh xe, rồi ngồi xuống ôm chầm lấy ông Tam. – Kỵ đây nè! Anh không nhận ra em sao?

Ông Tam cũng kêu lên giọng nghẹn ngào, lần đầu tiên tôi thấy ông để lộ cảm xúc:

– Trời ơi! Kỵ! Chú mày làm thế nào mà tìm ra anh ở đây?

Tôi kêu ông Tam đưa bạn vào phòng chuyện trò cho thoải mái. Hơn một giờ sau ông khách ra về. Đến cửa ông ta dừng lại vẫy chào tôi, miệng mỉm cười nhưng đôi mắt ông trông buồn vô kể. Xong việc, tôi giúp đưa cụ Bob trở về phòng với ông Tam để họ nghỉ ngơi một chút trước khi dùng cơm chiều. Tôi đang loay hoay đỡ cụ lên giường, cụ bỗng nhìn qua bên cạnh hỏi:

– “What’s wrong, Tam?” Có việc gì thế Tam?

Tôi quay sang giường ông Tam, và bỗng giật mình. Già Tam đang nằm xụi lơ như không còn sức sống. Hai tay ông ôm đầu, đôi mắt đỏ ngầu nhìn trừng trừng lên trần nhà long lanh ngấn lệ. Miệng ông mím chặt làm bộ râu quai nón lởm chởm lên như đám rễ tre.

– Bác Tam! Tôi kêu lên và bước lại. – Bác làm sao vậy? Có phải bị đau đầu không? Bác có cần lấy thuốc hay kêu y tá đến giúp? Thấy hỏi một hơi ông Tam chỉ lắc đầu không đáp cũng chẳng nhìn, tôi bèn ngồi lên mép giường, gỡ tay ông ra rồi giữ lấy đôi tay đang run bần bật trong tay tôi, và dùng tay kia xoa xoa lên trán ông: – Để cháu massage cho bác, bác sẽ cảm thấy dễ chịu ngay. Hình như người quen của bác đã mang đến tin tức gì chẳng lành, đúng hôn? Tôi hỏi.

–Cháu thấy ông ấy đi ra với vẻ mặt buồn ghê lắm!

Ông cụ trước giờ luôn tỏ ra lạnh lùng kiêu ngạo bỗng nấc lên, nước mắt chảy dài, rơi lấm tấm trên đám râu xồm muối tiêu trông như những giọt sương mai trên cỏ. Tôi vỗ vỗ vào tay ông:

– “It’s okay”! Bác khóc được là tốt, chuyện buồn gì rồi cũng sẽ…

– Không phải chuyện buồn! Già Tam bất ngờ lên tiếng cắt ngang lời tôi, và vẫn nhìn lên trần nhà. Tôi tròn mắt. Đó là lần đầu tiên từ khi tôi vô làm ở đây ông nói tiếng Việt. Không phải chuyện buồn, chẳng lẽ chuyện vui, sao ông lại đau lòng đến thế. Bỗng ông rụt tay về ôm lấy đầu, lẩm bẩm như nói với chính mình: – Tôi thật đáng chết! Bà ấy… Bà ấy… Luyến của tôi! Trời ơi!

– “Bà ấy” là ai vậy? Tôi dỗ dành ông, cũng bằng tiếng Việt: – Bác có thể chia sẻ với cháu được không? Để trong lòng và tự dằn vặt mình sẽ hại cho tim của bác lắm. Bác từng bị bệnh mà!

Già Tam mím chặt môi, có vẻ như cố dằn lòng không muốn nói. Nhưng sau một lúc ông chẳng cầm cự được trước ánh mắt lo lắng chân tình của tôi. Chống tay ngồi dậy, ông đưa tay áo quệt nhanh qua khuôn mặt đầy nước mắt. Và rồi bằng một giọng nghẹn ngào ông bắt đầu kể tôi nghe về chuyện của ông, của người vợ mà ông từng hết lòng yêu thương và cũng đã hận thù trong mấy chục năm qua, giữa tiếng ngáy rào rào vô tư của cụ Bob ở giường bên cạnh.

Trước kia Tâm là một sĩ quan, binh chủng Biệt Động Quân oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chàng Trung úy mũ nâu yêu và cưới Vi Luyến một nữ sinh xinh đẹp, người thôn Thành học ở Nha Trang. Năm 75 khi Trí đứa con trai của họ được gần hai tuổi thì tai họa ập đến. Nước mất nhà tan, Tâm bị bắt đi tù. Luyến và thằng Trí cùng mẹ anh bị đuổi đi kinh tế mới trên miền núi. Cuộc sống rẫy rừng bữa rau bữa cháo không đủ nuôi ba miệng ăn. Luyến bán dần từ nữ trang đến nhẫn cưới, và bất cứ thứ gì trong nhà để mua thực phẩm thuốc men đi thăm chồng. Nhưng sau một thời gian, Tâm chẳng còn ai thăm nuôi mà tin tức của vợ cũng bặt luôn.

Lâu ngày, từ những thân nhân của bạn tù Tâm nghe được, Luyến đã qua lại với một gã cán bộ phường, có thai với hắn, nên mẹ Tâm bắt lại thằng cháu và đuổi cô đi. Lòng Tâm tràn ngập hận thù và đau đớn. Mấy lần anh định trốn trại vượt ngục về tẩn cho đôi gian phu dâm phụ một trận rồi ra sao thì ra. Mẹ anh phần lớn tuổi lại bị đau khớp, phần phải vật vã nuôi thằng cháu nhỏ, bà không có khả năng thăm nuôi con trai. Anh bơ vơ, đói khát, còn bị hành hạ trong tù, lâu thật lâu mới có người bà con xa nào đó gửi cho mấy viên ký ninh, vài tán đường, hay gói muối sả. Dù vậy cũng tạm để Tâm tồn tại, cố gắng sống chờ ngày gặp lại mẹ và con trai.

Ba năm sau Tâm được thả. Anh lê tấm thân còm cõi về nhà. Mối hận càng tăng khi nghe mẹ già kể chuyện.  Bà đuổi Luyến đi được vài tháng thì ngôi nhà của bà nửa đêm bốc cháy. Bà và hàng xóm nghi ngờ tay người tình của Luyến phóng hỏa, vì bà đã sỉ vả Luyến và cả hắn ta, một cách quá lộ liễu.

Thật may đêm đó có một người đi đường liều mình nhảy vào ngọn lửa cứu bé Trí và bà. Trí chỉ bị phỏng nhẹ, còn bà ngất xỉu vì ngộp khói phải đưa vào trạm xá. Hàng xóm chạy đến tận tình chữa cháy, nhưng nhà bà ở rẫy cách nhau xa nên chữa không kịp, bị cháy hết một phần.

Mấy tháng sau khi nhà cháy, có người tên Kỵ tìm đến. Anh từng là Hạ Sĩ dưới quyền của Tâm trước đây, đem giúp bà tiền mua mấy tấm phên sửa lại nhà. Lâu lâu Kỵ còn đem cho bà chút đỉnh tiền, dăm gói mì tôm, ký đường, để cho thằng Trí còi cọc có thêm chút chất bổ. Tâm nghe nói cảm động lắm. Anh nhớ nhà Kỵ làm biển, ở gần cầu Xóm Bóng Nha Trang, nên muốn xuống tìm để cám ơn. Nhưng mới ở tù về, anh sợ Kỵ bị liên lụy nên chưa dám. Tâm bắt đầu cuộc sống “tự do” bằng cách sáng sáng mang gói sắn mì luộc lên rừng phát rẫy, chiều về trên gánh củi là những bó lá lang, cải làn, rau đắng. Mồ hôi đổ xuống từng ngày, anh vẫn chẳng bao giờ đủ tiền mua cho thằng Trí cái áo cho lành. Ở chốn rừng núi muỗi mòng, mà thằng bé chỉ có độc cái quần đùi và chiếc áo lá vá đụp vá chùm được bà nội cắt may từ hai ống quần rách của Tâm. Mỗi khi đêm về, anh nằm cạnh nhìn đứa con mất mẹ ốm trơ xương mà lòng đau như cắt. Càng nghĩ anh càng giận người vợ bạc tình.

– Tôi sống vật vã với lòng thù hận như thế, cho đến một ngày tôi có điều kiện vượt biên.

Già Tâm nói tới đây bỗng dừng lại. Dưới ánh đèn phòng, mắt ông hiện lên vẻ đau khổ tột cùng.

– Bác ở tận miền núi, lại không tiền, làm cách nào bác kiếm được mối? Tôi nôn nóng hỏi.

– Là Kỵ, thằng đàn em hồi nãy. Ông nói, giọng sụt sịt nước mắt nước mũi. – Một buổi tối Kỵ chạy Honda lên vùng kinh tế mới nói với tôi, có người quen tổ chức vượt biên chừa cho nó hai chỗ, nhưng nó nhường, để tôi và thằng con đi miễn phí. Nhà nó có ghe sẽ đi sau.

– Wow! Ông Kỵ tốt quá! Tôi trầm trồ. – Người lính cũ của bác thật là giàu tình nghĩa!

Già Tam lắc đầu, đạp mạnh hai bàn chân xuống nệm: – Không phải! Nói xong ông tự tát vào mặt mình bôm bốp: – Tôi mới là thằng khốn kiếp!

Tôi hết hồn chụp tay ông lại, dù lòng hoang mang nhưng không dám hỏi nữa. Ông cụ bỗng úp mặt xuống đầu gối, và cất lên giọng nói nghe thê thiết như vọng về từ cõi âm ty:

– Tôi thật đáng chết! Mấy chục năm nay tôi không ngừng oán giận Luyến và nhớ ơn Kỵ. Không biết làm sao tìm gặp nó để đền đáp. Nhưng lúc nãy Kỵ cho biết một sự thật, mà dù tôi có chết trăm lần cũng không đủ đền tội lỗi của mình! Ngày đó dù bị mẹ tôi tàn nhẫn bắt con và đuổi đi, Luyến vẫn chạy vạy kiếm tiền lâu lâu gửi ít đồ ăn cho tôi bằng tên người khác. Cô còn đi tìm Kỵ, nhờ thay mặt đưa dùm tiền bạc, thức ăn để mẹ tôi sửa nhà và nuôi thằng Trí. Sau này Luyến còn bán căn nhà nhỏ mẹ cô ấy qua đời để lại, đưa vàng nhờ Kỵ lo cho hai cha con tôi ra đi.

Luyến bắt Kỵ phải thề không cho tôi biết, vì cô nghĩ mình không còn xứng đáng với chồng con.

– Trời ơi! Tôi kêu lên. – Không thể nào tin được thế giới này còn có người như bác gái!

Già Tam nghe thế thì ngẩng đầu lên vật vã thở, như là sắp ngất. Nhưng rồi ông nói tiếp, phát ra từng lời khó khăn như đang bị ai chẹn họng: – Đau đớn lắm! Cô ấy phải lăn lóc bám theo bọn tài xế đường dài đi buôn ra Bắc. Mỗi lần bị lũ thuế vụ hốt hết hàng, mất vốn, cô lại trở về lảng vảng gần bên, để dòm chừng thằng Trí. Nên trong cái đêm cháy nhà, cô ấy đã kịp thời cứu thằng con và mẹ tôi, rồi bỏ đi trước khi người ta tới. Việc đó làm cổ bị sẩy thai, cái kết quả một lần bị thằng khốn bức hiếp khi nhờ nó ký giấy thăm nuôi tôi. Ông lại nấc lên: – Luyến bị phỏng một bên mặt và một bàn tay, nhưng không tiền chữa trị kỹ càng nên đã để lại sẹo đến giờ.

Thấy ông mệt lã, tôi đi rót ly nước, cũng để cầm lòng cho khỏi khóc theo ông. Ông bưng ly lên uống một hơi, nuốt xuống sự nghẹn ngào rồi kể tiếp. Lúc biết tin chồng con ra đi trót lọt, bà về quê buôn bán kiếm sống. Sau bà trở lại thì mẹ chồng đã bán cái nhà ấy và dọn đi. Dò hỏi mãi cũng không ra, bà mất luôn tin tức hai cha con, nên theo người ta vô Sài Gòn tìm việc làm. Bà đã làm đủ thứ nghề, sau cùng là bán vé số, và với hy vọng mỏng manh, bà rảo tìm hỏi thăm những Việt Kiều về nước. Mãi đến năm ngoái tình cờ bà gặp lại Kỵ ở Sài Gòn. Nhờ bàn tay với cái mặt sẹo mà ông Kỵ nhận ra bà, và được nghe kể lại thêm nhiều chi tiết nữa. Về Mỹ Kỵ đi tìm ông Tam suốt cả năm qua. Kể đến đây ông già rên rỉ:

– Phải chi mẹ tôi còn sống để biết được chuyện này! Ngày đó bà vô cùng ghét Luyến.

– Tội nghiệp bác gái quá! Tôi nói. – Nhưng giờ biết được tin tức bác ấy là mừng rồi, trễ còn hơn không bác ạ! Tôi chồm tới ôm ông cụ: – Chúc mừng bác! Tuy an ủi già Tam, nhưng tiếng nức nở của ông bên tai làm cho tôi cũng phải rơi nước mắt.

Sau lần đó, ông Kỵ trở lại nhiều lần nữa giúp làm thủ tục bảo lãnh cho vợ già Tam, vì ông giận cô dâu nên không nhờ đến con trai. Ông Tam lúc này không còn cau có như xưa mà trở nên thật cởi mở. Ông gọi Việt Nam liên tục, cho tôi xem tấm hình bà vợ có cái sẹo bên má mà ông nâng niu bên mình. Khi có tin bà Luyến đậu phỏng vấn, ông Tam hớn hở khoe với bạn trong nhà dưỡng lão. Mọi việc đâu đó sẵn sàng, một tuần nữa thôi, ông sẽ đi phi trường đón vợ.

Chiều thứ Sáu trước ngày đón bà Luyến, tôi đi làm ra lái xe đến viện dưỡng lão như thường lệ. Lòng thầm nghĩ hôm nay tôi sẽ chọc già Tam, chắc mấy đêm rồi ông mất ngủ.

– Ông Tam đang được cấp cứu trong bệnh viện vì bị “Heart attack”! Người quản lý nói khi vừa thấy tôi. – Hôm qua con dâu ông ấy đến và họ nói chuyện gì không biết. Chúng tôi nghe có tiếng cãi vã trong phòng, và khi cô ta về thì ông ấy ngã lăn ra. Chúng tôi phải gọi 911.

Tôi lật đật gọi cho ông Kỵ. Thì ra khi nghe mẹ chồng sắp qua Mỹ, cô dâu của già Tam đến ép ông ký giấy để cô làm thủ tục bán ngôi nhà hiện tại trị giá bạc triệu, do ông mua khi còn đi làm Bưu Điện. Giờ tôi mới biết rõ hơn lý do ông Tam và cô con dâu không hạp. Cô ta là con một cán bộ gộc bên Việt Nam qua du học Mỹ, nên lúc đầu ông đã chống đối cuộc hôn nhân này.

Hôm đó cãi nhau với cô ta, già Tam giận quá nên bị ngất xỉu. Ông Kỵ còn cho tôi biết, dù ông Tam đã được mổ và thay van tim thành công, bác sĩ nói chuyện tỉnh lại hay không phải nhờ vào ý chí của ông ấy, vì đây là bệnh cũ tái phát sau cú sốc quá nặng.

Ngày Chúa Nhật, tôi đến bệnh viện thăm già Tam. Ông tái xanh nằm bất động trong phòng chăm sóc đặc biệt. Máy móc, dây nhợ được gắn chằng chịt khắp người. Ông Kỵ và Trí con trai ông Tam cũng có mặt. Trí có vẻ rất lo lắng, đi tới đi lui mắt không rời khỏi cha già. Tôi đứng lặng nhìn người đàn bà chân quê, nhưng gọn ghẽ trong áo bà ba tím quần đen, tóc búi cao, khom người quỳ bên giường bệnh. Bàn tay đầy sẹo của bà ôm lấy bàn tay thâm tím đầy dây nhợ của già Tam, áp lên trên gò má có cái sẹo to đầy nước mắt của bà. Tôi thấy mắt mình cay cay.

Cúi người xuống, tôi nói vào tai già Tam:

– Bác Tâm ơi cố lên! Bác không được bỏ đi, mà phải sống để còn lo cho bác gái. Từ nay bác ấy chỉ có mỗi mình bác ở trên đất Mỹ này, bác nhất định phải trở về với bác ấy!

Bà Luyến nghe tôi nói thì khóc nức lên, làm y tá chạy lại đuổi hết mọi người ra ngoài.

Một tuần sau ngày mổ tim, như có phép màu làm cả nhóm bác sĩ Mỹ đều kinh ngạc, ông Tam đã tỉnh lại khỏe khoắn như người bình thường. Theo các bác sĩ, trường hợp của ông việc tỉnh lại đã là kỳ tích, tỉnh lại mà còn mạnh mẽ như thế là điều “không tin nổi.” Ai cũng nói, chắc có lẽ ông biết mình còn món nợ quá lớn đối với người vợ đáng thương, nên không thể ra đi.

Già Tam xuất viện ba tuần sau đó, trở về viện dưỡng lão để y tá theo dõi một thời gian. Trí con ông giận cô vợ quá quắt và cảm thấy có lỗi nên kiếm chỗ dọn đi giao nhà lại cho cha mẹ.

Trong lần cuối già Tam tập thể dục trước khi dọn về nhà, tôi làm một khay chả giò đem đãi hết mọi người trong viện dưỡng lão để chia tay ông. Bà Luyến và cựu Hạ sĩ Kỵ cũng có mặt.

“Cụ Biệt Động Quân” Tâm bữa nay không còn làm “mặt ngầu” nữa. Ông nói tiếng Việt, xong dịch sang tiếng Anh cho những người bạn Mỹ nghe, thỉnh thoảng còn đùa vài câu duyên dáng.  Điều kỳ diệu là, ông bước đi tỉnh bơ chẳng cần đến walker khi có bà vợ đi kề bên.

Sau đó bà Luyến kể tôi nghe thật nhiều về những gì bà trải qua trong mấy chục năm sống lăn lóc ở đất Sài Gòn. Đi lượm rác, ve chai, gánh nước mướn, và nghề sau cùng, lâu nhất, là bán vé số.  Nhờ nghề này bà mới tìm được tin tức của ông Tâm. Dù trăm bề vất vả, đói khát, hiểm nguy…, bà luôn cầu nguyện để đủ can đảm sống tiếp, và vẫn hy vọng có ngày sẽ biết được tin tức ông Tâm và thằng Trí.

– Cuối cùng Bề Trên cũng đã nghe thấy lời cầu xin của tôi, gặp lại được thằng con và ông ấy là mãn nguyện lắm rồi, sự cơ cực mấy chục năm qua đối với tôi không là gì cả!

Bà Luyến nói. Nước mắt hạnh phúc ngân ngấn trong đôi mắt vẫn còn long lanh của người đàn bà đã quá lục tuần. Tôi bỗng thấy bà đẹp vô cùng, cho dù với vết sẹo dài trên gò má.

Phương Hoa

In Góp Nhặt Đó Đây, Giáo Dục, Văn Hóa Tags Nợ Còn Vương, Phương Hoa
Comment

NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE"

January 20, 2026 Ninh Tran

NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE”

hay CHUYỆN TIẾP THEO Ở MỸ 50 NĂM SAU “NGƯỜI Ở LẠI CHARLIE” (1972-2022)

Ngày 5 tháng 7, 2022 tại toà Bạch Ốc, Tổng thống Joe Biden đã trao tặng Huân chương Danh Dự (Medal of Honor)-Huân chương cao nhất của Quân đội cho 4 chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu ở VN trước 1975, trong đó có cựu Thiếu tá John J. Duffy, từng là Cố vấn Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù (TĐ11ND) Quân đội VNCH vào thời điểm “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972.

Lần trao tặng huân chương hôm đó, có sự hiện diện của cựu Trung tá Lê Văn Mễ, nguyên Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND, đơn vị đã tử chiến với một lực lượng quân đội Bắc Việt đông hơn gấp bội trong trận chiến Mùa Hè 1972 tại cao điểm Charlie, thuộc tỉnh Kontum, Quân đoàn II, Quân khu 2. Cựu Thiếu tá Duffy là cố vấn của TĐ11ND và là một trong những nhân vật chính của trận chiến đi vào quân sử ở đồi Charlie, mà Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã sáng tác bản nhạc “Người Ở Lại Charlie” nổi tiếng cho đến tận bây giờ. Bản nhạc ngợi ca Cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, nguyên là Trung tá Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND (được mệnh danh là Song Kiếm Trấn Ải). Ngày 12 tháng 4 năm 1972, Trung tá Nguyễn Đình Bảo đã nằm yên trên đỉnh đồi Charlie. Ông ra đi ở tuổi 35 và được truy thăng Đại tá sau khi hy sinh.

Sau khi Trung tá Bảo tử trận, Tiểu đoàn phó TĐ11ND là Thiếu tá Lê Văn Mễ nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn, nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy đơn vị trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.

Ngày tiếp theo, địch quân pháo kích và tấn công dồn dập. TĐ11ND bị thiệt hại nặng nề, lại lâm vào tình cảnh thiếu thốn mọi thứ do tiếp liệu khó khăn: lương thực, thuốc men, kể cả đạn dược cạn dần. Hãy nghe Bác sĩ Tô Phạm Liệu nói với Thiếu tá Mễ: "Hôm nay là ngày 13, con số không lành, thế nào chúng cũng pháo và tấn công mình nữa. Tôi lo cho thương binh quá. Nếu không có thuốc và di tản kịp thì chắc sẽ không qua khỏi… Tôi hết thuốc men rồi…” (Trích “Máu Lửa Charlie” của Đoàn Phương Hải). Cuối cùng, Thiếu tá Mễ, Thiếu tá Duffy và Đại uý Hải quyết định rút khỏi Charlie vào chiều hôm đó. Cố vấn Duffy đã xin được mấy phi vụ B-52 thả xuống ngăn chặn địch quân để cho tiểu đoàn di tản.

Trong những giây phút cuối cùng, những thành viên còn lại của TĐ11ND hầu hết đều đã kiệt lực vì đa số là thương binh, kể cả Thiếu tá Mễ và Thiếu tá Duffy. Mấy chục người còn sống sót được chia thành nhiều toán, và chuyến trực thăng di tản chở những người cuối cùng lại xảy ra một tình cảnh “thập tử nhất sinh" với Đại uý Hải, Trưởng ban 3/TĐ11ND, là người sau cùng leo lên trực thăng. Hãy nghe nhà văn Phan Nhật Nam mô tả tình huống đó trong bài viết “Mặt sau tấm huy chương cấp muộn, gắn trễ!” đăng trên saigonweeklyonline.com mà tôi xin trích đăng: “… Hải lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, Hải trúng đạn ở chân phải, rớt từ trực thăng xuống đất, chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên. Thảng thốt Hải ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn 5 cây số, nhưng là năm cây sốđồi cao vực thẳm, năm cây số đường rừng và lại đang bị thương ở chân thì làm sao có thể đi được?! Anh sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bầy kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương, sẽ rữa nát hình hài! Tiếng trực thăng trên đầu làm Hải vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Anh đưa cao tay vẫy, miệng hét lớn. Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giang tay nắm chặt giây đạn và một tay của Hải kéo mạnh. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên xong bay thẳng. Máu phun có vòi từ anh xạ thủ đại liên người Mỹ làm ướt mặt Hải và Duffy. Duffy chồm tới bịt chặt vết thương trên ngực người xạ thủ đại liên. Mễ kéo Hải vào nằm lên sàn tàu. Hải không thể tin mình còn sống do tình chiến hữu cao cả của hai người lính ở hai đất nước khác nhau. Duffy ôm lấy Hải. Nghẹn ngào trong mắt. Vì vết thương quá nặng, anh xạ thủ đại liên Mỹ qua đời, phi công phụ gục đầu bên cửa máy bay với vết thương ở tay…”

Xin kết thúc bài viết này bằng những lời tâm sự của Mủ Đỏ Đoàn Phương Hải trong “Ký Sự Chiến Trường: Máu Lửa Charlie” viết vào năm 1998 để“Tưởng nhớ Anh Năm Nguyễn Ðình Bảo, Khóa 14 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH”:

“…Anh đã ra đi hơn một phần tư thế kỷ, 26 năm biết bao vật đổi sao rời. Ðểtôi làm lại nhiệm vụ ngày xưa kể lại anh nghe...

"Mễ, Liệu và tôi, những người gần gũi Anh nhất trong trận chiến Charlie đã không còn ở quê nhà và chúng tôi đã nhấp nhô theo vận nước nổi trôi. Ðàn em của Anh đã bỏ quê hương đi về "quê hương mới?!" Mặc dù Anh đã đi thật lâu, con trai của Anh đã là một y sỹ, chiến hữu của Anh kẻ ở người đi, nhưng những người còn lại vẫn nhớ Anh, họ vẫn nhắc đến tên Anh qua bài hát mà Nhật Trường viết tặng riêng Anh, viết cho "Người Ở Lại Charlie."

"Mấy chục năm sau, vượt đại dương muôn trùng sông nước, theo gió bay ngang dọc địa cầu, dù ở nơi đâu, chân trời góc biển, nơi đâu có người Việt thì nơi đó họ hát bài ca bất hủ để nhớ Anh. Ngay cả ở quê nhà, kẻ thù của Anh cũng vẫn nghe dân chúng hát bài ca để nhắc đến tên Anh…”

Mời các bạn xem video về buổi lễ gắn Huân chương Danh Dự tại toà Bạch Ốc và phóng sự về tình bạn cao quý giữa 2 sĩ quan Việt-Mỹ của đài ABC (tôi đã chuyển ngữ từ Anh qua Việt ngữ) theo đường link: https://www.youtub

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Thời Sự, Văn Hóa Tags NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE"
Comment
← Newer Posts Older Posts →
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories
Summary Block
This block is invalid. Please check the block settings and try again.
Featured
Aenean eu leo Quam
Aenean eu leo Quam

Quisque iaculis facilisis lacinia. Mauris euismod pellentesque tellus sit amet mollis.

Read more →