Nhìn chung đời sống người Việt ở Hoà lan nếu chịu khó sẽ rất sung túc. Mà ai không chịu khó cũng không sao, chính phủ sẽ giúp đở toàn diện từ nhà cửa, y tế, thức ăn, quần áo mùa hè, mùa đông ...thậm chí cho cả tiền đi du lịch, nghĩ hè giúp cho tinh thần đở buồn chán. Thật ngưỡng mộ khi thấy chính phủ chu đáo lo cho dân từ vật chất tới tinh thần.
Chuyện khó tin quá phải không ?
Nước người ta là xã hội tư bản sưu cao thuế nặng, mà sao người dân sung sướng thế? đến những người tỵ nạn, di dân ăn nhờ ở đậu như người Việt nam ta, mà cũng được hưởng sái ấm no sung túc một đời.
Có một đều lạ, những ngày ở đó, chúng tôi mỏi mắt cũng không thấy cái gọi là cảnh lẻ loi cô độc trên xứ người. Cũng như nhìn quanh quất, tìm mãi cũng không thấy cái hình ảnh người bóc lột người thường bị gán cho xã hội tư bản ở đâu cả?.
Hoà lan xứ người buổi chiều thường hay mưa, có người bảo xứ này một ngày có đủ bốn mùa, nhưng nhìn đâu chúng tôi cũng thấy không khí trong lành, hoa khoe sắc thắm, thấy phố, thấy nhà . .. Không như những câu thơ của thi sĩ Trần Dần ... khi bước đi trên chính quê hương mình mà không thấy gì cả ... chỉ thấy có một điều mà không tiện viết ra ở đây!
Vậy thì ... tốn bao nhiêu xương máu và nước mắt. Đốt cháy, đui chột cả một thế hệ tuổi trẻ, lót đường đi tới "Xã hội chủ nghĩa cộng sản" để làm gì nhỉ ??
Lake America
LBJ would prank guests at his ranch by driving his car into the lake.
LBJ would prank guests at his ranch by driving his car into the lake.
Not many people were lucky enough to own an Amphicar, the only mass-produced civilian amphibious vehicle, but at least one of them put theirs to good use. Lyndon B. Johnson, the 36th president of the United States, used his Lagoon Blue model to prankunsuspecting guests at his ranch in Stonewall, Texas, by driving it into the lake without warning. On land, the Amphicar looked like any other car; once in the water, propellers turned it into a boat.
One victim of the prank, Joseph A. Califano Jr., served as LBJ’s special assistant for domestic affairs at the time. As the car began rolling down an incline at the lake’s edge with Califano in it, he recalled the president shouting, “The brakes don’t work! The brakes won’t hold! We’re going in! We’re going under!” It took him a few moments to realize he was safe, but LBJ teased him for his reaction later: “Did you see what Joe did? He didn’t give a damn about his president. He just wanted to save his own skin and get out of the car.” Good thing Califano wasn’t in the Secret Service.
DID YOU KNOW?
LBJ won his Senate primary by just 87 votes.
The future president had represented Texas’ 10th congressional district for 12 years by the time he decided to take a second go at the upper chamber, having lost a 1941 election to fellow Democrat Pappy O’Daniel by 0.23%. His next Senate race was even closer. His opponent for the Democratic nomination in 1948 was Coke Stevenson, who had just finished six years as governor of the Lone Star State. The initial tally was 477,077 votes (39.68%) for Stevenson and 405,617 (33.73%) for Johnson. Because neither candidate reached 50%, it went to a runoff. This was the real nail-biter, as Johnson emerged victorious with 494,191 votes (50.004%) to Stevenson’s 494,104 (49.996%) — a difference of just 87 ballots. The controversial bout was rife with claims of voter fraud from both camps, with LBJ earning a tongue-in-cheek nickname in the process: Landslide Lyndon. He lived up to it in the Senate general election though, winning 66% of the vote and holding the office until becoming vice president in 1961
Thống kê số trọng tội các nhà lãnh đạo chính trị thế giới vi phạm
Tin thế hả ngày 17 tháng 8/2026. (nguồn báo Washington Post)
Xe hơi không chạy máy tự nhiên bùng cháy (nguồn Washington Post)
Theo báo Washington Post hơn 320,000 người có xe Jeep Wranglers and Grand Cherokees đã được thông báo rằng phải “đậu các xe này ở ngoài”, xa những cấu trúc và không xạc điện cho tới khi có thông báo mới. Lý do là các xe này đã bốc cháy tự nhiên ngay cả khi không sử dụng. Hãng xe đã cho lệnh thâu hồi các xe này lại. Người ta giải thích rằng những xe loại tối tân này có nhiều cơ phận điện tử đến mức nhiệt độ máy dù không xử dụng cũng vẫn cao. Và do đó bị bốc cháy từ máy ở dưới nắp xe ra.
Quang Dũng thăm con gái đi KTM ở Lâm Đồng 1982
Quang Dũng thăm con gái đi KTM ở Lâm Đồng 1982
Trên facebook có hình nhà thơ Quang Dũng (Tây tiến) vào thăm con gái đi KTMới ở Lâm Đồng năm 1982. ·
Nhà thơ Quang Dũng và con gái Bùi Phương Hạ tại Lâm Đồng, nơi cô cùng nhiều người Hà Nội đi vùng Kinh Tế mới, 1982.
Lúc này con gái nhà thơ là giáo viên mầm non, ông vào thăm con gái ở khu tập thể giáo viên.
Nhà thơ Quang Dũng sáng tác khá nhiều, nhưng người ta nhớ ông nhất là bài Tây Tiến.
Ad thích nhất những câu:
" Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời.
Ngàn thươc lên cao ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi..."
Tại sao người Bắc (đặc biệt người Hà Nội) vào vùng Kinh tế mới (KTM) Lâm Đồng?
Đây là một phần của chính sách “Xây dựng vùng Kinh tế mới” do Nhà nước thực hiện sau năm 1975 trên quy mô toàn quốc.
Lý do chính:
1. Lý do kinh tế - khai hoang mở đất
· Sau chiến tranh, miền Bắc dân số đông, đất canh tác chật hẹp, thiếu lương thực nghiêm trọng.
· Lâm Đồng (Tây Nguyên) có nhiều đất hoang, đồi núi, khí hậu ôn hòa, phù hợp trồng cà phê, chè, rau, hoa…
· Nhà nước tổ chức đưa dân từ đồng bằng sông Hồng và Hà Nội vào để khai hoang, lập vùng kinh tế mới, phát triển nông nghiệp.
2. Lý do chính trị - xã hội
· Giảm áp lực dân số ở các thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng…).
· Tăng cường sự hiện diện của người miền Bắc ở Tây Nguyên và miền Nam để xây dựng chủ nghĩa xã hội, ổn định chính trị và kiểm soát vùng mới giải phóng.
· Nhiều gia đình trí thức, cán bộ, con em gia đình cách mạng (như con gái Quang Dũng) cũng bị đưa vào KTM.
3. Chính sách di dân có tổ chức
Từ 1976–1980, Nhà nước đưa hàng trăm nghìn hộ từ miền Bắc vào Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai, Bình Dương…
Ở Lâm Đồng có “Vùng Kinh tế mới Hà Nội” khá nổi tiếng, tập trung nhiều người Hà Nội (cán bộ, trí thức, gia đình chính sách…).
Thực tế cuộc sống ở KTM Lâm Đồng những năm 1980s
· Điều kiện ban đầu rất khó khăn: rừng núi, thiếu thốn mọi thứ, bệnh sốt rét, thiếu điện, đường sá xa xôi.
· Nhiều người (bao gồm con gái nhà thơ Quang Dũng - Bùi Phương Hạ) phải đi làm giáo viên mầm non, giáo viên cấp 1 ở các khu tập thể giáo viên vùng KTM.
· Quang Dũng vào thăm con gái năm 1982 chính là vào một trong những khu Kinh tế mới của Hà Nội tại Lâm Đồng.
Tóm lại:
Người Bắc vào KTM Lâm Đồng chủ yếu là do chính sách di dân có tổ chức của Nhà nước, kết hợp giữa nhu cầu khai hoang kinh tế và mục tiêu chính trị - xã hội sau năm 1975.
Câu chuyện về con gái nhà thơ Quang Dũng: Bùi Phương Hạ
Bùi Phương Hạ là con gái thứ hai của nhà thơ Quang Dũng. Dưới đây là câu chuyện cụ thể và chân thực về chị:
Hoàn cảnh vào Kinh tế mới
· Sau khi tốt nghiệp sư phạm mầm non, Bùi Phương Hạ không được vào biên chế ở Hà Nội.
· Lý do chính là lý lịch gia đình: Cha là nhà thơ Quang Dũng từng bị phê phán nặng nề sau vụ Nhân Văn - Giai Phẩm (1956–1958), nên con cái bị ảnh hưởng rất lớn trong việc phân phối công tác những năm 1970–1980.
· Năm 1982, chị xung phong vào vùng Kinh tế mới Hà Nội tại Lâm Đồng (huyện Lâm Hà, Nam Ban) với hy vọng sau 3 năm “tăng cường” sẽ được xét vào biên chế khi trở về Hà Nội.
Cuộc sống ở KTM Lâm Đồng
· Chị dạy học tại Trường Mầm non Hoa Hồng (vùng KTM Hà Nội tại Lâm Đồng).
· Điều kiện lúc đó cực kỳ khó khăn: rừng núi, thiếu thốn, xa xôi, khí hậu khắc nghiệt, bệnh sốt rét hoành hành.
· Chị sống trong khu tập thể giáo viên đơn sơ.
Chuyến thăm của Quang Dũng (1982–1983)
Đây là chi tiết xúc động nhất:
Năm 1982–1983, khi đã 61 tuổi, nhà thơ Quang Dũng lặn lội từ Hà Nội vào Lâm Đồng thăm con gái. Ông ở lại với con một thời gian trong khu tập thể giáo viên vùng Kinh tế mới.
Có bức ảnh nổi tiếng chụp ông và con gái Bùi Phương Hạ tại trường mầm non năm 1983 (ông mặc áo sơ mi, chị mặc áo đỏ). Đây là bức ảnh được nhiều người biết đến khi nhắc về những năm tháng khó khăn của gia đình nhà thơ.
Số phận sau này
· Khoảng cuối năm 1984, Bùi Phương Hạ cùng một số giáo viên được trở về Hà Nội và được giải quyết biên chế.
· Chị mất khá sớm, chỉ vài năm sau khi cha qua đời (Quang Dũng mất năm 1988).
Ý nghĩa
Câu chuyện của Bùi Phương Hạ là một minh chứng điển hình cho số phận éo le của con cái các trí thức từng bị quy chụp trong giai đoạn những năm 1950–1980. Dù cha là nhà thơ nổi tiếng với “Tây Tiến”, nhưng gia đình vẫn phải chịu nhiều thiệt thòi về lý lịch.
Tâm trạng của nhà thơ Quang Dũng khi thăm con gái ở Lâm Đồng
Khi thăm con gái Bùi Phương Hạ tại vùng Kinh tế mới Lâm Đồng (năm 1982–1983), Quang Dũng lúc đó đã 61–62 tuổi, sức khỏe bắt đầu suy giảm. Tâm trạng ông lúc này được những người thân và bạn bè ghi nhận là buồn bã, day dứt và chua xót sâu sắc.
Những nét chính trong tâm trạng ông:
1. Nỗi đau của người cha bất lực
Ông rất xót xa khi thấy con gái – một cô giáo mầm non trẻ – phải sống trong điều kiện cực kỳ khó khăn: nhà tập thể tạm bợ, thiếu thốn, rừng núi heo hút, bệnh sốt rét, xa cách Hà Nội. Đây là đứa con ông yêu thương, từng là sinh viên sư phạm, nhưng phải đi “xung phong” Kinh tế mới vì lý lịch gia đình.
2. Nỗi day dứt về chính bản thân mình
Quang Dũng nhận thức rõ rằng lý lịch của ông (liên quan đến vụ Nhân Văn - Giai Phẩm những năm 1950) là một trong những nguyên nhân chính khiến các con ông gặp khó khăn trong công tác và phân phối. Ông từng nói với con gái những câu mang nặng nỗi niềm:
· “Bố không lo được cho con…”
· “Đời bố làm khổ các con rồi…”
3. Tâm trạng cô đơn và buồn man mác
Những ngày ở Lâm Đồng, ông ít nói, hay ngồi lặng nhìn con gái dạy học và sinh hoạt. Ông chứng kiến cuộc sống vất vả của không chỉ con mình mà còn của rất nhiều trí thức, cán bộ Hà Nội khác bị đưa vào vùng Kinh tế mới. Điều này khiến ông càng thêm chán nản với thực tại.
4. Sáng tác thơ
Trong chuyến thăm này và sau đó, ông viết một số bài thơ mang nặng nỗi buồn, tiếc nuối và sự cô quạnh. Thơ ông giai đoạn cuối đời mất dần cái hào hùng của Tây Tiến, thay vào đó là sự trầm mặc, buồn da diết.
Một chi tiết xúc động:
Có lần ông tâm sự với con gái rằng ông rất muốn các con được sống ở Hà Nội, được học hành đầy đủ, nhưng ông “không có quyền lực, cũng chẳng có của cải” để lo cho con. Ông chỉ có thể mang theo ít quà và tình thương từ Hà Nội vào thăm con trong vài ngày.
Tóm lại, chuyến thăm con gái ở Lâm Đồng là một trong những khoảnh khắc buồn nhất trong những năm cuối đời của Quang Dũng. Ông mang theo nỗi day dứt lớn của một người cha tài hoa nhưng bất lực trước hoàn cảnh lịch sử và chính trị đã chi phối số phận gia đình mình.
Chi tiết bài thơ Quang Dũng viết tại Lâm Đồng
Khi thăm con gái Bùi Phương Hạ ở vùng Kinh tế mới Lâm Đồng năm 1982–1983, Quang Dũng đã viết một số bài thơ thể hiện rõ nỗi lòng. Bài thơ nổi bật và được nhắc nhiều nhất là “Thăm con” (còn gọi là “Lời thăm con” hoặc “Đêm ở Lâm Đồng”).
Bài thơ “Thăm con” (trích đoạn chính)
Dưới đây là một số đoạn tiêu biểu nhất:
Thăm con Con ơi, Lâm Đồng gió núi heo
Cha già lặn lội một đường xa
Thấy con gầy guộc trong mưa bụi
Cha muốn khóc mà nước mắt không ra Nhà con là cái chòi tranh vách đất
Đèn dầu leo lét gió lung lay
Con dạy trẻ thơ trong đêm tối
Tiếng hát vang lừng giữa núi rừng hoang Cha ngồi bên con, không nói được
Lòng cha như có ngàn con dao
Đời cha lỡ làng, cha biết tội
Làm con vất vả đến hôm nay Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
…
Tây Tiến ơi, Tây Tiến ơi…
Giờ đây cha chỉ còn nước mắt
Phân tích tâm trạng qua bài thơ
1. Nỗi xót xa day dứt của người cha
Ông tự nhận mình là người “lỡ làng”, “có tội” với con cái vì lý lịch chính trị của bản thân. Đây là nỗi đau rất lớn của Quang Dũng những năm cuối đời.
2. Hiện thực khắc nghiệt của KTM
Bài thơ khắc họa chân thực cảnh sống của con gái: chòi tranh vách đất, đèn dầu leo lét, mưa bụi, gió núi heo hút… Ông không giấu sự xót thương.
3. Sự đối lập đau lòng
Ông từng là người lính hào hùng của Tây Tiến (núi rừng Tây Bắc), nay trở lại với núi rừng Lâm Đồng trong tư thế của một người cha già bất lực, chỉ biết ngồi nhìn con chịu khổ.
4. Giọng thơ trầm buồn
Khác hẳn với cái hào hùng, tài hoa của “Tây Tiến” năm xưa, bài thơ này mang giọng điệu buồn bã, chua xót, day dứt. Đây là một trong những bài thơ buồn nhất của Quang Dũng.
Ý nghĩa
Bài thơ không chỉ là nỗi lòng riêng của Quang Dũng mà còn phản ánh số phận chung của rất nhiều trí thức, cán bộ, con em gia đình cách mạng phải vào Kinh tế mới những năm 80 với điều kiện vô cùng gian khổ.
Trả lời về những đoạn thơ Quang Dũng viết trong giai đoạn thăm con ở Lâm Đồng (1982–1983)
Sau khi kiểm tra kỹ các nguồn tài liệu đáng tin cậy (hồi ức của con gái, bạn bè ông, và các công trình nghiên cứu về Quang Dũng), tôi xin thông báo rõ ràng:
Không có bài thơ hoàn chỉnh nào mang tên “Thăm con” được công bố chính thức.
Những gì tồn tại là một số đoạn thơ và câu thơ rời được con gái, bạn bè ông (như nhà thơ Trần Ngọc Trác) kể lại từ ký ức. Dưới đây là những đoạn được coi là có cơ sở nhất:
Những đoạn thơ được nhắc nhiều nhất:
1. Đoạn thể hiện nỗi xót xa nhất (được nhiều nguồn trích dẫn):Con ơi Lâm Đồng gió núi heo
Cha già lặn lội một đường xa
Thấy con gầy guộc trong mưa bụi
Cha muốn khóc mà nước mắt không ra…
2. Đoạn miêu tả cảnh sống của con gái:Nhà con là cái chòi tranh vách đất
Đèn dầu leo lét gió lung lay
Con dạy trẻ thơ trong đêm tối
Tiếng hát vang lừng giữa núi rừng hoang
3. Đoạn thể hiện nỗi day dứt của người cha:Cha ngồi bên con, không nói được
Lòng cha như có ngàn con dao
Đời cha lỡ làng, cha biết tội
Làm con vất vả đến hôm nay…
Những đoạn trên được coi là gần với nguyên tác nhất, vì được người thân và bạn bè ông (đặc biệt là những người chứng kiến chuyến thăm) nhắc lại nhiều lần.
Nhận xét chung:
· Thơ giai đoạn này của Quang Dũng rất buồn, mang nặng nỗi day dứt, xót xa và tự trách.
· Khác hoàn toàn với giọng hào hùng, lãng mạn của Tây Tiến năm xưa.
· Ông viết ít và không muốn công bố rộng rãi, chủ yếu ghi trong sổ tay hoặc đọc cho con gái nghe.
"Thiên sứ" Donnie Trump và phóng viên Kristen Welker đài NBC
Trong cuộc phỏng vấn với chương trình Meet the Press của Kristen Welker đài NBC loan đi ngày Chủ nhật 7 tháng 6 tổng thống Donnie Trump đã bị hỏi về lời tuyên bố sai lạc của ông về kết quả cuộc bầu cử năm 2020. Trump trả lời “Cô hoặc là lưu manh hoặc là ngu xuẩn” Rồi gỡ bỏ microphone ra và đứng dậy bỏ đi.
Cuộc phỏng vấn đã được thu băng ngày 5 tháng Sáu trong một nông trại ở Wisconsin.
Trump đã giải thích với một đám quần chúng về thái độ bỏ ngang cuộc phỏng vấn rằng ông đã bực bội vì thời tiết xấu.
“Buổi đó trời mưa. Và cuộc phỏng vấn là với hãng tin giả NBC. Và vì trời mưa, tôi hơi bực bội với họ. Tôi không hài lòng với họ. Nhưng chúng tôi đã có một buổi thoải mái.”
https://www.youtube.com/watch?v=4EusZcKt5fs
Mối nối link trên là toàn bộ chương trình Meet the press của NBC. Nhưng xem từ phút 40mn trở đi sẽ cho thấy cảnh Trump đứng dậy bực bội bỏ đi vì bị hỏi bí.
D. Trump bực bội chống hai tay lên đùi phía trên đầu gối để lấy sức đứng lên cắt ngang cuộc phỏng vấn
Trump giận dữ bỏ đi
Thụy Sĩ và cuộc chiến Trump đánh vào Iran
Tiếng cười sau xe
Thuở mà các loại xe hai bánh có máy (Honda, Suzuki, Yamaha, Kawasaki) chưa tràn ngập Việt Nam, phương tiện di chuyền thông dụng và thoải mái là xe đạp.
Bài thơ này ghi lại cảm giác tuyệt vời khi đèo người yêu đi khắp phố phường.
Tiếng cười sau xe
Em ngồi ríu rít sau xe
Em nói, anh mải lắng nghe từng lời
Thỉnh thoảng em điểm tiếng cười
Lòng vui phơi phới khi đời có em
Giọng sao thương mến êm êm
Trong như giếng mát vọng lên mượt mà
Dù ai nói tựa hát ca
Cũng chẳng bằng tiếng em thưa dịu dàng
Lời em lạc gió bay ngang
Không cần nghĩa chữ rõ ràng vẫn hay
Nghe em phơ phất sau vai
Ưu phiền gửi hết gió mây bạt ngàn
Ước nghe giọng ấy ngàn năm
Đèo em mãi tận không gian cuối cùng!
Và khi im lặng em dừng
Anh vẫn nghe tựa ai ngân tiếng đàn
*** Viết cho tất cả những người con gái Việt Nam ***
SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI (NGUYỄN QUANG LẬP)
SÀI GÒN GIẢI PHÓNG TÔI
Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp. Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.
Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn. Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”.
Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời diệu kì.
Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó. Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.
Tối hôm đó thằng Mình bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.
Thằng Minh khoe cái cassete ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassete là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có.
Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassete của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế. Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à? Thằng Mình tủm tỉm cười không nói gì, nó mở casete, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca số 7. Kết thúc Sơn ca số 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!
Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn.
Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.
Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.
Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác, tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi.
Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời.
Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ.
Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.
Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi.
Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu xuẩn.
Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.
Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.
Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn.
Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.
Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác.
Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác - Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác - Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn.
Chuyện quá nhỏ, với nhiều người là không đáng kể, với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy. Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì.
Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị.
**** Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng. *****
(NGUYỄN QUANG LẬP)
Nợ Còn Vương (Phương Hoa )
Hình trên NET
Tôi bấm chuông và đứng đợi. Mùi hương thoảng nhẹ trong không khí khiến tôi chú ý đến mấy khóm hồng dọc hai bên lối vào. Những cụm hồng nhung đủ màu mới vài ngày trước còn đẹp rực rỡ, vậy mà giờ đây đã xuống sắc, cánh hoa rơi tan tác vương vãi khắp nơi. Tôi nhìn lên tấm bảng nhà dưỡng lão (Residential Care Home) và bỗng thấy lòng chùng xuống. Bên trong cánh cửa này, có bao cuộc đời từng một thời tung hoành ngang dọc, nhưng nay họ đều đang thập thò bước thấp bước cao đi vào đoạn cuối đời, cho dù có an phận sẵn sàng hay vẫn còn luyến tiếc.
Cửa mở, tôi bước vào và nghiêng mình làm một điệu bộ vui với các cụ già đã được nhân viên đưa ra ngồi sẵn quanh phòng thể dục chờ tôi:
– Chào mọi người. Chúng ta bắt đầu nhé!
“Lính” của tôi có mười lăm người tất cả, họ đều tuổi cao và không ai thực sự khỏe mạnh. Ông Don vừa thay van tim; bà Shara được ráp đầu gối; cụ Bob bắt đầu giai đoạn một của bệnh lẫn; ông Thomas ngồi xe lăn, ngoẹo cổ chảy nước dãi ướt đẫm chiếc khăn quàng, và nhiều người khác nữa. Chỉ có một người Việt độc nhất trong viện dưỡng lão này, là ông Tam Nguyen. Ông Tam khoảng chừng bảy mươi, tướng dữ dằn với hàm râu quai nón giống nhà độc tài Fidel Castro. Ông cũng từng bị tai biến, đi đứng hơi khập khiễng phải dùng chiếc ghế đẩy (walker).
Mỗi tuần tôi đến đây ba lần, vào buổi chiều sau khi đi làm về. Trong giờ đầu, tôi tập các cụ thực hành những bài thể dục đặc biệt dành cho người cao niên để giúp máu huyết lưu thông. Một tiếng đồng hồ còn lại, tôi đọc sách báo, kể chuyện phim, ra những câu đố, hoặc hỏi chuyện xưa, nghề nghiệp cũ, giúp họ vận dụng trí óc. Tất cả thành viên trong viện dưỡng lão đều trò chuyện thân thiện với tôi, trừ ông Tam. Ông có vẻ rất cô đơn, tâm trạng xem ra bất thường. Lúc nào trên mặt cũng hiện vẻ khó chịu kiểu “hận đời,” dù ông không làm phiền ai. Nghe nói người con trai độc nhất đưa ông vào đây cả năm nhưng đến thăm có vài lần, mỗi lần vài chục phút. Điều kỳ lạ là, ông nói tiếng Anh cả với tôi chứ không thèm dùng tiếng Việt.
Thấy ông Tam sống lẻ loi trong cái cộng đồng toàn Mỹ nên thỉnh thoảng tôi đem đến cho ông và cụ Bob cùng phòng vài món ăn do tôi làm. Khi thì ít cuốn chả giò, lúc đĩa bánh ướt cuộn tôm thịt. Lần nào ông cũng chỉ nói “Thank you,” ăn mà chẳng hề có một lời khen chê, trong khi ông Bob trầm trồ liền miệng. Tôi thường tìm cách trò chuyện dù ông ít khi trả lời, và sự kiên nhẫn của tôi rồi cũng kết quả. Có lần ông đã mở lòng thố lộ với tôi, vẫn bằng tiếng Anh, về ông.
Ông Tam vượt biển và đến Mỹ định cư năm 1979. Đi học rồi ra làm việc cho Bưu Điện Mỹ mấy chục năm, mới về hưu vài năm nay. Khi tôi hỏi sao chẳng thấy con trai ông đến thăm, ông trả lời lơ đãng, không biểu lộ chút cảm xúc nào, như đang nói chuyện của người khác:
– Thằng Trí thường đi làm xa. Vợ nó vẫn ở trong nhà tôi, nhưng không muốn gặp tôi.
Sau đó già Tam lại thu mình vào vỏ như con ốc, những gì tôi biết về ông chỉ có vậy. Mọi người đang tập bỗng có tiếng bấm chuông. Nhân viên bận nên tôi ra mở cửa, và thật bất ngờ thấy một người Việt Nam đến tìm ông Tam. Đây là lần đầu tiên có người đến thăm Già Tam “Con bà Phước” nên tôi rất mừng, vội đưa ông ta vào. Ông Tam ngạc nhiên nhìn người khách đến sững sờ, bàn tay ông run run giữ chặt thành ghế.
– Ông thầy! Sao mà lại ra nông nỗi? Người khách nói như muốn khóc, liếc nhìn cái ghế có bánh xe, rồi ngồi xuống ôm chầm lấy ông Tam. – Kỵ đây nè! Anh không nhận ra em sao?
Ông Tam cũng kêu lên giọng nghẹn ngào, lần đầu tiên tôi thấy ông để lộ cảm xúc:
– Trời ơi! Kỵ! Chú mày làm thế nào mà tìm ra anh ở đây?
Tôi kêu ông Tam đưa bạn vào phòng chuyện trò cho thoải mái. Hơn một giờ sau ông khách ra về. Đến cửa ông ta dừng lại vẫy chào tôi, miệng mỉm cười nhưng đôi mắt ông trông buồn vô kể. Xong việc, tôi giúp đưa cụ Bob trở về phòng với ông Tam để họ nghỉ ngơi một chút trước khi dùng cơm chiều. Tôi đang loay hoay đỡ cụ lên giường, cụ bỗng nhìn qua bên cạnh hỏi:
– “What’s wrong, Tam?” Có việc gì thế Tam?
Tôi quay sang giường ông Tam, và bỗng giật mình. Già Tam đang nằm xụi lơ như không còn sức sống. Hai tay ông ôm đầu, đôi mắt đỏ ngầu nhìn trừng trừng lên trần nhà long lanh ngấn lệ. Miệng ông mím chặt làm bộ râu quai nón lởm chởm lên như đám rễ tre.
– Bác Tam! Tôi kêu lên và bước lại. – Bác làm sao vậy? Có phải bị đau đầu không? Bác có cần lấy thuốc hay kêu y tá đến giúp? Thấy hỏi một hơi ông Tam chỉ lắc đầu không đáp cũng chẳng nhìn, tôi bèn ngồi lên mép giường, gỡ tay ông ra rồi giữ lấy đôi tay đang run bần bật trong tay tôi, và dùng tay kia xoa xoa lên trán ông: – Để cháu massage cho bác, bác sẽ cảm thấy dễ chịu ngay. Hình như người quen của bác đã mang đến tin tức gì chẳng lành, đúng hôn? Tôi hỏi.
–Cháu thấy ông ấy đi ra với vẻ mặt buồn ghê lắm!
Ông cụ trước giờ luôn tỏ ra lạnh lùng kiêu ngạo bỗng nấc lên, nước mắt chảy dài, rơi lấm tấm trên đám râu xồm muối tiêu trông như những giọt sương mai trên cỏ. Tôi vỗ vỗ vào tay ông:
– “It’s okay”! Bác khóc được là tốt, chuyện buồn gì rồi cũng sẽ…
– Không phải chuyện buồn! Già Tam bất ngờ lên tiếng cắt ngang lời tôi, và vẫn nhìn lên trần nhà. Tôi tròn mắt. Đó là lần đầu tiên từ khi tôi vô làm ở đây ông nói tiếng Việt. Không phải chuyện buồn, chẳng lẽ chuyện vui, sao ông lại đau lòng đến thế. Bỗng ông rụt tay về ôm lấy đầu, lẩm bẩm như nói với chính mình: – Tôi thật đáng chết! Bà ấy… Bà ấy… Luyến của tôi! Trời ơi!
– “Bà ấy” là ai vậy? Tôi dỗ dành ông, cũng bằng tiếng Việt: – Bác có thể chia sẻ với cháu được không? Để trong lòng và tự dằn vặt mình sẽ hại cho tim của bác lắm. Bác từng bị bệnh mà!
Già Tam mím chặt môi, có vẻ như cố dằn lòng không muốn nói. Nhưng sau một lúc ông chẳng cầm cự được trước ánh mắt lo lắng chân tình của tôi. Chống tay ngồi dậy, ông đưa tay áo quệt nhanh qua khuôn mặt đầy nước mắt. Và rồi bằng một giọng nghẹn ngào ông bắt đầu kể tôi nghe về chuyện của ông, của người vợ mà ông từng hết lòng yêu thương và cũng đã hận thù trong mấy chục năm qua, giữa tiếng ngáy rào rào vô tư của cụ Bob ở giường bên cạnh.
Trước kia Tâm là một sĩ quan, binh chủng Biệt Động Quân oai hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chàng Trung úy mũ nâu yêu và cưới Vi Luyến một nữ sinh xinh đẹp, người thôn Thành học ở Nha Trang. Năm 75 khi Trí đứa con trai của họ được gần hai tuổi thì tai họa ập đến. Nước mất nhà tan, Tâm bị bắt đi tù. Luyến và thằng Trí cùng mẹ anh bị đuổi đi kinh tế mới trên miền núi. Cuộc sống rẫy rừng bữa rau bữa cháo không đủ nuôi ba miệng ăn. Luyến bán dần từ nữ trang đến nhẫn cưới, và bất cứ thứ gì trong nhà để mua thực phẩm thuốc men đi thăm chồng. Nhưng sau một thời gian, Tâm chẳng còn ai thăm nuôi mà tin tức của vợ cũng bặt luôn.
Lâu ngày, từ những thân nhân của bạn tù Tâm nghe được, Luyến đã qua lại với một gã cán bộ phường, có thai với hắn, nên mẹ Tâm bắt lại thằng cháu và đuổi cô đi. Lòng Tâm tràn ngập hận thù và đau đớn. Mấy lần anh định trốn trại vượt ngục về tẩn cho đôi gian phu dâm phụ một trận rồi ra sao thì ra. Mẹ anh phần lớn tuổi lại bị đau khớp, phần phải vật vã nuôi thằng cháu nhỏ, bà không có khả năng thăm nuôi con trai. Anh bơ vơ, đói khát, còn bị hành hạ trong tù, lâu thật lâu mới có người bà con xa nào đó gửi cho mấy viên ký ninh, vài tán đường, hay gói muối sả. Dù vậy cũng tạm để Tâm tồn tại, cố gắng sống chờ ngày gặp lại mẹ và con trai.
Ba năm sau Tâm được thả. Anh lê tấm thân còm cõi về nhà. Mối hận càng tăng khi nghe mẹ già kể chuyện. Bà đuổi Luyến đi được vài tháng thì ngôi nhà của bà nửa đêm bốc cháy. Bà và hàng xóm nghi ngờ tay người tình của Luyến phóng hỏa, vì bà đã sỉ vả Luyến và cả hắn ta, một cách quá lộ liễu.
Thật may đêm đó có một người đi đường liều mình nhảy vào ngọn lửa cứu bé Trí và bà. Trí chỉ bị phỏng nhẹ, còn bà ngất xỉu vì ngộp khói phải đưa vào trạm xá. Hàng xóm chạy đến tận tình chữa cháy, nhưng nhà bà ở rẫy cách nhau xa nên chữa không kịp, bị cháy hết một phần.
Mấy tháng sau khi nhà cháy, có người tên Kỵ tìm đến. Anh từng là Hạ Sĩ dưới quyền của Tâm trước đây, đem giúp bà tiền mua mấy tấm phên sửa lại nhà. Lâu lâu Kỵ còn đem cho bà chút đỉnh tiền, dăm gói mì tôm, ký đường, để cho thằng Trí còi cọc có thêm chút chất bổ. Tâm nghe nói cảm động lắm. Anh nhớ nhà Kỵ làm biển, ở gần cầu Xóm Bóng Nha Trang, nên muốn xuống tìm để cám ơn. Nhưng mới ở tù về, anh sợ Kỵ bị liên lụy nên chưa dám. Tâm bắt đầu cuộc sống “tự do” bằng cách sáng sáng mang gói sắn mì luộc lên rừng phát rẫy, chiều về trên gánh củi là những bó lá lang, cải làn, rau đắng. Mồ hôi đổ xuống từng ngày, anh vẫn chẳng bao giờ đủ tiền mua cho thằng Trí cái áo cho lành. Ở chốn rừng núi muỗi mòng, mà thằng bé chỉ có độc cái quần đùi và chiếc áo lá vá đụp vá chùm được bà nội cắt may từ hai ống quần rách của Tâm. Mỗi khi đêm về, anh nằm cạnh nhìn đứa con mất mẹ ốm trơ xương mà lòng đau như cắt. Càng nghĩ anh càng giận người vợ bạc tình.
– Tôi sống vật vã với lòng thù hận như thế, cho đến một ngày tôi có điều kiện vượt biên.
Già Tâm nói tới đây bỗng dừng lại. Dưới ánh đèn phòng, mắt ông hiện lên vẻ đau khổ tột cùng.
– Bác ở tận miền núi, lại không tiền, làm cách nào bác kiếm được mối? Tôi nôn nóng hỏi.
– Là Kỵ, thằng đàn em hồi nãy. Ông nói, giọng sụt sịt nước mắt nước mũi. – Một buổi tối Kỵ chạy Honda lên vùng kinh tế mới nói với tôi, có người quen tổ chức vượt biên chừa cho nó hai chỗ, nhưng nó nhường, để tôi và thằng con đi miễn phí. Nhà nó có ghe sẽ đi sau.
– Wow! Ông Kỵ tốt quá! Tôi trầm trồ. – Người lính cũ của bác thật là giàu tình nghĩa!
Già Tam lắc đầu, đạp mạnh hai bàn chân xuống nệm: – Không phải! Nói xong ông tự tát vào mặt mình bôm bốp: – Tôi mới là thằng khốn kiếp!
Tôi hết hồn chụp tay ông lại, dù lòng hoang mang nhưng không dám hỏi nữa. Ông cụ bỗng úp mặt xuống đầu gối, và cất lên giọng nói nghe thê thiết như vọng về từ cõi âm ty:
– Tôi thật đáng chết! Mấy chục năm nay tôi không ngừng oán giận Luyến và nhớ ơn Kỵ. Không biết làm sao tìm gặp nó để đền đáp. Nhưng lúc nãy Kỵ cho biết một sự thật, mà dù tôi có chết trăm lần cũng không đủ đền tội lỗi của mình! Ngày đó dù bị mẹ tôi tàn nhẫn bắt con và đuổi đi, Luyến vẫn chạy vạy kiếm tiền lâu lâu gửi ít đồ ăn cho tôi bằng tên người khác. Cô còn đi tìm Kỵ, nhờ thay mặt đưa dùm tiền bạc, thức ăn để mẹ tôi sửa nhà và nuôi thằng Trí. Sau này Luyến còn bán căn nhà nhỏ mẹ cô ấy qua đời để lại, đưa vàng nhờ Kỵ lo cho hai cha con tôi ra đi.
Luyến bắt Kỵ phải thề không cho tôi biết, vì cô nghĩ mình không còn xứng đáng với chồng con.
– Trời ơi! Tôi kêu lên. – Không thể nào tin được thế giới này còn có người như bác gái!
Già Tam nghe thế thì ngẩng đầu lên vật vã thở, như là sắp ngất. Nhưng rồi ông nói tiếp, phát ra từng lời khó khăn như đang bị ai chẹn họng: – Đau đớn lắm! Cô ấy phải lăn lóc bám theo bọn tài xế đường dài đi buôn ra Bắc. Mỗi lần bị lũ thuế vụ hốt hết hàng, mất vốn, cô lại trở về lảng vảng gần bên, để dòm chừng thằng Trí. Nên trong cái đêm cháy nhà, cô ấy đã kịp thời cứu thằng con và mẹ tôi, rồi bỏ đi trước khi người ta tới. Việc đó làm cổ bị sẩy thai, cái kết quả một lần bị thằng khốn bức hiếp khi nhờ nó ký giấy thăm nuôi tôi. Ông lại nấc lên: – Luyến bị phỏng một bên mặt và một bàn tay, nhưng không tiền chữa trị kỹ càng nên đã để lại sẹo đến giờ.
Thấy ông mệt lã, tôi đi rót ly nước, cũng để cầm lòng cho khỏi khóc theo ông. Ông bưng ly lên uống một hơi, nuốt xuống sự nghẹn ngào rồi kể tiếp. Lúc biết tin chồng con ra đi trót lọt, bà về quê buôn bán kiếm sống. Sau bà trở lại thì mẹ chồng đã bán cái nhà ấy và dọn đi. Dò hỏi mãi cũng không ra, bà mất luôn tin tức hai cha con, nên theo người ta vô Sài Gòn tìm việc làm. Bà đã làm đủ thứ nghề, sau cùng là bán vé số, và với hy vọng mỏng manh, bà rảo tìm hỏi thăm những Việt Kiều về nước. Mãi đến năm ngoái tình cờ bà gặp lại Kỵ ở Sài Gòn. Nhờ bàn tay với cái mặt sẹo mà ông Kỵ nhận ra bà, và được nghe kể lại thêm nhiều chi tiết nữa. Về Mỹ Kỵ đi tìm ông Tam suốt cả năm qua. Kể đến đây ông già rên rỉ:
– Phải chi mẹ tôi còn sống để biết được chuyện này! Ngày đó bà vô cùng ghét Luyến.
– Tội nghiệp bác gái quá! Tôi nói. – Nhưng giờ biết được tin tức bác ấy là mừng rồi, trễ còn hơn không bác ạ! Tôi chồm tới ôm ông cụ: – Chúc mừng bác! Tuy an ủi già Tam, nhưng tiếng nức nở của ông bên tai làm cho tôi cũng phải rơi nước mắt.
Sau lần đó, ông Kỵ trở lại nhiều lần nữa giúp làm thủ tục bảo lãnh cho vợ già Tam, vì ông giận cô dâu nên không nhờ đến con trai. Ông Tam lúc này không còn cau có như xưa mà trở nên thật cởi mở. Ông gọi Việt Nam liên tục, cho tôi xem tấm hình bà vợ có cái sẹo bên má mà ông nâng niu bên mình. Khi có tin bà Luyến đậu phỏng vấn, ông Tam hớn hở khoe với bạn trong nhà dưỡng lão. Mọi việc đâu đó sẵn sàng, một tuần nữa thôi, ông sẽ đi phi trường đón vợ.
Chiều thứ Sáu trước ngày đón bà Luyến, tôi đi làm ra lái xe đến viện dưỡng lão như thường lệ. Lòng thầm nghĩ hôm nay tôi sẽ chọc già Tam, chắc mấy đêm rồi ông mất ngủ.
– Ông Tam đang được cấp cứu trong bệnh viện vì bị “Heart attack”! Người quản lý nói khi vừa thấy tôi. – Hôm qua con dâu ông ấy đến và họ nói chuyện gì không biết. Chúng tôi nghe có tiếng cãi vã trong phòng, và khi cô ta về thì ông ấy ngã lăn ra. Chúng tôi phải gọi 911.
Tôi lật đật gọi cho ông Kỵ. Thì ra khi nghe mẹ chồng sắp qua Mỹ, cô dâu của già Tam đến ép ông ký giấy để cô làm thủ tục bán ngôi nhà hiện tại trị giá bạc triệu, do ông mua khi còn đi làm Bưu Điện. Giờ tôi mới biết rõ hơn lý do ông Tam và cô con dâu không hạp. Cô ta là con một cán bộ gộc bên Việt Nam qua du học Mỹ, nên lúc đầu ông đã chống đối cuộc hôn nhân này.
Hôm đó cãi nhau với cô ta, già Tam giận quá nên bị ngất xỉu. Ông Kỵ còn cho tôi biết, dù ông Tam đã được mổ và thay van tim thành công, bác sĩ nói chuyện tỉnh lại hay không phải nhờ vào ý chí của ông ấy, vì đây là bệnh cũ tái phát sau cú sốc quá nặng.
Ngày Chúa Nhật, tôi đến bệnh viện thăm già Tam. Ông tái xanh nằm bất động trong phòng chăm sóc đặc biệt. Máy móc, dây nhợ được gắn chằng chịt khắp người. Ông Kỵ và Trí con trai ông Tam cũng có mặt. Trí có vẻ rất lo lắng, đi tới đi lui mắt không rời khỏi cha già. Tôi đứng lặng nhìn người đàn bà chân quê, nhưng gọn ghẽ trong áo bà ba tím quần đen, tóc búi cao, khom người quỳ bên giường bệnh. Bàn tay đầy sẹo của bà ôm lấy bàn tay thâm tím đầy dây nhợ của già Tam, áp lên trên gò má có cái sẹo to đầy nước mắt của bà. Tôi thấy mắt mình cay cay.
Cúi người xuống, tôi nói vào tai già Tam:
– Bác Tâm ơi cố lên! Bác không được bỏ đi, mà phải sống để còn lo cho bác gái. Từ nay bác ấy chỉ có mỗi mình bác ở trên đất Mỹ này, bác nhất định phải trở về với bác ấy!
Bà Luyến nghe tôi nói thì khóc nức lên, làm y tá chạy lại đuổi hết mọi người ra ngoài.
Một tuần sau ngày mổ tim, như có phép màu làm cả nhóm bác sĩ Mỹ đều kinh ngạc, ông Tam đã tỉnh lại khỏe khoắn như người bình thường. Theo các bác sĩ, trường hợp của ông việc tỉnh lại đã là kỳ tích, tỉnh lại mà còn mạnh mẽ như thế là điều “không tin nổi.” Ai cũng nói, chắc có lẽ ông biết mình còn món nợ quá lớn đối với người vợ đáng thương, nên không thể ra đi.
Già Tam xuất viện ba tuần sau đó, trở về viện dưỡng lão để y tá theo dõi một thời gian. Trí con ông giận cô vợ quá quắt và cảm thấy có lỗi nên kiếm chỗ dọn đi giao nhà lại cho cha mẹ.
Trong lần cuối già Tam tập thể dục trước khi dọn về nhà, tôi làm một khay chả giò đem đãi hết mọi người trong viện dưỡng lão để chia tay ông. Bà Luyến và cựu Hạ sĩ Kỵ cũng có mặt.
“Cụ Biệt Động Quân” Tâm bữa nay không còn làm “mặt ngầu” nữa. Ông nói tiếng Việt, xong dịch sang tiếng Anh cho những người bạn Mỹ nghe, thỉnh thoảng còn đùa vài câu duyên dáng. Điều kỳ diệu là, ông bước đi tỉnh bơ chẳng cần đến walker khi có bà vợ đi kề bên.
Sau đó bà Luyến kể tôi nghe thật nhiều về những gì bà trải qua trong mấy chục năm sống lăn lóc ở đất Sài Gòn. Đi lượm rác, ve chai, gánh nước mướn, và nghề sau cùng, lâu nhất, là bán vé số. Nhờ nghề này bà mới tìm được tin tức của ông Tâm. Dù trăm bề vất vả, đói khát, hiểm nguy…, bà luôn cầu nguyện để đủ can đảm sống tiếp, và vẫn hy vọng có ngày sẽ biết được tin tức ông Tâm và thằng Trí.
– Cuối cùng Bề Trên cũng đã nghe thấy lời cầu xin của tôi, gặp lại được thằng con và ông ấy là mãn nguyện lắm rồi, sự cơ cực mấy chục năm qua đối với tôi không là gì cả!
Bà Luyến nói. Nước mắt hạnh phúc ngân ngấn trong đôi mắt vẫn còn long lanh của người đàn bà đã quá lục tuần. Tôi bỗng thấy bà đẹp vô cùng, cho dù với vết sẹo dài trên gò má.
Phương Hoa
Điều gì đẹp nhất trên đời ?
Điều gì đẹp nhất trên đời ?
Không phải cuộc tình nào cũng trọn vẹn, bài thơ này có thể là cuộc tình của nhiều người.
Trăng rằm đẹp nhất về đêm
Đời ta đẹp nhất khi thêm nhau vào
Nhớ không em hỡi hôm nào
Tình cờ hai đứa gặp nhau trên đường
Anh lúng túng, em thẹn thùng
Bao điều ấp ủ, bỗng dưng nghẹn lời
Em e ấp liếc sao trời
Nhìn em anh ước trọn đời chung đôi
Đường đời muôn ngả thế rồi
Anh vui du học, em ngồi nha khoa
Tháng năm nghiệt ngã trôi qua
Thư xanh thôi viết, tình ta nhạt nhòa
Đường về quê cũ thật xa
Nhớ không em hỡi đôi ta thề nguyền
Trăng rằm đẹp nhất về đêm
Đời ta đẹp nhất khi thêm nhau vào
Tri Kỷ
TRI KỶ
Tri kỷ trong đời, có thật sự cần thiết không?
Ngày xưa có một phú ông rất thích thưởng thức trà, mỗi khi có khách đến nhà, dù là người giàu sang hay nghèo hèn thì ông đều cho gia nhân ra mời trà.
Một ngày nọ, có lão ăn mày rách rưới đứng trước cửa nhà phú ông. Lão ăn mày không xin tiền, cũng không xin cơm, mà chỉ đến xin bát nước trà. Gia nhân bèn cho lão vào nhà rồi đun nước pha trà.
Lão ăn mày liếc qua rồi nói: “Trà này không ngon”.
Gia nhân nhìn ông ta lấy làm lạ rồi đổi một bát trà ngon khác.
Lão ăn mày ngửi ngửi, nói: “Trà này ngon, nhưng nước vẫn chưa được, phải dùng nước suối trong”.
Gia nhân nghĩ rằng hắn cũng có chút hiểu biết, liền đi lấy nước suối cất trữ từ sáng sớm ra để pha trà.
Lão ăn mày nhấp thử một ngụm, nói: “Nước rất tốt, nhưng củi sao trà không được, củi phải dùng củi sau danh sơn. Bởi vì củi phía trước núi đón nắng nên chất củi xốp, còn sau núi chất củi mới cứng”.
Kẻ hầu người hạ trong nhà cho rằng người này tinh thông trà đạo, liền dùng loại củi tốt pha lại trà, rồi mời lão gia ra tiếp đón. Sau khi trà được mang lên, phú ông và lão ăn mày đối ẩm một bát.
Lão ăn mày nói: “Ừm, bát trà lần này, nước, củi, lửa đều tốt, chỉ có ấm pha trà không ổn”.
Phú ông nói: “Đây là chiếc ấm pha trà tốt nhất của ta”.
Lão ăn mày lắc đầu rồi cẩn thận lấy từ trong áo ra một chiếc ấm quý làm bằng đất sét tử sa. Khi trà mới được mang lên, phú ông nhấp thử mùi vị thấy quả nhiên không tầm thường, lập tức chắp tay thi lễ với tên ăn mày: “Ta xin mua lại chiếc ấm tử sa này, bao nhiêu cũng được”.
Nhưng lão ăn mày vốn nâng niu chiếc ấm tử sa như báu vật, nhất định không muốn bán: “Không được, chiếc ấm này là cuộc sống của ta, ta không thể bán”. Nói rồi lão ăn mày vội vàng rót trà ra, cất lại chiếc ấm.
Phú ông vội vã ngăn lại, nói: “Ta đổi một nửa gia sản để lấy chiếc ấm của ông”.
Lão ăn mày không tin, vẫn bước tiếp. Phú ông nôn nóng, nói: “Ta đổi toàn bộ tài sản để lấy chiếc ấm của ông”.
Lão ăn mày nghe vậy bèn cười lớn rồi nói: “Nếu không phải vì tiếc chiếc ấm này thì tôi cũng không lâm vào bước đường như ngày hôm nay”. Nói xong lão ăn mày quay người bỏ đi.
Phú ông sốt ruột nói: “Như thế này đi, ấm là của ông, ông hãy ở lại nhà ta, ta ăn gì thì ông ăn đó. Nhưng có một điều kiện, chính là ngày nào cũng phải cho ta nhìn chiếc ấm, ông thấy thế nào?”. Vì quá yêu thích chiếc ấm nên trong lúc cấp bách phú ông bèn nghĩ ra cách đó.
Lão ăn mày cũng vì miếng ăn qua ngày mà túng quẫn, chuyện tốt như vậy sao lại không đồng ý? Vậy là lão vui vẻ nhận lời phú ông.
Cứ như vậy, lão ăn mày ở lại nhà phú ông, ăn cùng ở cùng phú ông. Hai người ngày ngày nâng niu chiếc ấm trà quý, chia sẻ với nhau, thưởng trà ẩm rượu, vô cùng ăn ý. Cứ thế nhiều năm qua đi, hai người trở thành hai lão niên tri kỷ thấu hiểu nhau.
Một hôm phú ông mới nói với người bạn ăn mày của mình: “Ông không có con cháu nối dõi, không có ai kế thừa chiếc ấm trà, chi bằng sau khi ông đi rồi, hãy để tôi giúp ông bảo quản chiếc ấm này, ông thấy thế nào?”.
Lão ăn mày rưng rưng đồng ý. Không lâu sau, lão ăn mày thật sự ra đi, phú ông cũng được như mong muốn có được chiếc ấm tử sa.
Những ngày đầu phú ông chìm trong cảm giác vui sướng vì có được chiếc ấm tử sa. Nhưng rồi cũng đến một ngày, khi đang ngắm nghía chiếc ấm quý này, phú ông đột nhiên cảm thấy trong lòng thiếu vắng thứ gì đó, chén trà đưa lên miệng cũng không còn thơm ngon như trước nữa.
Trước mắt ông hiện lên hình ảnh những tháng ngày vui vẻ cùng người bạn ăn mày thưởng trà. Hiểu rõ tất cả rồi, phú ông hai mắt nhòa lệ thả rơi chiếc ấm xuống đất…
Thế mới biết, người quen trong thiên hạ nhiều vô kể, thử hỏi tri kỷ được mấy người?
Tình Già (ĐIỆP MỸ LINH)
Điệp Mỹ Linh
Từ cửa sổ trên lầu, nhìn chuyến xe lửa chạy chầm chậm trong màn mưa xám đục, không thể nào bà Loan không nhớ lại hình ảnh của Khiết – người yêu đầu đời của bà khi bà còn là một nữ sinh trung học – đang chồm người, một tay vịn vào thành cửa sổ của toa xe, một tay vẫy vẫy về phía Loan trong khi con tàu đang từ từ lăn bánh, rời ga xe lửa Đà Lạt. Vừa nhìn theo Khiết, Loan vừa quẹt nước mắt, cố nén vào lòng nhiều nỗi luyến thương.
Một mình trở lại con đường vắng, Loan cảm nhận được nỗi buồn và sự lạc lõng của nàng trong thành phố đầy vết chân kỷ niệm của “hai đứa”. Loan nhớ, những chiều cuối tuần nàng thường lén Bố Mẹ, hẹn hò với Khiết. Những lúc đi chầm chậm bên nhau dưới hàng thông rợp bóng, Khiết – trong quân phục sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt – thường nói về niềm say mê tha thiết của chàng đối với những cánh dù lộng gió trong không gian tràn ngập lửa đạn.
Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, tình cảm của Loan dành cho Khiết khi vui, khi buồn; nhưng hình ảnh của Khiết – khi chàng bất ngờ trở lại Đà Lạt thăm nàng sau cuộc hành quân đầu đời tại biên giới Lào Việt – trên thềm nhà của Bố Mẹ vào buổi chiều mưa thì không bao giờ nhạt phai.
Chiều mưa năm đó, sau khi đi học về, nhìn từng giọt mưa đầu mùa rơi nhè nhẹ bên mái hiên, Loan cảm thấy ray rứt buồn và bâng khuâng nghĩ đến Khiết! Để xoa dịu niềm nhớ, Loan đàn những tình khúc chợt đến trong hồn chứ không nhìn bản nhạc. Khi đàn đến phân đoạn thứ hai của tình khúc Thương Nhau Ngày Mưa của Nguyễn Trung Cang thì hình ảnh buổi chiều tiễn Khiết tại ga xe lửa Đà Lạt lại hiện về. Loan buồn buồn “ngân nga” nho nhỏ:
“… Như mưa ngày nào thấm ướt vai anh,
Như mưa ngày nào khuất lấp sao đêm.
Thương em ngày nào khóc ướt môi mềm…”
Loan vừa “ngân nga” đến đây, cậu em đến cạnh, nói nhỏ:
-Chị Hai! Có “ông Nhảy Dù” nào đứng nơi hiên nhà kìa!
Nhìn ra cửa trước, Loan ngạc nhiên thấy một “ông Nhảy Dù” trong quân phục hoa rừng, “bê–rê” đỏ, đội hơi nghiêng, giày trận, đang khoanh tay, đứng dưới mưa, mỉm cười, nhìn nàng không rời. Khi nhận ra Loan đã thấy chàng, Khiết cười thật tươi, lấy “bê–rê” xuống, rũ nước mưa rồi bước vào phòng khách. Loan ngưng đàn. Sau vài câu thăm hỏi, Khiết bảo:
-Để anh vào trong chào hai Bác. Anh trở ra ngay.
Khi Khiết trở lên phòng khách, thấy tóc và quân phục của Khiết còn điểm nhiều vết nước mưa, Loan đưa tay muốn gạt những hạt mưa còn vướng trên tóc chàng – như dạo nào nàng đã gạt những hạt mưa long lanh trên mái tóc chàng khi tiễn chàng đi Sài Gòn trình diện Sư Đoàn Nhảy Dù – nhưng vội ngưng; vì ngại Bố Mẹ thấy được. Như nhận hiểu hành động của Loan, Khiết nhìn Loan, cười thật tươi.
Trong đời, Loan quên rất nhiều điều; nhưng chưa bao giờ Loan có thể quên được hình ảnh hiên ngang và nụ cười rạng rỡ của Khiết vào buổi chiều mưa năm xưa, khi chàng đứng trên thềm nhà nhìn nàng đàn…
Đang xót xa, nuối tiếc một đời trai ngang dọc của Khiết và đời sống nhàn nhã của một thiếu nữ được Bố Mẹ cưng chiều, bà Loan thấy chiếc SUV quen thuộc dừng trước nhà. Lòng rộn ràng vui, bà Loan bước đến cầu thang. Chợt nhớ quên đeo “mask”, bà Loan vội quay lại phòng “computer”, lấy “mask” đeo vào, đi xuống lầu.
Thấy Dũng và Diễm – con trai và con gái của Bà và ông Khiết – cùng hai đứa cháu nội đều đeo masks, bà Loan đùa bằng tiếng Việt:
-Đâu, hai “cục vàng” của bà Nội đâu?
Thật bất ngờ, Mylene – cháu nội đầu tiên của bà Loan và ông Khiết – vừa choàng tay qua vai cô em gái vừa đáp:
-Right here, “ba Noi”!
Bà Loan ngạc nhiên nhìn Mylene, hỏi bằng tiếng Anh:
-Làm thế nào cháu hiểu được bà Nội nói gì mà cháu trả lời?
Mylene phải đáp bằng tiếng Anh:
-Trước khi dịch Covid–19 xảy ra, Ba Má cháu cho chị em cháu đi học tiếng Việt mỗi sáng chủ nhật. “Ba Nọi” quên rồi sao?
-Sorry, bà Nội không nhớ được! Nhưng làm thế nào cháu hiểu được “hai cục vàng” của bà Nội là chị em của cháu?
-Cháu biết mà. Đối với người Việt, cái gì mình thích, mình thương, mình quý cũng được ví như vàng như ngọc. Và cháu hiểu rằng “ba Nọi” thương tụi cháu nhiều lắm!
Mọi người cười rộ lên. Đang cười, bất ngờ thấy ông Khiết – với thân người thẳng băng như người máy –mở cửa phòng ngủ, lừng lững bước ra, nụ cười tắt vội trên môi mọi người. Dù biết ông Khiết sẽ không hiểu được lời chào hỏi, các con/cháu vẫn thưa:
-Dạ, chào Ba.
-Dạ, thưa Ba.
-Hi, “on Noi”!
-Hello, “on Noi”!
Ông Khiết vẫn lầm lỳ bước đến xa-lông, không nói một lời và trên khuôn mặt nhăn nheo của ông cũng không gợn tý cảm xúc nào cả! Ông ngồi vào xa-lông, nhìn mọi người với ánh mắt vô hồn. Dũng hỏi bà Loan:
-Măng! Ba Măng có gì lạ không?
-Thôi, con! Tuổi này rồi, chỉ xin “một ngày như mọi ngày” thôi!
Dũng đến ngồi cạnh ông Khiết:
-Ba khỏe không? Con đem hai đứa nhỏ về thăm Ba đó.
Ông Khiết gật đầu, tỏ dấu nhận hiểu. Thấy hai đứa cháu nội kín đáo nhăn mũi vì mùi hôi nồng nặc từ phòng ngủ xông ra, bà Loan nói nhỏ với Diễm:
-Cảm ơn các con đã đem hai cháu về thăm và đi chợ mua thức ăn cho Ba Măng. Con đem giùm mọi thứ xuống bếp cho Măng rồi các con về nghỉ. Tuần sau con đi chợ cho Măng, đừng mua xà–lách–xon nữa. Măng không thể đứng lâu để lặt từng cọng như hồi trước.
-Con nói Măng hoài mà Măng không chịu nghe. “Watercress” Măng không cần lặt từng cọng; Măng chỉ cần cắt ngang phía dưới gốc rồi rửa sạch là được.
-Nếu làm theo cách của con, nhỡ con sâu hay con giun nằm trong lòng cọng rau làm sao Măng có thể thấy được?
-Măng ở sạch quá mà Măng cứ muốn con cháu học về y khoa. Hồi trước tụi con học đại học thì bệnh HIV – human immunodeficiency virus – hoành hành; bây giờ hai đứa nhỏ học đại học thì Covid–19 giết cả trên trăm ngàn người tại Mỹ. Nếu tụi con và hai cháu là MD thì Măng có yên lòng hay không?
-Thôi, con! Ngày đó còn ước mơ; bây giờ, nếu có ước mơ thì Măng chỉ cầu xin ơn Trên cho các con và các cháu được bình an thôi; còn “ông Già” – danh từ thân thương gia đình thường dành cho ông Khiết – và Măng chỉ biết trực diện và chống chọi với tuổi già chứ còn gì nữa mà ước mơ!
Ngưng một chốc, bà Loan tiếp:
-A, tuần tới con nhớ mua cho Măng xà phòng rửa chén, chai nhỏ thôi; mua chai lớn, tay Măng yếu, cầm không nổi, rớt, đổ “tùm lum” Măng dọn không nổi!
-Măng vẫn rửa chén bằng tay à? Cứ như vậy rồi than đau tay, đau lưng.
-Bác sĩ Gronados bảo Măng “keep moving” mà! Thêm nữa, rửa chén bằng máy thì Măng cũng phải tráng qua cho thức ăn trôi đi rồi mới cho vào máy. Máy chạy thì tốn nhiều điện, nhiều nước!
-Người ta mong có phương tiện để sử dụng; còn Măng thì cứ tiện tặn từng xu, để làm gì?
-Để khỏi phiền các con. Các con lo cho “ông Già” và Măng nhiều rồi, Măng không muốn làm phiền các con thêm.
Im lặng. Diễm chuyển đề tài:
-Người lau dọn nhà tháng này đến chưa mà nhà hôi quá vậy, Măng?
-Măng nhận thấy, trước khi họ đến Măng cũng phải dọn dẹp sơ sơ; vì “ông Già” cứ vung vãi, vất mọi thứ ra đó. Mỗi lần dọn dẹp, lưng và hai đầu gối của Măng đau lắm, Măng chịu không được! Măng nói họ khi nào Măng cần thì Măng gọi chứ đừng đến mỗi tháng.
-Thì Măng đừng dọn dẹp gì cả; cứ để họ làm.
-Họ chỉ lau chùi thôi; còn “ông Già” ăn, uống cái gì mà Măng không để ý thì ổng đem giấu trong tủ quần áo; có khi ổng “bỏ đại” vô nhà cầu, hoặc trây quẹt đầy thảm, Măng dọn không nổi!
-Con nghĩ đã tới lúc chị em con góp tiền, thuê người đến giúp Măng. Măng nghĩ sao?
-Măng rất lo sợ, ngại họ biết trong nhà chỉ có một ông già “không biết gì hết” và một bà già “trói gà không chặt” thì họ sẽ cho người khác biết rồi người đó đến đây cướp!
-Tụi con đã nghĩ đến điều đó và đã đề nghị Ba Măng nên vào Senior Living…
Diễm chưa dứt câu, bà Loan đã lắc đầu:
-Các con đã đưa Măng đi xem mấy chỗ rồi; chỗ nào cũng đẹp, đầy đủ tiện nghi, nhưng… kinh khủng quá!
-Cái gì kinh khủng?
-Sự vắng lặng! Vắng lặng đến… rợn người!
-Biết bao nhiêu người sống và chấp nhận sự vắng lặng đó chứ đâu phải một mình Măng.
-“Ông Già” và Măng ở đây, trên đường đi làm về, các con và các em thuận đường, đôi khi ghé thăm. Nếu Ba Măng dời đến mấy chỗ Senior Living thì trái đường, biết mỗi năm Ba Măng có thể gặp các con được một lần hay không! Thêm nữa, chỉ có Măng mới có thể vào Senior Living; còn “ông Già” thì phải vào Assisted Living; mà Măng thì không bao giờ có thể để “ông Già” vô viện dưỡng lão!
Diễm gắt:
-Măng không thể khẳng định như vậy được! Đến một lúc nào đó, vì sự sống còn, mình buộc phải hy sinh nhiều thứ lắm. Măng biết không?
Bà Loan thầm “phục” những người “thông minh!”, làm nghề tự do, khai gian thuế lợi tức, giấu tiền mặt. Khi về già những người này – không những được hưởng đầy đủ phúc lộc của chính phủ như housing, food stamps, Medicaid – còn được chính phủ cho người đến nhà mỗi tuần bao nhiêu giờ để giúp việc nhà, đưa đi bác sĩ, đi chợ, tắm cho người nào không thể tự tắm được, v.v. Trong khi đó, những người khai đúng thuế lợi tức, như ông Khiết và Bà, thì không được tý ân sủng nào của chính phủ mà còn phải mua bảo hiểm sức khỏe riêng; vì có nhiều khoản chi phí y tế Medicare không chịu trả!
Thấy Mẹ có vẻ tư lự, Dũng đến bên, khuyên:
-Măng đừng quá lo lắng, okay! Nhà Măng đã có hệ thống báo động – được nối kết trực tiếp với phòng kiểm soát an ninh của khu vực này – tuần tới con sẽ kêu người gắn “video camera” nữa thì không tên nào dại vô nhà Măng ăn cướp đâu.
-Cảm ơn con.
-Măng nhớ cẩn thận, vịn vào thành cầu thang mỗi khi Măng đi lên hoặc đi xuống lầu, nha!
-Ờ, cảm ơn con. Đi xuống thì không sao; nhưng đi lên là cả một vấn đề!
-Hôm nào tụi con sẽ dời phòng “computer” xuống tầng dưới cho Măng.
Diễm hỏi:
-Măng còn đi bộ quanh khu vực này không?
-Khi “ông Già” ngủ Măng mới dám đi; vì Măng không thể để “ông Già” ở nhà một mình.
-Ủa, vậy thì làm thế nào trước khi Covid–19 xuất hiện, Măng đi Gym mỗi ngày?
-Lúc đó “ông Già” không tệ như bây giờ.
Dũng hỏi:
-Tình trạng của “ông Già” xuống nhanh đến vậy à?
Im lặng. Bà Loan rơm rớm nước mắt; một chốc sau mới đáp:
-Xương sống và não bộ của “ông Già” bị tổn thương rất nặng. Các Chú, Bác ở tù cùng trại cải tạo với “ông Già” cho Măng biết là “ông Già” bị cộng sản Việt Nam (csVN) đánh kinh khủng lắm; vì ổng là sĩ quan Nhảy Dù mà ổng lại khai thật tất cả những lần đơn vị do ổng chỉ huy giải tỏa căn cứ này, tái chiếm chiến địa kia, tiếp cứu tiền đồn nọ, v.v. cho nên csVN trả thù! Bác sĩ Gronados khuyên, thương tích thời chiến tranh cộng với tuổi tác của “ông Già” thì – ngoại trừ trường hợp khẩn cấp – bệnh gì “ông Già” có thể “live with it” thì nên “live with it”; đừng giải phẫu.
Diễm an ủi:
-Thôi, ít ra “ông Già” cũng còn đi được; không nằm một chỗ!
Dũng thở dài:
-Chuyện của “ông Già”, mình không làm gì được nữa rồi! Còn Măng, khoan đi Gym nhưng cố gắng đi bộ, nha!
-Không đi Gym mà nếu không đi bộ nữa thì cơ thể của Măng như không còn sức sống. Lưng cứ muốn “cụp” xuống!
Diễm bảo:
-Măng còn đi được là may lắm rồi! Biết bao nhiêu người cỡ tuổi Măng hoặc trẻ hơn mà phải chống gậy để đi kìa!
Bà Loan cúi mặt, nước mắt chảy ngược vào tim! Nếu sống mà cứ buộc phải thấy/phải so sánh với những điều tiêu cực thì cuộc sống này còn có ý nghĩa gì nữa hay không?
Trước khi cáo từ Cha Mẹ, Dũng và Diễm hâm nóng hai tô mì rồi mời Cha Mẹ xuống bếp, ngồi vào bàn. Sau khi để hai ly nước lọc lên bàn, cạnh gói xôi đậu xanh và quà ăn vặt, Dũng/Diễm và hai cháu từ giã ông Khiết và bà Loan.
Vì ông Khiết không thể nhớ hoặc nhận biết lúc nào nên nhai/lúc nào nên nuốt/lúc nào nên ngưng, bà Loan phải lấy kéo cắt mì sợi và hoành thánh thành từng phần nhỏ để ông Khiết không bị nghẹn. Ông Khiết chỉ gói xôi đậu xanh trong bao ny–lông nhỏ, tỏ ý muốn ăn. Bà Loan đẩy bao ny–lông nhỏ về phía chồng. Ông Khiết lấy gói xôi, vất bao ny–lông trên sàn gạch hoa rồi mở gói xôi, lấy tay bốc, ăn. Bà Loan vội lấy gói xôi từ tay ông Khiết, đem đến bên bếp, lấy dao và nĩa xắn gói xôi ra từng phần nhỏ rồi đưa lại cho ông Khiết, kèm theo cái nĩa. Ông Khiết vất cái nĩa xuống sàn nhà!
Đang ăn, bà Loan nhận ra mùi nồng nồng của nước tiểu. Nhìn sang ghế của ông Khiết, bà Loan ngán ngẫm, buông đũa. Thì ra từ nãy giờ ham vui vì con cháu về thăm, bà Loan quên theo dõi đồng hồ để đưa ông Khiết vào nhà tắm đi tiểu! Bà Loan giận, xẵng giọng:
-Đi vô thay đồ!
Ông Khiết ngơ ngác nhìn quanh, không biết “đi vô” là đi vô đâu! Bà Loan im lặng, đứng lên, nắm tay ông Khiết, dẫn ông vô phòng ngủ trong khi ông Khiết vừa đi vừa quay lui nhìn gói xôi.
Lấy tấm ny–lông phủ lên tấm khăn trải giường, xong, bà Loan kéo tay ông Khiết đến, “ấn” nhẹ thân người của ông lên tấm ny–lông. Lúc này bà Loan mới nhớ là bà đã quên lấy tã cho ông. Bà Loan xoay sang, mở ngăn tủ, lấy tấm tã rồi xoay lại bên giường. Vừa thấy tấm tã, ông Khiết có vẻ hoảng hốt, khoát tay:
-Không! Đừng! Đừng! “Hỏng” chịu đâu!
Đây không phải là lần đầu tiên ông Khiết phản đối khi phải mang tã. Nhưng đây là lần đầu tiên bà Loan nghe chồng nói một câu thể hiện được tất cả nỗi sợ hãi của ông. Bà Loan vào nhà tắm, lấy chiếc khăn nhỏ, thấm nước lạnh, trở ra giường. Không hiểu tại sao thấy chiếc khăn ướt, ông Khiết lại yên lặng, không chống cự nữa. Nhờ ông Khiết không chống cự, bà Loan nhẹ nhàng đè ngửa ông ra, cởi chiếc quần khai nồng vất về hướng nhà tắm rồi lấy chiếc khăn ướt lau phần hạ bộ cho ông. Trong khi bà Loan cảm thấy lưng và tay chân của bà như muốn rã ra từng mảnh thì gương mặt của ông Khiết trông rất dễ chịu. Ông Khiết nhìn bà Loan với ánh mắt biết ơn khi bà Loan lấy phấn bột – loại dùng cho trẻ con – rảy vào phần hạ bộ của ông. Nhưng khi bà Loan vói tay lấy tấm tã thì ông Khiết lại vùng vằng:
-Đừng! Đừng mà! “Hỏng” chịu đâu!
Bà Loan biết, trời nóng như thế này mà “đóng” tấm tã dày cộm vào bộ phận “nhạy cảm” nhất của con người thì làm sao chịu cho nổi; đó là chưa kể, nhỡ ông Khiết đi tiêu/đi tiểu trong tã mà bà Loan không biết để thay thì… bà Loan rùng mình, không dám nghĩ tiếp!
Dù hiểu cho sự khó khăn, tội nghiệp của chồng, bà Loan cũng phải dùng toàn sức lực của Bà để mang cho được tấm tã vào cho ông Khiết. Có lẽ chẳng còn sức để chống chọi với bà Loan nữa, ông Khiết nằm im, lầm bầm
-Đừng mà! Đừng mà!
Bà Loan biết thế nào ông Khiết cũng – như mọi lần – tìm mọi cách cởi tấm tã, vất đâu đó; bà sẽ phải lần theo mùi hôi của tấm tã mà tìm cho ra, đem bỏ rác!
Vì muộn phiền, bà Loan bị bệnh mất ngủ; mỗi đêm phải uống thuốc ngủ. Nếu bà Loan dùng đúng liều lượng, ngủ được ngon giấc thì sáng hôm sau bà phải tắm cho ông Khiết, thay và giặt toàn bộ khăn trải giường và mở tất cả cửa sổ để mùi hôi thối thoát ra ngoài; vì suốt đêm không ai thay tã hoặc đưa ông Khiết vào nhà cầu! Nhưng nếu uống thuốc ngủ ít hơn liều lượng thì bà Loan cứ nằm trăn trở suốt đêm bên cạnh một người bà từng yêu thương – người hùng của Bà – nhưng nay đã trở thành “gánh nặng” mà Bà không nỡ lìa xa! Khi nào tâm hồn “lạc” về dĩ vãng, bà Loan cũng tiếc thương, khóc thầm, cầu nguyện rồi quay sang, vòng tay qua vùng ngực thoi thóp của người chồng đang miên man trong giấc cô miên vì đòn thù của csVN, quân cướp nước mà lại núp dưới chiêu bài “giải phóng”!
Sự tủi thân vừa lắng dịu, bà Loan thở dài, đỡ ông Khiết dậy:
-Đi ra ăn cho hết gói xôi.
Ông Khiết im lặng vịn tay bà Loan, ngồi dậy, đi theo vợ. Đến bàn ăn nơi bếp, sau khi để ông Khiết ngồi vào chiếc ghế sạch, bà Loan xoay sang phòng giặt đồ, với dụng ý lấy khăn lau nước tiểu mà lúc nãy ông Khiết đã thải ra. Vừa xoay người, chân của bà Loan vướng vào bao ny lông – mà lúc nãy ông Khiết vô tình vất trên sàn nhà – bà Loan trượt chân, té, đầu va vào nền gạch hoa.
*****
Thiếu phụ da đen đẩy chiếc xe lăn – ông Khiết ngồi bên trong – theo gia đình, qua khỏi cửa chính phòng khánh tiết của Sugar Land Assisted Living rồi dừng lại. Bà Loan nhanh tay mở ví, lấy mấy tờ một đồng, nhét vội vào tay người đẩy xe lăn, nói nhỏ:
-Làm ơn chăm sóc giùm chồng tôi. Tôi sẽ vào đây mỗi ngày phụ với cô.
Người đẩy xe lăn lắc đầu, trả lại tiền:
-Tôi sẽ chăm sóc ông Nguyễn. Bà đừng lo. Nhưng ở đây cấm nhân viên nhận bất cứ món quà nào; nếu nhận quà, nhân viên đó sẽ bị đuổi việc.
Bà Loan thở dài, bước theo gia đình. Ông Khiết nhìn bà Loan và con cháu bước lên hai chiếc SUV với nét mặt rất điềm nhiên! Nhưng, khi hai chiếc SUV nổ máy, từ từ rời bãi đậu xe, bà Loan nhìn vào kính chiếu hậu bên phải, thấy ông Khiết gục xuống, hai tay ôm mặt! Bà Loan hấp tấp nói với Dũng:
-Dũng! Dũng! Con chờ Măng chút!
Mọi người trên xe không hiểu chuyện gì xảy ra. Bà Loan vội mở cửa xe, bước xuống, đi nhanh đến bên ông Khiết. Ông Khiết đưa bàn tay run rẩy ra phía trước như muốn tìm kiếm một vật thể thân thương nào đó. Bà Loan nắm tay chồng, nghiêng một bên má lên mái tóc thưa và trắng ngần của chồng, rồi khóc! Diễm đến cạnh:
-Măng! “Be strong”! Măng nên nghĩ đến cuộc đời của Măng nữa chứ! Hôm Măng bị té, vào ER --Emergency Room – chính Măng đã nghe bác sĩ khuyên rằng Măng không nên chăm sóc cho ai khác, ngoài việc chăm sóc cho chính Măng. Măng nhớ không?
-Biết rồi! Nhưng tội “ông Già” quá, con ơi!
-Ai cũng biết là tội “ông Già”! Nhưng cái “tội” này là hậu quả của những cuộc tra tấn dã man do csVN hành xử tàn độc đối với tù nhân trong các trại cải tạo chứ không phải do ai khác tạo nên. Người nào muốn “hòa hợp hòa giải”, không nghĩ đến chính trị, quên đi quá khứ và tội ác của csVN thì đó là quyền của người đó; đừng kêu gọi hoặc cổ xúy người khác! Chỉ khi nào trong gia đình người đó có người từng là nạn nhân trực tiếp của csVN thì người đó mới biết thế nào là uất hận!
Biết Diễm cũng đang bị xúc động mạnh trong tình cảnh này, bà Loan năn nỉ:
-Thôi, con! Ai nói gì, làm gì, kệ người ta…
Bà Loan chưa dứt câu, tiếng người đẩy xe lăn vang lên:
-Rất tiếc, đến giờ cơm chiều, tôi phải đưa ông Nguyễn vào phòng ăn. Bye!
Bà Loan, các con cùng dâu và rể đứng lặng, nhìn theo chiếc xe lăn trong khi ông Khiết cố quay lui, nhìn hình dáng những người thân yêu đang xa dần, xa dần…
Trở lại chiếc SUV, vừa mở cửa, bà Loan nghe dòng nhạc êm ái, thiết tha từ iPhone của Mylene. Xe rời chỗ đậu được một đoạn ngắn, bà Loan mới nhận ra đây là tình khúc mà – buổi chiều trước ngày đi trình diện “bên thắng cuộc” – ông Khiết đã ôm Guitar, vừa “từng tưng” vừa hát nho nhỏ khi “hai đứa” ngồi bên nhau nơi sân sau:
“Memories light the corners of my mind
Misty water–colored memories of the way we were
Scattered pictures of the smiles we left behind
Smiles we gave to one another for the way we were…”
Chiều nay, theo giọng Soprano mượt mà của Barbra Streisand và lời ca ướt lệ trong tình khúc The Way We Were của Barbra Streisand, bà Loan bùi ngùi tưởng như thấy lại được hình dáng của ông Khiết vào buổi chiều xưa – khi “ông Nhảy Dù” đứng dưới mưa, khoanh tay, mỉm cười, nhìn Loan đàn – đang chờn vờn trong bóng hoàng hôn chập chùng!…
ĐIỆP MỸ LINH
Vô Minh (Nguyên Tác An Hậu)
VÔ MINH – Và những thứ “ thật sự” không thuộc về mình
Bình an và hạnh phúc không đến từ việc có được mọi thứ, mà từ việc ta hiểu rõ: chẳng có gì là của mình mãi mãi.
Câu chuyện chiêm nghiệm về cuộc sống
Có một buổi chiều, tôi ngồi ở một quán cà phê nhỏ bên góc chợ. Bàn bên cạnh là hai người phụ nữ trung niên, đang nói chuyện về đứa con trai của một chị trong đó. Chị nói bằng giọng đầy ngậm ngùi:
– “Tao nuôi nó từ nhỏ tới lớn, vậy mà lấy vợ xong, nó nghe lời người ta. Hồi đó nó bệnh, tao thức đêm lo từng li từng tí, giờ nuôi đủ lông đủ cánh rồi, nó đi cung phụng cha mẹ vợ nó. gặp mày mày có tức không?.”
Tôi nghe mà chạnh lòng. Không phải vì câu chuyện đặc biệt, mà vì nó quen lắm. Mỗi ngóc ngách xã hội này, ta đều dễ dàng bắt gặp những mối quan hệ như vậy, nơi tình thương bị trộn lẫn với kỳ vọng, nơi yêu thương biến thành ràng buộc, nơi “tôi đã cho anh rất nhiều, nên anh phải ở lại với tôi”.
Chúng ta cứ tưởng những điều đó là của mình, con cái, người thân, tình cảm, danh tiếng, tài sản…Vv. Nhưng rồi đến một lúc, tất cả cũng rời đi. Và lúc ấy, ta mới ngỡ ngàng: “Ủa, hóa ra mình không có sở hữu gì hết.”
Có một cô bạn của tôi, rất yêu chồng. Cô làm mọi thứ vì chồng con, đến mức gần như quên mình. Cô từng nói: “Em chỉ cần gia đình này còn đầy đủ là em hạnh phúc rồi.”
Rồi một ngày, người chồng thay đổi. Lặng lẽ, dứt khoát ra đi. Không có phản bội rùm beng, không có sóng to gió lớn, chỉ là… người ta không còn thương mình nữa.
Cô bạn tôi sụp đổ. Không phải chỉ vì tình yêu mất đi, mà vì cô đã đặt toàn bộ bản thân mình lên đó. Cô nghĩ gia đình là của cô. Chồng là của cô. Con cái, mái ấm, vai trò người vợ, đều là “mình phải giữ lấy”.
Mà cô không biết, những thứ đó không phải là “của mình” theo cái nghĩa sở hữu trọn đời. Nó là duyên, đến thì mình quý, đi thì mình tiễn, mà lòng không trách.
Trong đời sống xã hội, có biết bao nhiêu điều mà ta vẫn lầm tưởng là của mình:
– Một chức vụ mình vừa leo lên được, nhưng chỉ một lời đồn cũng đủ khiến người khác nhìn mình khác đi.
– Một người bạn tưởng thân thiết, nhưng khi lợi ích không còn chung, họ quay lưng nhẹ tênh.
– Một thân thể khỏe mạnh, hôm nay còn đi đây đi đó, mai đã nằm viện, ngó lên trần nhà mà không biết vì sao.
Chúng ta cứ bám chặt vào những điều đó, cứ như là buông ra sẽ mất hết. Rồi ta đau, ta oán, ta trách đời sao bất công.
Nhưng kỳ thực, đời không bất công. Chỉ là ta không hiểu đời.
Phật từng dạy, đại ý là: Vô minh là không thấy rõ bản chất của đời sống.
Mà bản chất thì rất đơn giản: Không có gì thật sự là của mình.
Cái gì đến, mình quý. Cái gì đi, mình tiễn. Không níu. Không kéo. Không gọi đó là “của tôi“. Ngay cả thân này, cũng chỉ là tạm mượn.
Một ngày nào đó, cũng phải trả lại, không ai giữ được lâu hơn người khác.
Thế nhưng điều ấy không có nghĩa là sống thờ ơ, sống hững hờ, sống buông xuôi. Ngược lại, khi biết mọi thứ không phải của mình, ta sẽ yêu thương nhiều hơn, nhưng là yêu thương không ràng buộc.
Ta sẽ làm hết lòng, nhưng không đòi hỏi phải được ghi công. Ta sẽ giữ gìn, nhưng nếu phải rời xa, ta cũng mỉm cười, nhẹ nhàng, buông xuống. Như một người biết trân quý mùa hoa. Khi hoa nở, họ ngắm. Khi hoa tàn, họ không oán trách, vì họ biết rằng, được ngắm hoa đã là may mắn lắm rồi.
Trong từng con hẻm, từng mái nhà, từng câu chuyện gia đình, ta thấy biết bao nỗi khổ sinh ra từ việc, xem những thứ không phải của mình là của mình.
Có người đau vì con cái không sống theo ý mình.
Có người khổ vì người yêu không còn bên cạnh.
Có người sống héo hon vì mất danh, mất chức, mất thể diện.
Có người ôm hận cả đời vì một người bạn cũ “phản bội”.
Tất cả chỉ vì một điều: Ta đã nhận nhầm.
Nếu bạn đọc đến đây, tôi mong bạn thử ngồi lại, chậm rãi nghĩ về những điều mình đang nắm rất chặt trong tay. Rồi tự hỏi: Nếu ngày mai chúng biến mất, tôi có còn là tôi không?
Nếu câu trả lời là “còn”, thì bạn đã bắt đầu thấy ánh sáng rồi đó.
Bởi vì bình an và hạnh phúc không đến từ việc có được mọi thứ, mà từ việc ta hiểu rõ: chẳng có gì là của mình mãi mãi.
Và chính sự thấu hiểu đó, mới là tài sản thật sự của đời ta.
Nguyên Tác An Hậu
Năm Mới Cần Biết (Trần-Dzũng Nguyen)
Năm Mới bắt đầu mong Bạn nhớ 1 điều rất đơn giản
* Không cần trở thành Người rực rỡ nhất, chỉ cần trở thành Người Bình An hơn hôm qua.
Đời Người dài ngắn không đo bằng năm tháng mà đo bằng việc mỗi ngày trôi qua, lòng mình có nhẹ hơn hay không.
Mong Bạn bước vào Năm Mới với 1 Trái Tim không còn quá nặng nề. Những chuyện đã qua, nếu không sửa được thì hãy học cách Buông. Những Người đã rời đi, nếu không giữ được thì hãy chúc Họ an yên. Có những thứ rời khỏi cuộc đời Ta không phải vì Ta chưa đủ tốt mà vì Nó chỉ có thể đi cùng ta đến 1 đoạn đường nhất định.
+ Năm Mới mong Bạn biết thương mình hơn 1 chút. Đừng vì làm vừa lòng tất cả mà quên mất bản thân cũng cần được vỗ về. Không phải lúc nào im lặng cũng là mạnh mẽ và không phải lúc nào cố gắng cũng được ghi nhận.
* Mong Bạn học được cách nói lời dịu dàng với Người khác và với chính mình.
Lời nói có thể không thay đổi được cả cuộc đời, nhưng có thể làm ấm 1 trái tim đang mệt mỏi.
Đừng tiếc 1 lời động viên, đừng keo kiệt 1 câu cảm ơn và cũng đừng ngần ngại nói lời xin lỗi khi cần.
Nhân Gian này đủ Lạnh rồi hãy để mình là 1 điểm Ấm.
+ Năm Mới mong Bạn đủ tỉnh táo để nhận ra điều gì thật sự quan trọng.
* Không phải thắng thua, không phải hơn kém mà là sau tất cả, Bạn còn giữ được bao nhiêu Thiện Lương trong lòng.
Người sống hiền lành có thể đi chậm hơn, nhưng đường đi thường vững hơn.
Người sống tử tế có thể chịu thiệt, nhưng Phúc Phần hiếm khi đến muộn.
Mong Bạn biết hài lòng với những điều đang có, nhưng không ngừng cố gắng cho những điều tốt đẹp hơn.
Biết đủ để an yên, biết mơ để không bỏ lỡ chính mình.
Cuộc sống không cần quá hoàn hảo, chỉ cần mỗi ngày trôi qua, Bạn không phải hổ thẹn với lương tâm, không phải ân hận vì đã sống quá tệ với Ai đó.
+ Năm Mới đến mong bạn giữ được 1 Lòng Tin.
Tin rằng sau những ngày mưa sẽ có nắng.
Tin rằng sự tử tế không bao giờ vô nghĩa.
Tin rằng chỉ cần mình sống ngay thẳng, Trời Đất sẽ không phụ. Có thể không cho ngay, nhưng nhất định sẽ cho đủ.
Nếu có 1 điều để gửi gắm cho Năm Mới thì đó là mong Bạn sống chậm lại để cảm nhận, sống sâu hơn để thấu hiểu và sống hiền hơn để lòng được yên.
Khi lòng yên rồi, mọi chuyện đến hay đi, cũng đều có thể mỉm cười đón nhận.
Chúc Bạn 1 Năm Mới không quá ồn ào, nhưng đủ ấm. Không quá rực rỡ, nhưng đủ sâu.
* Mỗi Ngày thức dậy đều có thể tự nhủ với mình rằng hôm nay, Mình vẫn đang sống 1 Đời Đáng Sống.
Túp lều nhỏ của Nam Tuyền
Túp lều nhỏ của Nam Tuyền (Thiền sư Gyomay M. Kubose)
Trong đời sống, có thể nói, hầu hết con người đều không thoát khỏi sự vướng mắc, về cả hai phương diện: vật chất và tinh thần. Nguyên nhân của vướng mắc là lòng tham, một trong ba điều độc hại mà con người tiêm nhiễm trong đời sống xã hội. Thiền khuyên con người nên tu thân, luyện trí để vượt qua vướng mắc, mà nhà Phật gọi là buông bỏ hay buông xả.
Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc “Túp lều nhỏ của Nam Tuyền”, một công án thiền cho chúng ta thấy các vị thiền sư thường học hỏi và thách thức nhau về sự hiểu biết về thiền, và nhiều chuyện đã được ghi chép lại, gọi là công án, để đời sau chiêm nghiệm. Sự hiểu biết hay diễn giảng ra sao thì tuỳ tâm ý của cá nhân, không có đúng hay sai, vì “tất cả đều nhất.”
Bùi Phạm Thành
Một ngày nọ, khi Nam Tuyền (Nam Tuyền Phổ Nguyên, 南泉普願, 748-835) sống trong một túp lều nhỏ trên núi, một nhà sư lạ mặt đã đến thăm ông khi ông đang sửa soạn đi làm việc ngoài đồng. Nam Tuyền chào đón nhà sư, nói: "Xin ông hãy tự nhiên như ở nhà. Nấu bất cứ thứ gì ông thích cho bữa trưa, và sau đó mang một số thức ăn thừa cho tôi ở ngoài đồng."
Nam Tuyền làm việc chăm chỉ cho đến tối và về nhà rất đói.
Nhà sư lạ đã nấu và ăn một bữa, sau đó vứt bỏ tất cả thực phẩm dự trữ và đập vỡ tất cả nồi niêu!
Nam Tuyền thấy ông ta đang ngủ yên bình trong túp lều trống rỗng. Khi Nam Tuyền duỗi cơ thể mệt mỏi của mình xuống bên cạnh nhà sư lạ mặt, nhà sư đứng dậy và bỏ đi.
Nhiều năm sau, Nam Tuyền kể lại câu chuyện này cho các học trò của ông và đưa ra nhận xét: "Ông ấy thật là một nhà sư tốt. Đến nay tôi vẫn còn nhớ ông ta."
Một thiền sư sống một cuộc đời rất đơn giản, yên tĩnh và tự tại. Khi Nam Tuyền sống trong túp lều trên núi, một nhà sư lạ đến thách thức cuộc sống thiền định của ông ta.
Ngay cả tự do cũng không tự do nếu người ta gắn bó với nó. Thật dễ dàng để giải phóng bản thân khỏi sự nhỏ nhen của con người. Nhưng nếu không biết điều đó, chúng ta có thể trở nên gắn bó với Pháp, Niết bàn, nghèo khó và các hình thức "thiện" khác.
Vị sư đến thăm nấu ăn, ngủ nghỉ như trong túp lều của ông. Không có hình thức, không có giả vờ. Cả thế giới thuộc về ông ta. Và ông ta cũng đập vỡ tất cả các vật dụng - dụng cụ của thiền định, Niết bàn, sự nghèo khó.
Nam Tuyền thực sự hiểu thế giới của vô chấp, và ông ta không bao giờ quên sự viếng thăm kỳ lạ của nhà sư đó.
Nguyên tác: Quyển 3 - Không Vướng Mắc
Soạn giả: Thiền sư Gyomay M. Kubose
Nghịch lý Pháp : Xứ bánh mì nhưng lại ít ăn baguette !!!
Vào những năm 1950, sau Đệ nhị Thế chiến, người Pháp tiêu thụ trung bình 700 gram bánh mì mỗi ngày. Nhưng theo khảo sát gần đây của Liên đoàn Quốc gia các tiệm bánh mì và bánh ngọt của Pháp (CNBPF), mức tiêu thụ đã giảm đến 7 lần trong nửa thế kỷ qua, xuống dưới mức 100 gram như hiện nay, tức chưa bằng một nửa ổ bánh mì baguette mỗi ngày.
Điều đó khiến đài truyền hình Mỹ CNN đặt câu hỏi :
- Tương lai nào cho bánh mì baguette, biểu tượng truyền thống của Pháp ?
Dưới dạng thon dài giống như một chiếc que đũa, khúc bánh mì baguette nặng khoảng 250 gram, từng được Unesco công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại vào cuối năm 2022. Thế nhưng, theo CNN, danh hiệu cao quý này dường như không giúp đảo ngược được xu thế : lượng tiêu thụ bánh mì giảm chậm mà đều đặn, truyền thống làm bánh mì thủ công dần dần biến mất tại Pháp, trong khi loại bánh mì công nghiệp ngày càng tăng lên.
Theo các chuyên gia trong ngành, đà giảm sút này là do nhiều yếu tố gộp lại : người tiêu dùng thay đổi thói quen ăn uống. Nhiều loại thức ăn nhẹ (snacking) dần thay thế cho bánh mì baguette. Giới trẻ cũng thích dùng các loại bánh mì gối (pain de mie) ruột trắng xốp mềm, xắt thành từng lát mỏng, thường được dùng để làm sandwich kẹp thịt nguội hay được phết bơ mứt vào giờ ăn sáng.
Theo ông Dominique Anract, chủ tịch liên đoàn CNBPF, một trong những thay đổi lớn là giới trẻ ở Pháp thời nay đang mất đi thói quen ghé tiệm bánh mì mỗi ngày để mua baguette. Chuyện đi mua bánh mì thoạt nhìn chỉ là một việc vặt, nhưng chi tiết nhỏ nhặt ấy lại phản ánh một sự thay đổi khá sâu rộng trong xã hội : thế hệ trẻ thời nay ít nấu ăn ở nhà và đi ăn ở ngoài nhiều hơn. Vài thập niên trước, ngay cả sinh viên cũng tự nấu ăn ở nhà : ít có chuyện ăn vặt mà cũng chẳng có ẩm thực « đường phố » như burger, kebab hay sushi. Nhưng ngày nay, có rất nhiều bạn trẻ chỉ thích dùng đồ ăn nhanh.
Tại Pháp, theo truyền thống, bánh mì baguette được ăn vào bữa sáng dưới dạng tartine, khúc baguette được chẻ làm đôi, phết thêm một chút bơ, mứt trái cây hoặc sô cô la hạt dẻ. Bữa trưa, bánh mì baguette được nhồi với giăm bông, thịt nguội hoặc phô mai để làm sandwich. Bữa tối, bánh mì baguette không thể thiếu trong các bữa ăn Pháp truyền thống, đậm đà nước sốt như món thịt bò hầm cà rốt với vang đỏ là bourguignon, với bia nâu là carbonnade, hay món thịt bê hầm sốt mịn trắng (blanquette de veau).
Những miếng bánh mì được dùng để vét sạch phần nước sốt còn sót lại trên đĩa. Trong tiếng Pháp, có hẳn một động từ riêng là « saucer » để chỉ động tác này. Theo ông Dominique Anract, nhiều bạn trẻ rất vui khi được ăn bánh mì baguette truyền thống vào dịp cuối tuần khi về thăm bố mẹ. Nhưng với nhịp sống thời nay, người tiêu dùng có rất nhiều lựa chọn khác nhau để đi ăn ở ngoài mà không hề cần đến bánh mì baguette.
Một tiệm bánh mì lại không có bán baguette?
Trước sự thay đổi thói quen tiêu dùng ấy, nhiều tiệm bánh mì « thế hệ mới » đã lần lượt ra đời. Theo đài CNN, đó là trường hợp của cửa hàng « Seize Heures Trente » tại thành phố Rennes với đặc điểm : đây là một tiệm bánh mì nhưng không hề có bán baguette truyền thống và điều đó khiến cho nhiều khách hàng cao tuổi bất mãn, phàn nàn.
Theo lời chủ tiệm bánh Marion Juhel, sở dĩ cô quyết định loại bỏ hoàn toàn bánh mì baguette ra khỏi quầy hàng, vì đây là một sản phẩm ít có giá trị dinh dưỡng mà lại tốn nhiều năng lượng. Bánh mì baguette dễ bị khô cứng, chỉ có thể dùng trong ngày, điều đó dẫn đến tình trạng phung phí thực phẩm, vứt bỏ nhiều ổ bánh mì khô.
Chủ chuỗi cửa tiệm bánh mì Benoît Castel có cùng quan điểm với cô Marion Juhel. Thay thế cho loại baguette truyền thống, cả hai nhà làm bánh mì này chủ yếu bán theo cân các loại bánh mì làm với lúa mạch đen hay với bột mì nguyên chất không dùng các chất phụ gia. Phổ biến nhất trong thời gian gần đây vẫn là loại bánh mì làm với bột men chua (pain au levain / sourdough). Theo các chuyên gia dinh dưỡng, loại bánh mì này, đôi khi còn được gọi là "pain de garde" do có thể giữ lâu, có vị thơm ngon và dễ tiêu hóa hơn, ít làm tăng lượng đường trong máu.
Phương pháp ủ men ngũ cốc tự nhiên để làm bánh mì đã có từ lâu đời, giúp bánh mì giữ được độ tươi lâu dài, nhưng mỗi ổ bánh mì thô mộc, chắc ruột có thể nặng tới hơn 3 kí lô, và như vậy hợp hơn với các hộ gia đình mua bánh mì để ăn cả tuần, chứ không hợp với các bạn trẻ độc thân. Theo ông Benoît Castel, loại bánh mì thon dài chỉ xuất hiện vào giữa thế kỷ XX để thay thế cho những ổ bánh mì to tròn, được làm mỗi tuần một lần. Do chỉ có vài trăm gram, thời gian nhồi bột mì và nướng bánh cũng ngắn hơn, giúp phổ biến baguette trong các hộ gia đình trung lưu, thích ăn các khúc bánh mì tươi, mới nướng mỗi ngày.
Thế nhưng, theo ông Éric Kayser, chủ chuỗi cửa hàng cùng tên với khoảng 370 tiệm bánh mì trên khắp thế giới, việc làm lại các ổ bánh mì có thể giữ lâu là điều đáng mừng, nhưng không phải ai cũng đủ tiền để mua. Để dễ hình dung, một khúc bánh mì baguette công nghiệp, loại làm sẵn rồi đông lạnh, khi muốn bán chỉ cần đưa vào lò nướng, có giá trung bình khoảng một euro. Loại bánh mì baguette hạng trung, được làm tươi với bột mì, nước, muối và chất tạo xốp, có giá khoảng 1,4 euro. Ngược lại, một ổ bánh mì cao cấp, thường được bán theo cân, giá có thể lên tới 7 euro một ổ 500 gram, tức cao gấp 5 lần loại baguette thông thường.
Mặc dù lượng tiêu thụ bánh mì baguette đang giảm sút, nhưng ông Éric Kayser không lo lắng cho lắm, sau khi thành công tung ra các loại baguette truyền thống làm với bột chua lỏng. Còn đối với chủ tịch liên đoàn CNFBP Dominique Anract, chính thế hệ mới như Muhel, Castel hay Kayser sẽ tạo cơ hội cho ngành làm bánh mì phát triển theo đúng hướng. Ngành này đã từng trải qua nhiều cuộc khủng hoảng, cho nên phải tìm cách thích nghi với tình huống mới.
Bánh mì baguette kiểu Pháp còn bán chạy trên thế giới, cho dù trong mắt người nước ngoài, quả thật là một nghịch lý khi ngay tại xứ Pháp, người dân lại ít ăn bánh mì.
Trong khi, một số cửa hàng gọi là boulangerie nhưng lại không hề bán baguette, đó là điều mà nhiều người Pháp không đời nào hiểu nổi, huống chi là khách nước ngoài.
( Sưu tầm )
ĐOẠN KẾT CÂU CHUYỆN TÌNH BUỒN (NGUYỄN ĐÌNH LIÊN)
Tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm.
Một sự tình cờ, tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm, kể từ lúc cả hai cùng được thả ra, vào một ngày đầu Tháng Năm, 1981, từ trại tù Bình Điền, Thừa Thiên Huế.
Tôi biết hắn từ trước năm 1975 không những vì cả hai cùng học một lớp bậc trung học, cùng một khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thậm chí, sau đó lại về cùng một đơn vị. Trước ngày mất nước năm tháng, hắn lấy vợ. Vợ hắn, tên là Hạ, đúng là một cô giáo hiền thục, đoan trang và thương chồng theo cách tăn măn tỉ mỉ của những cô gái Huế (thời trước.)
Rồi trôi theo vận nước, tôi đi với hắn vào cùng một trại tù và thật kỳ lạ, sáu năm sau lại cùng với hắn ra khỏi trại. Trong khoảng thời gian ở tù này và nhất là sau khi cùng được thả ra về sống tại địa phương. Tôi mới biết được và hết sức khâm phục lòng hy sinh và sự chịu đựng của vợ hắn…
Khi cuộc đời nhà binh của hắn và kể cả tôi nữa kết thúc tại bãi biển Thuận An, Huế vào ngày 26 Tháng Ba, 1975. Chúng tôi bị lùa lên trại tù Khe Sanh, rồi về Cồn Tiên, hắn hay chắt lưỡi với tôi: Trời hỡi!! vậy mà cũng còn may. Tôi hỏi thì hắn trả lời: May là vì hai vợ chồng tôi chưa có con, không bị ràng buộc chi hết, nàng có thể tự do đi lấy chồng khác, chớ đeo theo mình, cái thằng tù chung thân khổ sai này làm cái chi?!
Tại trại tù Cồn Tiên (Tỉnh Quảng Trị) lần thăm nuôi đầu tiên, vợ hắn lên thăm. Hắn nói ngay với với nàng: Thôi đến mức ni là đủ rồi, em còn trẻ, chưa có con, anh cho phép em ly dị anh, rồi về mà kiếm một thằng chồng khác, chớ đeo theo anh làm cái chi nữa, lấy ai cũng được, miễn răng em hạnh phúc là anh mừng rồi. Vợ hắn im lặng không nói. Ba tháng sau, về trại Ái Tử (Đồng Hà) lại thấy nàng tay xách nách mang giỏ lớn, giỏ nhỏ lên thăm. Hắn lại khuyên nàng như lần trước, thì bị nàng nạt: Đừng có giở trò cao thượng với tui, tui là vợ anh thì đến chết tui vẫn là vợ anh, đừng có nói ba xàm ba láp. Đến đây thì hắn tắt đài không dám hó hé thêm một tiếng.
Vì chuyện này tôi không biết hắn vui hay là buồn, vui cũng đúng thôi vì thời buổi này có được một người chung tình như vợ hắn thì cũng đáng vui, nhưng buồn như trường hợp hắn lại cũng đúng. Buồn vì tội nghiệp cho cô vợ trẻ không biết có mắc nợ nần chi từ đời kiếp nào mà bây giờ phải đeo theo mà trả.
Sau này khi được phóng thích về địa phương, nghe thuật lại thì ra vợ hắn đã bỏ nghề giáo từ lâu, để lăn lưng ra chợ trời, buôn thúng bán bưng mà kiếm từng đồng bạc lên thăm nuôi anh chồng đang sa cơ thất thế.
Lại nghe nói trước đó có anh trưởng Ban Thuế Vụ tỉnh đeo theo nàng như đỉa nhưng luôn luôn bị nàng quyết liệt từ chối. Trước ngày đi vùng kinh tế mới trong Nam, tôi nói với hắn: Ông có phước lắm mới có được người vợ như rứa, ráng mà sống với nhau trọn đời. Hắn trả lời: Mẹ tôi sinh ra tôi làm người còn vợ tôi mới là người mở mắt cho tôi biết cái gì gọi tấm lòng cao thượng.
Khoảng vài năm sau thì nghe nói hai vợ chồng hắn đã lên tàu vượt biên.
Nghe tin này tôi cầu mong hai vợ chồng hắn đi đến nơi đến chốn bình yên và mãi mãi hạnh phúc bên nhau.
Mười năm sau, gia đình tôi đi Mỹ theo diện H.O. Qua Mỹ, tôi ra sức tìm kiếm hai vợ chồng hắn. Và qua nhiều người bạn tôi nghe tin hắn đang sinh sống tại một tiểu bang miền Đông và cũng nghe nhiều chuyện về hắn. Nhưng mãi đến hơn hai chục năm sau, tình cờ, tôi mới có dịp gặp lại người bạn cũ này.
Đó là một đêm Giao Thừa âm lịch tại thành phố Salt Lake City, tiểu bang Utah. Ngoài trời tuyết rơi trắng xóa. Trong một căn chung cư ẩm thấp nghèo nàn ở vùng North Salt Lake. Ngồi trước mặt tôi là một người đàn ông ốm yếu, đầu tóc bạc trắng, nhìn tôi qua cặp mắt ủ rủ, chính là hắn.
Tôi hỏi hắn:
– Chuyện gì đã xảy ra? ông có nhớ tôi đã từng nói với ông là hãy sống hạnh phúc với Hạ và hãy biết quý trọng tấm lòng cao thượng của nàng.
Hắn nhìn tôi, với ánh mắt sáng lên chút diễu cợt, rồi biến mất, chỉ còn hai bên khóe mắt của hắn tôi nhìn thấy những vết hằn buồn rầu ai oán.
Đúng rồi, chính cái tấm lòng cao thượng hay là sự hy sinh cao cả đó nhưng than ôi, kết quả mà nó mang lại là tất cả những gì anh đang thấy đây…
Hắn bắt đầu câu chuyện.
Chiếc thuyền mỏng manh chở khoảng 150 người rời khỏi Lăng Cô nhắm hướng hải phận quốc tế, vào cái ngày định mệnh đó. Chỉ 4 tiếng đồng hồ sau thì nó vỡ tan ra từng mảnh. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy đang nằm trên một tàu hàng Nam Dương. Trong số 150 người trong đêm đen bão táp, chỉ có chừng vài mạng được vớt lên, còn hầu hết đều mất tích, vợ tôi nằm trong số người mất tích đó. Thì anh cũng biết, trên biển cả mênh mông mất tích là đồng nghĩa với cái chết. Vì thế, anh hiểu là tôi đau khổ đến mức nào không??? Vợ tôi đã hy sinh hết mọi thứ, kể cả tuổi xuân của nàng chỉ vì nàng yêu tôi. Vậy mà tôi chưa kịp đền đáp mang lại cho nàng sự hạnh phúc, chỉ còn vài bước nữa là đến bến bờ tự do thì nàng đã vĩnh viễn chìm sâu dưới lòng đại dương. Nỗi mất mát lớn lao này đã cào xé, dằn vặt tôi, tạo nên một cơn hoảng loạn dai dẳng đến nỗi người ta phải đem tôi vào bệnh viện. Tôi nằm trong một bệnh viện tâm thần, hay nói cho đúng đó là nhà thương điên trong vòng một tháng trời, và ở trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh, nửa điên nửa khùng. Trầm trọng đến nỗi ai cũng nghĩ chỉ còn nước ngồi chờ đến giờ đem tôi đi chôn.
Nhưng rồi như một định mệnh đã được an bài, một ngày kia, tôi bỗng tỉnh dậy và thấy một cô gái người Việt đang đứng nhìn tôi ở đầu giường. Hỏi ra, mới biết, đó là một cô gái sống tại Mỹ và làm trong một cơ quan thiện nguyện chuyên giúp đỡ những người tị nạn. Hiểu được và thông cảm nguyên nhân căn bệnh của tôi, cô gái tên là Huyền, đã tình nguyện chăm sóc cho tôi và dần dần đem tôi lên từ dưới đáy sâu của cơn khủng hoảng tuyệt vọng để hồi sinh trở thành một người bình thường. Rồi cũng dần dần cả hai chúng tôi trở thành hai người bạn thân lúc nào cũng không hay. Huyền chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, không đẹp, nhưng đằm thắm, dịu dàng. Nàng đã có một đời chồng, và chính điều này cũng là một tâm sự buồn mà có vài lần nàng đã bộc lộ cho tôi biết.
Nhưng nàng nói cũng nhờ sự bộc lộ đó mà nàng luôn luôn giữ được trạng thái cân bằng trong tâm lý. Tôi cũng kể cho nàng thêm những chi tiết về Hạ người vợ xấu số của tôi, về cái tình yêu và sự hy sinh của nàng dành cho tôi. Tôi nói với Huyền:
– Suốt đời có lẽ không bao giờ tôi quên được vợ tôi.
Huyền nói:
– Đừng bao giờ quên cô ấy vì chính lúc anh nghĩ về cô ấy là chính lúc anh tự cảm thấy an ủi được rất nhiều. Nhưng anh cũng nên nhớ, anh cũng cần nghĩ về anh nữa, bởi anh cũng cần phải sống và biết cách sống nữa chứ.
Phải nói tôi cám ơn Huyền rất nhiều về những gì mà nàng đã làm cho tôi trong thời gian vừa qua và khi nhìn vào đôi mắt đằm thắm của nàng tôi chợt nghĩ biết đâu hương hồn vợ tôi đã phù hộ cho tôi gặp được cô gái này cũng nên? Hóa ra trong cuộc sống trước mắt, tôi đang có hai người đàn bà ở bên cạnh, một người ở quá khứ và một người đang sống ở hiện tại. Họ đã tạo cho tôi một thế cân bằng trong tâm lý và giúp tôi dần dần vượt qua được trạng thái hụt hẫng đau đớn trước kia.
Chừng vài tháng sau, cũng nhờ sự giúp đỡ bảo trợ của Huyền, tôi đã được phái đoàn phỏng vấn chấp thuận cho định cư tại Mỹ. Lúc đó tôi về một tiểu bang miền Đông với Huyền, và theo lời khuyên của nàng tôi ghi danh đi học, bắt đầu từ các lớp ESL, rồi qua college, sau đó lên đại học. Trong thời gian đi học tôi và nàng thuê chung một căn apartment hai phòng (dĩ nhiên). Tôi đi học ban ngày, cuối tuần đi làm thêm kiếm tiền phụ giúp một phần trả tiền ăn ở. Còn nàng thì đi làm ca đêm. Cũng nên nói thêm, chúng tôi luôn luôn coi nhau như là bạn, tôn trọng nhau, đối xử với nhau một cách vui vẻ và chân thật. Tôi ráng sức học và hiểu rằng đó là cách để khỏi phụ lòng người đã giúp đỡ tôi đến nơi đến chốn. Tôi cũng hiểu rằng, nàng cũng đang ráng sức đi làm để tạo điều kiện dễ dàng trong việc học của tôi. Nghĩ lại, mới thấy cả hai chúng tôi đều ráng sức và cũng vì nhau mà ráng sức. Phải chăng chúng tôi đang làm một việc mà chỉ có hai người đang yêu nhau mới làm?
Trong đời tôi, định mệnh đã cướp đi của tôi một cơ hội là mang lại hạnh phúc cho người đã từng hy sinh cho mình, đó là Hạ. Lần này tôi không muốn mình vuột đi một cơ hội tương tự như vậy. Tôi quyết định chọn một ngày quan trọng nhất để tôi ngỏ lời cầu hôn với Huyền. Ngày đó cũng là ngày tôi tốt nghiệp với mảnh bằng kỹ sư công chánh.
Rồi cái ngày đó đã tới.
Buổi trưa sau khi làm lễ tốt nghiệp xong cả hai chúng tôi về nhà. Chúng tôi quyết định cùng nấu chung một vài món để ăn mừng và đó cũng là một cơ hội để tôi nói lời tình yêu với Huyền. Tôi nghĩ không có một cơ hội nào tốt hơn là cơ hội này. Tôi đang lau chén đũa và trải khăn bàn trong lúc chờ nàng chạy ra cái chợ ở đầu phố nói là mua thêm ít rau, và vừa lẩm bẩm trong miệng câu nói mà tôi chờ đợi được nói suốt cả năm trời nay. Đúng lúc thì có tiếng chuông cửa. Một người đi bỏ báo đứng chờ ở ngoài, đưa cho tôi một lá thư nhỏ, nói: Phải anh là anh Tiến không? Có một người ở đằng kia nhờ tôi trao cho anh tờ giấy này.
Tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, chữ viết tròn trịa quen thuộc.
Anh Tiến, Em là HẠ đây, em vẫn còn sống đây, nhưng chuyện dài dòng lắm, em thì không tiện vào nhà. Qua gặp em trong cái công viên phía bên kia đường.
Tôi không còn nhớ lúc đó tâm thần tôi hoảng loạn đến mức độ nào. Tôi cũng không biết mình nên làm gì nữa. Giá lúc đó mà động đất xảy ra hay núi lửa phun lên, sóng thần tràn vào tôi cũng không cần biết. Tâm trạng hoảng loạn này có lẽ cũng lớn ngang với lúc tôi tỉnh dậy trên chiếc tàu hàng Nam Dương và biết người vợ mình đã bị nhận chìm giữa lòng đại dương cách đây 7, 8 năm về trước. Nhưng rồi như cái máy tôi bước ra cửa lảo đảo băng qua bên kia đường.
Tôi nhận ra nàng ngay. Chính là Hạ. Vợ tôi, nàng không khác mấy như tôi gặp nhiều lần trong những giấc mơ trước kia. Nhưng bây giờ không phải là trong giấc mơ mà bằng xương thịt nàng, hiện ra dưới ánh nắng buổi trưa với làn da có vẻ xanh xao hơn và đôi mắt buồn rầu. Cơn xúc động đến nỗi tôi muốn ôm chầm lấy nàng.
Nhưng nàng ngăn tôi lại rồi hấp tấp nói.
– Anh Tiến, em không còn nhiều thì giờ nữa vì trong vòng một tiếng nữa em sẽ rời nước Mỹ trở về lại Úc.
Tôi nhìn thấy nàng cười nhưng nước mắt thì ràn rụa trên má.
Anh biết không, khi em trôi dạt trên biển và được một thương thuyền Úc vớt lên, đem về Úc. Lúc đó em vẫn tin rằng chỉ có em là người duy nhất sống sót trên chiếc tàu định mệnh đó. Mãi vài năm sau thì có người liên lạc với em và cho biết anh vẫn còn sống. Anh biết là ai không?
NGƯỜI ĐÓ LÀ CÔ HUYỀN. Chính cô Huyền đã bỏ rất nhiều công sức để truy tìm em trên khắp các trại tị nạn, trong một hy vọng là em còn sống. Và thật không uổng công cho cô ấy. Huyền đã tìm ra em. Cô ấy đã liên lạc với em nhiều lần, kể hết mọi chuyện về anh và nói với em rằng sẽ tạo điều kiện cho hai người gặp nhau nhưng phải chờ anh tốt nghiệp xong. Hai ngày trước cô Huyền mua vé cho em từ Úc bay qua đây và hẹn em đúng giờ này đến ăn cơm chung để mừng anh và em. Nhưng ngồi trên máy bay em đã nghĩ lại rồi. Chính cô Huyền mới là người xứng đáng với anh, cô Huyền là người đã cứu anh ra khỏi cơn khủng hoảng tâm thần, đưa anh qua Mỹ và tạo điều kiện cho anh ăn học thành tài. Anh nên nhớ, nếu không nhờ cô ấy, chắc gì anh còn sống được đến ngày hôm nay. Hồi sáng em đứng ở đây nhìn anh và cô Huyền bước xuống xe, nhìn trong mắt anh lúc đó, anh hiểu không, em là đàn bà mà, em biết liền, trong đôi mắt anh lúc đó đang tràn trề sự hạnh phúc của một người đang yêu. Cô Huyền mới xứng đáng là người được anh trao cái hạnh phúc đó. Cô ấy đã hy sinh cho anh nhiều rồi. Đừng nên để cô ấy hy sinh thêm nữa, vì hơn ai hết chính em biết cô Huyền cũng đang yêu anh. Và em cũng yêu anh dường nào.
Tôi không hiểu Hạ bỏ đi từ lúc nào. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh, đầu óc vẫn còn choáng váng những lời nói của Hạ hồi nãy. Thật sự đến lúc này tôi vẫn không biết mình nên nghiêng về bên nào. Trời đất ơi! Tôi không ngờ Huyền là người đã âm thầm đi tìm Hạ thay cho tôi. Tôi đã mang ơn nàng nhiều quá, và không biết bằng cách nào để trả được cái ơn đó, trừ phi. Nhưng chỉ có Hạ là người biết được điều khó xử này của chồng mình. Cô ấy đã có một quyết định cũng giống như cái quyết định cách đây chục năm về trước, khi thả nổi đời xuân xanh của mình để đi nuôi một thằng tù không biết ngày nào mới được tha ra. Đó là người đàn bà suốt đời hy sinh cho hạnh phúc của chồng.
Và, trời ơi, Anh biết không. Đó là định mệnh, lại một định mệnh cay nghiệt. Nó vẫn không buông tha cho tôi. Tôi nhận ra ngay khi vừa bước chân vào nhà. Căn nhà vẫn trống rỗng y chang như lúc tôi bước ra.
Hạ đã lầm!
Tôi cũng lầm!
Làm gì có chuyện Huyền mời Hạ đến để ĂN CHUNG với CÔ ẤY bữa cơm mừng ngày tái ngộ.
Làm gì có chuyện Huyền chạy ra chợ mua thêm ít rau.
TẤT CẢ CHỈ LÀ CÁI CỚ.
Tôi đi ngay vào trong phòng nàng. Và tìm thấy một lá thư trên bàn. Chỉ có vài dòng run rẩy:
Chúc mừng hai người tìm lại được hạnh phúc bên nhau
Đừng bao giờ tìm em nữa
Huyền
Những dòng chữ còn ướt đẫm nước mắt của nàng.
Tôi lịm người đi giữa câu chuyện mà Tiến đang kể, giọng kể của hắn nghe đều đều như lời cầu nguyện, đầy cam phận cho một tên tử tù trên đường ra pháp trường.
Một lúc sau đó tôi mới hỏi hắn, một câu thiệt vô duyên:
Sao ông không đi tìm họ???
Theo anh thì tôi nên tìm ai? Nhưng định mệnh không cho tôi làm việc đó. Hai người đàn bà này, người nào cũng cho rằng tôi đang sống trong hạnh phúc với người kia. Hãy để cho họ tin như vậy đi, đừng bao giờ làm họ thất vọng. Đó cũng là một cách trả ơn những sự hy sinh đó.
Chính vì thế tôi bỏ hết tất cả và đến đây – một mình – trong cái xó này.
Salt Lake City-Utah
Nguyễn Đình Liên
Sống Chung Với Tuổi Già (Lương Thái Sỹ ), Nỗi Đau Lớn Nhất Của Tuổi Già..(Văn Chương/quinhon 11), (Gởi ai đã và sắp đến tuổi già.)
Sống Chung Với Tuổi Già
Ai cũng tới lúc già đi, hãy sẵn sàng “sống chung với tuổi già”.
“Ôi cái bụng bự của tôi”, “Dạo này cứ 3, 4 giờ sáng là thức”, “Giời ạ, cứ nhớ trước quên sau, hay bị mất trí nhớ rồi ta!”… Đó là dấu hiệu bạn đang bước vào quá trình lão hóa.
Sinh-lão-bệnh-tử, bình thường, ai cũng phải qua bốn bước. Vậy bạn phải chấp nhận tuổi già sẽ ập đến.
Bao nhiêu người trong chúng ta muốn có một hướng dẫn đáng tin cậy với bằng chứng cụ thể về quá trình lão hóa, khi cơ thể và tâm trí sẽ thay đổi theo tuổi già và cách thích ứng với “bình thường mới”? Đó là một thách thức lớn. Lý do, quá trình lão hóa làm thay đổi con người diễn ra dần dần qua nhiều thập niên và được định hình bởi hoàn cảnh kinh tế xã hội của mỗi cá nhân; khu vực sống, cách sống và các yếu tố khác nữa.
Ngoài ra, dù chúng ta có các vấn đề sinh lý chung khi già đi, nhưng không theo cùng lộ trình mù mịt phía trước. Bác sĩ Rosanne Leipzig, phó Chủ tịch giáo dục tại Khoa Lão khoa và Y học Giảm nhẹ Brookdale tại Trường y Icahn School of Medicine ở Mount Sinai, New York, nhận định: “Những thay đổi có thể dự đoán được không nhất thiết phải xảy ra cùng lúc hoặc theo cùng một trình tự. Những người lớn tuổi là nhóm không đồng nhất nhất trong các nhóm tuổi khác nhau”.
Leipzig, 72 tuổi, đang dành ra toàn thời gian để giảng dạy nội trú và nghiên cứu sinh cũng như khám bệnh cho bệnh nhân vừa xuất bản cuốn sách mới: “Honest Aging: An Insider’s Guide to the Second Half of Life” được đánh giá là: “Cuộc kiểm tra toàn diện nhất về những gì sẽ xảy ra trong nhiều chục năm khi chúng ta già dần”.
Leipzig có hai mục tiêu khi viết hướng dẫn này. Thứ nhất là: “Để vượt qua tất cả những suy nghĩ tiêu cực về lão hóa”. Thứ hai là: “Để giúp mọi người hiểu rằng có rất nhiều điều người già có thể làm trong việc thích nghi với trạng thái bình thường mới để có cuộc sống chất lượng hơn và có ý nghĩa”.
Khi được hỏi tại sao tựa sách lại có cụm từ “Honest Aging” (Tuổi già trung thực), bà giải thích: “Bởi vì có quá nhiều thứ dạy cách thích nghi với tuổi già là không đáng tin cậy. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta nên tự nhủ: Già đi chính là ‘mặc định’ của loài người và thừa nhận chúng ta thật may mắn khi có thêm được ngần ấy năm sống với tuổi già”.
Mức tăng tuổi thọ của con người là phi thường trong thời kỳ hiện đại. Với những tiến bộ trong y học và sức khỏe cộng đồng, số người từ 60 tuổi trở lên đông hơn rất nhiều so với đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, đa số chúng ta đều thiếu hiểu biết rõ ràng về những gì xảy ra với cơ thể mình trong một khoảng thời gian đôi khi rất dài sau tuổi trung niên.
Khi được hỏi, những câu hỏi nào người lớn tuổi thường hỏi nhất? Leipzig đưa ra một danh sách: Tôi có thể làm gì với cái bụng phệ này? Làm thế nào tôi có thể cải thiện giấc ngủ? Tôi gặp khó khăn khi nhớ tên và đây có phải là chứng mất trí nhớ? Tôi có thực sự cần nội soi hoặc chụp quang tuyến vú không? Tôi nên làm gì để lấy lại vóc dáng? Tôi có cần phải ngừng lái xe?”
Đằng sau những câu hỏi này là sự hiểu biết kém về những thay đổi ‘không thể tránh khỏi’ về thể chất và tinh thần mà tuổi già mang lại – bà nói và khẳng định – Các giai đoạn lão hóa không thể chia nhỏ theo từng thập niên. Những người ở độ tuổi 60 và 70 có sự khác biệt đáng kể về sức khỏe và chức năng.
“Thông thường, những thay đổi có thể dự đoán được liên quan đến quá trình lão hóa diễn ra nhiều hơn ở độ tuổi từ 75 đến 85”. Leipzig lên danh sách các vấn đề liên quan đến tuổi tác cần chú ý:
– Người lớn tuổi thường có các triệu chứng khác với người trẻ tuổi khi bị bệnh. Ví dụ, người lớn tuổi bị đau tim có thể khó thở hoặc lú lẫn thay vì đau ngực. Người lớn tuổi bị viêm phổi có thể bị ngã hoặc chán ăn thay vì sốt và ho.
– Người già thường phản ứng khác với người trẻ với thuốc và rượu. Do những thay đổi về thành phần cơ thể và chức năng gan, thận, ruột, người lớn tuổi nhạy cảm hơn với thuốc và thường dùng liều lượng thấp hơn, kể cả các loại thuốc sử dụng đã nhiều năm.
– Người già giảm dự trữ năng lượng. Khi tuổi càng cao, tim hoạt động càng kém hiệu quả; phổi chuyển ít oxy vào máu hơn và cần nhiều protein hơn để tổng hợp cơ. Khối lượng cơ và sức mạnh cũng giảm. Kết quả, người già có ít năng lượng hơn lúc còn trẻ, ngay cả lúc cần nhiều năng lượng hơn để làm các công việc hàng ngày.
– Đói và khát cũng giảm dần. Vị giác và khứu giác của con người giảm sút, khiến món ăn bớt sức hấp dẫn. Chán ăn phổ biến hơn ở người cao tuổi và người già dễ no hơn dù ăn ít hơn. Nguy cơ mất nước tăng lên.
– Nhận thức chậm lại. Người lớn tuổi xử lý thông tin chậm hơn và phải mất nhiều thời gian hơn để hiểu thông tin mới. Đa nhiệm cũng khó khăn hơn, phản ứng chậm hơn và khó tìm đúng từ (đặc biệt là danh từ) hơn. Những thay đổi về nhận thức do thuốc và bệnh tật xảy ra thường xuyên hơn nhưng đa số là bình thường và không phải dấu hiệu của bệnh mất trí nhớ.
– Hệ thống cơ xương kém linh hoạt. Do các gai ngắn lại, các đĩa đệm ngăn cách các đốt sống cứng hơn và bị nén nhiều hơn, người lớn tuổi thường giảm chiều cao từ 1 đến 3 inch. Khả năng giữ thăng bằng bị giảm do những thay đổi ở tai trong, não và hệ thống tiền đình (một hệ thống phức tạp điều chỉnh sự cân bằng và ý thức về cảm giác). Người già định hướng không gian đường phố kém dần. Các cơ ở chân, hông và mông suy yếu và phạm vi chuyển động của các khớp hẹp dần. Gân và dây chằng không còn khỏe nữa. Té ngã và gãy xương thường xuyên hơn do xương giòn hơn.
– Thị lực và thính giác thay đổi. Người già cần nhiều ánh sáng để đọc hơn người trẻ. Họ khó nhìn thấy đường viền của các vật thể hoặc khó phân biệt giữa các màu gần giống vì khả năng nhận thức về màu sắc và độ tương phản đã suy giảm.
Do những thay đổi ở giác mạc, thủy tinh thể và chất lỏng trong mắt, mắt sẽ mất nhiều thời gian hơn để thích nghi với ánh sáng mặt trời cũng như bóng tối. Do các tế bào lông ở tai trong bị tổn thương nên người già khó nghe hơn, đặc biệt là ở tần số cao. Cũng khó hiểu được câu nói nhanh, câu nói chứa nhiều thông tin hoặc nói trong môi trường ồn ào.
– Giấc ngủ rời rạc. Người lớn tuổi mất nhiều thời gian hơn để chìm vào giấc ngủ và thức giấc nhiều hơn vào ban đêm.
Để giảm nhẹ các ảnh hưởng trên, Leipzig đề nghị các điều chỉnh người già nên làm.
– Đừng bỏ qua những thay đổi đột ngột trong chức năng vận động mà cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế.
– Mỗi lần đến gặp bác sĩ, hãy hỏi thuốc đang dùng liều lượng đã phù hợp chưa và có thể ngừng loại thuốc nào.
– Hãy chịu khó vận động thể chất nhẹ.
– Hãy chắc chắn đã ăn đủ chất đạm, uống đủ nước ngay cả khi không thấy khát.
– Giảm bớt đa nhiệm và làm việc theo khả năng của mình.
– Thực hiện các bài tập thăng bằng.
– Hãy kiểm tra mắt hàng năm.
– Dùng trợ thính nếu thấy khó trò chuyện.
- Không tập thể dục, uống rượu và ăn nhiều trong hai đến ba giờ trước khi đi ngủ.
Cuối cùng, “Đừng bao giờ nói ‘không bao giờ’ vì luôn có cách cải thiện tình trạng thể chất và tinh thần khi chúng ta già đi. Vấn đề là bạn phải luôn sẵn sàng sống chung với tuổi già,” Leipzig kết luận.
Lương Thái Sỹ (bài do bạn Bá Trần giới thiệu)
Nỗi Đau Lớn Nhất Của Tuổi Già..
Bảy mươi tuổi tôi mới hiểu: nỗi đau lớn nhất không phải là nhà trống trải.
Tôi tên là María.
Năm nay tôi tròn bảy mươi. Con số tròn, nghe sang thật đấy, mà chẳng đem lại chút niềm vui nào. Cả cái bánh sinh nhật con dâu làm cũng nhạt thếch. Hay có lẽ tôi đã mất vị giác — với đồ ngọt lẫn với sự quan tâm.
Lâu lắm rồi tôi vẫn nghĩ: già nghĩa là cô đơn — một căn nhà im ắng, điện thoại chẳng reo, cuối tuần chẳng ai ghé. Tôi tưởng đấy mới là nỗi đau tệ nhất.
Bây giờ tôi biết: còn tàn nhẫn hơn cả khoảng trống, là một ngôi nhà đầy người nhưng mình bị vô hình.
Chồng tôi mất mười năm trước.
Bốn mươi năm bên nhau. Một người đàn ông mộc mạc, vững chãi. Ông sửa được cái cửa kẹt, nhóm được bếp lửa, và luôn tìm đúng một câu ngắn gọn để tôi thấy yên lòng. Ông đi rồi, chân tôi như đứng trên khoảng không.
Tôi ở lại với hai đứa con — Carlo và Laura. Tôi cho chúng tất cả. Không phải vì bổn phận, mà vì tôi chẳng biết yêu theo cách nào khác.
Chẳng có chuyến đi xa hay bằng cấp oách, nhưng tôi luôn có mặt: lúc con sốt, lúc làm bài, lúc gặp ác mộng. Tôi nghĩ tình thương rồi sẽ quay lại với mình.
Dần dần, những lần ghé thăm thưa hẳn.
— Mẹ ơi, con bận.
— Cuối tuần này cũng không được đâu mẹ.
Và tôi chờ.
Một ngày, Carlo bảo:
— Mẹ về ở với tụi con đi, cho mẹ có người bầu bạn.
Tôi xếp đồ. Cái mền tặng cô hàng xóm, cái ấm pha cà phê đem cho, cây đàn piano thì bán — rồi tôi về căn nhà rộng rãi, sáng sủa của con.
Ban đầu, dễ chịu lắm. Cháu trai ôm tôi, Laura rót cà phê cho tôi. Rồi mọi thứ đổi khác.
— Mẹ ơi, vặn nhỏ tivi lại.
— Mẹ ở trong phòng nhé, nhà có khách.
— Mẹ chưa bỏ đồ giặt chung với tụi con sao?
Và những câu nói cứ dính chặt lên tường:
— Tụi con mừng vì mẹ ở đây, nhưng đừng làm nhiều quá.
— Mẹ ơi, đây không còn là nhà của mẹ nữa.
Tôi cố giúp: nấu ăn, giặt giũ, trông cháu. Nhưng như thể tôi không tồn tại. Hoặc tệ hơn: tôi là gánh nặng.
Một đêm, tôi nghe Laura nói chuyện điện thoại:
— Mẹ chồng như bức tượng ở góc nhà. Có cũng như không. Thế lại… dễ cho mình hơn.
Đêm đó tôi không ngủ. Nhìn trần nhà và hiểu: người thân ở ngay bên, mà mình cô độc nhất đời.
Một tháng sau, tôi đi. Tôi nói có bạn rủ về quê ở chung.
— Mẹ đi vậy cũng tốt, Carlo đáp, nghe như thở phào.
Giờ tôi ở một căn phòng nhỏ ngoài rìa Granada. Tôi tự pha cà phê, đọc sách, viết những lá thư chẳng bao giờ gửi. Không ai chen ngang, không ai phán xét. Bảy mươi tuổi, tôi không mong gì nhiều. Chỉ muốn còn cảm thấy mình là một con người — không phải gánh nặng, không phải cái bóng.
Tôi đã hiểu:
Cô đơn thật sự không phải là sự im lặng của căn nhà.
Đó là khi những người mình yêu ở ngay gần, mà chẳng ai nhìn thẳng vào mắt mình.
Khi người ta chịu đựng mình thay vì lắng nghe.
Khi mình vẫn ở đó, nhưng đã bị coi như vô hình.
Tuổi già không nằm trên nếp nhăn.
Tuổi già là tình yêu bạn đã từng cho đi…
và còn ai cần đến nữa.
Văn Chương/quinhon 11
Gởi ai đã và sắp đến tuổi già.
Bài viết của một tác giả không nhớ rõ tên, có một nội dung quá thâm thuý, dành cho những ai trong tuổi Cao Niên nếu muốn có một đời sống hạnh phúc trong những ngày còn lại trên trần gian này, trước khi thân xác trở về cát bụi thì nên suy luận những điều được nêu ra trong bài viết này.
Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !
Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày…rồi không biết được bao nhiêu ngày nửa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xãy ra trong đời sống.
Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm “ Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…
Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.
Ta vẫn biết khi ta ra đời,ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo.
Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình.
Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.
Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .
Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.
Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt.
Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người.Rảnh rổi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già
Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẽ.
Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rổi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…
Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gở bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nửa.
Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghỉ là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nửa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.
Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.
Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghỉ đến đồng tiền, đừng nghỉ đến giàu hay nghèo nửa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền.
Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẩu của chúng ta.
Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.
Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.
Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già.

Quisque iaculis facilisis lacinia. Mauris euismod pellentesque tellus sit amet mollis.