• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

Năm Mới Cần Biết (Trần-Dzũng Nguyen)

January 11, 2026 Ninh Tran

           Năm Mới bắt đầu mong Bạn nhớ 1 điều rất đơn giản  

         * Không cần trở thành Người rực rỡ nhất, chỉ cần trở thành Người Bình An hơn hôm qua. 

Đời Người dài ngắn không đo bằng năm tháng mà đo bằng việc mỗi ngày trôi qua, lòng mình có nhẹ hơn hay không.

Mong Bạn bước vào Năm Mới với 1 Trái Tim không còn quá nặng nề. Những chuyện đã qua, nếu không sửa được thì hãy học cách Buông. Những Người đã rời đi, nếu không giữ được thì hãy chúc Họ an yên. Có những thứ rời khỏi cuộc đời Ta không phải vì Ta chưa đủ tốt mà vì Nó chỉ có thể đi cùng ta đến 1 đoạn đường nhất định.

+ Năm Mới mong Bạn biết thương mình hơn 1 chút. Đừng vì làm vừa lòng tất cả mà quên mất bản thân cũng cần được vỗ về. Không phải lúc nào im lặng cũng là mạnh mẽ và không phải lúc nào cố gắng cũng được ghi nhận. 

              * Mong Bạn học được cách nói lời dịu dàng với Người khác và với chính mình. 

Lời nói có thể không thay đổi được cả cuộc đời, nhưng có thể làm ấm 1 trái tim đang mệt mỏi. 

Đừng tiếc 1 lời động viên, đừng keo kiệt 1 câu cảm ơn và cũng đừng ngần ngại nói lời xin lỗi khi cần. 

Nhân Gian này đủ Lạnh rồi hãy để mình là 1 điểm Ấm.

+ Năm Mới mong Bạn đủ tỉnh táo để nhận ra điều gì thật sự quan trọng. 

 * Không phải thắng thua, không phải hơn kém mà là sau tất cả, Bạn còn giữ được bao nhiêu Thiện Lương trong lòng. 

Người sống hiền lành có thể đi chậm hơn, nhưng đường đi thường vững hơn. 

Người sống tử tế có thể chịu thiệt, nhưng Phúc Phần hiếm khi đến muộn.

Mong Bạn biết hài lòng với những điều đang có, nhưng không ngừng cố gắng cho những điều tốt đẹp hơn. 

Biết đủ để an yên, biết mơ để không bỏ lỡ chính mình. 

Cuộc sống không cần quá hoàn hảo, chỉ cần mỗi ngày trôi qua, Bạn không phải hổ thẹn với lương tâm, không phải ân hận vì đã sống quá tệ với Ai đó.

+ Năm Mới đến mong bạn giữ được 1 Lòng Tin. 

      Tin rằng sau những ngày mưa sẽ có nắng. 

      Tin rằng sự tử tế không bao giờ vô nghĩa. 

      Tin rằng chỉ cần mình sống ngay thẳng, Trời Đất sẽ không phụ. Có thể không cho ngay, nhưng nhất định sẽ cho đủ.

Nếu có 1 điều để gửi gắm cho Năm Mới thì đó là mong Bạn sống chậm lại để cảm nhận, sống sâu hơn để thấu hiểu và sống hiền hơn để lòng được yên. 

Khi lòng yên rồi, mọi chuyện đến hay đi, cũng đều có thể mỉm cười đón nhận.

Chúc Bạn 1 Năm Mới không quá ồn ào, nhưng đủ ấm. Không quá rực rỡ, nhưng đủ sâu. 

     * Mỗi Ngày thức dậy đều có thể tự nhủ với mình rằng hôm nay, Mình vẫn đang sống 1 Đời Đáng Sống.

 Trần-Dzũng Nguyen

In Giáo Dục, Góp Nhặt Đó Đây, Văn Hóa Tags Năm Mới Cần Biết
Comment

Túp lều nhỏ của Nam Tuyền

January 11, 2026 Ninh Tran

Túp lều nhỏ của Nam Tuyền (Thiền sư Gyomay M. Kubose)

Trong đời sống, có thể nói, hầu hết con người đều không thoát khỏi sự vướng mắc, về cả hai phương diện: vật chất và tinh thần. Nguyên nhân của vướng mắc là lòng tham, một trong ba điều độc hại mà con người tiêm nhiễm trong đời sống xã hội. Thiền khuyên con người nên tu thân, luyện trí để vượt qua vướng mắc, mà nhà Phật gọi là buông bỏ hay buông xả.

Đặc San Lâm Viên mời quý vị đọc “Túp lều nhỏ của Nam Tuyền”, một công án thiền cho chúng ta thấy các vị thiền sư thường học hỏi và thách thức nhau về sự hiểu biết về thiền, và nhiều chuyện đã được ghi chép lại, gọi là công án, để đời sau chiêm nghiệm. Sự hiểu biết hay diễn giảng ra sao thì tuỳ tâm ý của cá nhân, không có đúng hay sai, vì “tất cả đều nhất.” 

Bùi Phạm Thành

 Một ngày nọ, khi Nam Tuyền (Nam Tuyền Phổ Nguyên, 南泉普願, 748-835) sống trong một túp lều nhỏ trên núi, một nhà sư lạ mặt đã đến thăm ông khi ông đang sửa soạn đi làm việc ngoài đồng. Nam Tuyền chào đón nhà sư, nói: "Xin ông hãy tự nhiên như ở nhà. Nấu bất cứ thứ gì ông thích cho bữa trưa, và sau đó mang một số thức ăn thừa cho tôi ở ngoài đồng."

 Nam Tuyền làm việc chăm chỉ cho đến tối và về nhà rất đói.

Nhà sư lạ đã nấu và ăn một bữa, sau đó vứt bỏ tất cả thực phẩm dự trữ và đập vỡ tất cả nồi niêu!

 Nam Tuyền thấy ông ta đang ngủ yên bình trong túp lều trống rỗng. Khi Nam Tuyền duỗi cơ thể mệt mỏi của mình xuống bên cạnh nhà sư lạ mặt, nhà sư đứng dậy và bỏ đi.

Nhiều năm sau, Nam Tuyền kể lại câu chuyện này cho các học trò của ông và đưa ra nhận xét: "Ông ấy thật là một nhà sư tốt. Đến nay tôi vẫn còn nhớ ông ta." 

 Một thiền sư sống một cuộc đời rất đơn giản, yên tĩnh và tự tại. Khi Nam Tuyền sống trong túp lều trên núi, một nhà sư lạ đến thách thức cuộc sống thiền định của ông ta.

 Ngay cả tự do cũng không tự do nếu người ta gắn bó với nó. Thật dễ dàng để giải phóng bản thân khỏi sự nhỏ nhen của con người. Nhưng nếu không biết điều đó, chúng ta có thể trở nên gắn bó với Pháp, Niết bàn, nghèo khó và các hình thức "thiện" khác.

 Vị sư đến thăm nấu ăn, ngủ nghỉ như trong túp lều của ông. Không có hình thức, không có giả vờ. Cả thế giới thuộc về ông ta. Và ông ta cũng đập vỡ tất cả các vật dụng - dụng cụ của thiền định, Niết bàn, sự nghèo khó.

 Nam Tuyền thực sự hiểu thế giới của vô chấp, và ông ta không bao giờ quên sự viếng thăm kỳ lạ của nhà sư đó.

Nguyên tác: Quyển 3 - Không Vướng Mắc

Soạn giả: Thiền sư Gyomay M. Kubose   

In Giáo Dục, Góp Nhặt Đó Đây, Văn Hóa Tags Túp lều nhỏ của Nam Tuyền, Thiền sư Gyomay M. Kubose
Comment

PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG XUNG ĐỘT BIÊN GIỚI THÁI LAN - CAM BỐT TRÊN TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG KÊNH ĐÀO FUNAN TECHO (Ngô Thế Vinh)

January 1, 2026 Ninh Tran
In Giáo Dục, Thời Sự, Văn Hóa Tags PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG XUNG ĐỘT BIÊN GIỚI THÁI LAN - CAM BỐT TRÊN TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG KÊNH ĐÀO FUNAN TECHO, Ngô Thế Vinh
Comment

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường (Trịnh Bình An)

January 1, 2026 Ninh Tran

Nguyễn Mạnh Tường là một người có những khả năng kỳ lạ, một trong những khả năng ấy là ông có thể tự tách mình ra khỏi chính mình để quay lại nhìn mình. Trong ông là 2 con người: một người bình thường biết sợ, biết đau, biết đói, nhưng người kia lại rất bình thản, ung dung để có thể ngắm nghía và ghi nhận mọi sự kiện, ngay cả nỗi đau đớn của chính mình……

Nguyễn Mạnh Tường là một người nổi tiếng trong giới luật sư nói riêng, giới trí thức Việt Nam nói chung; nhưng vẫn có rất nhiều người không biết đến ông, trong đó có tôi. Và tôi đang có trong tay quyển sách “Kẻ bị khai trừ”(i) của Nguyễn Mạnh Tường do Tủ Sách Tiếng Quê Hương mới xuất bản, vậy mà tôi thấy mình rất ngần ngừ, rất ì ạch, không muốn giở ra đọc. Tôi không muốn mình phải đau lòng và bực tức thêm vì thấy một người học vị đầy mình lại đi theo cộng sản để rồi bị chính cộng sản đầy đọa.

Read more
In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường, Trịnh Bình An
Comment

Trại ‘Cải Tạo Ái Tử’ và Mùa Xuân Người Tù (Phạm Văn Tiền)

December 15, 2025 Ninh Tran

Chúng ta đang bước vào những ngày tháng cuối cùng của một năm cũ. Mọi người đang chuẩn bị đón Xuân sang, thêm một mùa Xuân tha hương mà đường về còn xa tít. Ðón Xuân nầy ta lại nhớ Xuân xưa. Mùa Xuân thường là mùa hy vọng, của tuổi trẻ vươn lên và mầm sống đâm chồi. Nhưng không phải chúa Xuân bao giờ cũng bình đẳng với mọi người.

Có mùa Xuân sum họp đầy tiếng cười hạnh phúc bên bếp lửa bập bùng của tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhưng cũng có mùa Xuân khóc hận khổ đau nghẹn ngào bao nước mắt của Mậu Thân 1968, với những cái chết đầy rẫy tình cờ của Ất Mão 1975 mất nước, lưu lạc tù đày. Bao ngày tháng cùng cực khổ đau cho người ở lại quê hương “thiên đường” CS. Riêng Tần vẫn nhớ mãi những ngày tháng bị cùm trong xà lim phân trại 3, vào những ngày Tết Xuân Ðinh Tỵ năm 1977.

Thượng đế hỡi trên trời cao có thấu!

Thân đọa đày của một kiếp tù binh

Chịu khổ đau cùng bao nỗi cực hình

Trong “cũi sắt” của những loài dã thú

Mang con đến một nơi nào ẩn trú

Có mây hồng và nắng ấm rọi ban mai

Có đàn chim tung cánh hót bay dài

Nhưng không được quanh con đường bít lối

Con đang sống trong căn hầm tăm tối

Bao đêm nằm trăn trối nghĩ không ra

Suốt đời con bỗng chốc đã tiêu ma

Giờ còn lại thân tàn trong ngục lạnh

Các câu thơ nầy đã được cảm tác trong những giờ phút đau khổ tuyệt vọng nhất. Tần và một số bạn tù khác đã bị bắt còng tay dẫn đi vào một đêm mưa gió lạnh, cùng với nhiều trận đòn đau. Lòng hoang mang chẳng biết số phận mình sẽ ra sao khi bị lùa lên những chuyến xe đêm bão táp.

Một buổi chiều cuối năm, mọi người đang cố gắng vun thêm những luống khoai lang còn lại cuối cùng để chuẩn bị ăn Tết. Không như thường lệ, các hồi kẻng báo động liên hồi giục giã được người tù gióng lên toàn phân trại. Bao giờ cũng vậy, theo thói quen đây là điềm chẳng lành cho cuộc đời tù tội. Vài tên vệ binh dẫn tù vội vã la hét gom dụng cụ nhanh gọn tập họp trở về. Trại là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ, do công sức người tù làm ra, trải dài trên ngọn đồi nhỏ, bao bọc bởi dòng suối quanh co, nằm gọn giữa nhiều tầng thép gai dầy đặc.

Tần cẩn thận kín đáo xem lại chiếc nhẫn vàng 24 kara, 2 chỉ mà chính vợ Tần đã cẩn thận nhét sâu vào thẩu ruốc trong chuyến thăm gặp kỳ rồi, nói là để hộ thân vì có tin tất cả tù nhân sẽ bị áp tải ra miền Bắc, được ngụy trang nằm gọn trên đỉnh chiếc mũ cối rách nát.

Lệnh tập họp bày hàng khám xét khẩn cấp được công bố toàn phân trại, chỉ có 10 phút chuẩn bị bên các họng súng AK đen ngòm. Ai cũng hồi hộp lo âu làm bổn phận của mình, thôi thì đủ thứ lọ chai, bao cát, bao bố, khoai khô, sắn độn được bày ra đầy sân, những thứ thật tầm thường nhưng không thể thiếu cho sinh hoạt tù mỗi ngày. Các tên quản giáo, vệ binh chia nhau lục soát thật tỉ mỉ từ trong nhà cho đến mỗi một cá nhân, không từ chỗ nào kể cả lai quần, bâu áo. Có lệnh vất bỏ tất cả những thứ không cần thiết, thu giữ lương thực có tính dự trữ lâu dài, chuẩn bị hành trang sẵn sàng di chuyển. Ngay từ giờ phút nầy đến khi có lệnh mới, không ai được quyền ra khỏi lán của mình, ngay cả tiếp xúc với người cùng trại.

Sở dĩ có chuyển biến đột xuất nầy là vì sau khi Thiếu Tá Nguyễn Ngọc An, trưởng Phòng An Ninh Sư Ðoàn 1 BB, đã tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi những trận đòn đau sau nhiều ngày bị thẩm cung liên tục và đồng thời để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Thiếu Tá Bửu Kế đã tự sát trong conex biệt giam vì không chấp nhận sự đày đọa nhục mạ người chiến sĩ Quốc Gia, cùng toán vượt trại đầu tiên của Châu Ðức Thảo, Trần Văn Loan, Mai Ðức Hòa, Lê Văn Cang, Hồ Văn Liệu đã lên đường đêm hôm trước sau nhiều tháng chuẩn bị. Trưởng Toán là Châu Ðức Thảo, người niên trưởng tốt bụng, tốt nghiệp khóa 19 VBQG Ðà Lạt. Thảo ít nói, sống hòa nhã và hay giúp đỡ mọi người. Vợ Thảo lên thăm rất thường nhờ khéo léo quà cáp cho các tên vệ binh trực trại. Chị phát đạt nhờ một nghề mới, nghề buôn lậu thuốc tây. Thức ăn anh bao giờ cũng nhiều và thường hay giúp đỡ kẻ khác. Anh sống rất cương trực hào phóng, mọi vật chất đều tầm thường đối với anh chẳng có gì quan trọng. Chính chị Thảo là người cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men cho chuyến vượt trại nầy.

Hành trình của các anh là vượt dãy Trường Sơn bằng địa bàn và bản đồ, xuyên qua lãnh thổ Lào đến Thái Lan. Ðiều nầy chính Loan K-23 Võ Bị Ðà Lạt, người cùng đơn vị đã nhiều lần gợi ý với Tần. Nghĩ mình sức khỏe kém, không kham nổi đoạn đường dài, thôi thì đành chịu vậy. Cơn suyễn hay lên bất chợt buổi chiều, thêm vào chứng sưng khớp xương hành hạ. Nơi dự trữ lương thực là các hố bí mật dưới chân căn cứ Phượng Hoàng, chỗ mà đơn vị TQLC của Tần, lần đầu tiên dùng hỏa tiễn tầm ngắn M72 hạ nhiều chiến xa địch.

Ðêm vượt trại loay quay sao đó mà Liệu bị lạc toán phải trở về, chỉ còn lại 4 người lên đường giữa cơn mưa bão trong sự mến phục bùi ngùi của bao người còn lại. Tối hôm đó tên quản giáo xuống lán điểm danh sớm hơn thường lệ, kèm theo một danh sách chia phiên nhau gác đêm, ai cũng có tên, ngọai trừ Thức và Tần. Thức cũng như Thảo sống rất ngang tàng, là người miền Bắc di cư 1975 nên anh rất căm thù CS. Anh là Trung Tá Tham Mưu Phó Không Ðoàn 4 đóng tại Cần Thơ, vào những ngày cuối cùng của tháng tư 1975, sẵn phương tiện trong tay nhưng ra đi chẳng đành, tìm về Sài Gòn với gia đình, nhưng vợ và các con anh đã theo người chú họ di tản vào mấy hôm trước.

Thế là tốt, anh cùng người em trai giả dạng bộ đội CS, đi xe đến Ðông Hà, Quảng Trị, men theo quốc lộ 9 đến tận miền Savanakhet Hạ Lào. Việc bại lộ cả hai người đều bị bắt tại đồn biên giới Khe Sanh. Còn Tần, là đơn vị trưởng của một đơn vị tác chiến bị thượng cấp bỏ rơi lại tại miền giới tuyến khi đại bộ phận xuôi Nam, vất vả ngược xuôi tại bãi biển Thuận An vào những ngày cuối cùng của tháng ba sầu thảm, đau lòng phải vứt bỏ súng xuống biển sâu, khi những chiếc T54 của địch bắt đầu tràn vào tuyến. Tần bắt đầu cuộc đời tù đày khi toàn thể miền Nam chưa thất thủ.

Tần thuộc dạng lao động cầm chừng qua loa lấy lệ, hay phát biểu linh tinh, đơn vị TQLC của Tần đã có nhiều nợ máu với “nhân dân” nên bị liệt kê vào danh sách cần quan tâm theo dõi đặc biệt. Có lần đi củi tận rừng sâu, vì đói quá sẵn tiền thu giấu, Tần có lén mua vài lon gạo của dân tại vùng kinh tế mới. Khi ra điểm tập trung, bị tên vệ binh phát giác liền bị kiểm điểm và kết tội “liên hệ” với dân với ý đồ trốn trại, biệt giam Conex nửa tháng trời.

Ðêm ấy là đêm 29 Tết Ðinh Tỵ, trong cơn mưa dai dẳng đáng sợ của miền Trung “khô cằn sỏi đá, của trời hành cơn lụt mỗi năm” ở một quê hương nghèo khó, “mùa Ðông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn” nầy. Cái lạnh tê tái làm buốt lòng người, bão rồi lại bão, hết cơn số 10, rồi 11. Gió thì giật cấp 8, cấp 9. Chiều hôm trước Tần và Liễn cùng nhau lén lút nấu lon gạo còn lại tại nhà bếp, ăn với nhau mặc dầu có lệnh cấm “liên hệ.” Tần đã bị các ăng ten báo cáo, và chắc là họ cho đây là ăn bữa cơm chia tay người bạn cùng khóa, cùng binh chủng với mình.

Không thấy tên mình trong danh sách trực đêm, Tần đoán biết rồi thế nào cũng có điều chẳng lành đến với mình. Trong giấc ngủ chập chờn lo âu chờ đợi, Tần nghe có tiếng xe rì rầm đang đổ dốc hướng về trại. Linh tính cho biết rồi ra sẽ có điềm chẳng lành sẽ xảy đến. Tần vội bật dậy, bấy giờ là khoảng nửa đêm, người bạn tù vừa bàn giao phiên trực. Có nhiều tiếng người và ánh đèn pin soi vào lán, ra lệnh cho Thức và Tần thu gọn hành trang di chuyển. Bố Chi người đội trưởng già tốt bụng, len lén nhét vào túi Tần hai bánh đường và những giọt nước mắt chia ly!

Sống là phải thẳng lưng và chấp nhận, đợi chờ mọi gian nan thử thách kể cả hiểm nguy đang chực sẵn trước mặt, cố gắng mà ngoi lên từ vũng bùn đen, hãy vùng thoát ra cái bóng đêm quái ác đáng nguyền rủa, cho một tương lai tươi sáng hơn. Sân tập họp là bãi đất trống trước nhà kho, nơi lãnh dụng cụ lao động hàng ngày, đã có nhiều tiếng la than khóc của trò “bề hội đồng” đê tiện bỉ ổi. Thêm hàng chục người nữa cũng bị còng tay dẫn đi trong cơn rên rỉ đau nhức. Tần cũng vậy, đây không phải là lần đầu tiên chàng bị hành hạ đánh đập, mà đã có nhiều lần lắm rồi, khổ sở mãi rồi cũng quen, chẳng gì lạ đối với con người sống trong thiên đường Cộng Sản. Chiếc xe Molotova cũ kỷ ráng sức ì ạch, rú lên con dốc ngược, nặng nề uể oải như cuộc đời sầu thảm của hàng chục người tù bị còng tay, mặt mày bị đánh sưng húp đầy máu me, mang đi trong màn đêm u tối.

Bỗng nhiên Tần cảm thấy nhớ nhà, nhớ ba mẹ Tần hiện già yếu đang mòn mỏi trông chờ, nhớ vợ và các con thân yêu trong cơn tuyệt vọng, như những lần đơn vị tan hàng tại Hạ Lào, hay bị bao vây tại mặt trận Cửa Việt. Cảm giác hối tiếc mất mát đã làm Tần lạnh cả người. Lần cuối cùng vợ ra thăm sau thời gian dài chắt chiu dành dụm, một lần bị đuổi trở về khi chúng biệt giam Tần tại nhà “kỷ luật,” và một lần khác đến Quy Nhơn thì bị cướp giật sạch đồ đạc, nhờ một hành khách tốt bụng cho tiền trở về. Từ những biến cố đau thương dồn dập, trong thư mới nhận được vợ Tần bị bệnh lao phổi nặng, cần được chữa trị lâu dài.

Nước mắt Tần đã chảy tự bao giờ, lăn trên đôi gò má gầy làm đôi môi mằn mặn, Tần đã khóc thật sự cho những hối tiếc muộn màng. Phải chi biết sống một chút, biết nhân nhượng cố gắng mà nín thở qua sông, hầu sớm tìm được tờ giấy phóng thích hay ít ra cũng có được những ưu đãi nào đó như các “tên trật tự thi đua.” Phải biết giả khóc như tên Th.. đội trưởng đội mộc, khi ôm ảnh thương tiếc Bác Hồ, hay các tên Trần văn S.. sẵn sàng chỉ điểm anh em, khi tổ chức ăn mừng tròn một năm miền “Nam được giải phóng.” Ôi! Những trò đời bỉ ổi, rẻ tiền của những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc.

Rồi chuyến xe bảo táp đêm nay sẽ đưa chàng về đâu? Có thể thật xa tít nơi miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, tiếp tục cuộc sống đọa đày, hay kết thúc ở một hang hóc nào đó bằng các loạt đạn của những tên đồ tể, sát nhân. Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng còn gì để mà hy vọng. Vài người được lệnh xuống xe, riêng Tần, Thức, Tr.. còn lê lết cho đến trạm cuối cùng. Có tiếng nước chảy rì rào và cơn gió dữ gào thét điên cuồng. Tần bị đạp xuống xe tay bị còng nằm lăn như con vật. Nơi giam chàng là căn hầm kín được đào sâu dưới lòng đất, toàn mùi hôi thối ẩm mốc. Thức và Tr.. bị nhốt ở một nơi khác, gần đó. Có tiếng chửi thề thô tục của tên vệ binh, cùng âm thanh rỗn rẽng của chiếc xích ổ khóa oan nghiệt, trước khi trả lại màn đêm sự cô độc, im lặng hoàn toàn.

Làm sao có thể thản nhiên được trong niềm lo lắng tột cùng nầy, chiếc đũa đã bị tách ra thế nào rồi cũng bị bẻ gãy, bằng cách nầy hay cách khác. Minh và Sang chẳng đã bị xử bắn tận núi rừng Cự Tài khi có lệnh dẫn đi vào buổi sáng đang lao động tại đập Trấm Quảng Trị như vậy đấy sao! Ðối với Tần, cái chết chẳng bao giờ đến dễ dàng, bao năm xuôi ngược hành quân, chàng vẫn còn nguyên vẹn. Làm người ai cũng một lần chết, vậy thì cái chết chỉ có ý nghĩa khi ta hãy làm kẻ thù chết với mình càng nhiều càng tốt. Tần ước mơ về những chuyến vượt ngục của người tù Papillion thuở nào.

Gà đã gáy sáng và các hồi kẻng báo thức liên hồi vang lên sau một đêm dài trăn trở, lo âu. Mặt trời đã ló dạng bao giờ ở phương Ðông, cố gắng mang đến một vài tia sáng yếu ớt xuyên qua kẽ hở của căn hầm tăm tối. Có tiếng mở cửa lách cách và tên vệ binh dẫn người tù mang thức ăn đến, Tần mới biết đây là phần ăn trưa của ngày đầu năm Tết. Nỗi lo sợ đã tan biến khi xác nhận được mình đang ở phân trại 3 và người mang thức ăn cho mình là Trung Úy Ðiểu thuộc đơn vị của Tần. Ðiểu đã ứa lệ khi thấy “ông thầy mình” quá thê thảm trong tình cảnh quá đau lòng nầy.

Thường thì con người hay thương tiếc, thèm khát những gì quý báu nhất mà mình đã đánh mất đi khi chạm trán với thực tế phũ phàng. Tần cũng vậy, cố gắng mà nhớ lại những giờ phút thiêng liêng tuyệt vời với những ngày Xuân nơi đơn vị thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Những ngày Xuân đoàn tụ quay quần cùng với gia đình, có pháo nổ đầy hoa và bao lời chúc tụng ngọt ngào. Ðêm hôm qua súng đã nổ giòn giã khắp nơi của bọn vô lại, mừng chiến thắng trong giờ phút giao thừa, họ đang ca khúc khải hoàn cho một sự ăn cướp trắng trợn. Chiến tranh là thế, cái vẻ vang của phe nầy là sự đại bại của nhóm khác, điều chẳng may lần nầy lại xảy đến với tổ quốc thân yêu của chàng.

Sau cơn mưa trời lại sáng, một ngày mới bình minh lại ló dạng, xua tan những đám mây mờ và những cơn bão quái ác. Giờ chỉ còn lại những nhầy nhụa tang thương, đau khổ tận cùng cho biết bao người dân vô tội. Qua cơn gió thoảng chiều nay, Tần được tin có người chết cùng nhiều nhà cửa bị cuốn sạch vì cơn Sóng Thần dữ dội tràn qua từ một chiếc loa phóng thanh đâu đó trong trại. Lại thêm một đại họa nữa đến cho dân tộc nầy sau cái xiềng xích Cộng Sản. Chàng cảm thấy an tâm hơn vì ít ra mình cũng còn cái hầm để trồi lên, trụt xuống, che nắng đụt mưa, một bữa cơm đói cho sự thèm khát mỗi ngày.

Lệnh cho Tần lên cơ quan làm việc những ngày sau Tết, đây là lần đầu tiên họ điều tra thẩm cung chàng từ cái đêm khủng khiếp đó. Dùng đủ mọi hình thức tra tấn để buộc chàng vào tôi âm mưu tổ chức vượt trại, Tần quả quyết với họ rằng chàng chẳng bao giờ có ý nghĩ đó. Biết chẳng có bằng cớ gì để buộc tội chàng, họ quay sang buộc tội Tần cứng đầu không chịu “học tập cải tạo.” Bằng những lời lẽ thật dịu ngọt, họ khuyên chàng hãy an tâm cải tạo để hưởng được chính sách “khoan hồng của Ðảng và Nhà nước.” Thì ra kẻ giết người cũng biết mặc áo thầy tu khi cần thiết, họ nhân danh nhân đạo để làm chuyện vô nhân đạo, đạo đức của họ là “đạo đức cách mạng bác Hồ,” của nền chuyên chính vô sản, của đấu tố dã man và các hầm chôn sống tập thể! Người Cộng Sản hô hào “không gì quý hơn độc lập tự do” để tròng lên cổ người dân thêm cái còng nô lệ, đem địa ngục trần gian để hứa hẹn một thiên đường!

Bộ Chỉ Huy Ðoàn 76 nằm trên dãy đồi cao có cờ đỏ sao vàng và đầy những băng rôn khẩu hiệu. Thức và Tr.. cũng có mặt tại đây từ lúc nào trong phòng chờ đợi, chỉ có Thức và Tần bị còng tay, còn Tr.. trông có vẻ thản nhiên thoãi mái. Thức bơ phờ mệt mỏi, mặt bị đánh sưng húp bầm tím, còn Tr.. vẫn khỏe mạnh bình thường. Mỗi người được cấp phát giấy viết để làm bản tự kiểm điểm sau khi đón nhận biết bao lời lẽ ngọt mật chết ruồi của tên chính trị viên đoàn.

Thời gian kế tiếp là thời gian thê thảm nhất của Thức và Tần. Bị dẫn độ đi hỏi cung nhiều nơi kể cả đánh đập, xỉ vả. Chiêu bài “thành thật khai báo” để sớm được hưởng lượng khoan hồng không bịp được ai, vì đối với kẻ thù “tự thú là tự sát.” Có tin Thức đã mắc bẫy Tr.. khi cùng anh ta đào hầm trốn về Huế và bị bắt tại nhà Tr.. Thức đã bắt đầu một cuộc đời mới, vất vả khốn đốn hơn trong nhiều xà lim với hình phạt biệt giam vĩnh viễn. Còn Tr.. thản nhiên thênh thang với tờ giấy phép 7 ngày rong chơi khắp thành phố Huế, trước khi nhận được giấy ra trại sau khi trại đã chuyển về cho công an Bình Ðiền. Tr.. đã thành công một cách xuất sắc nhiệm vụ của một tên ăng ten cò mồi. Còn Tần vẫn sống khổ sai đọa đày từ trại nầy sang trại khác với chiếc bánh vẽ “tập trung cải tạo.”

Tên trung tá chính ủy đoàn 76 tuyên bố “Các anh giải phóng lòng Hồ sông Mực thì lòng Hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh.” Cả vùng đất trũng bao la hàng chục hecta rừng được khai phá cho công trình dẫn thủy nhập điền tại huyện Ðô Lương, Thanh Hóa. Rất nhiều người tù đã ngã bệnh vì sốt rét rừng, hay bị chết vì đói. Nhưng lời nói đó đã bị phản bội sau ba tháng hoàn thành xong công tác, để rồi tất cả cùng bị lùa lên toa xe bịt bùng hạng bét của chuyến tàu hỏa xuôi Nam về một vùng đất mới xa lạ khủng khiếp hơn. Ở đó có sự canh giữ, kềm kẹp hàng ngày của bọn công an mật vụ. Trại tù “cải tạo Bình Ðiền” với biến cố ngày 20 Tháng Tư 1979 lịch sử, chúng thẳng tay đánh đập người tù mà không cần biết phải trái luật lệ là gì. Những cái chết thật bất khuất của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Thuận Cát, Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Sơn,… đã minh chứng một cách hùng hồn ý chí bất khuất của lớp người sĩ quan trẻ dưới áp lực bạo quyền.

Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm dễ làm phôi phai mọi chuyện. Những đau đớn về thể xác rồi sẽ qua đi dễ dàng, nhưng còn nhiều thứ khác mãi mãi vẫn hằn sâu vào tâm trí không thể nào quên được. Ðó là sự thù hận, lòng ích kỷ, đê tiện gian ác của con người.

Người Cộng Sản vinh danh chiến thắng mùa Xuân 1975 bằng sức mạnh và chủ thuyết ngoại lai, họ chẳng làm gì được sau hơn 32 năm cầm quyền. Có chăng là một đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo đói, lạc hậu, bưng bít thông tin với thế giới bên ngoài. Chúng thẳng tay chà đạp quyền sống con người, các nhà đấu tranh vẫn còn trong vòng lao lý. Bán đất dâng biển triều cống ngoại bang, mua bán phẩm giá người phụ nữ, kể cả trẻ em. Các phong trào khiếu kiện của dân oan đang nổi dậy đòi công lý khắp nơi. Liệu họ, những người Cộng Sản Việt Nam, yêu chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, có thể tồn tại được bao lâu, khi mà lòng dân đã đến lúc căm phẫn tột độ và sự tan rã của chủ thuyết Cộng Sản toàn cầu.

Hãy hướng về Việt Nam, tổ quốc thân yêu nhất của chúng ta với lời tâm nguyện đẹp nhất, hy vọng một mùa Xuân đoàn tụ sẽ không còn xa nữa.

Mùa Xuân nào là ta về

Về quê hương yêu dấu sống bên mẹ cha

Về sống cạnh giòng sông hiền

Về nghe giọng hò ba miền

Về thăm đôi má, lúm sâu đồng tiền

Sài Gòn ơi!… Bao giờ là ta về?!

Phạm Văn Tiền

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Trại ‘Cải Tạo Ái Tử’ và Mùa Xuân Người Tù, Phạm Văn Tiền
Comment

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI (Kieuanh Tran)

December 14, 2025 Ninh Tran

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI ( Kieuanh Tran)

Các bạn thân mến, 

Watson Bay cách thành phố Sydney độ 11 km.Canh rất đẹp,, có một đoạn gọi The Gap, rất hữu tình với các cặp tình nhân, nhưng cũng là nơi mà nhiều người , khi họ tuyệt vọng, thương đến đo để kết liễu cuộc đời.

Mới các bạn thường thức bài nay.

 

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI

 

Câu chuyện của Don Ritchie – người đứng giữa sự sống và vực sâu

Ở rìa Watsons Bay – nơi gió biển thổi đến mức tưởng như muốn xé toạc bầu trời, nơi những con sóng từ Thái Bình Dương ngày đêm đập vào vách đá The Gap – có một người đàn ông già đứng đó, lặng lẽ như thể ông sinh ra để canh giữ rìa thế giới.

Tên ông là Don Ritchie.

Ngôi nhà của ông nằm ngay bên con đường dẫn đến The Gap – nơi suốt nhiều thập kỷ là điểm đến cuối cùng của quá nhiều tâm hồn tuyệt vọng.

Từ cửa sổ phòng khách, Don có thể nhìn thấy từng bóng người chậm rãi bước đến sát mép đá. Và mỗi lần như vậy, một nghi thức thầm lặng lại bắt đầu

Ông mở cửa.

Ông bước ra.

Không tiếng chân dồn dập.

Không lời la hét.

Chỉ có sự bình tĩnh hiền hòa của một con người sẵn sàng tiến về phía một con người khác.

Khi đến gần, Don luôn mỉm cười.

Ông nghiêng nhẹ người, tránh tạo cảm giác bị ép buộc, rồi nói bằng giọng dịu đến mức ngay cả gió biển cũng như dừng lại để nghe:

“Can I help you in some way?”

“Tôi có thể giúp bạn bằng cách nào đó không?”

Ông không hỏi “vì sao”.

Không hỏi “có nghĩ lại không?”.

Không giảng giải đạo đức, không phân tích đúng sai.

Ông chỉ mời: “Bạn có muốn vào nhà uống một tách trà không?”

Và bằng một điều kỳ lạ nào đó, rất nhiều người đã bước theo ông – không phải vì bị thuyết phục, mà vì lần đầu tiên sau một thời gian dài, có người thật sự nhìn họ như một con người.

Vì sao ông làm vậy?

Ít ai biết rằng Don từng là lính hải quân trong Thế chiến II. Trên boong tàu HMAS Hobart, ông đã chứng kiến nhiều người rơi vào biển cả trước khi kịp được cứu. Những hình ảnh ấy dường như ăn sâu vào ông – để rồi khi chiến tranh kết thúc, ông chọn dành phần đời còn lại để cứu những người đứng bên một “mép vực” khác.

Ông nói: “You just can’t sit there and watch them”.

“Bạn không thể chỉ ngồi đó và nhìn họ như vậy”.

Hơn nửa thế kỷ, người ta thấy hình ảnh quen thuộc ở The Gap. Khi một người tiến gần mép vực, Don từ trong nhà cũng tiến ra.

Khi người ấy run rẩy giữa gió biển, Don mở lòng.

Ông đưa họ về nhà.

Nấu một bình nước.

Rót trà.

Lắng nghe họ nói.

Và nếu họ không nói được – ông lặng yên ngồi cùng họ.

Ánh mắt của Don không xét đoán.

Giọng nói của ông không cố “sửa chữa” ai.

Ông chỉ tạo một khoảng nghỉ nhỏ cho người tuyệt vọng – một khoảng nghỉ đủ để họ lùi lại khỏi bờ vực.

Chính quyền xác nhận ông cứu được ít nhất 160 - 180 người.

Gia đình ông tin con số thật có thể lên đến 400 - 500 người.

Một kỷ lục mà Don chưa từng nhắc đến.

Khi được hỏi ông có thấy mình là anh hùng không, Don chỉ cười: “No, I just offered them a cup of tea”

“Không, tôi chỉ mời họ một tách trà thôi”.

Năm 2011, Don được vinh danh là “Local Hero” trong giải thưởng Người Úc của năm.

Nhưng sự vinh danh lớn nhất không phải huân chương hay báo chí viết về ông.

Sự vinh danh lớn nhất nằm trong sự thật này: Thế giới này vẫn tồn tại được là nhờ những người bình thường làm những điều phi thường bằng sự tử tế nhỏ bé.

Don Ritchie không thay đổi thế gian bằng tiếng vang lớn nào đó.

Ông thay đổi nó bằng những hành động lặp đi lặp lại, bền bỉ như nhịp sóng vỗ vào vách đá - ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.

Ông cho thế giới thấy rằng, đôi khi một người tiến đến gần, một lời hỏi han tử tế, một tách trà nóng… cũng đủ để giữ một mạng người ở lại.

Chúng ta thường nghĩ cứu người là việc lớn.

Nhưng Don đã chỉ ra rằng, cứu người đôi khi chỉ là lùi lại một nhịp, mở cửa, và hỏi bằng trái tim: “Bạn có cần tôi không?”

Nếu ai cũng dám hỏi câu ấy một lần trong đời…

Có lẽ thế giới này đã bớt đi rất nhiều vực sâu.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Kieuanh Tran, ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI
Comment

Nghịch lý Pháp : Xứ bánh mì nhưng lại ít ăn baguette !!!

December 4, 2025 Ninh Tran

Vào những năm 1950, sau Đệ nhị Thế chiến, người Pháp tiêu thụ trung bình 700 gram bánh mì mỗi ngày. Nhưng theo khảo sát gần đây của Liên đoàn Quốc gia các tiệm bánh mì và bánh ngọt của Pháp (CNBPF), mức tiêu thụ đã giảm đến 7 lần trong nửa thế kỷ qua, xuống dưới mức 100 gram như hiện nay, tức chưa bằng một nửa ổ bánh mì baguette mỗi ngày. 

 

Điều đó khiến đài truyền hình Mỹ CNN đặt câu hỏi :

- Tương lai nào cho bánh mì baguette, biểu tượng truyền thống của Pháp ?

Dưới dạng thon dài giống như một chiếc que đũa, khúc bánh mì baguette nặng khoảng 250 gram, từng được Unesco công nhận là di sản phi vật thể của nhân loại vào cuối năm 2022. Thế nhưng, theo CNN, danh hiệu cao quý này dường như không giúp đảo ngược được xu thế : lượng tiêu thụ bánh mì giảm chậm mà đều đặn, truyền thống làm bánh mì thủ công dần dần biến mất tại Pháp, trong khi loại bánh mì công nghiệp ngày càng tăng lên.

 Theo các chuyên gia trong ngành, đà giảm sút này là do nhiều yếu tố gộp lại : người tiêu dùng thay đổi thói quen ăn uống. Nhiều loại thức ăn nhẹ (snacking) dần thay thế cho bánh mì baguette. Giới trẻ cũng thích dùng các loại bánh mì gối (pain de mie) ruột trắng xốp mềm, xắt thành từng lát mỏng, thường được dùng để làm sandwich kẹp thịt nguội hay được phết bơ mứt vào giờ ăn sáng.

 Theo ông Dominique Anract, chủ tịch liên đoàn CNBPF, một trong những thay đổi lớn là giới trẻ ở Pháp thời nay đang mất đi thói quen ghé tiệm bánh mì mỗi ngày để mua baguette. Chuyện đi mua bánh mì thoạt nhìn chỉ là một việc vặt, nhưng chi tiết nhỏ nhặt ấy lại phản ánh một sự thay đổi khá sâu rộng trong xã hội : thế hệ trẻ thời nay ít nấu ăn ở nhà và đi ăn ở ngoài nhiều hơn. Vài thập niên trước, ngay cả sinh viên cũng tự nấu ăn ở nhà : ít có chuyện ăn vặt mà cũng chẳng có ẩm thực « đường phố » như burger, kebab hay sushi. Nhưng ngày nay, có rất nhiều bạn trẻ chỉ thích dùng đồ ăn nhanh.

 Tại Pháp, theo truyền thống, bánh mì baguette được ăn vào bữa sáng dưới dạng tartine, khúc baguette được chẻ làm đôi, phết thêm một chút bơ, mứt trái cây hoặc sô cô la hạt dẻ. Bữa trưa, bánh mì baguette được nhồi với giăm bông, thịt nguội hoặc phô mai để làm sandwich. Bữa tối, bánh mì baguette không thể thiếu trong các bữa ăn Pháp truyền thống, đậm đà nước sốt như món thịt bò hầm cà rốt với vang đỏ là bourguignon, với bia nâu là  carbonnade, hay món thịt bê hầm sốt mịn trắng (blanquette de veau). 

 Những miếng bánh mì được dùng để vét sạch phần nước sốt còn sót lại trên đĩa. Trong tiếng Pháp, có hẳn một động từ riêng là « saucer » để chỉ động tác này. Theo ông Dominique Anract, nhiều bạn trẻ rất vui khi được ăn bánh mì baguette truyền thống vào dịp cuối tuần khi về thăm bố mẹ. Nhưng với nhịp sống thời nay, người tiêu dùng có rất nhiều lựa chọn khác nhau để đi ăn ở ngoài mà không hề cần đến bánh mì baguette.

 Một tiệm bánh mì lại không có bán baguette?

 Trước sự thay đổi thói quen tiêu dùng ấy, nhiều tiệm bánh mì « thế hệ mới » đã lần lượt ra đời. Theo đài CNN, đó là trường hợp của cửa hàng « Seize Heures Trente » tại thành phố Rennes với đặc điểm : đây là một tiệm bánh mì nhưng không hề có bán baguette truyền thống và điều đó khiến cho nhiều khách hàng cao tuổi bất mãn, phàn nàn. 

 Theo lời chủ tiệm bánh Marion Juhel, sở dĩ cô quyết định loại bỏ hoàn toàn bánh mì baguette ra khỏi quầy hàng, vì đây là một sản phẩm ít có giá trị dinh dưỡng mà lại tốn nhiều năng lượng. Bánh mì baguette dễ bị khô cứng, chỉ có thể dùng trong ngày, điều đó dẫn đến tình trạng phung phí thực phẩm, vứt bỏ nhiều ổ bánh mì khô.

 Chủ chuỗi cửa tiệm bánh mì Benoît Castel có cùng quan điểm với cô Marion Juhel. Thay thế cho loại baguette truyền thống, cả hai nhà làm bánh mì này chủ yếu bán theo cân các loại bánh mì làm với lúa mạch đen hay với bột mì nguyên chất không dùng các chất phụ gia. Phổ biến nhất trong thời gian gần đây vẫn là loại bánh mì làm với bột men chua (pain au levain / sourdough). Theo các chuyên gia dinh dưỡng, loại bánh mì này, đôi khi còn được gọi là "pain de garde" do có thể giữ lâu, có vị thơm ngon và dễ tiêu hóa hơn, ít làm tăng lượng đường trong máu.

 Phương pháp ủ men ngũ cốc tự nhiên để làm bánh mì đã có từ lâu đời, giúp bánh mì giữ được độ tươi lâu dài, nhưng mỗi ổ bánh mì thô mộc, chắc ruột có thể nặng tới hơn 3 kí lô, và như vậy hợp hơn với các hộ gia đình mua bánh mì để ăn cả tuần, chứ không hợp với các bạn trẻ độc thân. Theo ông Benoît Castel, loại bánh mì thon dài chỉ xuất hiện vào giữa thế kỷ XX để thay thế cho những ổ bánh mì to tròn, được làm mỗi tuần một lần. Do chỉ có vài trăm gram, thời gian nhồi bột mì và nướng bánh cũng ngắn hơn, giúp phổ biến baguette trong các hộ gia đình trung lưu, thích ăn các khúc bánh mì tươi, mới nướng mỗi ngày.

 Thế nhưng, theo ông Éric Kayser, chủ chuỗi cửa hàng cùng tên với khoảng 370 tiệm bánh mì trên khắp thế giới, việc làm lại các ổ bánh mì có thể giữ lâu là điều đáng mừng, nhưng không phải ai cũng đủ tiền để mua. Để dễ hình dung, một khúc bánh mì baguette công nghiệp, loại làm sẵn rồi đông lạnh, khi muốn bán chỉ cần đưa vào lò nướng, có giá trung bình khoảng một euro. Loại bánh mì baguette hạng trung, được làm tươi với bột mì, nước, muối và chất tạo xốp, có giá khoảng 1,4 euro. Ngược lại, một ổ bánh mì cao cấp, thường được bán theo cân, giá có thể lên tới 7 euro một ổ 500 gram, tức cao gấp 5 lần loại baguette thông thường.

 Mặc dù lượng tiêu thụ bánh mì baguette đang giảm sút, nhưng ông Éric Kayser không lo lắng cho lắm, sau khi thành công tung ra các loại baguette truyền thống làm với bột chua lỏng. Còn đối với chủ tịch liên đoàn CNFBP Dominique Anract, chính thế hệ mới như Muhel, Castel hay Kayser sẽ tạo cơ hội cho ngành làm bánh mì phát triển theo đúng hướng. Ngành này đã từng trải qua nhiều cuộc khủng hoảng, cho nên phải tìm cách thích nghi với tình huống mới. 

 Bánh mì baguette kiểu Pháp còn bán chạy trên thế giới, cho dù trong mắt người nước ngoài, quả thật là một nghịch lý khi ngay tại xứ Pháp, người dân lại ít ăn bánh mì. 

 Trong khi, một số cửa hàng gọi là boulangerie nhưng lại không hề bán baguette, đó là điều mà nhiều người Pháp không đời nào hiểu nổi, huống chi là khách nước ngoài.

 ( Sưu tầm )

In Giáo Dục, Văn Hóa, Góp Nhặt Đó Đây Tags Nghịch lý Pháp : Xứ bánh mì nhưng lại ít ăn baguette !!!
Comment

“MƯA ĐỎ” – SỰ THẤT BẠI CỦA MỘT CHẾ ĐỘ SAU NỬA THẾ KỶ TUYÊN TRUYỀN (Alliance for Vietnam's Democracy)

December 4, 2025 Ninh Tran

ĐÀI PHÁT THANH ĐÁP LỜI SÔNG NÚI PHỎNG VẤN: “MƯA ĐỎ” – SỰ THẤT BẠI CỦA MỘT CHẾ ĐỘ SAU NỬA THẾ KỶ TUYÊN TRUYỀN

1. Ông nhận định thế nào về việc nhà cầm quyền Hà Nội dùng Mưa Đỏ để bóp méo lịch sử sau gần nửa thế kỷ, và liệu đó có phải là dấu hiệu của sự bất an trong nội bộ chế độ?

Khi một chế độ phải dựng phim để xuyên tạc quá khứ, nghĩa là họ đã đánh mất khả năng đối diện với sự thật. Mưa Đỏ không phải là sản phẩm của tự tin, mà là triệu chứng của lo sợ — lo rằng nếu sự thật được nhìn nhận, cả nền tảng chính trị mà họ dựa vào sẽ sụp đổ. Sau gần nửa thế kỷ cầm quyền, việc họ vẫn phải ra sức tuyên truyền cho “chính nghĩa” của mình chứng tỏ rằng, ngay trong nội bộ, vẫn tồn tại nỗi bất an sâu kín: sợ nhân dân thức tỉnh, sợ thế hệ trẻ nhận ra đâu là chính nghĩa thật sự.

2. Vì sao hình ảnh Việt Nam Cộng Hòa, dù đã không còn trên bản đồ, vẫn ám ảnh nhà cầm quyền đến độ họ phải dựng phim để công kích, và điều gì thực sự nằm sau nỗi sợ ấy?

Vì Việt Nam Cộng Hòa không chỉ là một chính thể — đó là biểu tượng của một nền nhân bản, dân chủ, tự do, và pháp trị. Cái mà Hà Nội sợ là tinh thần của một miền Nam từng biết tôn trọng con người. Họ biết rằng ký ức ấy vẫn sống trong lòng dân, vẫn là đối trọng với những gì họ đang áp đặt. Cái “bóng ma” họ sợ chính là sự so sánh: khi người dân nhìn lại, họ sẽ thấy rõ sự khác biệt giữa một xã hội có nghị viện, báo chí độc lập, tự do tín ngưỡng — và xã hội hôm nay, nơi mọi tiếng nói bị kiểm duyệt. Mưa Đỏ chỉ là một nỗ lực tuyệt vọng để giết chết ký ức ấy.

3. Nhiều người cho rằng, Mưa Đỏ dường như phản tác dụng khiến giới trẻ tự tìm hiểu về miền Nam trước 1975. Vì sao thế hệ sinh sau 1975 ngày càng không chấp nhận những điều tuyên truyền mà họ bị nhồi nhét?

Thế hệ trẻ hôm nay sống trong thời đại thông tin mở, nơi mỗi người có thể kiểm chứng mọi điều bằng vài cú nhấp chuột. Khi nhà nước càng cố bưng bít, càng tô đậm tuyên truyền, thì giới trẻ càng tò mò muốn biết sự thật. Khi họ thấy trong sách nói miền Nam “nghèo nàn và nô lệ”, nhưng hình ảnh lưu trữ lại cho thấy Sài Gòn và cả miền Nam từng sầm uất, thanh bình, tự do, ngay cả trong chiến tranh — họ bắt đầu nghi ngờ. Cái mà Mưa Đỏ không lường trước được, là trong khi họ dựng phim để tẩy não, thì internet đang trở thành lớp học lịch sử thật. Giới trẻ ngày nay không còn sợ hãi. Họ tìm đến sự thật, và đó chính là điều khiến guồng máy tuyên truyền thất bại.

4. Việc Hà Nội tiếp tục bóp méo hình ảnh Quân Lực VNCH thay vì minh bạch đối diện quá khứ cho thấy điều gì về tính chính danh của họ, và có phải đây là dấu hiệu cho thấy họ đang thua trong chính cuộc chiến tâm lý của họ?

Một chính quyền chính danh không cần phải sợ lịch sử. Chỉ những kẻ tiếm quyền mới phải bóp méo quá khứ để biện minh cho hiện tại. Khi họ vẫn phải công kích Quân Lực VNCH — lực lượng đã không còn tồn tại hơn 50 năm — điều đó cho thấy họ không thắng nổi ký ức dân tộc. Cuộc chiến hôm nay không còn là cuộc chiến vũ khí, mà là cuộc chiến giữa sự thật và dối trá. Và rõ ràng, họ đang thua. Họ thắng trận 1975, nhưng họ đang thua trong tâm thức của chính người Việt. Một chế độ không dám đối diện với lịch sử của mình thì không thể tồn tại bền lâu.

5. Mưa Đỏ có tạo hiệu ứng ngược trong cộng đồng người Việt tự do hải ngoại, khi vô tình khơi dậy tinh thần quốc gia và những giá trị mà miền Nam từng đại diện như tự do tín ngưỡng, báo chí độc lập, nghị viện dân cử và nhân phẩm con người hay không, thưa ông?

Chắc chắn là có. Mưa Đỏ vô tình làm sống lại một tinh thần tưởng chừng đã lắng xuống. Khi một bộ phim bịa đặt đến mức xúc phạm lịch sử, nó đã chạm vào lòng tự trọng của người Việt Tự Do khắp nơi. Chúng ta thấy một sự đồng lòng hiếm có — 95 tổ chức cùng ký tên phản đối, hàng nghìn người chia sẻ và lên tiếng. Chính điều đó chứng minh rằng ngọn lửa Quốc Gia chưa bao giờ tắt. Mưa Đỏkhông giết được ký ức VNCH; trái lại, nó đã làm cho hình ảnh ấy được nhắc đến, được bảo vệ, và được phục sinh bằng niềm tự hào.

6. Trong khi chế độ tiếp tục bóp méo lịch sử, người Việt tự do trong và ngoài nước cần làm gì để bảo vệ sự thật và gìn giữ ký ức Việt Nam Cộng Hòa cho thế hệ mai sau, và vai trò của các tổ chức cùng truyền thông tự do nên được đặt ở đâu?

Trách nhiệm của chúng ta là bảo tồn ký ức như bảo tồn mạch sống dân tộc. Sự thật phải được viết lại, được dạy lại, và được kể lại cho thế hệ sau — không bằng hận thù, mà bằng lương tri. Các tổ chức trong cộng đồng cần hợp tác để tạo thành một hệ thống lưu trữ, giáo dục, và truyền thông về Việt Nam Cộng Hòa: từ phim tài liệu, sách giáo khoa, bảo tàng số cho đến diễn đàn thanh niên. Truyền thông tự do là lá phổi của xã hội — nếu nó ngưng thở, sự thật sẽ chết. Bảo vệ sự thật chính là bảo vệ tự do, và đó cũng là cách chúng ta tiếp nối con đường của những người đã ngã xuống vì chính nghĩa Quốc Gia.

Kết luận:
Mưa Đỏ không phải là chiến thắng tuyên truyền của Hà Nội, mà là bản cáo trạng vô hình về sự bất an của một chế độ sau nửa thế kỷ thống trị. Trong khi họ lo sợ ký ức bị đánh thức, thì chính ký ức ấy đang hóa thành một nguồn lực mới — sức mạnh của sự thật, của tự do, và của một dân tộc không bao giờ quên cội nguồn chính nghĩa của mình. Một khi sức mạnh tiềm tàng ấy trỗi dậy, sẽ không có áp lực nào, không một guồng máy bạo lực nào đủ khả năng ngăn cản được.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Alliance for Vietnam's Democracy, “MƯA ĐỎ” – SỰ THẤT BẠI CỦA MỘT CHẾ ĐỘ SAU NỬA THẾ KỶ TUYÊN TRUYỀN
Comment

Kỷ Niệm với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (Mũ Xanh Nguyễn Đăng Hòa)

December 4, 2025 Ninh Tran

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Nguyễn Đăng Hòa

Chiếc máy bay DC.6 đáp nhẹ xuống phi trường Liên Khương của xứ Anh Đào, bao phủ bởi muôn hoa, muôn màu, muôn sắc. Tôi uể oải cởi dây nịt an toàn, lấy vội cái xách tay, nối gót theo hành khách đang di chuyển dần ra phía cửa phi cơ. Cái lạnh của miền Cao nguyên đã bám chặt lấy tôi. Khoác vội chiếc áo Field Jacket màu ngụy trang Binh chủng, tôi nhập theo đoàn người chờ lấy hành lý. Trở lại Đà lạt lần này cái gì cũng thấy ngỡ ngàng sau gần 10 năm xa cách. Nhìn dãy đồi xanh tươi trước mặt, tôi chợt nhớ đến ngọn đồi Phù cũ, Bình định. Nơi tôi đã để lại máu mình cho cây cỏ thêm xanh bởi một trái pháo 130 ly của Việt Cộng. Sau một ngày và hai đêm mê man, khi tĩnh lại tôi có cảm tưởng như đang lênh đênh trên biển cả.

Tôi lắc đầu thật mạnh để biết rằng mình đang tĩnh. Người y sĩ Hoa Kỳ cấp bậc Trung tá đang nhìn tôi cười và vỗ nhẹ vào tay tôi, ông hỏi:

– Anh thấy trong người có khỏe không?

– Tôi vẫn khỏe, cám ơn. Xin lỗi ông tôi đang ở đâu?

Vẫn nụ cười không tắt trên môi, ông vui vẽ trả lời:

– Đại úy đang nằm trên chiếc tàu Bệnh viện của Đệ thất Hạm đội. Tôi mừng được thấy Đại úy tĩnh lại, đã 2 ngày nay ông thiếp đi vì mất nhiều máu.

Suốt một tháng lênh đênh ngoài khơi bờ biển miền Trung, từ Qui Nhơn đến Đà Nẵng. Cứ mỗi chiều cuối tuần tôi được John vị Y sĩ trưởng của bệnh viện mời xuống chiếc cầu nổi cập sát con tàu để bán giải khát. Mỗi người chỉ mua được một lon bia, uống tại chổ không được mang lên tàu, còn nước ngọt thì uống tự do. Nhìn ông mặc bộ đồ ngụy trang tôi vừa tặng trông thật buồn cười, quần không thể nào cài cúc được vì bụng quá lớn. Ông nói:

– Không sao đâu Đại úy. Mặc áo bỏ ra ngoài chẳng ai thấy đâu. Cái gì ẩn giấu có xấu cũng thành đẹp, không ai hiểu được sự thật bên trong nó như thế nào!

Sau 2 tuần ngắn ngủi, chúng tôi đã thân nhau hơn. Chiều chiều khi hoàng hôn trôi nhạt nhòa trên sóng biển, tôi và John lên boong tàu nhìn đàn hải âu bay lượn cho đến lúc mặt trời chìm sâu dưới mặt biển. Chúng tôi mới trở về phòng ăn với những món ăn thịnh soạn do đầu bếp người Phi luật tân nấu.

Qua tuần lể thứ ba, tôi mập hẳn lên và nước da trở nên hồng hào, không còn sạm nắng như khi nằm trên ngọn đồi Phù cũ đón những cơn gió lửa. John mang ảnh vợ con ra khoe với tôi, vợ John xinh như diển viên màn bạc. Nàng cũng là bác sĩ và đang sống tại San Diego trong một biệt thự xinh xắn nằm sát biển. Nhìn những vì sao mọc sớm trên bầu trời, tôi hướng về John đề nghị:

– John à, ngày mai anh có thể cho tôi xuất viện được không?

John bị hỏi bất ngờ, anh ta vỗ vai tôi thân mật nói:

– Tôi đang định bàn với anh chuyện này, tôi đề nghị cấp trên giữ anh ở lại đây khoảng 3 tháng cho sức khỏe của anh thật bình phục. Như anh đã biết, chúng tôi gặp rất nhiều trở ngại khi thương binh được đưa đến chữa trị đa số không nói được tiếng Anh, chúng tôi lại không có người thông dịch. Hay là anh cứ tạm ở đây cho đến khi chúng tôi có thông dịch viên rồi hãy xuất viện. Thay vì trả lời tôi hỏi John:

– Anh có nhớ vợ con anh không?

– Ơ sao anh lại hỏi thế? Tôi đến Việt Nam mới có 6 tháng mà tôi tưởng như đã xa vợ con cả 6 thế kỷ rồi. Ngày nào tôi cũng viết thư cho nàng.

Chụp lấy cơ hội tôi tấn công John:

– Vậy anh biết tôi xa vợ con tôi bao lâu rồi không? Hai năm kể từ ngày cưới, tôi chỉ về thăm nàng một lần, khi sanh đứa con trai đầu lòng. Vợ tôi dạy học, lúc này đang nghỉ hè, rất tiện cho tôi được về thăm nàng, để được nàng săn sóc.. Hậu cứ của đơn vị tôi lại đóng gần bệnh viện Đại hàn, mỗi ngày tôi sẽ đến nhờ họ chăm sóc vết thương.

John nhìn sâu vào mắt tôi thân mật nói:

– Tôi là Y sĩ của một đơn vị tác chiến trước khi về làm việc tại con tàu này, tôi rất thông cảm với anh. Các anh đã chiến đấu vô cùng anh dũng để giữ lấy tiền đồn của Thế giới Tự do. Thôi được ngày mai tôi sẽ cho anh xuất viện, trực thăng sẽ đưa anh vào đất liền. Khi về gặp gia đình nhớ viết thư cho tôi và tả tỉ mỉ hạnh phúc anh bắt gặp trong những ngày hè..Tôi chắc là tuyệt vời đối với anh sau hai năm lăn lộn trên tuyến lửa nơi miền địa đầu giới tuyến.

Đang nghĩ ngợi miên man, tôi bỗng nghe có tiếng người gọi tên mình.

– Hòa ơi!..Hòa.

Tôi quay lại và ngạc nhiên khi thấy Hồ Ngọc Cẩn, người bạn thân cùng học ở Trường Thiếu Sinh Quân và cùng theo học một khóa Sĩ quan với tôi.

– Bạn trôi dạt từ vùng U Minh lên Đà Lạt hưởng tuần trăng mật phải không?

Cẩn vỗ nhẹ vào chiếc cặp Samsonite và nói:

– Văn ôn võ luyện mà bạn.

Tôi mừng quá run run hỏi:

– Chỉ huy Tham mưu?

Cẩn gật nhẹ, nắm chặt tay Cẩn tôi reo lên như một đứa trẻ:

– Ồ sung sướng quá, mình cũng vậy. Vừa bị thương đang nghỉ dưỡng thương thì có lệnh gởi đi học, thôi thì lên Đà Lạt nghỉ mát một thời gian, để chiến trường lại cho người khác ôm ấp.

Đến Trường Chỉ huy Tham Mưu chúng tôi nhận phòng, hai đứa chỉ ở cách nhau một bức tường. Sau khi tắm rửa, tôi và Cẩn ra phố Đà Lạt để tìm người quen và “rửa mắt”.

Đà Lạt có rất nhiều loài hoa, kể cả loại hoa biết nói, biết hát, biết cười và biết khóc! Sau chai Courvoisier, gout của Cẩn, chúng tôi thấy ấm lòng, cái lạnh đã rời xa…

Thả bộ quanh chợ Hòa bình, xuống con dốc Phan Đình Phùng tìm nhà do một người bạn cùng Binh chủng giới thiệu. Tôi sợ lộn số, phải xem lại địa chỉ rồi mới dám bấm chuông vì ngôi biệt thự lộng lẫy quá. Tọa lạc trên một ngọn đồi riêng biệt, bao phủ bởi một rừng hoa! Tiếng chuông vừa dứt, một người đàn bà Trung hoa nhanh nhẹn ra mở cửa và hỏi chúng tôi:

– Xin lỗi, các ông muốn tìm ai?

– Chúng tôi muốn gặp ông Bảo Vinh.

Nghe nói đúng tên chủ mình, người đàn bà cúi thấp đầu nói:

– Xin mời hai ông vào chờ tôi thưa lại.

Tôi và Cẩn được mời vào phòng khách, tôi có cảm tưởng như mình đang xuất ngoại vì sự sang trọng của ngôi biệt thự. Điều này chứng tỏ chủ nhân phải là một tay “tiền vô như nước”. Trước mặt chúng tôi giờ đây là một cô gái thướt tha đài các trong tấm áo xanh huyền ảo. Nàng chào chúng tôi và lên tiếng trước:

– Xin lỗi hai ông, ba tôi vừa đi dự tiệc, có lẽ đến khuya mới về. Tôi tên là Thu Hương, con gái lớn của gia đình. Ba tôi có nói trước là sẽ có hai người bạn ở Sài gòn lên trọ học. Chúng tôi đã sữa soạn chổ ở cho hai ông và xin mời hai ông vào nghĩ…

Cẩn nhìn tôi nói khẽ:

– Thôi bọn mình về trường, cuối tuần sẽ trở lại.

Chúng tôi từ giã nàng và không quên viết vài hàng để lại cho ông Bảo Vinh. Ra đến đường Cẩn hỏi tôi:

– Này Hòa ơi! Mình phải gọi Bảo Vinh bằng gì, anh hay chú?

Tôi cười:

– Tùy bạn và tùy hoàn cảnh của ngày mai. Que sera, sera..

Trưa thứ bảy, chúng tôi chuẩn bị xuống phòng ăn nhà trường thì được loa phóng thanh báo có người nhà đến thăm và đang đợi ở phòng Tiếp tân. Tôi hỏi Cẩn:

– Ai thăm chúng mình thế Cẩn?

– Chỉ có trời biết, lên đây mới 4 ngày tôi có quen ai đâu!

Rồi Cẩn vỗ mạnh đùi mình ra điều thích thú nói:

– Tôi đóan ra rồi. Gia đình cô Thu Hương.

Chiếc Mercedes bóng lộn đậu trước nhà khách, chúng tôi bước vào trước bao nhiêu cặp mắt đang nhìn mình, có lẽ họ nghĩ bọn tôi ít lắm cũng từ “quan Quận” trở lên. Lần đầu tiên gặp Bảo Vinh, tôi nghĩ đây là một tay thương gia có tầm vóc của Chợ Lớn. Hiện ông đang thầu rau tươi cho Quân đội đồng minh từ DMZ (khu phi quân sự) đến Quân đoàn 4.

Quay sang con gái, Bảo Vinh giới thiệu:

– Đây là Thu Hương, con gái lớn của tôi. Đêm qua tôi được điện thoại của Thiếu tá Hiền, Cảnh sát trưởng Quận 5 cho biết vì phải bận bàn giao công việc nên đến cuối tuần này ông mới tham dự khóa học được. Ông cũng có nói về các anh, những người hùng của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Lời nói đó cũng xứng đáng với 6 hàng huy chương nằm hiên ngang trên ngực Cẩn gồm :

1 Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương, 25 ngành dương liểu và 45 ngôi sao Anh dũng bội tinh, cộng thêm 3 chiến thương bội tinh và 4 huy chương Hoa kỳ, không có huy chương “ăn giỗ” nào!

Tôi phải giấu thật kỷ số huy chương của mình, chẳng bao giờ tôi dám đeo khi có mặt Cẩn. Cẩn còn được Quân đoàn 4 bầu làm chiến sĩ xuất sắc trong nhiều năm liền và được Quân đội tưởng thưởng cho đi du hành quan sát các nước Á châu.

Qua phần giới thiệu thăm hỏi, Bảo Vinh mời chúng tôi đi nhà hàng dùng cơm. Vì sự mời mọc quá chân tình, chúng tôi khó mà từ chối được, tuy mới gặp nhau lần đầu. Biết tính Cẩn hay mắc cở (tuy là người hùng ở chiến trường nhưng khi gặp gái là chàng rất e dè, có lẽ vì thế mà Cẩn hay bị các cô chiếu cố!) nên tôi nhanh nhẹn ngồi vào ghế trước cạnh Bảo Vinh, để cho Cẩn phải ngồi phía sau với Thu Hương. Không biết Cẩn có thích không, nhưng chắc anh cũng rủa thầm về cái tội gán ghép đáng yêu của tôi.

Trước lạ sau quen, dần dần mọi rụt rè nơi Cẩn đã cất cánh bay xa. Hai người nói chuyện rất tâm đầu ý hiệp. Từ chuyện chiến trường đến chuyện tình đôi lứa.. Tôi và Bảo Vinh nhìn họ và uống rượu. Tôi có cái tật là càng uống càng ít nói, vả lại nói chuyện làm ăn thì tôi mù tịt còn nói chuyện chiến trường với Bảo Vinh thì có khác nào ông ta nói chuyện áp phe với tôi. Vì vậy chúng tôi chỉ biết nâng ly mời nhau.

Đêm Đà Lạt thật êm ả, cái lạnh đã bị đốt cháy bởi hai chai Courvoisier. Nhìn những giọt nước chảy nhẹ trên thành ly, tôi bất chợt nghĩ đến thân phận người lính giữa chiến trường, lấy cái chết làm an bình cho thành phố! Bạn bè của đơn vị tôi giờ này đang lặn lội nơi vùng sình lầy miền Tây. Sáng đi theo đoàn tàu của Lực lượng Đặc nhiệm Thủy bộ 211, phối hợp giữa Hải quân và Thủy quân Lục chiến đổ bộ dọc theo những con kinh, lội nước từ bụng lên đến cổ, có khi ngập đầu của Tỉnh Chương thiện cam go nhất vùng 4.

Những trận đánh cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn hầu như dành riêng cho chúng tôi. Đó có phải là điều hãnh diện hay sự “vắt chanh bỏ vỏ” của các Quân khu dành cho những đơn vị Tổng trừ bị?

Họ muốn đem sự yên bình lại bằng con số xác chết cao vút của chúng tôi. Họ đợi khi nào tình hình căng thẳng nhất thì xin chúng tôi đến và không ngần ngại xử dụng như những con vật tế thần. Tìm những nơi nào Quân khu không thanh toán được là đẩy chúng tôi vào. Có khi hành quân 7 ngày, cõng trên lưng nào là thực phẩm, đạn dược, vủ khí, quân trang, khi vừa hết lương thực thì được yêu cầu ở lại chiến trường thêm một kỳ tiếp tế nữa. Cứ như vậy cho đến khi chúng tôi kiệt sức, tinh thần căng thẳng mới cho rời vùng hành quân ra để phòng thủ giữ an ninh vòng đai Quân khu. Sau vài ngày xả hơi lại được tống vào vùng cam go khác cho đến khi nào Bộ Tổng Tham Mưu đòi lại mới thả về.

Nhưng hởi ôi! Quân khu này thả ra thì Quân khu khác bắt lại và chiến thuật cố hữu lại được đem ra xử dụng.

Giờ ngồi hình dung lại, quả thật tội nghiệp cho hai Binh chủng Nhảy dù và Thủy quân Lục chiến. Vì vậy có nhiều cấp chỉ huy chỉ có một con đường duy nhất để chọn nếu họ thương lính. Đôi khi cũng làm ngơ khi lính của họ đánh nhau với lính địa phương để cho người cha ghẻ nơi họ tăng phái buông tha họ ra để họ còn được thấy thành phố, hậu phương, vợ con hay người yêu! Đây không phải là biện luận hay kiêu binh mà là sự thật. Việt cọng chỉ gờm có chúng tôi, vì lần nào chạm trán chúng cũng bị 90% thất bại nặng nề.

Thu Hương đã đưa tôi trở về hiện tại:

– Làm gì mà anh ngồi yên lặng như pho tượng Thương Tiếc ở Xa lộ Biên Hòa vậy anh Hòa?

Tôi chỉ lắc đầu thở dài và uống cạn ly rượu còn lại. Tôi và Cẩn có thể nói là đôi kỳ phùng địch thủ về uống rượu. Chúng tôi gặp nhau, lúc nào cũng 2 chai trở lên, uống đến mềm môi vẫn chưa say. Nhất là khi nghe tin một thằng bạn vừa gục ngã nơi chiến trường! Và cái hơi ngà ngà say của rượu đã giúp tôi làm được nhiều bài thơ ưng ý mà có lẽ lúc bình thường chẳng bao giờ tôi viết được như thế.

Hai giờ sáng chúng tôi trở về trường. Tôi nhận thấy Thu Hương, cô gái có dòng máu nửa Tàu, nửa Việt này hơi lãng mạn. Một sự lãng mạn đáng yêu dễ hòa nhập với lính khi nàng tâm sự:

– Nhìn những chiếc lá bay vô tình trong gió, em ví như những cái chết bất ngờ của những người lính trận! Em biết rằng mình sẽ khổ khi có người yêu là lính, nhưng em cũng rất hãnh diện khi được sánh vai với người hùng đi trong chiều nhạt nắng, giữa rừng thông để nghe tiếng lá reo vi vu hòa với gió chiều. Em thương người lính trận, các anh như những viên sỏi nhỏ lăn theo triền dốc cuộc đời, với những chuyến đi dài mà không biết đến ngày mai đời mình sẽ ra sao?

Những chiều cuối tuần tôi và Cẩn thường hồi hộp đợi điện thoại của Thu Hương. Thỉnh thoảng nàng cũng mời thêm vài người bạn gái. Nhận được điện thoại thì mừng, nhưng đôi khi cũng nhói tim vì hai đứa có lúc sạch nhẵn không còn một đồng dính túi. Chẳng lẽ đi chơi với người đẹp lại để cho họ đài thọ?

Đêm Noel 1969, chúng tôi lại rơi vào cảnh ấy. Tôi lúng túng không biết tháo gỡ bằng cách nào để có tiền chi phí cho đêm Giáng sinh. Riêng Cẩn vẫn ung dung chọn bộ đồ ngụy trang thật đẹp, cạo râu chải tóc cho đúng câu “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” rồi hướng về tôi đề nghị:

– Chúng ta đi sớm một chút nghe Hòa.

Thay vì trả lời, tôi chỉ vào cái túi quần lộn ngược. Cẩn cười bảo:

– Yên chí lớn ông bạn.

Ra đến chợ Hòa bình, Cẩn ghé vào một tiệm bán vàng. Một cô bé thật xinh, khoảng 17, 18 tuổi đứng trông hàng e ấp chào chúng tôi và hỏi:

– Hai ông muốn mua gì?

– Tôi muốn bán cái này.

Vừa nói Cẩn vừa chỉ vào cổ áo, chiếc lon Thiếu tá lấp lánh dưới ánh đèn đêm làm nó càng rực rỡ thêm. Cô bé tưởng Cẩn muốn trêu chọc mình nên chạy vào gọi mẹ. Bà cụ ra chào chúng tôi và nói đùa:

– Bộ Thiếu tá muốn chúng tôi đóng cửa tiệm hay sao mà dám mua tới Thiếu tá?

Cẩn vừa cởi lon vừa nói:

– Xin lỗi cụ. Hôm nay kẹt quá phải nhờ đến nó. Đây là vàng thật do mẹ tôi tặng khi tôi vừa được vinh thăng. Lên Trung tá tôi sẽ sắm lại gấp đôi.

Cẩn bẻ đôi cặp lon, phần hoa mai bạc cho vào túi và bán 2 cái đế đáng giá một lượng vàng. Nhờ vậy mà chúng tôi có một đêm Noel tràn ngập tiếng cười, quên đi cái xót xa “bán lon nuôi miệng!” Cẩn có những cái kiên nhẫn và cố gắng tột cùng. Tôi không thể nào quên được, như khi còn là Sinh viên Sĩ quan.

Một đêm Cẩn gọi tôi ra giữa trời nhìn những vì sao lấp lánh Cẩn nói lên cái ước mơ của đời mình và muốn tôi cùng Cẩn đạt được. Một ước mơ với tôi quá xa vời, nhưng Cẩn nói với đầy tham vọng:

– Tương lai chúng ta phải làm tướng!

Tôi chỉ kêu trời, vì thấy quá viễn vông, nhưng khi ra trường, càng về sau tôi mới thấy được cái chí lớn nơi Cẩn. Cuối cùng của cuộc đời, Cẩn cũng đã nhìn thấy và nắm được những vì sao ngút ngàn, tận bên kia cuộc sống!

Sau mùa hè đỏ lửa 1972, Cẩn đã là một Tỉnh Trưởng trẻ tuổi nhất trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và ở cái tỉnh “nóng” nhất của Vùng 4 Chiến thuật. Chương thiện với những địa danh mà nhiều cơn bão lửa đã tràn qua như: Kiên An, Kiên Hưng, Hiếu Lể, Gò Quao… muôn ngàn kinh rạch chằng chịt. Một cái tên mà không người lính miền Tây nào có thể quên được.

Có một Quận nọ, cứ mỗi chiều là ngài Quận Trưởng gọi máy về Trung tâm Hành quân Tỉnh để xin phản pháo vì Việt cọng pháo kích hoặc tấn công. Một hôm, sau khi Cẩn cho thỏa mãn tối đa, và được báo cáo là quân ta bị thiệt hại một kho xăng và kho lương thực, Cẩn ra lệnh cho Trưởng phòng 3 chuẩn bị lên đường đến Quận nọ (chuyện này do chính vị Trưởng phòng 3 ấy kể lại với Tác giả khi còn cùng ở trại tù ngoài Bắc việt).

Khi gặp Cẩn, ngài Quận trưởng như từ cung trăng rơi xuống. Ngài không ngờ giờ này mà Cẩn dám đi đến Quận với một chiếc jeep không có hộ tống mà cũng chẳng có đơn vị mở đường. Quan Quận đang nằm trên ghế xích đu nhấm Martell, chiếc máy truyền tin được kéo dài đến tận chổ nằm và bên cạnh là người đẹp đang phục vụ.

Cẩn đi thẳng xuống Trung tâm Hành quân của Quận vừa nhìn bản đồ vừa ra lệnh cho Quan Quận:

-Tôi muốn những Ấp loại C sau 3 tháng được nâng lên loại B và những Ấp loại B sau 3 tháng được nâng lên loại A (xếp loại theo tình hình An ninh).

Nói xong, Cẩn quay về Tỉnh. Từ đó Ngài Quận trưởng làm việc trối chết, khi biết rằng Cẩn neo mình bằng một hình phạt không nhẹ hơn cách chức hay đưa ra Tòa án Quân sự. Đúng 3 tháng sau, Cẩn trở lại Quận và ngủ đêm với Quận trưởng ở một số Ấp do Cẩn chỉ định. Kết quả đúng như ý muốn của Cẩn, một thời gian ngắn sau Cẩn đến Quận với cặp lon mới nguyên dành cho công lao của Quận trưởng và không đá động gì đến lỗi cũ.

Công lao và sự hy sinh của Cẩn không giấy mực nào kể hết. Tôi xin dành lại cho những người hiểu rõ về Cẩn nối tiếp tôi thắp sáng việc Cẩn đã làm cho Tổ quốc.

Trở lại chuyện những ngày ở Đà Lạt, tháng ngày qua mau như một giấc mơ đẹp và buồn. Vết thương của tôi đã bình phục hẳn và tâm hồn cũng đã thanh thản.Tôi lại thèm những chuyến đi, tôi nhớ những nơi đèo heo hút gió. Từ vùng sình lầy U Minh như Năm Căn, Cái Nước, Đầm Dơi.. cho đến miền địa đầu giới tuyến Đông Hà, Lao Bảo, Khe Sanh hay miền Cao nguyên trùng điệp Darkto, Darksuk. Nơi nào cũng có dấu chân chúng tôi để lại. Chúng tôi những người lính mà Việt cộng gờm nhất và khi mất nước cũng lại là những người lính bị trả thù nặng nhất.

Tôi còn nhớ năm 1982, khi còn bị giam ở Vĩnh phú, Bắc việt. Một phái đoàn Việt cộng thuộc Bộ nội vụ, bọn chúng đến trại giam chúng tôi. Hôm ấy đến phiên tôi trực cho Đội (1 đội gồm 30 người) nên tôi phải nấu nước và thức ăn cho các bạn tù khác đang xây cất nhà tù kiên cố bằng vật liệu nặng. Gặp tôi chúng làm ra vẻ thân mật hỏi tên, chức vụ, cấp bậc, đơn vị. Sau khi biết tôi là Trung tá Tiểu đoàn trưởng Thủy quân Lục chiến, chúng kéo 3 tên chia nhau quần thảo tôi:

– Anh đi lính từ năm nào? Lúc mấy tuổi? Mãn khóa sĩ quan ngày nào?

Chúng hỏi với giọng trịch thượng. Tôi đang ngồi bên bếp lửa, lon cóng bao quanh thùng nước, khói mù mịt, quạt luôn tay vẫn không cháy. Cộng với cái nóng đang đun sôi bằng lòng căm thù, mắt tôi đã nổ đom đóm. Tôi nói khác đi thay vì trả lời ngày mãn khóa sĩ quan.

– Tôi vào lính lúc 12 tuổi.

Một tên thấy khó chịu hiện rõ ra mặt, hỏi gằn lại tôi theo lối hỏi cung:

– Anh định đùa với chúng tôi hả?Ngoài này khi rất cần cho chiến trường chúng tôi cũng chỉ lấy 13 tuổi.

– Tôi vào Thiếu sinh quân lúc 12 tuổi.

Chúng à lên một tiếng như có xương cá mắc ở cổ.

– Anh tham dự bao nhiêu trận đánh?

– Tôi không nhớ hết, hầu như Quân khu nào cần là có chúng tôi.

– Anh giết bao nhiêu Cán bộ và Chiến sĩ của chúng tôi?

– Phần này thật thà mà nói, chúng tôi có những mục tiêu sau khi thanh toán xong, không thể nào kiểm điểm được hết và đầy đủ.

Sau câu trả lời của tôi, có lẽ nếu giết được tôi lúc đó chắc chúng cũng chẳng tha. Một tên khác lại hỏi:

– Anh thắng bao nhiêu trận và thua bao nhiêu trận?

Sự kiên nhẫn của người tù khổ sai, biệt xứ như tôi đã mất đi, mặc dù biết thân phận mình như cá nằm trên thớt, tôi vẫn trả lời theo sự thật và sự thật bao giờ cũng phủ phàng. Nhận thấy không khí mỗi lúc một căng thẳng, tôi thầm nghĩ: “Bọn này thuộc loại chính trị chứ không phải quân sự, mình nên cẩn thận kẻo chúng cột là vô phương gỡ”.

– Sự thật thì tôi chưa thua trận nào, nếu có thì cũng chỉ là những Tiểu đội tiền đồn hoặc tổ báo động của chúng tôi bị tràn ngập bởi một lực lượng lớn bên phía cán bộ thôi.

– Anh nói thật đấy chứ? Tôi còn kiểm soát lại nữa.

Chưa chi nó đã giở giọng hăm dọa, tôi bèn dẫn chứng cho chúng hiểu câu trả lời của tôi:

– Rất tiếc, cán bộ thuộc về chính trị, còn tôi nói về quân sự chiến thuật, chiến lược có lúc chúng ta không thông cảm được nhau.

Tôi lại đi thêm một đường giải thích tỉ mỉ hơn.

– Chúng tôi là đơn vị Tổng trừ bị, những trận chúng tôi tham dự đều được tổ chức kỷ lưỡng. Có cả Hải, Lục, Không quân yểm trợ. Nếu chúng tôi cầm chân các đơn vị của cán bộ càng lâu thì sự thiệt hại càng nặng vì lúc bây giờ chúng tôi làm chủ tình hình về vùng biển cũng như bầu trời. Riêng về Bộ binh thì hỏa lực của chúng tôi mạnh, quân số đông…

Cuối cùng chúng bề hội đồng tôi:

– Như vậy thì ngày 30/4/1975 các anh thắng đấy chứ?

Đã lỡ ngồi vào bàn cờ tướng, không khéo thì sẽ bị chiếu bí. Tôi tiếp:

– Nói riêng về đơn vị do tôi chỉ huy, tôi chỉ biết thi hành lệnh. Bảo chúng tôi rút lui, chúng tôi lui, bảo tiến chúng tôi tiến. Cuối cùng Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng, đã là lính chúng tôi chỉ biết thi hành kỷ luật quân đội mà thôi.

Chúng vẫn còn bản tính luôn trở mặt như trở bàn tay nhưng vì được huấn luyện chính trị kỹ. Hơn nữa cuộc nói chuyện giữa thanh thiên bạch nhật nên trước khi bỏ đi chúng kết luận:

– “Chả trách chiến tranh kéo dài mãi cho đến 1975! Đáng lẽ nó được kết thúc sớm hơn nếu không có những con người mù quáng, gây nhiều nợ máu với nhân dân như đơn vị của các anh. Ở ngoài này xem các anh là những đứa con bà Sơ, do đế quốc Mỹ tạo ra và nuôi dưỡng để bảo vệ chế độ, đánh phá Cách mạng!”

Chúng đi rồi tôi mới thấy lòng mình thanh thản vì tôi không làm nhục lương tâm mình cũng như bạn bè đồng đội đã một thời cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương.

Xa nhau từ dạo ấy cho đến ngày đất nước điêu linh. Tôi bị tù 13 năm không bản án, còn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã đi vào Quân sử!

Quân thù sẽ mãi mãi cúi đầu trước sự dũng cảm của bạn, Cẩn ơi! Bạn sẽ chẳng bao giờ chết, chúng tôi sẽ thắp sáng tên bạn trong tâm hồn mình và khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam và cả thế giới bao la. Bạn là một trong những anh hùng của Quân Lực Việt nam Cộng hòa. Một tấm gương sáng để truyền lưu cho hậu thế. Xin cho tôi kết thúc phần nói về bạn bằng một bài thơ:

Khóc Đại tá Hồ Ngọc Cẩn!

Mưa trong đêm vắng…

Thánh thoát những giọt buồn

Người lữ hành cô độc đang đi qua đoạn đường dài hiểm trở

Những bước chân thầm lặng mà nghe vang vọng rất xa

Tôi nghe trong gió

Tim anh ngân vang bài ca thế hệ

Dư âm đã gọi mùa thu thức giấc

Những giọt máu trổ bông trong từng khối óc con tim chân thật

Đêm thì dài, dài như thế kỷ đau thương của chúng ta

Anh là trái tim của tuổi trẻ

Là linh hồn của những người yêu nước đấu tranh

Anh cô đơn vây hãm trong bốn bức tường thành

Tôi muốn tìm đến với anh trong những đêm dài trăn trở

Tôi quá thấp hèn bên anh sáng ngời muôn thuở

Xin cho tôi được vun trồng

Những cánh hoa đẹp trên từng dấu chân anh đi

Vì nợ nước gạt bỏ tình nhà

Anh là đảo hoang giữa biển cả bao la

Là vì sao sáng trong đêm huyền ảo

Là ngọn hải đăng hướng dẫn mọi con tàu

Vượt bão táp phong ba trong những chuyến hải hành xa thẳm

Từ vực sâu linh hồn tôi bơ vơ chìm đắm

Nhờ có anh tôi tìm được phương hướng cuộc đời

Cuộc chiến đấu này hình ảnh Anh sẽ ngời sáng trong chúng tôi

Và muôn triệu cánh tay cùng viết lên trang sử mới!

Mũ Xanh Nguyễn Đăng Hòa

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Kỷ Niệm với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Nguyễn Đăng Hòa
Comment

Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu – Hai con người, hai chiến tuyến, một ‘Mùa Thu Paris’

December 1, 2025 Ninh Tran

Mùa thu Paris, vườn Luxembourg

"Chủ tịch Hội đồng Giải Văn chương Toàn quốc lần thứ ba, học giả Thu Giang
Nguyễn Duy Cần đã nêu lên tiêu chuẩn lựa chọn của Hội đồng là : “Tác phẩm
được chọn sẽ là phản ánh của một nền văn hoá tự do, nghĩa là không bị bó
buộc trong khuôn khổ của một hệ thống tư tưởng nào, hay phải theo một khuynh
hướng văn nghệ hay chính trị nào cả”. Chế độ của miền Nam trước năm 1975 là
thế đó, cũng do chế độ nuôi dưỡng con người mà chúng ta có một kiến thức văn
hóa và văn học, những nhà thơ còn sống ở miền bắc, những người được chế độ
miền Bắc trọng dụng như Huy Cận, Chế lan Viên, Văn Cao, Lưu Hữu Phước hay
các nhà thơ tiền chiến khác như Xuân Diệu, Lưu trọng Lư, Đoàn Chuẩn, Nguyễn
văn Tý vẫn được tự do phổ biến và thưởng thức ở miền Nam cho dù tác giả còn
sống hay đã mất đang sống ở miền nam hay miền bắc.

Những tập thơ của họ tuy không ấn bản thành sách vì miền Nam tôn trọng luật
bản quyền chỉ xuất hiện dưới dạng quay Ronéo cho sinh viên, học sinh nghiên
cứu, hay thỉnh thoảng những bài hay được đăng tải trên những tạp chí.
Cũng vì tính tự do nên những tác phẩm của nhạc sĩ Phạm trọng Cầu vẫn được
lưu hành và nhiều người trong nhiều giới thưởng ngoạn khác nhau đều đã
thưởng thức (Cám ơn nhà văn Sỏi Ngọc đã chuyển đến hắn bài viết) .
Hắn gởi đến các bạn đọc để thưởng thức những chất lãng mạn của mùa thu
Paris.
Ara

Cung Trầm Tưởng đặt chân đến Pháp vào đầu thập niên 1950. Ông ghi tên thi
vào trường Kỹ sư Không quân ở Salon de Provence, ở miền Nam nuớc Pháp. Trong
thời gian học ở Pháp từ 1952 đến 1957, sinh viên Cung Trầm Tưởng cũng hay về
Paris và rất quen thuộc với khu Latin, khu trẻ trung và trí thức, nơi tập
trung các cửa hàng sách lớn của Paris, các tiệm café, nơi có công viên
Luxembourg, các giảng đường của viện Đại học Sorbonne, và đông đảo sinh viên
đủ các nước. Nơi đó Cung Trầm Tưởng có một mối tình với một người bạn gái
tóc vàng mắt xanh.
Một ngày đang giữa niên học, nàng nhuốm bệnh phải về quê tịnh dưỡng dài
ngày. Chàng sinh viên thi sĩ tiễn nàng ra nhà ga để đáp một chuyến xe lửa về
miền Provence.

Lên xe tiễn em đi
chưa bao giờ buồn thế
trời mùa đông Paris
suốt đời làm chia ly

Bài thơ “Chưa bao giờ buồn thế” đã được Phạm Duy phổ nhạc thành một bài hát
mang tên “Tiễn em”. Cung Trầm Tưởng cũng nhắc đến mối tình đó khi nhớ lại
những lúc bồi hồi chờ người yêu trong công viên Luxembourg dưới làn mưa thu
:

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly
Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ
Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu
Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì
Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời
Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù
Mùa thu !… Trời ơi ! Tình thu !

Bài thơ “Mùa thu Paris” của Cung Trầm Tưởng đã được Phạm Duy phổ nhạc thành
một bài hát cùng tên.

Mười năm sau Cung Trầm Tưởng, một sinh viên Việt Nam khác là Phạm Trọng Cầu
cũng đặt chân đến Paris để theo học lớp đào tạo của Học viện Cao cấp Âm
nhạc. Và ông cũng đã có một mối tình sinh viên giữa khung cảnh của khu
Latin. Trong thời gian du học tại Pháp từ 1962 đến 1969, nhạc sĩ Phạm Trọng
Cầu đã sáng tác bài “Mùa thu không trở lại” khi cuộc chia tay xảy ra vào mùa
thu. Ông tâm sự:
“Thời ấy mình có yêu một cô bạn gái có mái tóc đen dài, đôi mắt buồn vời
vợi. Đối với tôi… là một mối tình xa xưa thời còn trai trẻ. Gặp nàng vào mùa
xuân, mùa hạ tình nồng cháy và mùa thu nàng ra đi. Nàng về nước để từ đó
không bao giờ trở lại Paris nữa. Hôm tiễn đưa nàng đi rồi, mình trở về, bước
từng bước như người say rượu, ngang vườn Luxembourg. Khu vườn đó, khi tôi đi
ngang, tôi chợt nhận ra mùa thu, vì chân mình đá rất nhiều lá vàng, trong
tôi tự nhiên vang một giai điệu “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…”
Dù là mùa thu ở Paris rất đẹp, nhưng mà từ mùa thu đó, với tôi,mùa thu không
bao giờ trở lại nữa”.

Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại.
Em ra đi mùa thu,
Sương mờ giăng âm u.
Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không còn nữa.
Đếm lá úa mùa thu,
Đo sầu ngập tim tôi.
Ngày em đi,
Nghe chơi vơi não nề,
Qua vườn Luxembourg,
Sương rơi che phố mờ,
Buồn này ai có mua?
Từ chia ly,
Nghe rơi bao lá vàng,
Ngập dòng nước sông Seine,
Mưa rơi trên phím đàn,
Chừng nào cho tôi quên ?
Hôm em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại,
Lá úa khóc người đi,
Sương mờ dâng lên mi.
Em ra đi mùa thu,
Mùa lá rơi ngập ngừng,
Đếm lá úa sầu lên,
Bao giờ cho tôi quên ?

Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng đều đã có một thời gian du học tại Paris,
vào một thời buổi mà ít có người có cơ hội xuất ngoại và du học sinh Việt
Nam tại Kinh đô Ánh sáng cũng rất hiếm. Cả hai đều có một bài thơ nói về mùa
thu Paris, với khung cảnh rất giống nhau: cũng công viên Luxembourg với lá
vàng bay trong gió, cũng sương mù và bầu trời âm u, một bên thì buồn vì nàng
đã ra đi, người thì khắc khoải chờ người yêu đến… Tác phẩm của Phạm Trọng
Cầu là một bài thơ gồm những câu ngắn 5 chữ; nhà thơ cũng là nhạc sĩ nên đã
phổ nhạc thành một bài hát rất được mến chuộng tại miền Nam trong các thập
niên 60-70. Bài thơ của Cung Trầm Tưởng gồm những câu ngắn 4 chữ, được Phạm
Duy phổ nhạc. Bài hát cũng rất được ưa thích. Trong cả hai bài đều phảng
phất bầu không khí thơ mộng, lãng mạn, u buồn của thành phố Paris vào mùa
thu với những cơn gió lạnh thổi bay lá vàng giữa cơn mưa lất phất.

Nét giống nhau dừng lại ở chỗ đó, vì Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng có
những định mệnh khác hẳn, vì hai người ở hai bên chiến tuyến, một bên thắng
cuộc và một bên thua cuộc.

Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng, hai người ở hai bên chiến tuyến
Phạm Trọng Cầu sinh năm 1935 tại Phnom Penh, Campuchia, nhưng nguyên quán ở
Hà Nội. Năm 1943, gia đình ông trở về Sài Gòn, rồi về miền Tây sống tại quận
Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1948, Phạm Trọng Cầu trở lại Sài Gòn, tham
gia phong trào xuống đường đấu tranh của sinh viên học sinh. Một thời gian
sau, ông thoát ly và đầu quân vào Tiểu đoàn 308, rồi Trung đoàn Cửu Long của
Lực lượng kháng chiến Việt Minh.

Trong một trận đánh với quân đội Pháp, ông bị thương phải cưa chân. Gia
đình ông đã tìm cách đưa ông về Sài Gòn cứu chữa. Trong thời gian này ông
viết ca khúc đầu tay “Trường làng tôi”.

Năm 1956, Phạm Trọng Cầu nhập học khóa đầu tiên của trường Quốc gia Âm nhạc
và Kịch nghệ, mới được thành lập dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, ở số 112 đường
Nguyễn Du, Sài Gòn
<https://www.google.com/maps/search/s%E1%BB%91+112+%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng+N
guy%E1%BB%85n+Du,+S%C3%A0i+G%C3%B2n?entry=gmail&source=g
> . Sau khi tốt
nghiệp, năm 1962 ông sang Pháp thi vào Học viện Cao cấp Âm nhạc Paris
(Conservatoire National Supérieur de Musique). Tại đây, ông đã viết bản nhạc
“Mùa thu không trở lại” được xem như là một trong những bài hát tiêu biểu
của “dòng nhạc thính phòng” và được các ca sĩ thượng thặng của Sài Gòn trình
diễn.

Năm 1969, Phạm Trọng Cầu về nước giảng dạy tại trường Quốc gia Âm nhạc và
Kịch nghệ Sài Gòn, tham gia các đoàn văn nghệ như Nguồn Sống, sinh viên Phật
tử Vạn Hạnh… và bí mật hoạt động nội thành. Năm 1972, ông bị bắt và giam cho
đến năm 1975.

Sau khi được trả tự do tháng 4-1975, Pham Trọng Cầu về công tác ở Hội Văn
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Ông cũng phát động phong trào ca hát thiếu nhi,
thành lập các nhóm hợp ca và sáng tác nhiều ca khúc cho thiếu niên.

Ông mất năm 1998 tại Sài Gòn. Ngày nay ở quận 9, trong một khu dân cư mới
có một đường mang tên Pham Trọng Cầu.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng sinh trước Phạm Trọng Cầu ba năm và đặt chân đến
Pháp du học đúng 10 năm trước Pham Trọng Cầu. Cung Trầm Tưởng sinh năm 1932
tại Hà Nội. Năm 1949, gia đình ông rời Hà Nội vào Sài Gòn, ông học tiếp
trung học tại trường Chasseloup-Laubat (sau đổi tên thành Jean-Jacques
Rousseau rồi Lê Quí Đôn).

Năm 1952, sau một năm học đại học, ông sang Pháp du học, thi vào Trường Kỹ
sư Không quân ở Salon-de-Provence, miền Nam nước Pháp. Trường này là một
trong 5 trường đại học có qui chế quân sự có uy tín nhất của Pháp, cùng với
Trường võ bị Saint-Cyr, Trường Bách khoa (Polytechnique), Trường Sĩ quan Hải
quân và Trường Sĩ quan Cảnh binh. Năm 1957, ông tốt nghiệp trở về nước phục
vụ trong Binh chủng Không quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong khoảng thời gian này, 6 bài trong tập thơ Tình ca của Cung Trầm Tưởng
được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc : “Mùa thu Paris”, “Chưa bao giờ buồn thế”,
“Bên ni bên nớ”, “Khoác kín”, “Kiếp sau”, “Về đây”.

Năm 1962, ông sang Hoa Kỳ học về khí tượng và lấy bằng Tiến sĩ Khí tượng
học tại viện Đại học Saint-Louis, tiểu bang Missouri. Sau đó, ông trở về Sài
Gòn tiếp tục phục vụ trong Binh chủng Không quân VNCH với cấp bực cuối cùng
là Trung tá. Sau biến cố 30-4-1975, ông bị bắt đưa đi cải tạo 10 năm. Sau
khi được trả tự do, ông sang Hoa Kỳ định cư từ năm 1993.

Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu đều được biết gần như cùng thời gian với
những bài hát trở thành bất hủ trong dòng nhạc thính phòng quí phái của miền
Nam các thập niên 60-70. Cả hai đều đã một thời gian du học tại Pháp, Cung
Trầm Tưởng học trong một trong những trường kỹ sư có uy tín nhất nước Pháp,
còn Phạm Trọng Cầu được thụ huấn trong một Học viện Âm nhạc danh tiếng của
Châu Âu.

Năm 1975 là mốc định mệnh ; một người thì ra tù sau ba năm bị giam, người
kia thì vào tù cải tạo rồi bị giam giữ 10 năm.

Phạm Trọng Cầu tuy được đào tạo trong một Nhạc viện Hàn lâm nhưng tác phẩm
để lại rất ít. Tên tuổi của ông được nhớ đến chỉ nhờ có hai bài là “Trường
làng tôi” và “Mùa thu không trở lại”, đều được phổ biến trong miền Nam vào
những thập niên 60-70. Tuy ông đã tham chiến trong hàng ngũ Việt Minh và mất
một chân trong một trận đánh, nhưng ông vẫn được nhận vào học trường Quốc
gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn hình như không khó khăn lắm, và sau đó được
phép đi du học tại Pháp, vào một thời điểm mà số sinh viên xuất ngoại du học
rất ít. Sau khi Phạm Trọng Cầu bị bắt giam vào năm 1972 vì hoạt động gián
điệp nội thành, hai bài hát “Trường làng tôi” và “Mùa thu không trở lại” vẫn
được hát trên đài phát thanh, đài truyền hình, và được tự do phổ biến. Không
có một lệnh cấm nào từ trên đưa xuống.

Chính sách văn hoá của chế độ VNCH vào các thập niên 60-70 tuy không có văn
bản nào ghi xuống rõ ràng, nhưng có thể thấy được qua qui tắc làm việc của
Giải thưởng Văn Chương Toàn quốc được thiết lập năm 1957. Tạp chí Văn Hữu số
21 do Bộ Văn Hoá miền Nam ấn hành năm 1962 có đăng một bài về “Lược sử Giải
Thưởng Văn Chương Toàn Quốc thời Đệ Nhất Cộng Hoà” (1954-1963). Tác giả bài
viết cho biết là trong việc chọn các tác phẩm trúng giải có một nguyên tắc
không thay đổi là không đòi hỏi một điều kiện nào về nội dung hay hình thức
của các tác phẩm. Chủ tịch Hội đồng Giải Văn chương Toàn quốc lần thứ ba,
học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã nêu lên tiêu chuẩn lựa chọn của Hội đồng
là : “Tác phẩm được chọn sẽ là phản ánh của một nền văn hoá tự do, nghĩa là
không bị bó buộc trong khuôn khổ của một hệ thống tư tưởng nào, hay phải
theo một khuynh hướng văn nghệ hay chính trị nào cả”.

Cũng do một chính sách văn hoá nhân văn và cởi mở như vậy mà các bài hát
của Phạm Trọng Cầu còn được nhớ đến, cũng như những thơ văn tiền chiến hay
thời kháng chiến chống Pháp của Xuân Diệu, Huy Cận, Quang Dũng, Hữu Loan…
những ca khúc tình cảm hay chiến đấu của Phạm Duy, Đoàn Chuẩn, Nguyễn Văn
Tý, Văn Cao, Lưu Hữu Phước… vẫn được tự do phổ biến và thưởng thức, dù tác
giả còn sống hay đã chết, đang sống ở miền Nam hay miền Bắc.

Tưởng cũng nên nhắc nhở đến tính cách hết sức ôn hoà, vô tư và rộng lượng
của một chính sách văn hoá áp dụng ngay trong lúc đang diễn ra một cuộc
chiến khốc liệt nhất, một chính sách phục vụ cho một nền văn hoá nhân bản
đích thực, không để cho hận thù và ý thức hệ chính trị chi phối.

Vĩnh Đào

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu, Hai con người, hai chiến tuyến, một ‘Mùa Thu Paris’
Comment

Đôi Mắt NGƯỜI THƯƠNG (Đ.Văn) Nguyễn Cát Thịnh

December 1, 2025 Ninh Tran

Đôi Mắt NGƯỜI THƯƠNG (Đ.Văn)

Nguyễn Cát Thịnh

      Nó và tôi không xa lạ. Thời sinh viên, tôi là gia sư của anh em nó. Trái với đứa anh, nó thông minh, có cá tính, nhưng ham chơi biếng học. Tôi mất nhiều thì giờ dạy dỗ nên nhớ nó rất rõ.

       Sau cuộc biển dâu, gặp lại nhau trên đất khách quê người. Dù nó đã lột xác, tôi vẫn nhận ra.

Thật là thích thú được nghe câu chuyện đời tư của nó.

Tôi chỉ viết lại theo lời kể, không thêm bớt. 

Ghi chú: nhân vật xưng “Tôi” chính là nó.

                                              *****                                            

TÀI XẾ VÀ THÁNH NỮ

       Tôi là một người Việt gốc Hoa. Nhà tôi có 3 anh em. Trên tôi là anh Hai, hơn tôi gần 2 tuổi. Dưới tôi là gái út, kém tôi 4 tuổi.

       Thuở nhỏ, tôi và anh Hai học cùng lớp. Anh sáng dạ, học rất khá. Tôi lười học, chỉ giỏi mày mò tháo ráp máy móc, thích đánh lộn...

       Đến tuổi quân dịch, anh Hai nhận được giấy gọi nhập ngũ. Anh buồn lắm, nhìn thấy tương lai mờ mịt, suốt ngày than thở. Thương anh phải bỏ dở chuyện học hành, tôi ngỏ lời tình nguyện đi thay. Tôi và anh hoán đổi lý lịch. Cha mẹ đồng ý.

       Sau này, dù đáo hạn tuổi, anh vẫn được hoãn dịch, lý do gia cảnh, vì anh trở thành con trai duy nhất còn lại trong gia đình.

       Phường khóm chỉ biết chúng tôi với những cái tên ở nhà nên khi tôi cầm giấy tờ của anh trình diện, không ai nghi ngờ.Vả lại anh em tôi nhìn không khác nhau nhiều.

Sau khi mãn khóa quân trường, ông nội lo lót cho tôi về phục vụ trong ban quân xa của một đơn vị ngoại thành.

       Một dịp ngẫu nhiên, tôi được điều động đi sửa chữa khẩn cấp xe jeep của một vị sĩ quan cấp tá chết máy khi đang trên đường công tác. Thấy tôi nhanh nhẹn, tay nghề vững chắc, vị sĩ quan rất hài lòng. Mấy tuần sau tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về làm tài xế cho vị sĩ quan đó. 

       Cuộc đời tôi bước vào một ngã rẽ, và số mệnh đã được định đoạt từ đây.

       Ngoài công tác lái xe, tôi được ông Tá (tên vị sĩ quan) xem như người nhà. Khi rảnh rỗi, tôi tình nguyện giúp sửa chữa những việc lặt vặt tại tư gia của ông. Thỉnh thoảng được mời ngồi ăn cơm chung với gia đình. 

       Ông bà có 4 người con, 2 trai 2 gái. Tất cả đều học trường Pháp. Cô gái lớn tên Sylvie xinh đẹp, có dáng dấp khỏe mạnh tây phương, rất tự nhiên với tôi. Nhưng tôi thì không tự nhiên khi tiếp xúc, có cảm tưởng cô chỉ xem tôi như một gia nhân. Tự ti mặc cảm, tôi chấp nhận, không thắc mắc.

Một ngày nọ, bà Tá bận việc không đón cô tan học như thường lệ nên ông Tá nhờ tôi. 

       Hôm đó trời mưa tầm tã suốt buổi. Chiếc xe jeep nhà binh không có vạt che 2 bên, mưa tạt mạnh vào trong. Trông cô như một tài tử đang diễn cảnh vừa rơi xuống hồ bơi mặc nguyên quần áo, bước lên xe. Run rẩy.

       Chiếc chemise trắng và chiếc jupe vàng dán sát làm phông, nổi bật nội y. Lồ lộ một bông hoa đang hé nở. Toàn thân phác họa sẵn những đường nét hình thành một thần vệ nữ tương lai.

       Tôi không ướt nhiều mà cũng run rẩy. Mặt nóng bừng bừng, mê man trong cơn sốt ảo. Chỉ đến khi cô nhắc cho xe chạy tôi mới sực tỉnh. 

      Tôi cởi chiếc áo khoác lính đưa cô che đậy. Tránh ánh mắt nhìn hau háu, chiêm ngưỡng, ghen tỵ của những chàng trai qua đường.

       Tôi sung sướng suốt mấy ngày. Cười nói huyên thuyên. Chiếc áo khoác tôi treo sát đầu giường, không bao giờ phơi, không bao giờ giặt. Hương thơm phảng phất cho tôi quên hết mệt nhọc sau ngày dài làm việc và ban đêm dìu tôi vào giấc ngủ dễ chịu êm ái nhất. 

Hình ảnh hôm ấy của cô khắc sâu trong tâm trí. Nếu là họa sĩ tôi có thể vẽ không thiếu một chi tiết.

DI TẢN VÀ ĐỊNH CƯ 

       Ngày di tản. Dòng người hối hả chen lấn xô đẩy khi chiếc máy bay chưa kịp ngừng hẳn. Tôi xách 2 chiếc vali định trao cho ông Tá rồi trở về nhưng bị chèn ép, không thoát ra được. Bị nhét vào bên trong máy bay, trở thành người di tản bất đắc dĩ.

Chúng tôi được định cư ở Grand Rapids thuộc tiểu bang Michigan. 

       Tại Mỹ, tôi hội nhập dễ dàng hơn gia đình ông bà. Hội nhà thờ giới thiệu tôi và ông Tá làm công nhân trong một xưởng sản xuất phụ tùng xe hơi.Tôi học thêm nghề hàn,sống khá thoải mái. Bà Tá vẫn còn hoài niệm mệnh phụ phu nhân, không chấp nhận lao động chân tay. 

4 người con được xếp vào các lớp học theo độ tuổi. 

       Trong hãng xưởng có nhiều công nhân Việt Nam thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Buổi ăn trưa chúng tôi thường tách thành nhóm riêng, nói tiếng Việt rôm rã. 

       Một hôm, có một thanh niên không hiểu sao sừng sỏ, nói bóng gió, ở VN làm tướng làm tá hách dịch, qua đây thằng nào cũng như thằng nấy, cũng cu li như nhau. Tôi không dằn được cơn giận, định dạy cho anh ta một bài học nhưng ông can ngăn.

       Tôi lớn tiếng, ông thầy tôi đã ngã ngựa nhưng vẫn khí khái. Không nề hà công việc nào, miễn là lương thiện, anh phải kính phục hơn là khinh thường. Hơn nữa tuổi của ông ta bằng tuổi cha chú của anh, anh không được hỗn xược gọi ông là thằng. Mọi người vỗ tay hoan nghênh, anh ta xấu hổ bỏ đi, từ đó bị tất cả xa lánh. 

       Ông Tá lủi thủi bước, cúi mặt, nói với chính mình: “Thằng ông lưu vong ơi, đã đủ nhục chưa?”

Cô Sylvie bỏ học, theo đám bạn bè cùng lứa, sống bầy đàn khiến ông bà phiền lòng không ít.      Ông vốn sống lặng lẽ lại càng lặng lẽ. Tôi là người duy nhất hầu chuyện ông, giúp ông khuây khỏa. 

Có lần ông nói với bà mà tôi vô tình nghe được: 

- Phải chi con Sylvie chịu lấy thằng... thì đâu đến nỗi.

Bà trừng mắt nói:

- Ông muốn gả con gái ông cho ai? Cho nó ư? Nó chỉ là thằng lính tài xế!

Ông nhỏ nhẹ: 

- Tuy thế nó biết trên dưới,biết lễ độ,biết chí thú làm ăn, không khá hơn cái đám bạn bè ăn chơi của con bà ư? 

      Tôi không khỏi suy nghĩ. Tự nhủ, phải quyết tâm tìm chút công danh cho mở mắt với đời. Tôi dành thời giờ buổi tối, ôn luyện chương trình trung học. Sau đó nhờ bà láng giềng tốt bụng hướng dẫn ghi danh học ở Kalamazoo Valley Community College 2 năm và tiếp theo 2 năm nữa ở University of Michigan-Flint.

       4 năm học tập vất vả rồi cũng qua. Tôi nhận được văn bằng tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Kỹ thuật Cơ khí. Ông Tá chúc mừng, đãi tôi bữa cơm thân mật. 

Ông nói với bà:

- Bà thấy chưa? Mỹ là đất nước của cơ hội. Mọi người đều bình đẳng. Có ý chí phấn đấu sẽ thành công. Từ thằng tài xế nó đã trở thành ông kỹ sư. Không tiến thủ, ỷ lại, sẽ bị bỏ rơi phía sau như con gái bà. Đấy! Cô tiểu thư của bà,dân trường tây trường đầm bây giờ có ra gì!

Bà Tá tỏ vẻ bất cần, không đáp trả.

      Tôi tìm được công việc mới, phù hợp với khả năng. Ông Tá thay đổi công việc vài lần rồi tới tuổi hưu trí. 

      Mỗi cuối tuần tôi đều rủ ông đi uống cà phê, đi câu cá, đi ăn ngoài hoặc đi gặp các bạn già của ông. 

      Ông rất quý mến tôi. Riêng tôi vẫn kính trọng ông như ngày xưa, nói với ông, tôi lúc nào cũng là lính của ông.

     Tôi âm thầm theo dõi sinh hoạt của cô Sylvie, vẫn tôn thờ thánh nữ của tôi. Đồng thời cùng chia sẻ sự lo lắng của ông bà Tá. 

      Tôi hứa với cô, bất cứ khi nào cô cần đều có tôi, không điều kiện. Những lần cô gọi tôi giúp giải vây đám côn đồ, tôi đều hăng hái. Cô xem đó như là nhiệm vụ của tôi phải bảo vệ cô. Buồn ít nhưng vui nhiều.

ĐÔI MẮT NGƯỜI THƯƠNG 

       Những năm sau này tôi nhận ra mắt thường bị khô, cộm. Đôi lúc nhạy cảm với ánh sáng, nhất là với ánh sáng chói. Tôi nghĩ, có lẽ do hậu quả của thời gian làm nghề hàn nên không quan tâm.

      Tôi hối hận đã không mua thêm bảo hiểm cho dịch vụ khám mắt định kỳ, ngoài Medicaid của tiểu bang. Nếu được phát hiện sớm tôi đã không lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo.

       Cho đến khi thị lực giảm, nhìn mờ. Soi gương thấy có đốm trắng trên giác mạc, tôi hoảng hốt, đến bệnh viện nhãn khoa khám thì tình trạng đã khá nghiêm trọng. 

Bác sĩ chẩn đoán thoái hóa giác mạc nặng, thị lực có thể suy giảm theo thời gian. Nguy cơ mù vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời. 

       Các loại thuốc nhỏ mắt và thuốc nhỏ nước mắt nhân tạo chỉ giúp giảm khô mắt và bảo vệ giác mạc tạm thời.

       Hai giải pháp được bác sĩ đưa ra. Hoặc cấy ghép mô nhân tạo bằng phương pháp hiện đại giúp tái tạo giác mạc, hoặc phẫu thuật ghép giác mạc của người hiến tặng. Giải pháp thứ hai có lẽ thích hợp với tôi hơn, nhưng danh sách chờ ghép quá dài, vì hiếm nguồn hiến tặng. Tôi được giới thiệu ghi danh tại chi nhánh của tổ hợp “Northwest Eye Surgeons” ở Chicago, với hy vọng rất mỏng manh.

       Tin dữ ập đến với gia đình ông bà Tá. Cô Sylvie bị tai nạn giao thông! Tình trạng nguy kịch. Bệnh viện tiên liệu xấu, khó qua khỏi. Gia đình họp khẩn cấp. Không ai giữ nổi bình tĩnh ngoại trừ ông Tá. 

         Tôi nghe tin mà bất lực, mắt đã mờ hẳn, không thể di dịch xa như ý muốn. Cậu em trai của cô chở tôi đến bệnh viện gặp mọi người. 

          Cô Sylvie đã chết não. Bà Tá khóc lóc thảm thiết, ôm con nói trong nước mắt ràn rụa, con tôi chết trẻ, chết oan uổng, làm sao có thể nhắm mắt. 

       Ông Tá nghe thế, đột nhiên có một ý nghĩ nảy sinh trong đầu. Ông đề nghị hiến giác mạc của cô Sylvie cho tôi để cặp mắt của cô sẽ sống mãi.

         Bà Tá không đồng ý nhưng dưới áp lực và lời khuyên chân thành cuối cùng chấp nhận. 

Quá bất ngờ, tôi không kịp suy nghĩ, bất động, cảm kích không nói nên lời. 

       Việc lấy giác mạc phải được thực hiện trong vòng 6-24 giờ sau khi người hiến qua đời để bảo đảm chất lượng mô nên xe cứu thương đưa xác cô Sylvie và tôi đến bệnhviện nhãn khoa“Northwest Eye Surgeons”tức thời. 

Cuộc phẫu thuật thành công như mong đợi. Ghép giác mạc là một phẫu thuật ngoại trú. 

       Sau khi theo dõi vài giờ, không thấy có nguy cơ biến chứng, tôi đã được xuất viện cùng ngày. Phải giữ băng mắt trong 2 ngày và dán nắp kính bảo hộ khi ngủ, để tránh vô tình chạm dụi mắt. 

       Sau 2 ngày thì tháo băng. Không có cảm giác khó chịu và sưng nên tôi lại nhờ cậu em trai đưa về nhà ông bà Tá để cảm ơn tấm lòng nhân đạo bao la của ông bà và cũng để đến trước di ảnh cô Sylvie thành tâm tưởng nhớ. Ông bà muốn xem đôi mắt tôi nhưng không được vì vẫn còn mang kính do nhạy cảm với ánh sáng và chảy nước mắt. Chỉ khi thị lực ổn định mới được để mắt trần.

       Điều kỳ lạ, mỗi khi nhìn vào gương, tôi không thấy chính mình, mà thấy hình bóng cô Sylvie. Đôi mắt ấy, cái nhìn ấy – là của cô! Mỗi lần nhắm mắt, tôi đều cảm nhận như cô vẫn ở bên cạnh, cười với tôi, nói chuyện với tôi bằng chính đôi mắt đó.

       Bà Tá vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận sự thật. Bà không biểu lộ thiện cảm với tôi vì nghĩ tôi không xứng với con gái bà. Nhưng giờ đây, mỗi lần nhìn tôi, bà lại thấy đôi mắt ấy – đôi mắt của cô Sylvie, trong veo mà day dứt. Có lần bà buồn bã nhìn tôi, chợt hỏi:

– Dạo này... con có nhớ Sylvie nhiều không?

Tôi sững lại. Bà chưa từng gọi tôi là “con”. 

Tôi khẽ gật đầu:

– Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút bà ạ.

       Bà Tá im lặng nhìn tôi. Gọi tôi là con nhưng có bao giờ bà xem tôi như con đâu. Giờ đây, từng ánh nhìn, từng cử chỉ của tôi đều gợi cho bà hình bóng cô Sylvie. Có lẽ, định mệnh đã sắp xếp để chàng trai này cùng chung sống với một phần cơ thể của con gái bà.

       Một buổi chiều muộn, tôi ghé thăm nhà. Ông Tá ra mở cửa, vỗ nhẹ lên vai tôi, vẫn ánh mắt ấm áp:

– Vào đi con, lâu rồi sao con không tới ăn cơm với gia đình?

       Căn nhà từng đóng kín cửa vì nỗi đau mất con, hôm nay lại mở rộng với tôi. Bước vào, thấy trên bàn thờ di ảnh cô Sylvie, rạng rỡ như ngày nào. Tôi khẽ cúi đầu, thì thầm trong lòng:

- Cô... cô vẫn đang đồng hành cùng tôi trên con đường đời, đúng không?

Ngoài hiên, gió nhẹ lay lay những chùm hoa giấy, nghe như tiếng động gật đầu.

      Từ ngày bước vào căn nhà của ông bà với tư cách một người thân, tôi dần quen với sự hiện diện của bà và ông trong cuộc đời mình. 

      Bà Tá vẫn không thể gọi tôi là “con rể”, nhưng sự quan tâm của bà dành cho tôi không khác gì mẹ lo cho con. 

       Bà kín đáo quan sát tôi. Mỗi lần đến thăm, bà đều cho tôi thưởng thức những món ăn Sylvie từng thích. 

        Đôi khi bà hỏi han chuyện công việc của tôi, rồi chuyện nọ chuyện kia. Nhắc nhở tôi giữ gìn sức khỏe.

Tôi không biết từ khi nào tôi đã trở thành một thành viên của gia đình ấy. 

       Mỗi khi ở bên ông bà, tôi cảm thấy gần cô Sylvie hơn, như thể cô vẫn hiện diện đâu đây, qua từng món ăn, từng bức ảnh, từng kỷ niệm nhỏ mà mọi người kể lại.

       Sau ca ghép giác mạc, tôi phát hiện ra một điều lạ lùng. Đôi mắt tôi không chỉ giúp tôi nhìn rõ hơn mà dường như còn chứa đựng một phần ký ức. 

       Có những lúc mơ màng, mơ mà như thực. Tôi thấy mình lái xe dưới cơn mưa tầm tã đón cô ở cổng trường, thấy bàn tay mình cầm một cuốn sổ nhỏ với những dòng chữ quen thuộc tôi chưa từng viết.

       Một đêm nọ, tôi giật mình tỉnh dậy, tim đập thình thịch. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đang đứng trước gương, nhưng khuôn mặt phản chiếu không phải của tôi, mà là của cô. Cô cười vui, hàm răng trắng bóng, ánh mắt tràn đầy yêu thương. Tôi lẩm bẩm, nhìn chằm chằm vào gương:

- Cô vẫn ở đây, bên tôi, đúng không? 

       Đôi mắt trong gương lóe lên ánh nhìn linh động. Không có tiếng trả lời, nhưng tôi có cảm giác như cô đang mỉm cười với tôi qua chính đôi mắt ấy.

       Tôi không kể điều này với ai. Tôi sợ nếu nói ra, người ta sẽ bảo tôi bị bệnh hoang tưởng. Dần dần cảm giác đó không ám ảnh nữa. Nó trở thành một sự hiện hữu quen thuộc, một niềm an ủi đích thực. Tôi không còn thấy cô đơn, vì biết rằng cô vẫn ở bên tôi, theo một cách đặc biệt.

       Bà Tá lúc đầu vẫn giữ khoảng cách với tôi, nhưng càng ngày, bà càng thấy hình ảnh của chính con gái mình rõ nét hơn trong từng ánh mắt, từng cử chỉ của tôi. 

       Bà lặng lẽ nhìn tôi chăm sóc chậu hoa giấy con gái bà từng yêu thích, thấy tôi cẩn thận lau chùi từng món đồ kỷ niệm của Sylvie, thấy tôi thỉnh thoảng lặng người nhìn về phía bàn thờ, như đang trò chuyện với cô.

       Một hôm trong bữa cơm, bà bỗng giật mình, dí sát, nhìn vào mắt tôi, rơi cả đũa. Ảo giác khiến bà lạc giọng:

- Đúng rồi! Đúng đứa con gái bé nhỏ của mẹ đây rồi! Con tôi đã trở về! Con tôi! Mẹ đã thấy con trong đôi mắt con. Mẹ... mẹ muốn... cho mẹ ôm con vào lòng...

       Bà giang hai tay ôm một chiếc bóng vô hình rồi hôn lên mắt tôi. Bà nếm những giọt nước mắt lăn dài mà tôi không biết chảy từ lúc nào. Bà nói trong nước mắt:

- Cứ khóc đi con! Mẹ và con cùng khóc ! Những giọt nước mắt hạnh phúc của hai mẹ con mình!

Qua cơn xúc động, bà trìu mến hôn lên mắt tôi một lần nữa:

- Hay là con dọn về ở đây đi. Mẹ muốn thấy con của mẹ mỗi ngày.

Rồi giọng bà mềm đi:

- Ừ! mẹ biết... con thương Sylvie. Con hãy xem nơi này như nhà nghe con.

       Tôi nghẹn lời. Đã vài lần bà gọi tôi là “con”, nhưng lần này gọi con xưng mẹ một cách tự nhiên. Cảm giác nhận được chân tình của bà tràn ngập trong lòng, tôi khẽ gật đầu.

       Từ hôm đó, tôi qua lại nhà ông bà hàng ngày. Tôi chăm sóc họ như cha mẹ mình, còn họ xem tôi như con trong gia đình. Bà không khách sáo, mà dần chấp nhận sự thật. Bằng tâm linh, con gái bà vẫn tiếp tục sống trong thế giới này, với đôi mắt ấy, thông qua chàng trai trước mặt bà.

        Thời gian trôi qua, tôi vẫn không yêu ai khác. Trong lòng tôi, cô chưa bao giờ rời xa. Tôi vẫn giữ thói quen đi dạo trên những con đường cô từng đi, vẫn giữ quyển sổ nhật ký của cô bên mình, dù chưa một lần mở ra. Tôi sợ biết những điều không muốn biết.

Một buổi chiều, khi đang ngồi bên hiên nhà ngắm nhìn hoa giấy bay trong gió, bà Tá chợt hỏi:

- Con vẫn không định tìm một ai khác sao?

Tôi mỉm cười lắc đầu. Không cần phải nói gì thêm, vì bà đã hiểu.

- Thôi được rồi... 

Bà thở nhẹ, không còn băn khoăn như trước: 

- Dù sao thì, con vẫn là con của gia đình.

       Tôi nhìn bà, cười tươi. Tôi biết, dù cô đã không còn, nhưng tôi thay chỗ cô trong gia đình, vẫn cùng cô đi đi về về. 

       Và dẫu cuộc sống có ra sao, tôi vẫn luôn mang theo đôi mắt người thương, để nhìn thế gian này bằng ánh mắt của cô, để yêu thương mọi thứ theo cách cô từng yêu thương.

Hoàng hôn buông xuống, nhuộm vàng cả khung trời. Qua làn gió thoảng, dường như có ai đó đang cười bằng mắt.

*****

Đồng cảm, người viết gửi tặng người trong truyện mấy câu:

Một đôi mắt, nhập hai tâm hồn,

Vui buồn cười khóc với thế nhân.

Sống-chung đời-lòng thề không đổi,

Nhắm mắt cùng nhau lúc lìa trần.

Nguyễn Cát Thịnh

Ngày 10 tháng 2 năm 2025

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Đôi Mắt NGƯỜI THƯƠNG, Nguyễn Cát Thịnh
Comment

TIẾNG VIỆT “MỌI RỢ” (Benny Nguyen)

November 25, 2025 Ninh Tran

TIẾNG VIỆT “MỌI RỢ”: CỰC HOT, SIÊU NGON, NGON VÃI, NGON ĐỈNH, NGON HOÀNH TRÁNG 

Con lừa thì ăn rau, củ, quả và chuyên chở đồ giúp ích cho chủ nó. Còn đảng viên lừa, giáo sư lừa, tiến sĩ lừa và sư hổ mang lừa thì ăn hối lộ, lãnh lương từ tiền thuế của dân, tham nhũng, mua bằng giả, rồi làm lễ khoe bằng giáo sư, tiến sĩ lố bịch, rất thích làm “bố thiên hạ”!

Đám lừa này làm chủ tịch, tổng bí thư, bộ trưởng bộ giáo dục, bộ y tế, bộ ngoại giao nhưng trình độ Việt văn và Anh văn ngang với người mù chữ, kẻ thất học. 

Tôi rất thông cảm và tội nghiệp cho những người vì hoàn cảnh tài chánh gia đình khó khăn, không có cơ hội được đi học, nhưng tôi phải chỉ trích gay gắt những tên “giáo sư, tiến sĩ Việt cộng lừa”!

 Thay vì nói “10 bí quyết nấu ăn ngon xuất sắc / ngon tuyệt / ngon độc đáo / ngon đặc biệt v.v. “ thì “đám lừa” dùng chữ “cực hot” lai căng không đúng chỗ. 

 Thay vì dùng chữ Hán Việt “Úc Đại Lợi” hay tiếng Anh “Australia” thì mấy ông bà “cán bộ ngoại giao lừa” dùng chữ phát âm của khỉ “Ô-Xtơ-Rây-Lia” làm tên quốc gia trong sổ thông hành. Thay vì giữ nguyên tên thành phố tiếng Anh “Houston” thì lại viết “Hiu-Xtơn”!

 Thay vì dùng danh từ y khoa “vi khuẩn” thì đám “lừa” dùng chữ phát âm quái đản sai bét “vi rút” từ tiếng Anh “virus”!

 KẾT LUẬN

Vì tự ti mặc cảm ngu dốt, nguồn gốc là đầu trộm đuôi cướp đi “cướp chính quyền“, người cộng sản Bắc Việt rất thích "nổ”, dùng chữ “dao to búa lớn" để khoe khoang và tự xưng ta là “đỉnh cao trí tuệ loài người, đảng quang vinh muôn năm”! Ở đời, ai càng nổ, càng khoe khoang mình tài giỏi hơn người khác thì càng lòi ra sự ngu dốt của mình và chỉ làm cho mọi người khinh bỉ, lánh xa

Benny Nguyen

In Giáo Dục, Thời Sự, Văn Hóa Tags Benny Nguyen, TIẾNG VIỆT “MỌI RỢ”
Comment

NẾU CÓ THỂ ĐI VỀ QUÁ KHỨ TÔI SẼ ĐI THĂM ĐẤT NƯỚC TÔI…(Huynh Wynn Tran, MD.)

November 25, 2025 Ninh Tran

NẾU CÓ THỂ ĐI VỀ QUÁ KHỨ TÔI SẼ ĐI THĂM ĐẤT NƯỚC TÔI…

Khi phỏng vấn vào chương trình Tuyển Sinh Y Khoa, có một câu hỏi từ giáo sư tuyển sinh làm tôi nhớ mãi:

 - Nếu em có thể đi về quá khứ để thăm một người hay đến một nơi nào đó, em sẽ đi đâu?

- Thưa thầy, em sẽ đi thăm đất nước của em: VIỆT NAM CỘNG HÒA 

 Khi tôi được sinh ra, VIỆT NAM CỘNG HÒA đã không còn nữa.

 Từ nhỏ, tôi nghe nói về VNCH từ ba tôi và những người bạn. Tôi chỉ hiểu rõ hơn về VNCH khi tôi lớn lên và qua Mỹ sau này. Càng tìm hiểu, tôi càng nhìn rõ hơn một thời bi thương oanh liệt của người miền Nam Việt Nam trong cuộc nội chiến nồi da xáo thịt, sự bất lực của những nước bé trong cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa những cường quốc.

 Tôi sẽ về lại Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, nhảy lên một chiếc xích lô máy dạo phố. Tôi muốn nghe tiếng máy nổ phịt phịt giòn tan trộn mùi xăng pha nhớt trong buổi sáng tinh sương Đô Thành. Tôi sẽ ghé chợ Bến Thành ăn một tô phở gà, ngắm nhìn các cô thiếu nữ Sài Gòn mặc áo dài bó eo, đeo kính mắt to tròn đèo nhau trên chiếc xe Honda Cub ở bùng binh trước chợ.

 Ăn xong, tôi sẽ thả bộ dọc đường Duy Tân, ghé qua toà Đô Chánh và toà nhà Hạ Nghị Viện, phác lại vài nét kiến trúc bằng bút chì trước khi tản bộ ra sông Sài Gòn ngắm tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo. Sau đó, tôi sẽ nhảy xe lên lambro về Nhà Bè nước chảy chia hai, ghé qua vườn trái cây Lái Thiêu bẻ măng cục, bóp nát vỏ xám đen lòi múi thịt trăng trắng ngọt lịm bỏ vào miệng.

 Buổi tối, tôi sẽ ghé thăm phòng trà Tự Do nghe Khánh Ly hát.

 Có thể nói nhạc vàng (bolero) từ thời VNCH là dòng nhạc đẹp nhất của âm nhạc hiện đại Việt Nam.

 Đến nay, dòng Bolero tại Viêt Nam tuy ngày càng nở rộ nhưng những ca khúc hay nhất đều sáng tác thời VNCH.

 Nhưng cái tôi muốn cảm nhận rõ nhất ở VNCH là tính nhân văn và tình người Việt Nam, có được do nền giáo dục đậm chất nhân bản.

 Thời VNCH, các trường ĐH tuy mới bắt đầu chập chững nhưng đã để lại những nền tảng vững chắc cho các trường đại học lớn ở Việt Nam sau này.

 Ở đó, học trò được dạy về trên 3 nguyên tắc:

 - Nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

 Tôi sẽ ghé qua bộ giáo dục VNCH để thăm hỏi vì sao chỉ trong một vài năm... đã thành lập một hệ thống giáo dục Đại học tiến bộ gồm Đại học quốc gia và Đại học cộng đồng địa phương.

 

Đại học thời VNCH hoàn toàn tự chủ về chuỵên môn, không chịu sự quản lý của bộ giáo dục.

 Ngân sách của trường ĐH do quốc hội chuẩn duyệt hàng năm, nhân viên và giáo sư thuộc Tổng uỷ công vụ.

 Tôi sẽ ghé thăm Viện ĐH Sài Gòn (có 8 phân khoa Y, Dược, Nha, Sư Phạm, Khoa Học, Văn Khoa, Luật, và Kiến Trúc).

 Dĩ nhiên tôi chỉ thăm được đại học xá (ký túc xá) Minh Mạng dành cho nam vì đại học xá Trần Quý Cáp dành cho nữ.

 Nếu có thời gian, tôi sẽ ghé thăm Viện Đại Học Cần Thơ, nơi tôi đặc biệt thích chất miền Tây phóng khoáng trong từng sinh viên.

 Thời Đệ Nhất Cộng Hoà, nền giáo dục nhân bản đã để lại cho bao thanh thiếu niên Việt Nam lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng đất nước phú cường bằng trao dồi kiến thức học hành để mang đất nước ra tầm thế giới.

 Tôi vẫn còn cảm nhận được đều này khi gặp lại những thanh niên ngày ấy là những ông bà lão tại Mỹ sau này.

 Ba tôi, một sĩ quan VNCH, cùng là một trong những thanh niên ngày ấy.

 Và dĩ nhiên, tôi sẽ gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để hiểu rõ về những gì xảy ra với đất nước.

 Vì những gì tôi đọc được và nghiên cứu từ nhiều phía vẫn chưa đủ để tôi trả lời câu hỏi vì sao một đất nước Nhân văn, đề cao tính Dân tộc, và phồn vinh như VNCH lại bị bức tử.

 Ngày 30/4 hằng năm, tôi vẫn nhớ về 200,000 người Việt Nam đã bỏ mạng trên biển trên đường tìm Tự do, hàng triệu người Việt đã chết trong cuộc chiến, vẫn nghĩ về sự ngạo mạn của kẻ chiến thắng, sự khốc liệt và dơ bẩn của chính trị.

 Tôi vẫn nhớ về VNCH phồn vinh, thịnh vượng, và nhìn lại đất nước Việt Nam ngày hôm nay mà không khỏi đắng lòng.

 Huynh Wynn Tran, MD.( Tác giả ) 

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa Tags NẾU CÓ THỂ ĐI VỀ QUÁ KHỨ TÔI SẼ ĐI THĂM ĐẤT NƯỚC TÔIHuynh Wynn Tran, MD., Huynh Wynn Tran, MD
Comment

Thoảng Chút Hương Ngâu (Quyên Di)

November 20, 2025 Ninh Tran

Ngâu vàng rụng xuống lòng ai, 
Hương ngâu chưa dứt, dặm dài khuất xa…”

Người ta kể rằng: Thuở xa xưa có một thư sinh họ Trần, tục gọi là Trần
sinh, nhà ở ven đồi Tịch Liêu, đất phủ Thiên Trường.
Sinh mồ côi từ nhỏ, sống thanh bạch, lấy việc đọc sách, làm thơ, viết thư
pháp làm vui. Mỗi ngày dâng hương tổ tiên, mỗi đêm thắp đèn đọc sách. Lòng
Sinh như gương, ý Sinh như suối, không màng danh lợi, chỉ yêu cái đẹp trong
câu văn, nết người, và cây cỏ.

Trước hiên nhà Sinh có một cây ngâu, chẳng rõ ai trồng, chỉ biết từ ngày
Sinh dọn về, cây thêm xanh mướt lạ thường, lá nhỏ như móng tay con gái, hoa
vàng li ti, ẩn trong lùm lá rậm rạp. Mỗi lần gió thổi, hoa ngâu không rơi lả
tả, mà rụng từng bông một, nhẹ như tiếng ai thở dài.

Sinh lấy làm lạ, ngày ngày ra quét hoa, tưới gốc, rửa lá, đôi khi còn ngồi
dưới gốc cây mà ngâm thơ Đường, bình văn cổ. Khi ấy gió nổi hương bay, lòng
Sinh khẽ động.

Cây chẳng nói mà như nghe, 
Người không hỏi mà như được đáp. 
Mỗi buổi hoàng hôn, hoa vàng lặng lẽ rụng,
Mỗi buổi trăng lên, khói hương âm thầm bay.

Một đêm đầu thu, Sinh đang đọc sách trong thư phòng, thì thấy thoảng qua
cửa sổ một dáng người yểu điệu, áo lụa vàng nhạt như hoa ngâu mới hé. Người
ấy bước vào, thắp lư hương trầm, nhóm lò củi quế, rót trà, không nói lời nào.

Sinh kinh ngạc, chưa kịp lên tiếng, nàng đã cúi đầu thi lễ:
-Thiếp là khách không mời, đến nghe chàng đọc sách. Nếu có quấy quả, xin
nhận một búp trà này làm lễ bồi tạ.
Nói rồi, nàng bưng chén trà đặt lên án thư. Hương trà ngọt thanh, lạ lẫm mà
sâu, như từng đi qua cõi trời rồi mới về nhân thế. Sinh ngồi lặng, không đuổi, không giữ, chỉ rót nước, đọc sách. Từ đó, mỗi đêm nàng lại đến, lặng như sương, ấm như lửa, bền như khói trà.

Sinh có lần hỏi nàng:
-Nàng lấy đâu ra những hương liệu quý như trầm Hương Sơn, củi quế Trà Mi,
trà Bích La, Vân Cốc?

Nàng chỉ mỉm cười, đôi mắt sâu như chén ngọc không đáy, không nói một lời.

Có người yêu không bằng lời,
Có người hiện không để lại vết.
Lửa đỏ mà không nóng,
Hương bay mà không vướng áo.

Đêm nọ, sau buổi Sinh đọc sách bình thơ, nàng ngồi lặng dưới ánh đèn mờ, nghe gió lùa qua tàn ngâu, rơi xuống sân từng bông vàng nhỏ như lời thì thầm của trời.
Nàng lắng lòng. Một ý nghĩ dâng lên, dịu như làn hơi:
Nếu có thể dâng chàng một thức trà riêng, chỉ của riêng nàng, thì đời này, dù không làm vợ, cũng không tiếc xót. Nhưng nàng không học ướp hương, không quen đợi lửa; chỉ biết lặng lẽ lượm từng bông hoa ngâu vừa rụng – không hái, không vội – như nhặt từng ký ức vụn. Nàng đâu biết chính nàng là hồn của cây ngâu ngưng tụ trong không gian trầm lắng mà thành.
Mỗi bông hoa nàng hái bằng hai ngón tay, là một mảnh lòng nàng dành cho Trần Sinh từ kiếp trước. Mỗi chiếc khăn lụa nàng dùng để gói hoa, là một nếp thở nàng đã giấu đi mỗi lần nghe Sinh đọc thơ tình mà không gọi tên ai.

Nàng không ướp hoa bằng than hồng, mà ủ trong hộp gỗ hoàng đàn, đặt cạnh gối suốt bảy đêm; mỗi đêm nghe thơ, nghe Trần Sinh thở, nghe lòng mình lặng lẽ dậy hương.

Trời tháng Bảy có một đêm mưa rất nhẹ. Không sấm, không gió. Chỉ là mưa như
giọt nhớ từ một cõi khác nhỏ xuống thế gian.
Sáng hôm sau, nàng mở hộp hoa.
Mùi ngâu không còn là ngâu.
Mà là một thứ hương chưa từng có trong đất trời.
Vàng. Dịu. Sâu. Và mang theo tiếng ai đang chờ…
Thiếu nữ lấy ngâu ấy ủ với lá trà còn búp nõn, hái trên đỉnh đồi vào những buổi sáng còn mờ sương.

Trời tháng Bảy lại có một đêm mưa rất nhẹ. Không sấm, không gió. Thiếu nữ
áo vàng ngồi trong thư phòng, nghe tiếng mưa rơi qua mái ngói cũ, lòng chợt
nhớ đến một lời người đời thường kháo nhau: “Mưa tháng Bảy là nước mắt của
Ngưu Lang – Chức Nữ, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần trên cầu Ô Thước, rồi
lại chia tay giữa nghìn sao lạnh.”
Nàng nghĩ: Nếu những giọt mưa ấy là nước mắt của một cuộc tình quá đẹp, thì
sao ta không hứng lấy mà pha trà dâng người mình yêu? Biết đâu, trong một
chén trà ngâu, sẽ có một giọt duyên chưa nói thành lời.

Nàng bèn mở cửa, bước ra sân. Cây ngâu lặng lẽ rơi từng bông vàng xuống mái
tóc nàng đang dần ướt. Nàng không mang ô. Không phủ khăn. Chỉ đưa đôi tay lên trời, hứng lấy từng giọt mưa, như hứng lấy hơi ấm của một mối tình không cần được gọi tên. Áo ướt. Tóc ướt. Cả thân người như tan vào màn mưa ấy; mỏng như lụa, trong như ngọc, nhẹ như một tấm lòng không lời.
Đêm ấy, nàng không thấy lạnh. Chỉ thấy mình đang tắm trong thứ nước tinh khiết của yêu thương.

Mỗi giọt mưa là một lời thì thầm của trời, bảo rằng:
“Nếu yêu mà không thể nói, thì hãy rót vào trà. Người nhận sẽ biết.”
Thiếu nữ lấy thứ nước mưa tinh khiết ấy mà pha trà ngâu. Trà ấy trong như lưu ly, màu vàng sóng sánh như tơ trời chưa dệt. Hương thơm không qua khứu giác, mà len vào trí nhớ như một câu thơ cũ đọc lại giữa chiều yên.

Nàng dâng Trần Sinh. Không nói.
Sinh vừa nhấp một ngụm, lòng khựng lại.
Không phải vì ngon, mà vì trong khoảnh khắc ấy, Sinh biết mình đang được
yêu. Uống xong, mắt Sinh chợt mờ sương, tim nhẹ đi một nhịp.

Từ đó, Sinh không uống loại trà nào khác ngoài trà Hương Ngâu.

*

Năm Sinh tròn ngũ tuần. Buổi chiều hôm ấy, nàng tặng Sinh chiếc áo bào tơ
tằm màu vàng nhạt, tự tay nàng dệt, may, không một đường kim lệch. Sinh mặc
vào, ngồi dựa gốc ngâu mà đọc sách như mọi chiều, tay cầm chén trà Hương
Ngâu thơm lặng.
Ánh tà dương xiên qua cành lá, hắt xuống tấm áo vàng.
Một bông ngâu rơi vào sách. Sinh khẽ mỉm cười.
Rồi… ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, người ta không thấy Trần Sinh đâu nữa.
Sách còn để mở, trà còn bốc hương, áo còn treo trên ghế.

Có người bảo Sinh cưỡi hạc vàng bay về trời cùng Ngưu Lang, Chức Nữ, hoá
thành vì sao thứ ba trên dải ngân hà.

Người khác lại nói: Sinh đã hoà mình vào cây ngâu. Mỗi khi hoa nở, hương
thơm chính là Sinh đọc sách trong gió.

Không ai rõ. Chỉ biết từ đó về sau, thiếu nữ áo vàng không còn xuất hiện.
Nhưng hễ đêm nào gió đưa mùi ngâu thoảng vào thư phòng, người ta thấy một
ánh lửa mờ sau rèm giấy, và tiếng ai đang ngâm một bài thơ cổ…

Ngâu rụng không vang, nhưng thơm lâu,
Người đi không gọi, mà nhớ mãi.
Một chén trà vàng, hương chưa cạn,
Một mối duyên ngâu, mộng chưa tan.

Người ta bảo bài thơ cổ ấy như sau:

黃衣一別未重逢

香碎花殘夢尚濃

書在茶中人不見

風前猶有半聲鐘

Phiên âm Hán-Việt:

Hoàng y nhất biệt vị trùng phùng
Hương toái hoa tàn mộng thượng nùng
Thư tại trà trung nhân bất kiến
Phong tiền do hữu bán thanh chung

Dịch Nôm:

Áo vàng biệt một lần, chẳng gặp lại
Hương vỡ, hoa rơi, mộng hãy còn sâu
Sách nằm trong trà, người đâu không thấy
Trước gió vẫn còn tiếng chuông chưa tan.

*
Ngày nay, ở một góc vườn cổ trong một làng nhỏ phương Nam, có một cây ngâu
già. Cành rậm. Lá xanh đậm. Hoa nở thưa, nhưng mỗi khi gió tháng Bảy thổi qua, người ta đều dừng lại, ngẩn ngơ.

Không vì hoa rơi.
Mà vì hương thoảng vào lòng như một dòng thơ chưa viết hết.


Cũng có một thư sinh sống cô tịch, mỗi năm đúng ngày mưa ngâu đầu mùa, lại
mặc áo vàng nhạt, ngồi dưới cây mà pha một chén trà ngâu.

Không nói.
Không đón khách.
Chỉ ngồi, và khẽ đặt tay lên mặt bàn, như chạm vào một bàn tay đã rụt về từ
kiếp trước.

Họ bảo: người xưa đã nhập vào hoa.
Hương là giọng nói của người ấy.
Mỗi khi ngâu nở, trà ngâu ướp… là người xưa đang lãng đãng trở về.

Quyên Di

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Thoảng Chút Hương Ngâu
Comment

NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM XE ĐIỆN NGẦM (Nguyễn Đại Thuật)

November 16, 2025 Ninh Tran

NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM XE ĐIỆN NGẦM

Con tàu TGV nối liền thành-phố Dijon-Paris ngùng tại điểm đến ga Lyon. Phú xuống xe, kéo va-li đi dọc theo hành lang ga, xuống hầm xe điện ngầm để đón xe về khách-sạn.

Chiều thứ sáu, đang là giờ cao-điểm cuối tuần nên hành khách đi lại rất đông. Phú chen đi trong dòng người vội vã, vừa ra khỏi cầu thang cuốn, anh thoáng nghe có tiếng đàn guita hòa lẫn giọng ca nam nhẹ vang lên trong góc hầm, giọng ca tiếng Việt buồn não, lời bài ca đã lâu lắm anh mới có dịp nghe lại:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm-tư ngày nay.
Gió khuya ôi lạnh sao, vấn nhẹ đôi tà áo.
Tàu xa dần rồi, thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời
Trở gót bâng-khuâng em hỏi lòng đêm nay buồn không.
Chuyến xe đêm lạnh không để người yêu vừa lòng ?
Ngày tháng đợi chờ, em đến sân ga nơi tiễn người trai lính ngày nào
Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa.
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về....

Lời ca đến đây chấm dứt, giọng ca lại tiếp tục vang lên lời ca nhạc Pháp.

Ngạc nhiên và tò mò Phú tiến lần đến nơi phát ra tiếng hát. Một nhóm khách hiếu kỳ đang đứng vây quanh một người đàn ông Á-châu nhỏ con, tuổi không quá ba mươi, đôi mắt to sáng, để râu mép... nhìn chung người đàn ông không có gì cá biệt về hình dáng so với những đàn ông Châu-Á khác.. Anh đang vừa đàn vừa hát: những người khách vây quanh thích thú vỗ tay khi anh ngừng hát và lần lượt vài người bỏ tiền vào cái hộp giấy anh để dưới đất.

Phú nhìn người hát rong, anh đứng im lặng, tuy người hát rong đã đổi sang hai bài ca bằng tiếng Pháp khá lâu nhưng dường như anh vẫn còn đang nghe lời ca tiếng Việt của bài ‘Tàu đêm năm cũ’ đang thấm vào tim, vào máu, vào hơi thở của anh. Anh rẽ đám đông, tiến vào phía trong bỏ tiền vào hộp...người hát rong nhìn anh nói “Merci” như nói “Merci” với những du khách cho tiền khác. Anh nhìn thẳng vào người hát rong gật đầu, mỉm cười chào. Người hát rong mỉm cười gật đầu đáp trả. Nhìn nét vui vẻ của người hát rong, Phú hỏi ngay bằng tiếng Việt:

- Anh là người Việt-nam ?

Người hát rong gật đầu, ngừng một chốc rồi lắc đầu, trả lời bằng tiếng Pháp:

- Tôi là người Việt-nam nhưng tôi không nói được tiếng Việt.

Nói xong,người hát rong cầm hộp tiền, ôm đàn chào mọi người rồi dời đi nơi khác....Phú đi theo sau anh ta một đoạn hầm ngắn, anh định hỏi người hát rong:"Anh không nói được tiếng Việt, nhưng ai dạy anh hát tiếng Việt quá hay?" Vửa lúc đó người hát rong ngồi xuống nơi góc ngay một ngã rẽ của đường hầm, bắt đầu đàn rồi cất cao giọng:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga tiễn người trai lính về ngàn.....

Mọi người dừng lại nghe hát. Phú cũng đứng lại nghe hát.... lời ca làm anh như say, quyến luyến lạ thường, đưa anh trở về với kỹ niệm của một thời vang bóng của tuổi học đường, của hình ảnh bạn bè nơi thành phố thân yêu anh được sinh ra và lớn lên... rồi những ngày sống cuộc đời chiến-đấu gian nguy, chết chóc trong quân đội.... cho đến những ngày bị đày đọa trong ngục tù Cộng-sản sau cuộc chiến bại trong việc giữ nước.

Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về...

Tiếng vỗ tay của người nghe đánh thức Phú trở về thực tại. Anh góp vỗ tay cùng những nguời khác. Anh tự hỏi không biết những người nước ngoài nầy có hiểu được lời ca Việt nầy không mà họ vỗ tay rất nhiệt tình. Vì lịch-sự chăng? Anh nghĩ chắc không phải vì lịch-sự, cứ nhìn nét mặt của họ diễn biến theo lời ca, tuy họ không hiểu lời nhưng âm điệu diễn đạt lời ca hòa cùng tiếng đàn điêu luyện của người nghệ sĩ hát rong đã đi vào nơi thâm sâu, nơi trái tim đầy xúc cảm của họ. Cái ý định theo người hát rong để hỏi một điều gì đó đến đây vẫn chưa định hình được. Phú không muốn quấy rầy người này trong giây phút thuận tiện cho cuộc mưu sinh của họ. Phú vẫy tay chào người hát rong rồi trôi theo giòng người trong hầm xe điện.

**********
Nhận phòng khách-sạn xong, Phú điện thoại ngay cho Thuyên để báo anh đã lên đến Paris.
Anh quen biết Thuyên từ những ngày đầu tiên đến Pháp gần hai mươi lăm năm. Thuyên đến từ trại tỵ-nạn Hông-kong, anh đến từ trại tỵ-nạn Galang thuộc Indonésie.

Thuyên đến Pháp cùng vợ trước Phú vài ngày. Anh đến một mình. Anh, vợ chồng Thuyên và một số thuyền nhân tỵ-nạn khác đến từ Mã-Lai, Phi-luật-Tân,Thái-Lan được chính phủ Pháp nhận cho định cư. Trạm dừng chân đầu tiên khi họ đến Pháp đều được tiếp đón tại trung tâm Terre d'asiles ở Créteil, ngoại ô Paris, nơi lập thủ tục giấy tờ cá-nhân cũng như khám sức khỏe trước khi được phân phối định cư trên toàn nước Pháp. Anh được dưa định-cư ở thành phố Dijon,miền trung nước Pháp, Thuyên và vợ được gia-đình người anh ruột đón nhận về chung sống tại Paris.

Sau khi sắp xếp giờ giấc buổi hẹn là gặp ngày thứ hai đầu tuần tới tại công-ty buôn bán nhà đất do Thuyên quản lý để anh được Thuyên giới thiệu mua nhà, Anh theo lời Thuyên mời dùng cơm tối hôm đó tại nhà. Năm nay hai con của Phú đã hoàn tất đại-học và muốn sống tại Paris để tìm việc làm dễ dàng hơn nên vợ chồng anh đã quyết định tìm mua nhà ở Paris cho hai con có cơ hội tiến thân. Việc tìm nhà theo tiêu chuẩn của gia-đình anh đã được anh nhờ Thuyên giúp. Chuyến đi Paris này do Thuyên mời anh lên xem nhà theo tiêu chuẩn đã yêu cầu.

Buổi cơm tối gia-đình diễn ra vui vẻ và ấm cúng, ngoài gồm vợ chồng Thuyên, còn có hai nguời con trai và con gái đầu lòng có mặt. Gần cuối bữa cơm Phú kể chuyện nghe người hát rong Việt-nam hát trong hành lang xe điện ngầm vào buổi chiều. Đứa con trai út của Thuyên có vẽ ngạc nhiên hỏi:

- Bác chưa hề gặp ông nầy lần nào sao? Ở Paris nầy ai xử dụng métro thường xuyên ít nhất cũng có gặp ông ấy và nghe ông ấy hát một lần. Cháu biết ông ấy lâu rồi, từ khi cháu bắt đầu lên trung-học và xử dụng métro để đi học". Ngừng một lát, cậu nói tiếp:

- Ít nhất là trên năm năm rồi từ khi cháu gặp ông ấy."

Con gái lớn của Thuyên xen vào:

- Ông ấy là giáo-sư toán năm đầu tiên bậc trung học của cháu...thầy Kévin...Thẩy là người Việt-nam nhưng không nói được tiếng Việt mà lại hát được tiếng Việt. Thầy cũng hát tiếng Pháp rất hay. Thầy hay đi hát trong hầm xe điện ngầm những ngày cuối tuần và ngày lễ, hoặc cả những ngày nghỉ hè mà thầy không có chương trình đi chơi.

- Bác có biết thầy Kévin đi hát để làm gì không?"

Phú lắc đầu. Con gái Thuyên dửng một một chút rồi nói tiếp :

- Để có tiền giúp trẻ em mồ côi bên Việt-nam ! Thầy đã có vợ nhưng chưa có con,

Vợ thầy Kévin là giáo sư âm nhạc, dạy nhạc ở nhạc viện địa-phương. hai vợ chồng thầy sống chung với cha mẹ người Pháp, dường như cha mẹ của thầy đều làm việc cho một công-ty máy bay nào đó...bạn thân của cháu là em gái của vợ thầy, chúng cháu thân nhau từ nhỏ. Con nhỏ cũng sống chung một nhà với thầy Kévin, nên thỉnh-thoảng cháu ghé nhà thăm bạn, đôi khi cháu gặp thầy Kévin. Bạn cháu nói thầy Kévin đi hát rong để lấy tiền giúp trẻ mồ côi bên Việt-nam nên cháu mới biết. Có dịp đi Metro, cháu ghé nghe thầy hát và góp tiền. Cháu nghe hoài thành ra gần như thuộc lòng bài hát tiếng Việt mà thầy ấy hát"
Nói đến đây con gái Thuyên đọc lên lời ca:" Tàu cũ năm xưa, mang người tình biên khu về chưa", cô ngừng vài giây rồi nói như xúc-động:

- Lời ca buồn quá phải không bác? 

 Phú im lặng, trả lời bằng đầu cách gật đầu. Vợ Thuyên bỗng góp lời:

- Lần đầu tiên, tình cờ tôi nghe cháu nghêu ngao mấy câu hát bài nầy, tôi ngạc-nhiên hỏi cháu ai dạy mà con biết hát, thì cháu kể đã nghe một người Việt-nam hát trong hầm xe điện, người nầy là thầy giáo cũ của cháu. Cháu lại nhờ tôi giải thích hai chữ "biên-khu" là gì ?" Một phút yên lặng rơi xuống bàn ăn... Phú góp lời:

- Ngày xưa nghe ca-sĩ Thanh-Thúy hát bài nầy buồn thúi ruột !"

Chuyện thầy giáo Kévin gốc Việt, không nói được ngôn ngữ Việt của mình mà hát một bản nhạc bằng tiếng Việt trong hầm xe điện ngầm để có tiền giúp trẻ mồ côi tại quê nhà ám ảnh Phú suốt buổi ăn tối hôm đó. Cái ý-tưởng muốn gặp người đó để tỏ lòng mến phục một cách tự-nhiên giữa hai nguời còn xa lạ làm anh suy nghĩ, nhưng anh còn ngần ngại chưa nghĩ ra phương cách thích hợp.

Và dường như đọc được ý-nghĩ của anh, con gái Thuyên đem tách trà đến mời và ngồi xuống gần anh:
- Bao lâu nay cháu muốn hỏi thầy Kévin, thầy hát nhạc lời Pháp, lời Mỹ và đôi khi lời Ý, nhiều tên bản nhạc khác nhau, nhưng tại sao duy nhất chỉ có một bản nhạc lời Việt; cháu thấy ngại khi muốn mở lời, cháu sợ có sự bí mật riêng tư nào đó sẽ làm tổn thương thầy. Ngày mai chúa-nhật, cháu mời bác, ba mẹ cháu và hai em cháu cùng bạn trai của cháu đi uống cà-phê ở Montmartre, chúng ta sẽ đi métro. Trên đường đi, chúng ta sẽ ngừng lại nghe thầy Kévin hát, cháu sẽ giới thiệu bác và ba mẹ cháu với thầy Kévin, mọi người đồng-ý không?

Phú chưa kịp trả lời thì Thuyên đã lên tiếng :

- Đồng ý! Ba mẹ đồng ý đề nghị của con gái, ba mẹ sẽ có dịp biết anh chàng hát rong nầy. Bác Phú nên nhận đề nghị của cháu cho cháu vui"

Phú vui vẻ nhận lời. Anh vỗ nhẹ vai cô con gái Thuyên:

- Cháu mời nhưng bác trả tiền được không?".

- Không được đâu, bác có biết bên Tây nầy tội hối lộ bị phạt nặng lắm không ?".

Tất cả mọi người đều cười.

******
Ba tháng sau Phú đưa gia-đình từ thành phố Dijon về căn nhà mới mua ở ngoại-ô Paris, nhờ Thuyên môi giới và hướng dẫn thủ tục nên anh mới có được căn nhà theo ý muốn. Anh lại may mắn đuợc tiếp-tục làm việc cho công-ty phụ của đại công-ty chính ở Dijon chuyên về xuất nhập trái cây khô của Thổ-nhĩ-Kỳ.

Hôm khai trương nhà mới, ngoài gia-đình Thuyên, Phú còn mời vợ chồng Kévin và bà mẹ nuôi của Kevin.
Anh nhớ hôm đi uống cà-phê do con gái lớn của Thuyên mời, trên đường về, tất cả mọi người dừng chân trong góc xe điện ngầm để nghe Kévin hát. Đang hát, có lẽ nhận ra con gái và con trai của Thuyên nên Kévin mỉm cười gật đầu chào và tiếp tục hát một bài ca lời Pháp. Lời ca vừa dứt, mọi người vỗ tay, Phú và vài người tiến đến bỏ tiền vào hộp quyên gỏp.

Khi Kévin nhìn đồng hồ tay, như biết thói quen của người hát rong, con gái Thuyên tiến bên cạnh nói:

- Thầy khoan đi qua địa điểm khác hoặc nghỉ hát, hôm nay thầy phá lệ được không,?

Nói xong, con gái Thuyên quay nguời lại đưa tay chỉ về những thành viên trong gia-đình cô:

- Ba mẹ tôi lần đầu tiên muốn nghe anh hát bài ca tiếng-Việt, và người Bác tôi cũng muốn nghe lần thứ hai anh hát bài ca đó, xin anh vui lòng, nếu không có gì trở ngại ?"

Phú nghe Kévin trả lời:

- Thường tôi chỉ hát bài ca lời Việt chỉ một lần khi bắt đầu buổi hát tại một địa điểm khi mới đến. Hôm nay đã chấm dứt buổi hát trong ngày, nhưng để làm vui lòng cô học trò cũ, tôi sẽ hát".

Dứt lời, Kévin đập nhẹ vài tiếng vào thùng đàn, dạo nhạc và lên tiếng hát:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để tiễn người trai lính về ngàn...

Giọng hát khàn, đục âm điệu buồn lắng đọng trong tim. Chuyện tình của một đôi trai gái trong cuộc chiến tranh giữ nước của một giai-đoạn lịch sử. Lời ca buồn, giọng ca buồn, đôi mắt và khuôn mặt buồn của người hát rong như tan ra hòa lẫn vào hơi thở và mạch máu của Phú.

Khi giọng hát và tiếng đàn ngừng, một sự yên lặng phủ trùm không gian của góc đường hầm làm Phú trở về thực tại. Anh đã đến đứng kế bên cạnh người hát rong tự bao giờ như một người mộng-du và anh đã cùng hát...cùng diễn đạt tâm-tư của nhân vật trong câu chuyện tình như anh đã sống trong giai đoạn đó...

Mọi người bắt tay nhau. Lời cám ơn nhẹ nhàng đượm buồn. Từ đó, những ngày cuối tuần khi Phú trở lên Paris gặp Thuyên, anh có dịp ghé thăm Kévin ở hầm xe điện. Tình cảm giữa hai người trở nên quyến luyến hơn.

Qua bữa ăn mừng nhà mới., Phú biết được một chút về gia cảnh Kévin. Khi vợ Thuyên hỏi bà mẹ Pháp của Kévin có mấy con ngoài đứa con Á-châu nầy, Bà đưa mắt hướng về phía Kévin đang đứng hút thuốc ngoài hành lang, hạ thấp giọng

"- Vợ chồng tôi cưới nhau hơn mười năm mà không có con. Nhân một chuyến du-lịch Thái-Lan, chúng tôi vào thăm một cô-nhi viện của một làng chài nhỏ, thấy thằng nhỏ kháu-khỉnh, ông chồng tôi nhìn thấy thuơng nên xin nhận làm con nuôi.

" Người ta cho biết một tàu hàng nhỏ chuyên chở ven bờ Thái Lan đã tim thấy thằng nhỏ cùng với hơn mười trẻ khác gồm trai và gái nằm đói lã trên một chiếc tàu có quốc-tịch Việt-nam trôi giạt trên biển, nên đã kéo tàu đó về làng nầy. Trên tàu không có người lớn, người ta nói có thể đoán tàu bị cướp biển tấn công nên người lớn có thể đã bị giết hay bị bắt đi. Khi lớn lên, đôi lúc cháu hỏi vợ chồng tôi về nguồn gốc cha mẹ cháu, vợ chồng tôi không biết gì hơn ngoài chuyện như tôi vừa mới kể."

******
Mối giao tình giữa gia-đình Phú và Kévin theo thời gian trở nên thân thiết. Hai con của anh và vợ chồng Kévin rất quyến luyến nhau. Mùa nghỉ hè đầu tiên từ khi quen biết, Kévin đã dành trọn hai tuần nghỉ cùng gia-đình anh đi nghỉ hè chung với nhau. Dịp nầy Phú đề nghị giúp Kévin tập hát thêm một vài bài nhạc tiếng Việt để Kévin có thể hát với những nhạc phẩm khác trong hầm xe điện nhưng bị từ chối, không giải thích lý do.

Một buổi chiều, trời đang hanh nắng chợt một cơn mưa giông ập đến. Những giọt mưa lớn rơi lộp bộp trên mái nhà trại hè, mọi người chán nản vì không đi ra ngoài tắm biển được. Mong rằng sẽ xua bớt đi sự chán nản của mọi người, Phú dùng hai tay đập vào đùi của anh theo nhịp tiếng mưa hát:

Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ đến tên em
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên em
Gót chân đôi khi đă mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên

Phú ngừng đập nhịp, ngừng hát, Kévin nhìn anh như dò hỏi, như yêu cầu Phú hát tiếp. Phú lắc đầu:

- Mấy chục năm rồi bác không có dịp hát chung vui với bạn bè nên bác không còn nhớ những câu chót".

Khi Phú bắt đầu hát anh đã nhìn thấy khuôn mặt Kévin như bị khích động, đôi mày nhíu lại, đôi môi như mấp máy, nhịp thở như ngừng lại. Đến khi anh ngừng hát, tiếng thở dài của Kévin buông ra thật mạnh, mặt trở nên buồn, như tiếc nuối chuyện gì. Kévin nói với anh như năn nỉ:

- Bác hát lần nữa cho cháu nghe, cháu nhớ cháu có nghe bài hát nầy rồi, cháu rất thích

- Vậy thì bác hát lại cho cháu nghe nhé; bác sẽ tìm và ghi lại bài hát nầy qua máy vi-tính cho đầy đủ, hai bác cháu mình tập cho thuộc, biết đâu mai mốt, bác cháu mình sẽ cùng hát trong hầm xe điện.

Chiều một mình qua phố......
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên...

Phú vừa dứt lời ca...tai anh nghe có tiếng gõ nhịp vào thành bàn, một giọng hát nhỏ nhẹ ngập ngừng thoát ra từ chàng trai ngồi cạnh anh:

Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau,
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau, xin cho dài lâu.
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau.

Giọng ca như nghẹn lại, ngừng hẳn cùng tiếng đập nhịp vào bàn. Mọi người trong nhà ồ lên cùng lúc, cùng tiến đến bên cạnh Kévin, đưa mắt nhìn nhau ngơ ngác.

Kévin đang gục đầu xuống bàn, hai vai run rẫy. Kévin đang khóc. Tất cả mọi người yên lặng, nghe được hơi thở của nhau. Vợ Kévin ôm đầu chồng trong vòng tay, đưa mắt nhìn mọi người như hỏi chuyện gì đang xẩy ra?

Cơn mưa đã tạnh, mọi người đều đi ra ngoài bãi biển để tận hưởng những tia nắng còn sót lại trong ngày. Phú đi cùng Kévin sau hàng dương cách biệt bãi tắm không xa tới một khu yên tĩnh. Phú nhớ lại chuyện vừa xẩy ra trong nhà trọ, anh ái-ngại nhìn Kévin rồi nói:

- Bác xin lỗi cháu chuyện vừa rồi, bài hát đã làm xúc-động cháu. Thời tuổi bác như cháu bây giờ, bài hát nầy rất phổ thông với mọi người...!

Kévin dừng bước, mời Phú cùng ngồi vào chiếc ghế dài nhìn ra biển, lấy thuốc lá ra châm lửa. Sau khi thổi một hơi khói thuốc dài, Kévin chậm rãi nói:

- Bản nhạc bác hát hôm nay làm cháu buồn và nhớ đến mẹ cháu nhiều. Cháu nhớ không rõ lắm, có một buổi sáng, mẹ cháu đánh thức cháu thật sớm, còn đang thèm ngủ cháu khóc đòi ngủ tiếp. Mẹ cháu dỗ: "con của mẹ ngoan, dậy để mẹ thay áo quần sạch sẽ, ăn chút cháo, mẹ đưa con đến nhà trẻ để mẹ đi làm nuôi con. Ở nhà trẻ con ngủ tiếp nghe." Nghe mẹ nói, nhìn thấy hai mắt mẹ đầy nước mắt, cháu nghe theo lời mẹ. Đến nhà trẻ, mẹ để cháu chờ ngoài sân, mẹ vào nói chuyện với cô giữ nhà trẻ. Không biết mẹ nói gì với cô ấy, cháu chỉ thấy cô ấy lắc đầu nhiều lần, rồi mẹ quay ra sân, mặt thật buồn, mẹ lặng lẽ nắm tay cháu dắt trở về nhà. Vừa vào nhà, mẹ cháu ngồi xuống nền nhà rồi ôm cháu vào lòng than:

- Người ta nói con là con của ngụy quân, nhà trẻ không thể nhận.

Mẹ cháu thở dài nói tiếp:

- Mẹ sẽ nói chuyện với bà Mười hàng xóm, bắt đầu ngày mai mẹ gởi con qua đó...mẹ phải đi phụ hồ cho người ta để có tiền đong gạo, mẹ hết tiền rồi;...nhà không còn gì để bán."

Rồi cả ngày hôm đó mẹ dắt cháu đi ra đường. Mẹ dẫn cháu đi mãi, hết đường nầy qua đường khác, đến khi cháu mỏi chân, cháu khóc không chịu đi nữa, mẹ cõng cháu sau lưng, tiếp tục đi. Chiều tối, đèn hai bên đường được thắp sáng ,cháu đói bụng đòi ăn,mẹ dừng chân mua bánh mì xịt nước tương cho cháu. Về đến nhà, hai mẹ con cháu nằm dài trên giường, mẹ ôm cháu, nghe mẹ hát:

Chiều một mình qua phố,âm thầm nhớ đến tên anh
Có khi nắng kia chưa lên mà một loài hoa chợt tím
Chiều một mình qua phố,âm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi dã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên

Từ đó chiều nào cũng vậy, mẹ cháu đi làm về đều có bánh mì xịt nước tương cho cháu? Ăn xong mẹ cháu tắm rửa thay áo quần cho cháu, dẫn cháu ra đường đi lang thang cho đến tối mới dẫn cháu về nhà. Có hôm bà Mười hàng xóm đứng bên nhà bà hỏi mẹ cháu khi hai mẹ con cháu vừa về đến nhà:" Mẹ con cô hai mấy lúc sau nầy hay đi dạo buổi chiều, về tối quá !" Cháu nghe mẹ cháu trả lời như có gì nghẹn trong cổ:

- Dạ, đi dạo cho quên đói dì ơi, chờ cuối tháng mới lãnh tiền công mua gạo. Cháu nghe tiếng bà Mười:

- Trời đất, sao cô không nói! Thời buổi nầy ai cũng thiếu hụt cái ăn cái mặc hết. Có ai đủ đâu. Hôm rồi, có đứa cháu dưới vườn lên, nó lén lút đem lên cho được mấy kí bo bo và mấy kí bột bắp, mai cô hai qua lấy một ít về ăn; lúc nào mua được thì trả lại tui, cô hai đừng ngại, chỗ bà con chòm xóm với nhau thương nhau không hết."

Mẹ nói:

" - Cám ơn dì Mười, rồi đi vào nhà, nằm lên giường. Cháu nghe tiếng mẹ thở dài. Cháu nằm xuống bên cạnh, mẹ ôm cháu hồi lâu, cháu nghe mẹ hát vào tai cháu âm thanh thật nhẹ như ru cháu ngủ:

Chiều qua bao nhiêu lần môi cười cho mình còn nhớ nhau.
Chiều qua bao nhiêu lần tay rời nghe buồn ghé môi sầu
Ngày nào đời còn có nhau xin cho dài lâu
Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau..

Hôm đó cháu hỏi mẹ tại sao cháu không ba, Mẹ không trả lời. Cháu đã nhiều lần hỏi trước đó nhưng chưa bao giờ nghe mẹ trả lời. Mẹ chỉ im lặng thở dài. Tưởng như bao lần trước mẹ không trả lời. Cháu ngồi dậy, tính ra khỏi giường thì mẹ kéo cháu nằm xuống. Mẹ bấm lóng tay rồi xoa đầu cháu:

"- Này, con của mẹ được bốn tuổi tám tháng..con người ta tuổi nầy thân xác đã lớn trội, còn con sao còi cút như thế nầy..giá như có ba con thì mẹ con mình đâu đến nổi khổ."

Mẹ cầm bàn tay cháu áp lên má của mẹ nói tiếp:

"- Ba con là lính Việt-nam Cộng-hòa, làm sĩ quan Thủy quân lục-chiến. Cưới mẹ xong, chỉ sống bên mẹ chưa hết phép mười lăm ngày phép thì phải đi đánh giặc ngoài Quảng-trị, cho đến nay không biết ba con chết hay sống. Thời đó chiến tranh dữ dội lắm. Mẹ sinh con năm 1974, vài tháng sau thì Việt-cộng họ chiếm hết đất nước...mà thôi, con còn nhỏ không nên nghe, không nên biết nhiều chuyện chiến tranh, chuyện người lớn".

Mẹ ngồi dậy lấy khăn ướt lau mặt cho cháu:

"- Tới giờ đi ngũ rồi" Mẹ lại nằm bên cạnh cháu, mẹ hát:

Trời đêm dần tàn, em đến sân ga để đòn người trai lính trở về....

Lời của mẹ thật êm, thật nhẹ, thật buồn ru cháu ngủ hằng đêm. Mẹ chỉ hát duy nhất một bài hát, bài này đã đi vào trong tâm khãm cháu. Còn bài hát kia, có lời:

Ngày nào đời thôi có nhau xin người biết đau....

" Bài ca nầy mẹ ít hát kể từ khi mẹ đi làm về trễ, không còn thời gian để đưa cháu đi dạo bên ngoài, nên cháu quên. Nay có bác hát nên cháu mới nhớ lại...Mẹ cháu bán nhà, hai mẹ con cháu qua sống chung với dì Mười. Dì Mười sống một mình. Mẹ cháu kể:

" - Chồng và hai con trai của dì đều chết trận, dì không còn ai thân thuộc gần gũi, chỉ có bà con xa ở dưới quê. Rồi một hôm, mẹ cháu chào dì Mười, nói đưa cháu về thăm bà ngoại. Mẹ cháu cùng cháu đi xe đò đến chiều tối, đến một nơi nào đó cháu không biết. Hai mẹ con cháu ngồi chờ trong một quán bên đường, có một người đến đưa hai mẹ con cháu xuống một chiếc ghe lớn, trên đó có rất nhiều người. Ghe chạy, mọi người ngồi sát vào nhau, không ai nói chuyện. Thỉnh thoảng mọi người được cho ăn cơm vắt và uống nước lạnh...rồi trong đêm tối, bỗng cháu nghe mọi người la khóc, hoảng hốt, xô đẩy trong ghe, có tiếng la "cướp..... cướp", mọi người đạp lên cháu và cháu không biết gì nữa...cho đến lúc cháu được đưa vào ở trong trại mồ côi. Cháu mất mẹ từ ngày ấy."

- Cháu có thể kể cho bác biết lý do nào cháu đi hát trong hầm xe điện để có tiền giúp trẻ em mồ côi ở Việt-nam?

- Năm đầu tiên cháu vào đại học, cháu làm thiện nguyện cho hội chữ thập đỏ của Pháp, nhân đó theo đoàn công tác đi Viêt-nam. Một buổi sáng ăn điểm tâm tại một nhà hàng Việt-nam, cháu vừa ăn xong, thì một vài em nhỏ, các em sống ngoài đuờng, xông nhào vào giành những thức ăn còn thừa, hình ảnh đó khiến nhóm bạn của cháu lập ra tổ chức "trẻ bụi đời".Tiền chúng cháu góp lại bằng mọi hình thức khác nhau theo khả năng..làm các công việc phụ cuối tuần cho các cá nhân cần như: giữ trẻ, dạy kèm, phụ bán hàng....riêng cháu,cháu đã chọn công việc hát rong như bác đã biết. Cháu đã chọn bài hát lời Việt vì cháu chỉ nhớ và thuộc bài nầy, vì đây là bài mẹ cháu hay ru cháu ngủ. Cháu hát để nhớ mẹ cháu..cháu nghĩ mẹ cháu còn sống ở một nơi nào đó. Biết đâu một ngày nào đó mẹ cháu đến Paris...và nghe tiếng hát của cháu trong khi tình cờ đi xe điện ngầm...

Kévin ngừng kể. Biển ngoài xa mờ dần trong trong sương. Lòng Phú tràn ngập nỗi buồn cảm thuơng hoàn cảnh của nguời thanh niên trẻ. Phú nghe lòng anh xao xuyến.. chợt hoài niệm về những ngày tháng cũ.Từ nhỏ, anh được người cậu nuôi sau khi cha mẹ anh chết trên chuyến xe đò chạy trúng mìn. Khi anh đậu xong tú tài toàn phần thì cậu anh chết vì bạo bịnh. Anh không có bà con thân thích nên ghi danh văo trường Võ-bị quốc-gia Đà-lạt. Ra trường, anh vào binh chủng Thủy-quân lục- chiến. Trong một cuộc hành quân tiếp cứu một đơn vị bạn, đơn vị anh bị phục-kích, anh bị thương phải lẫn trốn trong nhà dân, chờ được tải thương. Anh gặp Thư, chủ nhân của căn nhà.

 Cuộc giao tranh hai bên vẫn khốc liệt. Hai ngày sau trực-thăng cứu thương mới hạ cánh đón anh. Để bảo toàn tính mạng cho Thư, anh đề nghị toán cứu thương cho Thư rời khỏi vùng đang giao tranh, vì sợ sau nầy khi lính quốc-gia rút đi, dân cộng sản nằm vùng sẽ hại Thư vì đã che chở cho ngụy quân. Khi vết thương của Phú ổn-định, anh tìm đến trại tạm cư thăm Thư. Được biết gia-đình gồm cha mẹ và hai người em của Thư đã chết bị đạn pháo kích cách đó vài tháng, anh đưa Thư về thành phố, lấy căn nhà của người cậu bỏ trống trước đây cho Thư tạm trú. Rồi tình cảm nẩy sinh giữa hai người trong những ngày về phép gặp nhau. Không có những hẹn hò thơ mộng không có những lãng mạng của yêu đương bồng bột. Cả hai cùng cô đơn..cô-đơn không gia-đình. Cô đơn giữa chiến tranh, cả hai muốn san lấp nỗi cô đơn của thân phận mình. Anh và Thư bàn tính chuyện tiến đến hôn nhân... ngày nghỉ phép cưới vợ rồi cũng đến...nhưng chỉ đuợc một nửa. Chiến trường đã gọi anh về trình diện gấp gáp, lấy đi những ngày phép nghỉ phép cưới còn lại...

Thành phố Buôn-mê-Thuộc bị cộng quân chiếm, anh bị bắt làm tù-binh...Miền Nam thay chủ.

Năm 1981, sau hơn năm năm bị giam, Phú được trả về từ trại tù Tiên-Phước tỉnh Quảng-nam.

Nhà cũ của anh ở khu Bàn cờ Sài-gòn bị giải tỏa. Toàn khu không còn ai quen biết để tìm hỏi tin-túc vợ. Những ngày lang-thang tìm vợ, tìm nơi cư trú, một người lính cũ cùng đại đội tình cờ anh gặp đang làm nghề vá và sửa xe hai bánh bên lề đường, cho anh tạm trú tại nhà. Hàng ngày anh cùng người đồng đội cũ sửa xe tạm kiếm sống. Dịp may nữa lại đến với Phú, một bạn học cũ ngày xưa từ Nha-trang vào Sài-gòn học năm cuối trung học để thi tú tài hai, nhà nghèo đã được cậu anh cho ở miễn phí, tình cờ người bạn dừng lại nhờ vá lốp xe bị xì hơi. Hai bên nhận ra nhau, vui mừng bỡ ngỡ. Người bạn rủ anh về Nha-trang làm cho hợp tác xã đánh cá gia-đình đã .. tạo dịp cho anh và gia-đình người bạn vượt biển không lâu sau đó.

Khi ghe dần dần xa bờ biển Việt Nam, Phú bùi ngùi nghĩ đến đến người vợ trẻ vừa mới cưới nhau đã xa nhau. Phú đã cố công sức tìm kiếm Thư nhưng Thư vẫn biệt tăm. Thư đã chết hay Thư vẫn còn sống một nơi trên quê hương Việt-nam hay một đất nước xa lạ nào đó. Anh thầm xin lỗi Thư trong niềm đau khi lập gia-đình với nguời mới nơi quê người.

Phú thẫn thờ kéo tay Kévin đi về hướng khu nhà nghỉ. Kévin còn đang nhớ về mẹ. Anh cũng đang nhớ về người vợ ngày xưa. Mỗi trái tim mang một niềm đau riêng!

***********
Hai năm sau.

Sau một thời gian dài điều trị chứng suy tim, nhân mùa nghỉ hè, Phú được các con tổ chức đi nghỉ bên Thái-lan. Dịp nầy Kévin muốn cùng đi chung. Trước khi chết, bà mẹ nuôi nhiều lần đề nghi Kévin khi có điều kiện nên đến Thái-lan thăm trại mồ côi ngày xưa. Bà có để lại một số tiền nhỏ để giúp trại mồ côi nầy,

Khách-sạn nằm ẩn mình sau một làng chài nhỏ có nhà cửa khang trang dược xây lên trong một vịnh nhỏ nằm tận cùng phía Tây-nam vịnh Thái-lan. Một buổi chiều, như thường lệ, sau bửa cơm, Kévin cùng vợ ra ngồi ngoài bãi cát trước khách-sạn, Kévin vừa đánh đàn, vừa hát:

Trời đêm dần tàn em đến sân ga để tiển người trai lính về ngàn.
Cầm chắc đôi tay, ghi vào đời tâm tư ngày nay.....

Kévin say sưa hát, âm thanh tan theo trong ánh sáng cuối ngày đang chìm dần ngoài biển xa. Kévin ru hồn trong cơn buồn ngủ chợt đến... anh như thấy mình đang cùng mẹ lang thang trên những con đường thuở ấu thời...anh mơ thấy mẹ ôm trong lòng để ru anh ngủ khi tay còn cầm miếng bánh mì khô cứng loang lỗ nước tương đen chưa ăn hết... anh nghe có giọng hát từ đâu đó vang lên như hơi thở, chuyền tải hơi ấm ôm phủ lấy cơ thể anh trong con gió biển se lạnh ...

Anh choàng tỉnh, tiếng hát đàn bà từ đâu đó vẫn văng vẳng vang lên:

Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa?
Trắng đêm em chờ nghe tiếng tàu đêm tìm về

Rồi tiếng hát bỗng chuyển lời:

Chiều một mình qua phố, âm thầm nhớ nhớ tên anh
Gót chân đôi khi đã mềm, gọi buồn cho mình nhớ tên......

Giọng hát thật là quen thuộc. Lời ca thật là quen thuộc. Cả hai đều xoáy vào tâm thức anh.
Theo bản năng của con thú lạc mẹ, lạc bầy, anh chạy về hướng phát ra âm thanh quen thuộc đó. Kévin đi nhanh theo hướng về xóm ghe và tiếng hát càng rõ thêm. Vợ anh chạy theo sau, đầy vẻ ngạc nhiên. Phú đang ở trong hàng hiên khách sạn, anh cũng đã nghe tiếng hát Việt-nam, giong nữ vọng lên từ xóm ghe, anh càng ngạc nhiên vì giữa một khu ghe thuyền trên xứ Thái lại có một giọng ca Việt. Tình cảm thiêng-liêng dân tộc cùng lòng tò mò khích động, anh cũng đi nhanh về hướng có tiếng hát phát ra.

Ánh sáng của buổi chiều tàn đủ rọi lên trên mũi của một chiếc ghe lớn, một người đàn bà ngồi ôm một đứa nhỏ vừa ru vừa hát, xung quanh có vài đứa nhỏ khác ngồi đứng rải rác trên mui ghe. Người đàn bà chợt ngừng hát vì thấy có người đứng trên bờ nhìn chăm chú vào ghe bà. Bà đi vào phía trong ghe rồi trở ra cùng với một người đàn ông trẻ, đứa bé không còn bồng trên tay. Đèn trên ghe được thắp sáng. Người đàn ông trẻ vẻ do dự một chút rồi hướng về phìa Phú và vợ chồng Kévin nói gì đó bằng tiếng Thái.. Cả ba lắc đầu không hiểu. Người đàn ông trẻ hỏi rất chậm bàng tiếng Anh:

- Mấy người muốn tìm gì trên ghe chúng tôi ?
Phú trả lời:

- Chúng tôi nghe trên ghe của ông có người hát tiếng Việt rất hay. Chúng tôi là du-khách Viêt-nam, đang ở khách sạn gần đây, tò mò muốn biết sao người Thái-lan mà hát tiếng Việt hay quá chừng, chúng tôi muốn khen thôi".

Người đàn ông trẻ và người đàn bà nói gì với nhau, rồi người đàn ông nói vọng xuống:"

- Mẹ tôi là người Viêt-nam".

Người đàn bà tiếp lời bằng tiếng Việt :

- Vậy xin mời ba người lên ghe uống nước".

Người đàn ông trẻ đẩy tấm ván từ ghe lên bờ làm cầu. Người đàn bà mặc y phục Thái cúi chào Phú và vợ chồng Kévin. Phú chào người đàn bà rồi tự giới thiệu:

- Tôi là Phú đến từ nước Pháp. Đây là Kévin đồng hương, lớn lên tại Pháp nên quên tiếng Việt, còn đây là vợ của Kévin..

Vừa nghe dứt lời giới thiệu, người đàn bà lùi lại một bước, chăm chăm nhìn Phú...cái tên "Phú" đánh thúc vùng tăm tối trong đầu bà bừng sáng... Phú của bà đây sao? Người trung-úy Thủy-quân lục chiến oai phong của bà ngày xưa, nay thân thể héo gầy như vậy sao? Nụ cười rạng rỡ thu hút người nhìn, nay nhạt nhẽo không hồn như vậy sao? Phú của bà...

- Trời ! anh Phú..anh còn sống ..trời ơi, anh còn sống, anh không nhận ra em sao.?

- Em là Thư, vợ của anh. Giọng của Thư thổn thức, nghẹn ngào:

- Trời cao cay nghiệt quá.. em là Thư, vợ của anh.

Phú đứng sững-sờ, người đàn bà trước mặt anh toàn thân đang run rẫy, tóc bạc trắng là Thư, vợ của anh? Cái giọng nói miền Trung quê mùa chất phát khơi nhớ lại quá khứ, đúng là Thư, vợ của anh. Cả Phú và người đàn bà cùng tiến đến cùng nắm tay nhau, hai đầu tựa vào vai nhau trong một vòng tay yêu thuơng như có chút vụng về, ngượng ngập. Tiếng thổn thức vọng ra trong khoang ghe nhỏ hẹp. Rồi sự yên tĩnh trở lại.
Kévin nhích lại gần Phú, Thư nhìn Kévin qua vai Phú, một mãng tóc lộ màu trắng bằng lóng tay út thoáng hiện trên đỉnh đầu Kévin. Đây là dấu tích duy nhất của đứa con trai của Thư hơn ba mươi năm trước. Thư đẩy nhẹ Phú qua một bên, cố nén xúc động tràn ngập trong tim, bước nhanh về hướng Kévin gọi lớn:

- Cu Bi.. Cu Bi phải không?"

Hai tiếng "Cu Bi" từ bao năm đã biến đi không còn trong đầu Kévin bất chợt nay được gọi lên, được nhắc tới như làn hơi ấm thổi đến phủ cơ thể. "Cu Bi" tiếng của mẹ gọi ngày xưa. Kévin rúng động, nhìn sững nguời đàn bà không tin nỗi tai mình, miệng mở ra như đủ cho tiếng "Dạ" thầm lặng xác nhận. Thư lao mình tới ôm Kévin như sợ Kévin tan biến vào hư không.
Kévin sững sờ dang hai tay ôm lấy mẹ:

- Mẹ"..

- Con của tôi"...Những tiếng nấc xé lòng thốt ra. Thư nói với Phú nghẹn ngào:

- Anh Phú, đây là con của chúng ta.

Phú ôm Kévin trong niềm vui chen lẫn đớn đau. Anh đã có một đứa con... qua bao năm sống gần nhau, nay mới biết là con của mình. Cảm xúc dâng tràn... Phú cảm thấy trái tim đau nhói...toàn thân anh khuỵu xuống sàn ghe.

Ba hôm sau, sức khỏe Phú ổn định, bác sĩ Thái cho xuất viện. Thư có đến thăm anh vài lần ở bịnh viện. Buổi chiều sau ngày xuất viện, Kévin đưa anh ra bến ghe tìm Thư, chiếc ghe không còn neo tại bến. Hai người đang tính hỏi thăm những người có ghe đang đậu ở bến để hỏi thăm chiếc ghe của Thư thì một người trong tiệm tạp hóa bước ra trao cho Phú một lá thư, nói vài câu bằng tiếng Thái rôi quay lưng đi. Phú cùng Kévin ngồi xuống bờ thềm trước quán, anh thẩn thờ mở thư ra đọc:

"Anh Phú của em và con trai Cu BI của mẹ,

Buổi sáng hôm thăm anh trước khi anh được cho xuất viện, em có gặp bác-sĩ điều trị, Ông cho biết bịnh tim của anh tái phát vì bị xúc động mạnh, anh cần tỉnh-dưỡng mới trở lại bình-thường.
Em rất mừng khi được biết tin nầy, em quyết định và có thư nầy cho anh và con trai:

Anh Phú,
" Sau ngày anh cưới em một tuần anh ra mặt trận, rồi từ đó em không còn tin tức của anh. Em không biết anh chết hay sống. Rồi đất nước thay đổi chủ mới, em càng vô vọng tin tức về anh. Em đã có với anh một đứa con, tên của nó là Cu Bi. Với bao nổi khổ đau của cuộc sống bị đổi chủ, em đã không làm nỗi cho con của chúng ta một tờ khai sanh... đồng thời em cũng mong chờ thời gian sẽ gặp lại anh và chúng ta sẽ tìm đặt cho con một cái tên mà cả hai ta cùng muốn . Cu Bi chỉ là cái tên gọi tạm thời để khỏi lẫn lộn với những trẻ khác trong một xã hội thu hẹp. Không tìm được anh, và để tránh cho con của chúng ta bị lăng mạ là con của ngụy quân, bị sự phân biệt đối xử, tìm cuộc sống ngày mai cho con của chúng ta nên em đã đưa con vượt biển. Định mệnh đã đưa đẩy con tàu vào tay cướp biển Thái-Lan.

Con tàu bị cướp tràn ngập...em bị cướp bắt.

" Em bị xa con.Toán cướp đưa em đến một đảo nhỏ không người ở.Vài ngày sau, toán cướp rời đảo, bọn chúng mang theo những người đàn bà khác, em bị để lại đảo.Tên cướp đã hãm hại đời em đã để lại lương thực cho em. Có lẽ nó muốn giữ em ở đây, rồi có ngày quay lại. Ngày sau một cơn bão, một tàu buôn bán nhỏ ven bỡ của Thái-lan tạt vào đảo trú ẩn. Người chủ con tàu đã cứu em. Ông là cựu binh-sĩ Thái đã từng tham chiến ở Việtnam. Ông nói tiếng Anh lõm bõm cũng như em, ở mức độ chỉ có thể hiểu nhau đơn giản. Ông kể, khi quân đội rời khỏi Việt-nam để về nước, ông xin giải ngũ, lập gia-đình. Theo truyền thống gia-đình, ông là thành viên trên con tàu buôn bán ven bờ vùng vịnh Thái-lan. Vợ ông qua đời vì tai nạn lưu thông chỉ sau nửa năm chung sống với ông. Ông hứa ông sẽ đưa em về Bangkok giao cho Phủ cao-ủy Tỵ-nạn. Sau gần hai tháng ngược xuội ven biển, khi con thuyền trên đường về Bangkok thì ông ngỏ lời thương em và đề nghị em chấp thuận làm vợ ông.

" Cuộc sống của em đã quá tận cùng của sự nghiệt ngã. Anh ở đâu và con ở đâu? Chiếc phao nầy em không nắm lấy thì tương lai có chiếc phao nào khác sẽ đến không? Cuộc đời em có còn gì nữa đâu, đã mất hết rồi! Thôi em nhận lời để buông theo số phận. Em xin nhận lỗi cùng anh. Em đã có với người chồng Thái, một con trai và có bốn đứa cháu như anh đã gặp tại ghe. Người chồng Thái của em đã ra đi vì bịnh đã hơn một năm.

" Được biết anh đã có vợ, có con, có sự nghiệp.. nay lại tìm được đứa con của hai chúng ta, thật không có gì hạnh-phúc cho bằng cho anh và cho em trong hiện tai. Em cảm ơn trời đất đã thưởng đền cho những khổ đau của chúng ta đã gánh chịu bao lâu nay. Cuộc sống thương hồ của em không thể đậu bến mãi. Mong anh hãy an vui trong hạnh-phúc đang có và mãi mãi.

Cu Bi của mẹ,

"Từ cái đêm mẹ bị cướp bắt đi, mẹ bị mất con. Đời trôi giạt đau thương của mẹ, biết tìm con ở đâu? Đau đớn trong lòng mẹ kể sao cho xiết? Hai tiếng "Cu Bi"" và hình ảnh ngây thơ của con là dòng suối mát trong lòng mẹ mỗi lúc nhớ con trong cùng khổ. Nói làm sao cho hết yêu thương của mẹ khi nghĩ về con! Mẹ xin lỗi con vì đã không bảo-vệ được con lúc con lâm hoạn nạn. Con hãy tha thứ cho mẹ những tháng năm mẹ không hoàn thành trách nhiệm ở cùng bên con khi con khôn lớn, trưởng thành.

" Trời đã thương nỗi đau của mẹ nên ban cho mẹ đặc ân gặp lại con ngày nay. Con khôn lớn, hạnh phúc bên vợ và nay con lại được thêm hạnh-phúc gặp lại ba con...nhớ đến ngày nào con hay hỏi mẹ "ba con đâu?" thì bây giờ ba con đang ở bên cạnh con rồi đó.! Con hãy săn sóc cho ba con thay mẹ. Mẹ cám ơn con nhiều lắm. Con bảo trọng sức khỏe.

"Trưa hôm nay thuyền buôn của mẹ sẽ rời bến theo lộ trình đã định. Nếu bão táp phong ba của biển không làm đắm con thuyền buôn của mẹ thì những tháng năm sau nầy, biết đâu mẹ con ta cũng có ngày hội ngộ?"

**********
Trước ngày rời Thái-lan, Phú và con trai đến gặp người chủ quán tạp hoa trên bến tàu gởi lá thơ nhờ chuyển lại cho Thư nếu một ngày nào đó thuyền buôn của Thư ghé bến.

Phú viết thay lời con trai :

"Đây là nhà con ở tại Pháp. Hy vọng một ngày không xa mẹ sẽ đến với con. Con trông chờ mẹ.

Con Cu Bi của mẹ".

Thời gian sau nầy, khách xử dụng xe điện ngầm trong thành phố Paris được nghe người hát rong hát bài ca lời Việt, âm điệu vẫn như cũ nhưng lời có thay đổi:

Trời đêm dần tàn, con đến sân ga để đón mẹ yêu quý trở về.
Tàu cũ năm nao chưa mang về trả cho tôi mẹ xưa
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem người về
..................
Tháng năm con chờ đây, mong tàu đem mẹ về.

Nguyễn Đại Thuật.

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa Tags NGƯỜI HÁT RONG TRONG HẦM XE ĐIỆN NGẦM, Nguyễn Đại Thuật
Comment

TRÔI THEO DÒNG ĐỜI (Vi Vân)

November 15, 2025 Ninh Tran

Người sư nữ đang ngồi trước mặt tôi đưa đôi mắt vô hồn nhìn ra ngoài song cửa. Nắng chiều nhạt nhòa xuyên qua bức màn xanh phản chiếu lên khuôn mặt ni cô trông xanh xao tiều tụy như người con gái trong truyện liêu trai, như trong mộng mị, thật mơ hồ… Giọng của người sư nữ- ni cô Diệu Đức- thật nhỏ nhưng tôi nghe rất rõ:

– Anh ấy chết rồi, chết trước ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Anh chết thật rồi sao Thụy? Tôi không bao giờ muốn nghe tin nầy dù đây là sự thật. Tôi thấy đau nhói trong tim, trước mắt tôi là một vùng trời dày đặc sương mù với những cơn gió phủ phàng lạnh buốt tim gan làm nát tan, đổ vỡ hy vọng mong manh còn sót lại. Những kỷ niệm xa xưa chợt quay về trong xót xa, ray rứt, hình ảnh người anh kết nghĩa ngày đó hiện lên rõ rệt trong tâm trí tôi, những ngày anh ngồi lặng lẽ sửa lại cho tôi mấy bài thơ, những chiều anh ôm đàn nghêu ngao hát tình ca…

Tôi biết anh từ lúc tôi còn trẻ lắm, khoảng 15 hay 16 tuổi gì đó. Nhà anh và nhà tôi rất gần nhau, anh lại là bạn cùng lớp với anh tôi, tính tình chúng tôi rất hợp nhau vì thế anh đã nhận tôi làm em kết nghĩa.

Gia đình anh ở dưới quận Châu Thành, ba anh là chủ một nhà máy xay lúa lớn, ông đã mua một căn nhà trên tỉnh Cần Thơ cho anh và em gái anh ở để đi học. Anh là một thanh niên tuấn tú, dáng dấp vừa vặn, có nụ cười dễ mến, mái tóc bồng bềnh như nghệ sĩ, làm thơ hay, lại thích đàn hát nên được nhiều bạn gái cùng lớp cảm mến. Khi anh đang học năm cuối cùng ở Trung học, sắp sửa thi Tú Tài 2 thì một sự việc quan trọng xảy ra làm tan nát mộng ước và tương lai của anh. Ba anh cho biết là ông đã hứa hôn cho anh và con gái của một người bạn là một thương gia ở Bạc Liêu. 

 Ngày xưa khi gia đình anh làm ăn thất bại, người bạn của ba anh đã giúp vốn cho ông gầy dựng lại sự nghiệp, đó là cái nhà máy xay lúa mà gia đình anh đang có. Vì cảm kích tình bạn cao cả, ba anh đã hứa cưới con gái của bạn mình cho anh dù cô ta hơn anh hai tuổi. Ba anh cố giấu anh mãi đến lúc nầy ông mới cho anh biết. Anh bàng hoàng sửng sốt trước sự đặt để của cha mình, anh phản đối, anh cự tuyệt nhưng mẹ anh đã dùng nước mắt và sinh mạng ra làm áp lực với anh nếu anh từ chối. Anh khổ sở rất nhiều về sự việc đó. Chiều hôm ấy anh đến nhà tôi với gương mặt buồn bã, lầm lì, khó hiểu. Anh ôm đàn và đàn mãi, hết bản nầy sang bản khác nhưng anh không hề hát một câu nào. Tôi biết anh có tâm sự nên đến gần gợi chuyện:

 – Anh có gì không vui sao?

 Anh nhìn tôi một hồi lâu rồi thở dài:

 – Anh nói riêng điều nầy cho em nghe. Sau khi thi xong chắc anh sẽ đi xa, không phải lên Sàigòn để vào Đại Học mà anh sẽ đi lính. Nhưng trước khi đi ba anh bắt anh phải làm lễ đính hôn với một cô gái không yêu thương.

 – Em cũng có nghe loáng thoáng chuyện ấy. Nếu anh đi lính thì chị ấy làm sao? Anh có muốn cưới chị ấy không?

Anh tỏ vẻ đau khổ:

 – Anh cũng không biết nữa. Anh không yêu cô ta thì làm sao thành vợ chồng được. Anh muốn tránh khỏi nơi đây một thời gian dài để xem sự thể ra sao.

 Tôi không hài lòng về cách đối xử của anh với chị kia dù chưa quen biết:

 – Em còn nhỏ không dám có ý kiến nhiều, nhưng nếu anh chưa có người yêu thì… đừng nên làm như vậy, tội nghiệp cho người con gái.

 Anh nhìn vào mắt tôi:

 – Sao em biết anh chưa có người yêu? Để hôm nào có dịp anh dẫn em đến gặp cô ta cho biết mặt. Anh đã yêu cô gái đó gần một năm rồi nhưng nàng còn quá trẻ, anh để cho cô ta chuyên tâm học hành nên chưa tính toán gì cả.

Thì ra anh đã có người trong mộng rồi nên anh buồn bã, đau khổ trước sự áp đặt của cha mẹ anh, nhưng rồi tôi cũng chưa có dịp nào để biết mặt người yêu của anh cả.

Mùa hè năm ấy anh phải làm lễ đính hôn với chị Hồng Loan, rồi anh lên Sàigòn học và cuối năm thì tôi nghe tin anh đã vào trường Võ Bị Đà Lạt.

 Những buổi chiều không còn ai ôm đàn hát tình ca nữa, xóm tôi vắng tiếng hát của anh từ dạo ấy. Tôi cảm thấy như thiếu mất một cái gì đó rất thân quen, tôi bỗng trở nên trầm lặng, u buồn và chợt thấy mình đã trưởng thành không còn là cô bé ngây thơ, hồn nhiên nữa.

 Thỉnh thoảng tôi nhận được thư của anh, những lá thư viết từ KBC 4027. Trong thư ngoài vấn đề quan tâm đến sự học hành của tôi anh thường kể chuyện về anh cho tôi nghe. Những đêm dã chiến, những lần thực tập lội đèo băng suối, những ngày gian lao huấn nhục ở quân trường, những ngày cuối tuần đi ra phố lẻ loi, cô độc vì thiếu người thân, không có người yêu, và khi đi xem lễ ở nhà thờ anh thường ngồi lặng lẽ ở bàn cuối, cầu nguyện âm thầm. Anh kể về Đà Lạt với sương mù che kín đỉnh Lâm Viên, về đồi thông thơ mộng, về hồ Than Thở với câu chuyện tình huyền thoại đau thương, về Vũ Đình Trường trong những buổi lễ mãn khóa của các bậc đàn anh… và còn rất nhiều, nhiều nữa. Tự nhiên tôi đâm ra say mê vùng trời xa xôi đó, vùng trời có anh đang hiện diện. 

 Tôi mê cả màu áo Võ Bị với cầu vai Alfa đỏ thắm tươi như trong hình của anh, và tôi rất nể phục những chàng trai mang chí cả kiêu hùng, quyết tâm ra đi giữ gìn sông núi. Các anh đã gắn bó với quân trường, với màu Alfa đỏ, với lời thề ”Tự Thắng Để Chỉ Huy”, để bảo an dân quốc dù tâm tư không thể nhạt phai một hình bóng nào đó ở hậu phương:

Ta bỏ lại đời sinh viên mộng mị

Nhìn đỉnh Lâm Viên nghiêng bóng Quân Trường

Alfa ơi! Màu đỏ đẹp vô cùng

Chiều doanh trại nhớ về em bất tận…

(Quốc Nam- K22)

Suốt những năm tháng dài tôi mãi mong chờ ngày anh trở lại quê nhà. Một điều may mắn bất ngờ xảy ra cho anh là việc vị hôn thê của anh bỗng nhiên đem lòng yêu thương kẻ khác và xin được từ hôn với anh. Đó cũng là một việc dễ giải quyết cho ba anh vì chính ông cũng biết rằng con trai mình phải đau khổ khi chiều ý ba mẹ.

 Năm ấy anh trở về trong kỳ phép đầu tiên sau khi ra trường. Tôi và gia đình anh đón anh trong niềm hân hoan tột đỉnh. Anh đưa tôi ra phố trong bộ Jaspé của Trường Võ Bị oai phong, ai cũng nhìn vào chúng tôi trầm trồ và có lẽ họ cho rằng đó là một cặp tình nhân. Anh cho tôi biết đây là lần sau cùng anh mặc bộ đồ nầy vì mai đây khi anh ra đơn vị anh sẽ phải mặc bộ treillis tác chiến, anh đã được bổ nhiệm về một đơn vị ở tận miền Trung rồi.

 Anh đưa tôi vào một nhà hàng bên bờ sông Ninh Kiều. Ngồi ở một bàn gần cửa sổ, tôi đưa mắt nhìn con sông chạy dài thăm thẳm, ngút ngàn. Vài chiếc tàu Hải Quân nằm im lìm như đang say ngủ, xa xa thấp thoáng những chiếc thuyền con nhấp nhô trên sóng nước, những cánh chim hải âu xoải cánh bay lạc loài trên sông, chúng sẽ bay về đâu? về phương trời nào hay cứ mặc cho cơn gió cuốn đi không định hướng? Cũng như anh, từ đây anh sẽ trôi đi, trôi mãi theo dòng đời mênh mông, theo dòng cuồng lưu của chiến chinh, máu lửa.

 Mắt anh chợt nhìn ra ngoài xa buồn bã, anh nói:

 – Không biết bây giờ Ngự Chiêu ra sao? Anh đã có lỗi với nàng nhiều quá.

 Tôi nghi ngờ :

 -Tên người anh yêu là Ngự Chiêu à? Sao giống tên bạn em quá vậy? Có phải nhà cô ta ở cư xá Lữ Gia không?

 Thụy giật mình, mở to mắt nhìn tôi:

 – Đúng rồi, cô ta là bạn của em sao?

 – Dạ phải. Em nghe bạn bè nói Ngự Chiêu buồn tình anh chàng nào đó nên sau khi đậu Tú Tài 2 nó không vào Đại Học mà đã xin đi làm ở Tín- Nghĩa ngân hàng rồi. Nó vẫn chưa lấy chồng, anh có muốn gặp lại nó không? Biết đâu nó còn thương và chờ anh thì sao?

 Anh cúi đầu trầm ngâm thật lâu rồi anh ngẩng lên hỏi tôi:

 – Theo em thì anh nên làm sao? Có nên gặp Ngự Chiêu không? Thú thật anh vẫn còn yêu và nhớ cô ấy lắm.

 Tôi kéo anh đứng lên:

 – Vậy thì anh còn suy nghĩ, chần chờ gì nữa. Em dẫn anh đến đó xem sao. Hôm nay là Chúa Nhật nó ở nhà, nếu hai người còn thương yêu nhau thì tại sao phải lánh mặt?

 Chúng tôi rời quán ăn đi ngược hướng bến Ninh Kiều, dọc theo đường Lê Văn Duyệt và rẽ vào cư xá Lữ Gia. Con đường đi vào cư xá thật yên tỉnh, những căn nhà hai bên đường đều trồng nhiều hoa, kiểng trông rất đẹp. Trước nhà Chiêu là một giàn hoa giấy màu tím che rợp cả lối đi và mấy băng ghế đá. Hoa ti-gôn màu hồng leo dày đặc hàng rào, trong sân còn nhiều chậu hoa, kiểng đủ sắc màu. Tôi bấm chuông, Ngự Chiêu ra mở cổng và mừng rỡ khi nhận ra tôi:

 -Trời ơi! Vân Anh, ngọn gió nào thổi mi đến đây vậy? Dạ mời anh…

 Ngự Chiêu giật bắn người khi nhận ra Thụy, cô lắp bắp:

 – Anh…Thụy, anh là…

Tôi ngắt lời:

 – Là anh của tao. Thôi vào nhà nói chuyện đi.

 Khi vào nhà Chiêu vẫn chưa hết thắc mắc:

 – Thụy là anh của mầy sao? Tao chưa từng nghe mầy nhắc đến tên anh ấy.

 – Anh Thụy là anh kết nghĩa thôi nhưng ảnh thương tao hơn em ruột nữa. Tôi nhỏ giọng, ảnh kể cho tao nghe chuyện của mầy rồi.

 Ngự Chiêu vào trong mang hai ly nước ra cho tôi và anh, cô nhìn Thụy với ánh mắt đầy xúc động xen lẫn một chút xót xa, buồn bã:

 – Lâu quá không có tin tức gì của anh, nghe nói anh đã vào lính, anh vẫn khỏe chứ? Anh lập gia đình lâu chắc cũng có cháu rồi phải không?

 Anh nhìn Chiêu rồi lắc đầu không nói lời nào, tôi đỡ cho anh:

 – Vẫn còn độc thân vì người ta chê nên từ hôn rồi, anh ấy đang muốn tìm về… quá khứ đó.

 Biết tôi chọc anh, Thụy ngăn lại:

 – Đừng đùa nữa Vân Anh. Chiêu à, sự thật là vậy. Anh đã có lỗi với em rất nhiều vì lẫn tránh em, không biết em có tha thứ cho anh không?

 Thấy mắt Chiêu rướm lệ tôi vội nói:

 -Thôi để mình ra ngoài sân xem mấy chậu hoa của Chiêu, thấy chúng đẹp quá.

 Tôi bước ra sân và ngồi trên một băng ghế dưới giàn hoa giấy tím. Gió thổi lồng lộng làm những cánh hoa rơi bay tản mạn trên mặt sân, đâu đây mùi thơm của hoa sứ thoang thoảng, màu nắng làm ửng hồng khóm hoa thược dược… tôi bỗng thấy trời hôm nay đẹp quá, đẹp như tình yêu của anh vừa tìm lại được. Tôi cố ngồi ngoài sân thật lâu, tôi miên man suy nghĩ vẩn vơ, tôi muốn dành thời gian cho hai người để họ kể lể cho nhau nghe bao nỗi ưu tư, uẩn khúc, nhung nhớ, giận hờn.

 Mãi một lúc sau tôi nghe anh Thụy gọi:

 – Vân Anh ơi, vào nhà đi em. Làm gì ở ngoài đó lâu vậy?

 Tôi lườm anh:

 – Chứ không phải anh muốn vậy sao còn làm bộ nữa. Hai người đã nói chuyện đủ chưa, xong chưa?

Ngự Chiêu bẻn lẻn:

 – Đâu có nói gì nhiều. Mình đã hiểu chuyện của anh Thụy rồi, mình sẽ bỏ qua tất cả, coi như là một thử thách của hai đứa, mình không giận anh Thụy nữa đâu.

-Thế thì hay quá! Tôi reo lên- vậy chiều nay phải đãi một chầu Phong Dinh Lầu đó nghe.

Như vậy là anh và Chiêu đã tìm lại được hương yêu của những ngày xưa thân ái, xây đắp lại cuộc tình đẹp như mộng như mơ tưởng đã vỡ tan.

Rồi anh trở ra đơn vị xa xôi tận miền Trung, họ vẫn thường xuyên liên lạc với nhau qua thư từ. Tôi đã trở thành kẻ bị lãng quên khi anh có người yêu thương, nhung nhớ. Mấy năm sau tôi lập gia đình và theo chồng bôn ba xứ lạ. Chồng tôi cũng là một quân nhân, phục vụ cho Sư Đoàn 7 BB đóng ở Kiến Hòa, thỉnh thoảng tôi có nhận được thư của Chiêu kể về Thụy và dự tính tương lai của hai người cho tôi nghe. Một mối tình tuyệt vời qua những lá thư đầy ấp yêu thương của chàng trai Võ Bị kiêu hùng và cô gái miền sông Hậu ngoan hiền. Chiêu trích những câu thơ mà anh viết về từ tiền tuyến cho tôi đọc, những vần thơ lãng mạn, thiết tha:

 

Yêu em anh gửi tình thơ mộng

Theo gió chiều Thu bay bốn phương

Dưới ánh hỏa châu và đạn pháo

Có bóng hình em giữa chiến trường.

 Vào những năm 1973, 1974 tình hình chiến trường miền Trung thật sôi động, Thụy đi hành quân đánh giặc liên miên nên chưa về phép để thành hôn với người yêu được. Tôi thật sự khâm phục sự kiên tâm chờ đợi, chịu đựng, hy sinh và lòng chung thủy của Chiêu, Chiêu đã chịu đựng bao năm tháng dài đăng đẳng, có lẽ cũng gần mười năm rồi. Lá thư cuối cùng Thụy hứa với Chiêu rằng mùa hè nầy sẽ xin cưới Chiêu. Cô ta mừng vui hớn hở viết thư báo tin cho tôi biết, tôi thầm cầu nguyện cho hai người sớm được toại ước nguyền bên nhau. Nhưng rồi mùa hè mơ ước của hai người chưa kịp đến thì phong ba nổi dậy, đất nước tan tành vì ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã hủy diệt tất cả: tổ quốc, gia đình, tình yêu.

 Chồng tôi bị bắt vào lao tù ở tận miền rừng sâu núi thẳm như bao nhiêu sĩ quan QLVNCH khác. Tôi ôm đứa con vừa tròn ba tuổi trở về quê nhà với tâm tư rã rời, tan nát. Đau đớn, xót xa hơn khi gặp lại Ngự Chiêu và được biết anh Thụy đã mất tích ở miền Trung, anh không về nữa. Chiêu vật vả khóc than và quyết tâm chờ đợi, chờ đợi một phép nhiệm mầu nào đó bất ngờ đem Thụy về cho nàng.

Sau gần mười năm chồng tôi được trở về từ lao tù Cộng Sản, chúng tôi đã vượt biển bỏ nước ra đi và may mắn đến được bến bờ tự do an toàn. Từ đó tôi quay cuồng với cuộc sống nơi xứ người để lo sinh kế nên quên mất thời gian thoáng qua rất nhanh. Có lần tôi trở lại quê hương, tìm kiếm bạn bè ngày xưa và Ngự Chiêu nhưng không ai biết Chiêu đã đi đâu cả. Căn nhà Chiêu đã bị nhà cầm quyền CS lấy cho cán bộ của họ ở. Tôi đi lang thang qua những con đường cũ, đi qua từng khu phố, những ngõ ngách thân quen cố tìm lại chút dư hương xưa, tìm lại những hình ảnh thân mến của một thuở nào… nhưng tất cả đã xa lạ, đã đổi thay. 

 Căn nhà tôi không còn, nhà anh cũng mất, Ngự Chiêu thì không biết trôi dạt về đâu, ôi thật buồn! Những kỷ niệm ngày ấy cứ chập chờn làm tê buốt tim tôi, và tôi trở lại nước Mỹ với tâm trạng ngập tràn ưu tư, phiền muộn.

 Rồi một lần nữa tôi trở về quê hương, lần nầy thật may mắn cho tôi, khi tôi đang lang thang trên đường phố Sàigòn thì gặp được Ngọc Hạnh người bạn cùng lớp ngày nào. Hạnh cho tôi biết tin tức về Ngự Chiêu, Chiêu đã trở thành một ni cô hơn hai mươi năm nay, hiện đang ở trong một ngôi chùa ngoài Long Hải. Tôi điện thoại liên lạc được với Chiêu và mong gặp Chiêu ở Sàigòn. Được tin tôi, Chiêu vội vã về Sàigòn và đã ở lại với tôi mấy hôm liền.

 Hôm đầu tiên gặp Chiêu tôi đã ôm chầm lấy Chiêu khóc òa như trẻ con. Trước mắt tôi cô không còn là một Ngự Chiêu với tóc dài óng ả, với nụ cười e ấp thơ ngây duyên dáng; da trắng, môi hồng ngày xưa đã nhạt phai, tàn tạ, giờ đây nàng chỉ còn lại một dáng dấp khắc khổ, gầy gò, với đôi mắt thờ thẩn vô hồn có lẽ đã khô rồi nước mắt. Tôi nắm tay Chiêu ngập ngừng:

 – Bây giờ phải xưng hô thế nào đây? Kêu bằng… sư cô hay mầy, tao như thuở trước?

Ngự Chiêu nhìn thẳng vào mắt tôi:

 – Cứ như xưa đi. Có như không, không như có. Tất cả chẳng có gì quan trọng. Pháp danh mình là Diệu Đức nhưng Vân Anh cứ xưng mầy, tao như trước được rồi, mình vẫn là bạn mà.

 Tôi hỏi Chiêu:

 – Mầy đã lập gia đình chưa? Tại sao mầy đi tu?

 Đôi mắt Chiêu thờ thẩn nhìn vào khoảng hư không như đang ngược về quá khứ, như muốn khơi lại đống tro tàn đã nằm sâu dưới lớp bụi thời gian. Giọng cô trầm xuống:

 – Sau ngày 30 tháng 4- 1975 tao được tin anh Thụy mất tích, tao đau đớn tột cùng nhưng vẫn kiên tâm chờ đợi ảnh. VC đuổi tao ra khỏi nhà, tao về Mỹ Tho sống với bên ngoại. Tao đi buôn bán khắp nơi cố ý dò thăm tin tức của Thụy nhưng vẫn bặt vô âm tín. Tao không thể lập gia đình với ai vì tim tao chỉ có Thụy. Tao chờ đợi hơn mười năm, tao đã sống vật vờ như một cánh bèo trôi trên sông mặc cho sóng trường giang lôi cuốn, tao trôi nổi theo dòng đời như thủy triều khi xuống khi lên, cứ thế và cứ thế…

 Đến một ngày kia tao gặp một anh Thương Phế Binh, tao giúp đỡ anh ta và cũng nhờ vậy tao được biết anh ta cùng đơn vị với anh Thụy. Anh cho biết Thụy đã thật sự chết rồi, chết trong lần đụng độ cuối cùng với địch quân trên đường triệt thoái về Nam, chết trước ngày 30 tháng 4- 1975 , trước khi ông “tướng lớn” ra lịnh đầu hàng. Tao cố sống vì còn hy vọng ngày Thụy trở lại nhưng khi biết ra sự thật tao đã không còn ý chí để sống sót nữa. Tao tìm cái chết qua hai lần tự tử nhưng số mệnh tao chưa dứt nợ trần nên cả hai lần đều được cứu sống. Sau đó tao quyết định đi tu, còn gì lưu luyến cuộc đời nữa chứ! Tao đi tu không phải muốn thành Tiên thành Phật gì đâu, tao chỉ mong cho mau chóng hết kiếp nầy, tao muốn xác thân nầy được mau hủy diệt, mong kiếp sau…

 -Mầy mong kiếp sau sẽ gặp lại anh Thụy chăng?

 -Không, tao mong kiếp sau đừng làm con người nữa, tao muốn được làm cây cỏ vô tư không vướng những phiền lụy, bi ai của trần thế.

 Đôi mắt Ngự Chiêu vẫn như nhìn vào một cõi mông lung nào đó, thẩn thờ, u mê, khờ khạo. Bao nhiêu năm tu hành mà nàng chưa giác ngộ và thấm nhuần giáo lý Phật pháp sao? Chưa dứt bỏ được trần duyên sao? Thật khó tin được. Tôi nhìn sâu vào mắt Chiêu, ôi còn đâu một người con gái trẻ đẹp tràn đầy nhựa sống, ôm ấp nhiều ước vọng yêu đương… không còn là Ngự Chiêu nữa, thật sự không còn. Ngự Chiêu ơi! Mai nầy mầy sẽ ra sao? Cuộc đời vẫn hờ hững, lạnh lùng với tâm tình của người con gái cô đơn, bất hạnh. Có lẽ rồi đây, dòng đời sẽ đưa mầy trôi về một cõi xa xăm, mầy sẽ được nghỉ ngơi, sẽ được thanh thản, bình yên trên một vùng thảo nguyên mênh mông nào đó, nhưng nó không thuộc về thế giới bên nầy.

 Tất cả cũng vì cái hận ngày 30 tháng 4 năm 1975 đen tối kia. Nó đã làm cho tôi mất hết mọi thứ: mất một giang sơn gấm vóc, mất một mái gia đình êm ấm, mất một người anh ruột thân yêu, mất anh Thụy, mất cả Ngự Chiêu của ngày nào… Không biết bao giờ tôi mới tìm lại được những mất mát đó để lòng khỏi xót xa, trăn trở với những đêm dài nơi tha phương đất khách? Dòng đời cứ trôi đi, trôi mãi, biết đến bao giờ sẽ quay trở lại như những ngày xưa? Biết đến bao giờ…!

 Vi Vân

In Văn Hóa, Quán Chiếu, Giáo Dục Tags TRÔI THEO DÒNG ĐỜI, Vi Vân
Comment

ĐÒN THÙ (Lỗ Trí Thâm)

November 13, 2025 Ninh Tran

ĐÒN THÙ

***

“1975-2025”

“ Hận còn đó”

“Chất cao trong lòng người.Trong lòng anh, lòng tôi”

  Lỗ Trí Thâm

 “…Trời ơi!!Chúa đâu?.Phật đâu ?.Sao tôi khổ thế này !!??”

Từ lưng đồi, trong cơn mưa tầm tã. Ông Trung Tá Không Quân “ thua cuộc” trượt chân,lăn nhiều vòng cùng khúc cây,(chỉ tiêu lao động),  đè ngang cổ.Dẫy dụa nhiều lần .. Khi đứng dậy được..Hai tay dơ lên trời , ông gào thét như nỗi đau của “ Hổ mhớ rừng..” bị sập bẫy!! ..Bộ quần áo tù mỏng dính, ướt sũng, dán sát người ông.Từ một góc khuất trong bụi rậm, tôi thấy rõ một bộ xương cách trí đang lơ lửng giữa trời.

 Ôi !.còn đâu “ ..Vùng trời nào đó anh đã bay qua.

.Chỉ còn lại đây..rừng núi bao la..”

Tận cùng của nỗi tuyệt vọng.!!

***

-Phạm văn Đồng: “..Học tập cải tạo..Những người này chúng tôi cho họ một cơ hội để trở lại làm người..”

-Đỗ Mười: “Giải phóng miền Nam, chúng ta có quyền tịch thu tài sản, trưng dụng nhà cửa, hãng xưởng, ruộng đất của chúng nó.Xe chúng nó ta đi.Vợ chúng nó ta lấy.Con chúng nó ta bắt làm nô lệ.Còn chúng nó thì ta đầy đi làm lao động khổ sai tại vùng kinh tế mới hay nơi rừng sâu, nước độc.Chúng nó sẽ chết dần, chết mòn..”.

-Dương thu Hương: “..30/4/1975..Kẻ dã man thắng người văn minh..”

***

.Hai bà mẹ già nhai trầu bỏm bẻm, ngồi trên cái băng ghế của một kios báo bỏ hoang ở trước cổng trường nữ trung học Lê văn Duyệt xem những thằng con lính bại trận trình diện “học tập cải tạo”. Một bà kéo vạt áo lau nước mắt nói: “ Tôi nghiệp tụi bay qúa!!” Tôi cúi đầu lặng lẽ bước vội trong âm thầm tư duy:

 “..Anh trở về bại tướng..cụt chân!!..”

***

“..Còn chúng nó thì ta đầy đi nơi rừng sâu nước độc.Chúng nó sẽ chết dần, chết mòn..”. ( Đỗ Mười)

***

***- “..Em ơi..con ơi.. Đau qúa..tôi chết mất..” Thiếu Tá Đại trước khi chết, ông lăn lộn gào thét gọi tên vợ, tên con..Không gọi tên ..Tổ Quốc.!!.. “..Còn đất nước thì còn tất cả.Mất đất nước là mất tất cả..!!”.(Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu)

Ống quần tù mỏng dính mắc kẹt vào miếng sắt đóng vào cái cột gỗ làm nấc thang leo lên tầng trên, khiến ông té lộn ngược, đầu đập xuống sàn xi măng .Tôi nghe rõ âm thanh của một trái dừa khô lột vỏ ném xuống trước chân tôi!!..Vỡ sọ.!!

Ông vật vã cuộn người đau đớn .Bốn mươi hai tù nhân la vang trong phòng giam; “..Cứu người..Cứu Người..” Toàn thể trại tù im lặng rợn người ngoại trừ âm thanh của tiếng thìa,muỗng đập liên tục vào song sắt cửa sổ..Cuối cùng..mãi tới nửa đêm , hai tên cai tù xuất hiện quát: “..Vần anh đó ra gần cửa sổ này..vạch mông ra..” .Một mũi kim qua song sắt. Ông ngủ yên..Phòng giam trở lại im lặng lạnh người.

Cuối cùng, trời hừng sáng, ánh nắng vừa lọt qua song sắt .Thiếu Tá Đại  tắt thở, không kịp một lời giã từ anh,em… Ông.. hối hả bay bổng tìm đường về Nam gặp lại vợ, con.!!

“.Anh không chết đâu em..Anh sẽ về gặp mẹ, con em!!’

Khi liệm ông, trong túi áo của ông còn nguyên phần ăn: Hai mẩu khoai mì nấu chín cùng những mảnh vỏ sống chưa kịp muối chua..

***Đại Úy Đức nằm cạnh tôi không dậy nữa.Khi liệm anh, trong túi áo của anh có hai lát bí và cái đầu gà toi đen thui..  “..Cao lương này thay cho bát cơm cúng!!”

“.. Đúng là Xã Hội Chủ Nghĩa..”.Đức nói khi đám ròi ở dưới hầm cầu lổn nhổn, chen chúc giành nhau phần bo bo do anh vừa thải ra.Phía bên kia có người nghe được..

Đức bị cùm ngang ngực bằng cái ách trâu, nằm trên một tấm ván suốt 45 ngày.Khi được thả ra, anh đi không vững.Mình trần dơ xương.Cái áo tù không còn nữa, nó đã được anh xé ra nhiều lần để làm vệ sinh..Anh chết vì kiệt sức!!..Đức vĩnh viễn nằm lại ở núi rừng Hoàng liên Sơn!!..

Khi còn sống,Đức luôn cay cú nói: “ Thêm 6 trái CBU  rồi đánh tiếp nữa thì ngày hôm nay bọn mình đâu như thế này..”.Đức đúng hay sai?.

Tại quán phở 79 giữa Thủ Đô Little Saigon , Tướng Đảo nói với tôi: “..Cho qua thêm vài trái CBU..Qua đánh tụi nó không kịp chạy về Bắc..”

***Đại Úy Thịnh.. “….Xin cho tôi nói..” Tên bộ đội tay nắm sẵn miếng giẻ vội nhào tới nhét vào mồm anh.Một tên nữa vội quàng khăn bịt mắt anh lại, cùng sáu tên khác xô đẩy anh loạng choạng, nghiêng ngả ra bãi bắn !!.

  “..Xin cán bộ cho tôi tháo miếng vải che mắt và miếng giẻ ở miệng của anh ấy được không?”

Tên cai tù: “Để nguyên vậy..Lấp đất..”

.. “..Con gởi về cho cha một manh áo trắng

..Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây !!..”( Việt Đũng)

Thịnh bị tử hình chỉ vì một mẩu giấy nhỏ viết vài chữ gởi cho vợ bị lọt vào tay chúng như sau: “  ….Em hãy nhớ lời anh dặn.Dù anh còn sống hay đã chết.Mình có hai đứa con gái ,không bao giờ  cho nó lấy lũ cán ngố rừng rú..Ở đây anh trốn lúc nào cũng được.Anh là sĩ quan Quân Báo tốt nghiệp ở Okinawa mà em..”

Tướng Loan bắn thằng Bảy Lốp.Tên Việt Cộng vừa tàn sát dã man cả một gia đình 5 người lớn, bé vô tội.Máu ngập  tràn mắt cá chân.

Hành động nào là dã man?!

***Đại Úy Kha trong khi phát quang trên sườn đồi bị rắn cắn.Nọc độc chạy khắp mình anh.Khi ở đùi.khi ở tay.Khi lên má.Khi xuống cổ.v.v..Xin đi viện(bệnh viện). chữa.Chúng không cho.Đúng 49 ngày sau anh chết!.!..

Những ngày đầu của 49 ngày chập choạng với thần chết”.Kha sợ !!.Nhưng sau đó anh bình tĩnh lạ thường!!..

Kha chưa lấy vợ.Mồ côi cha từ bé.Anh có một em gái.Mẹ già thủ tiết nuôi con.Em gái báo tin mẹ anh mới qua đời.

Kha kể : “..Ngày đi trình diện “Học tập cải tạo”.Mẹ anh nói: “..Con mang làm gì nhiều thứ vậy?.Học tập có mười ngày rồi về…Nghe đâu nhà hàng chở đồ ăn đến..”

Thời gian mười ngày thì mẹ anh sai.Nhưng nhà hàng sang chở thức ăn đến thì đúng.Nhà hàng Caraven.Một tên bám bên cửa xe ,mình mặc áo trắng, đầu đội mũ trắng, tay đập ầm ầm vào thành xe dẹp đường.Chạy nhiều vòng quanh phố, sau đó vào thẳng cổng trường.Bà , con, cô, bác hai bên đường nói: “ Xướng quá…”

Trong xe , một xọt bánh mì cộng một nửa thùng phi canh rau.

Những ngày cuối Kha thường nói: “ Ngoài Bắc này nhiều chim bìm bịp quá..”

Khi liệm , không thấy vết tím trên mình anh.Tôi đoán,nọc độc đã chạy vào nội tạng..

Đài BBC bình luận:   ( Chiêu lừa Học Tập Cải Tạo ) “ ..Trong lịch sử chiến tranh của nhân loại.Lần đầu tiên những bại binh tình nguyện đi vào tù.!!”

***Đại Úy Cát  ngồi bất động trong một bụi rậm, hai mắt nhìn chăm chăm qua bên kia bờ suối.Hai vợ chồng và một đứa con trai cộng thêm một con chó đang ăn một rổ khoai lang.Họ chuẩn bị lên núi hái măng vầu..Những mẩu đầu khoai lang được ném xuống đất.Con chó táp vội rồi nhả ra.Người và chó vừa rời khỏi chỗ, khuất xa ở lưng núi.Cát phóng qua, vội nhặt những mẩu khoai, bỏ vội vào miệng nhai ngấu nghiến..

Cát là tiểu đoàng trưởng Địa Phương Quân.Anh thường kể cho tôi nghe những ngày, tháng vàng son: Lính của anh làm đồ nhậu sau mỗi khi hành quân trở về hậu cứ.Cái món làm tôi thèm chẩy nước rãi là món chim sẻ chiên giòn chiêu với rượu huyết chim..  Cát cũng giống như  Đức , Kha. Cả ba người đều vĩnh viễn nằm lại ở rừng  Hoành liên Sơn

Cát và một người bạn không cầm cự được với trái độc.Hai người làm một bụng đầy.Mạch máu vỡ tung, da thịt tím bầm.Chết ngay dưới gốc cây cổ thụ . Đám cỏ nơi hai người chết nằm dạt, chứng tỏ họ đã vô cùng đau đớn lăn lộn nhiều lần!!.

Tên trưởng trại để xác hai người  trên một cái chõng tre .Tuyên bố: “..Mặc dầu hai anh này có vi phạm nội quy là cải thiện linh tinh.Nhưng trong quá trình cải tạo có lao động tốt, nên tôi nhân danh Đảng và Nhà Nước cho hai anh được phục hồi quyền công dân!!??”

Trong những ngày , tháng lao động khổ sai cùng nhau, tôi thường nghe Cát hát:

.. “..Tới trước ngõ cũ nghe kể rằng:Giặc tràn qua thôn xóm.gieo bao đau thương , bao điêu tàn từ ngày anh vắng xa..”

Cát xem ra luôn hãnh diện, hào hứng với cuộc đời.. “Chinh chiến điêu linh “ đã qua của anh..

.. “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ

Thuở tung hoành, hống hách những ngày xưa

…Nay xa cơ bị nhục nhằn tù hãm

Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ..” ( Thế Lữ )

 ***Đại Úy Cư..Sợi giây thừng vòng qua cổ.Hai tên bộ đội kéo xác anh đi vòng sân của khám Chí Hòa.Máu từ tim vẫn chẩy ra vẽ thành những vòng tròn trên mặt gạch

Đoàn xe chở tù về tới  ngã Sáu đường Lê văn Duyệt.Khi gần tới cổng Biệt Khu Thủ Đô. Xe chạy chậm.Cư bất thần đạp một tên vệ binh lộn xuống đường.Tên thứ hai bị Cư ném một nắm muối vào mặt .Hắn bóp cò, viên đạn bắn trượt vào mâm bánh xe phụ sau lưng Cư, vòng ngược xuyên  ngay tim anh. Cư chết tức thì!!..Những “ phạm nhân” trên cùng xe kinh hoàng!!..

Cư còn độc thân có bằng Cao Học Hành Chánh.Võ Sư Việt Võ Đạo.Tốt nghiệp Hòa Âm trường Quốc Gia Âm Nhạc Sài Gòn. Gốc Cục Tâm Lý Chiến.Biệt Phái Bộ Canh Nông.Sau 30/4/1975 anh thuộc sự “ quản lý” của Ủy Ban Quân Quản Việt Cộng. Sau khi “học tập” ít ngày, chúng điều anh vào Camp David trong Tân sơn Nhất dịch tài liệu. Một thời gian sau,Cư bỏ trốn lên Ngã Ba biên Giới toan tính vượt biên.Anh bị bắt!!.

Mười năm sau, tôi ghé thăm nhà gọi người em út ra quán cóc cà phê nơi đầu ngõ kể cho em nghe về cái chết của Cư .Em cho tôi biết Người anh thứ hai Thiếu Úy Luật Sư đi “ cải tạo” cũng mất tích!!.

Nhà có cha, mẹ già và 3 con trai.Nay còn lại một người.Tôi khuyên em đừng cho bố, mẹ biết tin này..

Nửa năm sau, tôi ghé nhà em.Tôi được biết thân mẫu em chờ hoài không thấy con về nên bà héo hắt mà chết.Còn thân phụ em thì sáng nào cũng cái ô cắp nách, lên xe lam đi tìm..hai đứa con trai ...Có khi trưa thì về, có khi tối mới về.Kể cho tôi mà em khóc nức nở!!.Còn tôi thì nghẹn ngào uất hận !!..

      “..Ta về cúi mái đầu sương điểm

        Nghe nặng từ tâm lượng đất trời

        Cám ơn hoa đã vì ta nở..

        Thế giới vui từ mỗi lẻ loi..”. ( Tô thùy Yên)

                               Thủ Đô Little Saigon

Lỗ Trí Thâm

In Văn Hóa, Quán Chiếu, Giáo Dục Tags Lỗ Trí Thâm, ĐÒN THÙ
Comment

MỘT ĐOÁ SEN THƯỢNG TỌA THÍCH THANH LONG Quyền G.Đ Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH (Phạm Gia Đại)

November 11, 2025 Ninh Tran

Mùa hè năm ấy có lẽ là một mùa hè nóng bức oi ả nhất của thập niên tám mươi tại miền Bắc. Trại giam Ba Sao, Nam Hà thuộc tỉnh Hà Nam Ninh như nằm yên dưới sức nóng như thiêu đốt, ngay cả về đêm cái nóng như vẫn còn âm ỉ, mọi thứ như tỏa ra hơi nóng – những bức tường, những sàn lót gạch hung hung đỏ, cái sân tráng xi măng trước mặt, ngay cả cái ván lót trên sàn nằm cũng toát ra hơi nóng.

Những người tù nhân chính trị chế độ cũ như trong một lò ngục tối trên trần gian, ban ngày thì lao động khổ sai đổ mồ hôi không phải đổi lấy bát cơm mà đổi lấy ít thức ăn độn như khoai hay sắn hay bo bo mà vẫn không đủ no, ban đêm thì cố giỗ giấc ngủ trong cái nóng như nung như đốt ấy trong cái cả nh nằm xếp hai từng như cá đóng hộp trong buồng giam. Mồ hôi lại đổ ra cho đến khi mệt lả người đi thì giấc ngủ chập chờn mới đến.

Cái nóng kinh người đã kéo dài cả tháng nay và đồng ruộng đã nứt nẻ, các em bé chăn trâu mà Trung và các bạn gặp trên đường đi lao động cũng môi khô và chui vào các bụi cây trú nắng. Các giếng nước cũng từ từ khô cạn đưa đến nạn thiếu nước trầm trọng cho cả dân chúng những làng bên ngoài lẫn những người tù khốn khổ trong trại.

Buổi trưa hôm đó cũng như mọi ngày sau khi lao động về, ăn xong phần ăn trưa ít ỏi, các người tù cố nằm giỗ giấc ngủ ngắn để lấy sức lao động buổi chiều thì thấy một vị sư già đang ngồi ngoài sân nắng trong thế kiết già cả nửa tiếng đồng hồ và mặt ngước nhìn thẳng lên trời. Những khi hạn hán thì thầy vẫn cầu nguyện như thế và sau đó chiều tối hay trước nửa đêm thể nào mưa giông cũng kéo đến. Đêm nay cũng thế, Trung cố giỗ giấc ngủ để mà mai còn sức trả cái nợ lao động nhưng không làm sao nhắm mắt được, mồ hôi trên người cứ nhỏ từng giọt như làm cho sức khỏe của anh cạn dần đi theo đêm. Anh nhớ tới thằng bạn thân nằm bên cạnh nói với anh hồi chiều rằng chỉ ước ao ông Trời cho một trận mưa chứ đã tù cả chục năm rồi cũng chẳng mơ ước xa xôi gì ngày trở về nữa.

Thế rồi, như một phép lạ những làn gió mát từ đâu từ từ thổi đến, len lỏi vào những khung cửa sổ, luồng dưới những cánh cửa buồng giam và từ xa xa vài lằn chớp nhoáng lên bên trời. Chẳng bao lâu sau thì những giọt mưa, ôi những giọt mưa cam lồ của Trời ban xuống như thêm sức mạnh cho những người tù biệt xứ lưu đày. Các buồng giam không ai bảo ai đều thức dậy và tung mùng ra để được hít thở những giây phút mát rượi của làn gió lùa vào trại giam.

Vô tình Trung nhìn xuống nơi vị sư già giam cùng buồng với anh, thầy vẫn như còn đang ngồi thiền trong mùng, mặt quay vào tường trong thế kiết già. Trung chợt hiểu và các bạn anh cũng hiểu rằng chính nhờ thầy cầu nguyện mà đã có trận mưa đêm nay. Vị sư già đó chính là Trung Tá Quyền Giám Đốc Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH – Thượng Tọa Thích Thanh Long, một người tù xuất chúng đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu kính nể. Giang sơn của thầy cũng là một tấm chiếu, hai bộ quần áo tù, và một cái chăn đỏ Trung Quốc như mọi người và nằm một dãy với các Đại Đức Tuyên Úy khác.

Anh nhớ đến thầy Khuê, một vị Tuyên Úy Phật Giáo và Tam Đẳng Huyền Đai Nhu Đạo võ đường Quang Trung, một vị Đại Đức mà anh rất mến thương và kính trọng, đã từng nói với anh rằng nếu nói về đạo Phật, về sự tu hành thì hãy lấy thầy Long mà làm gương; đừng vì một vài vị Tuyên Úy đã không nghiêm giữ được giới răn mà hiểu lầm về đạo Phật mà mất đi niềm tin.

Anh nhớ lại câu chuyện lúc mới bước chân vào trại giam Long Thành sau khi Sài Gòn sụp đổ và hầu như mọi người đều không biết bấu víu vào đâu, niềm tin vào các tôn giáo cũng bị lung lay thì một sự việc đã xảy ra làm mọi người đều kính trọng thầy, nhất là khi biết hai tòa đại sứ bạn đã đến đón thầy đi di tản trước đó nhưng thầy đã khẳng khái chối từ và thanh thản bước chân vào trại giam.

Trong thời gian mới bị giam giữ, một hôm thầy được gọi ra làm việc để gặp hai vị sư quốc doanh là Thượng Tọa Thích Minh Nguyệt và Thích Thiện Siêu. Hai vị này ra sức thuyết phục và chiêu dụ thầy để thầy ủng hộ phong trào “Phật giáo yêu nước”, và nói sẽ bảo lãnh cho thầy ra khỏi tù ngay để nhờ thầy góp công góp sức xây dựng phong trào Phật Giáo Yêu Nước này. Hai vị sư này chính là người mà Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia đã bắt giam trước năm 1975 vì hoạt động cho Cộng Sản.

Thích Minh Nguyệt đã bị đày ra Côn Đảo, còn Thích Thiện Siêu thì thường được gọi là ông Từ Đàm vì tu ở chùa này ngoài Huế. Sau đó chính Thượng Tọa Thích Thanh Long là người đã đứng ra bảo lãnh cho họ ra khỏi tù để ăn năn hối cải mà trở về lại con đường tu hành vì họ đã bị lộ hình tích. Không ngờ ông trời trớ trêu để có ngày họ lại đến trại Long Thành và đối đầu với thầy trong hoàn cảnh đặc biệt này của đất nước.

Thầy nhìn hai vị sư quốc doanh kia và từ tốn chậm rãi nhưng thật cương quyết thầy nói:
“Các ông đã dựng nên cái phong trào “Phật Giáo yêu nước” ấy thì các ông cứ tiếp tục công việc mà các ông đã làm, còn tôi là một Tuyên Úy trong quân đội và tôi sẽ theo chân các Phật tử trong các trại giam, họ đi đến đâu thì tôi cũng sẽ đi đến đấy với họ cho tới cùng. Thôi các ông về đi”.
Và sau đó thầy chấp nhận việc chuyển trại ra Bắc mở đầu cho một quãng đời biệt xứ lưu đày.


Những ai có may mắn gặp thầy trong trại giam thầy đều kính trọng vị sư già này, người mà lúc nào cũng như mỉm cười, hòa nhã, giản dị, khiêm tốn và giúp đỡ tất cả mọi tù nhân mỗi khi thầy có phương tiện.

Năm 1976, thầy cùng một số Tuyên Úy chuyển trại từ Nam ra Bắc và bị giam giữ tại trại 1 Sơn La hay còn gọi là trại Mường Thái là nơi mà trước kia Pháp đã từng giam giữ những tù nhân bị án lưu đày. Năm sau thì thầy có tên trong số những tù nhân di chuyển về trại Yên Hạ, trại giam này nằm dưới thung lũng và bao vây chung quanh bởi những dãy núi đá vôi, thuộc huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Trại Yên Hạ là nơi chuyên giam giữ những tử tội hình sự cướp của giết người mà đã được nhà nước “khoan hồng” tha cho tội chết.

Chỉ hơn một năm sau thì các tù nhân này dần dần kiệt sức vì lao động khổ sai, thiếu dinh dưỡng, thiếu ăn nhất là thiếu chất mỡ và đường, và vì khí độc từ dãy núi đá vôi phả vào từ chung quanh. Bởi thế chỉ sau một thời gian ngắn chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, ai nấy đều gầy như bộ xương còn biết đi. Khi đi lao động hay đi trở về trại, người ta chỉ thấy những bộ quần áo tù phấp phới bay mà chẳng thấy da thịt đâu.

Thế rồi sau bốn năm trời giam cầm và lưu đày, một số những người tù lần đầu tiên được nhận một gói nhỏ tiếp tế cực kỳ quí giá từ gia đình trong Nam gửi ra, một số khác thì vẫn chưa nối lại được sợi dây với gia đình trong Nam.

Trong gói nhỏ mà các Phật tử gởi cho thầy Long có 15 cục đường móng trâu, lúc đó ai mà có được 5 cục đường như thế thì đã là thần tiên rồi, nhưng thầy từ từ đem ra phân phát hết 15 cục đường quí giá đó cho những người cùng buồng. Ưu tiên những tù nhân nào mà đã kiệt lực thì được một cục, những người đau ốm khác thì mỗi người được nửa cục mà thôi, còn riêng thầy thì không có một miếng đường nào hết. Những người tù này khi nhận được cục đường từ tay thầy phân phát đã không cầm được nước mắt trước tấm lòng vị tha, quảng đại vô biên của một vị sư mà tâm đã định và huệ đã ngời sáng.

Thầy cũng không thoát được những vụ hỏi cung, một hình thức tra tấn tinh thần những người tù khốn khó này trong trại giam. Một tên cán bộ từ Hà Nội vào với mái tóc hoa râm có vẻ là một viên chức cao cấp thuộc Bộ Nội Vụ đã hỏi cung thầy trong ba ngày liên tiếp. Hắn vứt cho thầy tờ giấy để tối về khai báo những tội lỗi đã chống đảng, nhà nước và nhân dân trước kia khi hoạt động ở Sài Gòn cho Nha Tuyên Úy Phật Giáo của chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Sáng hôm sau, khi kêu ra làm việc tiếp tục, thầy đã nộp bản khai báo cho hắn, vừa xem xong thì hắn đùng đùng nổi giận ném tờ khai xuống bàn và quát tháo:
“Anh khai báo thế này hả? Tại sao anh lại chép Chú Đại Bi vào đây? anh muốn tù rục xương ra không?”.
Vẫn thái độ bình tĩnh và từ tốn của một vị cao tăng thầy chậm rãi trả lời:
“Thì đây chính là những gì mà tôi đã làm và đã tụng niệm khi xưa, có thể thôi!”.
Hắn với vẻ mặt hầm hầm liệng cho thầy một tờ giấy khác để khai báo lại một cách thành khẩn để được sớm khoan hồng. Sáng ngày hôm sau, thầy nộp cho hắn một tờ thứ hai và trên tờ đó thầy chép lại thật nắn nót bài Kinh Bát Nhã. Đến đây thì hắn nổi điên lên và mạt sát thầy thậm tệ và đe dọa rằng thầy sẽ tù mọt gông và đừng mong sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Thầy ung dung trả lời rằng:
“Các ông cứ việc giam giữ tôi bao lâu cũng được, tôi chỉ xin các ông hãy thả hết những người tù chính trị chế độ cũ mà các ông đang giam giữ mà thôi”.

Từ đó đến sau, chúng ít khi kêu thầy ra hỏi cung nữa cho đến mãi năm 87, trước khi có một đợt thả lớn tại trại Ba Sao Nam Hà thì trong các vị Tuyên Úy bị hỏi cung có tên thầy. Nhưng đặc biệt lần này chúng gọi thầy bằng thầy chứ không gọi là anh như trước nữa, tuy nhiên chúng vẫn dụ dỗ thầy nhận tội để được khoan hồng.

Thầy trả lời rằng các ông cứ thả hết các ông đại đức tuyên úy ra đi vì họ chẳng có tội lỗi gì hết tất cả đều do tôi và họ đều làm theo chỉ thị của tôi hết, muốn gì thì cứ giữ tôi ở lại đến bao lâu cũng được. Chúng đành chào thua và chỉ vài tháng sau thì thầy có tên trong danh sách được thả ra khỏi trại cùng với tất cả các đại đức và những vị mục sư linh mục khác trong các Nha Tuyên Úy quân đội.
Thầy ở tù mười hai năm, một năm trong Nam và mười một năm lưu đày trong những trại giam được dựng lên nơi rừng thiêng núi độc miền Bắc.

Về miền Nam, thầy trở lại chùa Giác Ngạn trên đường Trương Minh Ký cũ ở Sài Gòn để lại lo Phật sự, cúng kiến giúp đỡ các gia đình Phật tử. Khi đi đâu tụng kinh thầy vẫn đơn sơ trong chiếc áo nâu sòng và phe phẩy chiếc quạt đã sờn rách và môi luôn nở nụ cười hiền hậu giống như một ông già nhà quê chất phát hiền lành.
Chùa Vĩnh Nghiêm có vời thầy ra nhưng thầy vẫn ở lại Giác Ngạn – ngôi chùa mà thầy góp công xây dựng lên và trụ trì cho tới khi mất nước – cho tới khi thầy viên tịch vài năm sau đó.

Phạm Gia Đại

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa, Thời Sự Tags MỘT ĐOÁ SEN THƯỢNG TỌA THÍCH THANH LONG Quyền G.Đ Nha Tuyên Úy Phật Giáo của QLVNCH, Phạm Gia Đại
Comment

ĐOẠN KẾT CÂU CHUYỆN TÌNH BUỒN (NGUYỄN ĐÌNH LIÊN)

November 10, 2025 Ninh Tran

Tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm.

Một sự tình cờ, tôi đã gặp lại hắn, sau hơn 20 năm, kể từ lúc cả hai cùng được thả ra, vào một ngày đầu Tháng Năm, 1981, từ trại tù Bình Điền, Thừa Thiên Huế.

Tôi biết hắn từ trước năm 1975 không những vì cả hai cùng học một lớp bậc trung học, cùng một khóa Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, thậm chí, sau đó lại về cùng một đơn vị. Trước ngày mất nước năm tháng, hắn lấy vợ. Vợ hắn, tên là Hạ, đúng là một cô giáo hiền thục, đoan trang và thương chồng theo cách tăn măn tỉ mỉ của những cô gái Huế (thời trước.)

Rồi trôi theo vận nước, tôi đi với hắn vào cùng một trại tù và thật kỳ lạ, sáu năm sau lại cùng với hắn ra khỏi trại. Trong khoảng thời gian ở tù này và nhất là sau khi cùng được thả ra về sống tại địa phương. Tôi mới biết được và hết sức khâm phục lòng hy sinh và sự chịu đựng của vợ hắn…

Khi cuộc đời nhà binh của hắn và kể cả tôi nữa kết thúc tại bãi biển Thuận An, Huế vào ngày 26 Tháng Ba, 1975. Chúng tôi bị lùa lên trại tù Khe Sanh, rồi về Cồn Tiên, hắn hay chắt lưỡi với tôi: Trời hỡi!! vậy mà cũng còn may. Tôi hỏi thì hắn trả lời: May là vì hai vợ chồng tôi chưa có con, không bị ràng buộc chi hết, nàng có thể tự do đi lấy chồng khác, chớ đeo theo mình, cái thằng tù chung thân khổ sai này làm cái chi?!

Tại trại tù Cồn Tiên (Tỉnh Quảng Trị) lần thăm nuôi đầu tiên, vợ hắn lên thăm. Hắn nói ngay với với nàng: Thôi đến mức ni là đủ rồi, em còn trẻ, chưa có con, anh cho phép em ly dị anh, rồi về mà kiếm một thằng chồng khác, chớ đeo theo anh làm cái chi nữa, lấy ai cũng được, miễn răng em hạnh phúc là anh mừng rồi. Vợ hắn im lặng không nói. Ba tháng sau, về trại Ái Tử (Đồng Hà) lại thấy nàng tay xách nách mang giỏ lớn, giỏ nhỏ lên thăm. Hắn lại khuyên nàng như lần trước, thì bị nàng nạt: Đừng có giở trò cao thượng với tui, tui là vợ anh thì đến chết tui vẫn là vợ anh, đừng có nói ba xàm ba láp. Đến đây thì hắn tắt đài không dám hó hé thêm một tiếng.

Vì chuyện này tôi không biết hắn vui hay là buồn, vui cũng đúng thôi vì thời buổi này có được một người chung tình như vợ hắn thì cũng đáng vui, nhưng buồn như trường hợp hắn lại cũng đúng. Buồn vì tội nghiệp cho cô vợ trẻ không biết có mắc nợ nần chi từ đời kiếp nào mà bây giờ phải đeo theo mà trả.

Sau này khi được phóng thích về địa phương, nghe thuật lại thì ra vợ hắn đã bỏ nghề giáo từ lâu, để lăn lưng ra chợ trời, buôn thúng bán bưng mà kiếm từng đồng bạc lên thăm nuôi anh chồng đang sa cơ thất thế.

Lại nghe nói trước đó có anh trưởng Ban Thuế Vụ tỉnh đeo theo nàng như đỉa nhưng luôn luôn bị nàng quyết liệt từ chối. Trước ngày đi vùng kinh tế mới trong Nam, tôi nói với hắn: Ông có phước lắm mới có được người vợ như rứa, ráng mà sống với nhau trọn đời. Hắn trả lời: Mẹ tôi sinh ra tôi làm người còn vợ tôi mới là người mở mắt cho tôi biết cái gì gọi tấm lòng cao thượng.

Khoảng vài năm sau thì nghe nói hai vợ chồng hắn đã lên tàu vượt biên.

Nghe tin này tôi cầu mong hai vợ chồng hắn đi đến nơi đến chốn bình yên và mãi mãi hạnh phúc bên nhau.

Mười năm sau, gia đình tôi đi Mỹ theo diện H.O. Qua Mỹ, tôi ra sức tìm kiếm hai vợ chồng hắn. Và qua nhiều người bạn tôi nghe tin hắn đang sinh sống tại một tiểu bang miền Đông và cũng nghe nhiều chuyện về hắn. Nhưng mãi đến hơn hai chục năm sau, tình cờ, tôi mới có dịp gặp lại người bạn cũ này.

Đó là một đêm Giao Thừa âm lịch tại thành phố Salt Lake City, tiểu bang Utah. Ngoài trời tuyết rơi trắng xóa. Trong một căn chung cư ẩm thấp nghèo nàn ở vùng North Salt Lake. Ngồi trước mặt tôi là một người đàn ông ốm yếu, đầu tóc bạc trắng, nhìn tôi qua cặp mắt ủ rủ, chính là hắn.

Tôi hỏi hắn:

– Chuyện gì đã xảy ra? ông có nhớ tôi đã từng nói với ông là hãy sống hạnh phúc với Hạ và hãy biết quý trọng tấm lòng cao thượng của nàng.

Hắn nhìn tôi, với ánh mắt sáng lên chút diễu cợt, rồi biến mất, chỉ còn hai bên khóe mắt của hắn tôi nhìn thấy những vết hằn buồn rầu ai oán.

Đúng rồi, chính cái tấm lòng cao thượng hay là sự hy sinh cao cả đó nhưng than ôi, kết quả mà nó mang lại là tất cả những gì anh đang thấy đây…

Hắn bắt đầu câu chuyện.

Chiếc thuyền mỏng manh chở khoảng 150 người rời khỏi Lăng Cô nhắm hướng hải phận quốc tế, vào cái ngày định mệnh đó. Chỉ 4 tiếng đồng hồ sau thì nó vỡ tan ra từng mảnh. Khi tôi tỉnh dậy thì thấy đang nằm trên một tàu hàng Nam Dương. Trong số 150 người trong đêm đen bão táp, chỉ có chừng vài mạng được vớt lên, còn hầu hết đều mất tích, vợ tôi nằm trong số người mất tích đó. Thì anh cũng biết, trên biển cả mênh mông mất tích là đồng nghĩa với cái chết. Vì thế, anh hiểu là tôi đau khổ đến mức nào không??? Vợ tôi đã hy sinh hết mọi thứ, kể cả tuổi xuân của nàng chỉ vì nàng yêu tôi. Vậy mà tôi chưa kịp đền đáp mang lại cho nàng sự hạnh phúc, chỉ còn vài bước nữa là đến bến bờ tự do thì nàng đã vĩnh viễn chìm sâu dưới lòng đại dương. Nỗi mất mát lớn lao này đã cào xé, dằn vặt tôi, tạo nên một cơn hoảng loạn dai dẳng đến nỗi người ta phải đem tôi vào bệnh viện. Tôi nằm trong một bệnh viện tâm thần, hay nói cho đúng đó là nhà thương điên trong vòng một tháng trời, và ở trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh, nửa điên nửa khùng. Trầm trọng đến nỗi ai cũng nghĩ chỉ còn nước ngồi chờ đến giờ đem tôi đi chôn.

Nhưng rồi như một định mệnh đã được an bài, một ngày kia, tôi bỗng tỉnh dậy và thấy một cô gái người Việt đang đứng nhìn tôi ở đầu giường. Hỏi ra, mới biết, đó là một cô gái sống tại Mỹ và làm trong một cơ quan thiện nguyện chuyên giúp đỡ những người tị nạn. Hiểu được và thông cảm nguyên nhân căn bệnh của tôi, cô gái tên là Huyền, đã tình nguyện chăm sóc cho tôi và dần dần đem tôi lên từ dưới đáy sâu của cơn khủng hoảng tuyệt vọng để hồi sinh trở thành một người bình thường. Rồi cũng dần dần cả hai chúng tôi trở thành hai người bạn thân lúc nào cũng không hay. Huyền chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, không đẹp, nhưng đằm thắm, dịu dàng. Nàng đã có một đời chồng, và chính điều này cũng là một tâm sự buồn mà có vài lần nàng đã bộc lộ cho tôi biết.

Nhưng nàng nói cũng nhờ sự bộc lộ đó mà nàng luôn luôn giữ được trạng thái cân bằng trong tâm lý. Tôi cũng kể cho nàng thêm những chi tiết về Hạ người vợ xấu số của tôi, về cái tình yêu và sự hy sinh của nàng dành cho tôi. Tôi nói với Huyền:

– Suốt đời có lẽ không bao giờ tôi quên được vợ tôi.

Huyền nói:

– Đừng bao giờ quên cô ấy vì chính lúc anh nghĩ về cô ấy là chính lúc anh tự cảm thấy an ủi được rất nhiều. Nhưng anh cũng nên nhớ, anh cũng cần nghĩ về anh nữa, bởi anh cũng cần phải sống và biết cách sống nữa chứ.

Phải nói tôi cám ơn Huyền rất nhiều về những gì mà nàng đã làm cho tôi trong thời gian vừa qua và khi nhìn vào đôi mắt đằm thắm của nàng tôi chợt nghĩ biết đâu hương hồn vợ tôi đã phù hộ cho tôi gặp được cô gái này cũng nên? Hóa ra trong cuộc sống trước mắt, tôi đang có hai người đàn bà ở bên cạnh, một người ở quá khứ và một người đang sống ở hiện tại. Họ đã tạo cho tôi một thế cân bằng trong tâm lý và giúp tôi dần dần vượt qua được trạng thái hụt hẫng đau đớn trước kia.

Chừng vài tháng sau, cũng nhờ sự giúp đỡ bảo trợ của Huyền, tôi đã được phái đoàn phỏng vấn chấp thuận cho định cư tại Mỹ. Lúc đó tôi về một tiểu bang miền Đông với Huyền, và theo lời khuyên của nàng tôi ghi danh đi học, bắt đầu từ các lớp ESL, rồi qua college, sau đó lên đại học. Trong thời gian đi học tôi và nàng thuê chung một căn apartment hai phòng (dĩ nhiên). Tôi đi học ban ngày, cuối tuần đi làm thêm kiếm tiền phụ giúp một phần trả tiền ăn ở. Còn nàng thì đi làm ca đêm. Cũng nên nói thêm, chúng tôi luôn luôn coi nhau như là bạn, tôn trọng nhau, đối xử với nhau một cách vui vẻ và chân thật. Tôi ráng sức học và hiểu rằng đó là cách để khỏi phụ lòng người đã giúp đỡ tôi đến nơi đến chốn. Tôi cũng hiểu rằng, nàng cũng đang ráng sức đi làm để tạo điều kiện dễ dàng trong việc học của tôi. Nghĩ lại, mới thấy cả hai chúng tôi đều ráng sức và cũng vì nhau mà ráng sức. Phải chăng chúng tôi đang làm một việc mà chỉ có hai người đang yêu nhau mới làm?

Trong đời tôi, định mệnh đã cướp đi của tôi một cơ hội là mang lại hạnh phúc cho người đã từng hy sinh cho mình, đó là Hạ. Lần này tôi không muốn mình vuột đi một cơ hội tương tự như vậy. Tôi quyết định chọn một ngày quan trọng nhất để tôi ngỏ lời cầu hôn với Huyền. Ngày đó cũng là ngày tôi tốt nghiệp với mảnh bằng kỹ sư công chánh.

Rồi cái ngày đó đã tới.

Buổi trưa sau khi làm lễ tốt nghiệp xong cả hai chúng tôi về nhà. Chúng tôi quyết định cùng nấu chung một vài món để ăn mừng và đó cũng là một cơ hội để tôi nói lời tình yêu với Huyền. Tôi nghĩ không có một cơ hội nào tốt hơn là cơ hội này. Tôi đang lau chén đũa và trải khăn bàn trong lúc chờ nàng chạy ra cái chợ ở đầu phố nói là mua thêm ít rau, và vừa lẩm bẩm trong miệng câu nói mà tôi chờ đợi được nói suốt cả năm trời nay. Đúng lúc thì có tiếng chuông cửa. Một người đi bỏ báo đứng chờ ở ngoài, đưa cho tôi một lá thư nhỏ, nói: Phải anh là anh Tiến không? Có một người ở đằng kia nhờ tôi trao cho anh tờ giấy này.

Tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, chữ viết tròn trịa quen thuộc.

Anh Tiến, Em là HẠ đây, em vẫn còn sống đây, nhưng chuyện dài dòng lắm, em thì không tiện vào nhà. Qua gặp em trong cái công viên phía bên kia đường.

Tôi không còn nhớ lúc đó tâm thần tôi hoảng loạn đến mức độ nào. Tôi cũng không biết mình nên làm gì nữa. Giá lúc đó mà động đất xảy ra hay núi lửa phun lên, sóng thần tràn vào tôi cũng không cần biết. Tâm trạng hoảng loạn này có lẽ cũng lớn ngang với lúc tôi tỉnh dậy trên chiếc tàu hàng Nam Dương và biết người vợ mình đã bị nhận chìm giữa lòng đại dương cách đây 7, 8 năm về trước. Nhưng rồi như cái máy tôi bước ra cửa lảo đảo băng qua bên kia đường.

Tôi nhận ra nàng ngay. Chính là Hạ. Vợ tôi, nàng không khác mấy như tôi gặp nhiều lần trong những giấc mơ trước kia. Nhưng bây giờ không phải là trong giấc mơ mà bằng xương thịt nàng, hiện ra dưới ánh nắng buổi trưa với làn da có vẻ xanh xao hơn và đôi mắt buồn rầu. Cơn xúc động đến nỗi tôi muốn ôm chầm lấy nàng.

Nhưng nàng ngăn tôi lại rồi hấp tấp nói.

– Anh Tiến, em không còn nhiều thì giờ nữa vì trong vòng một tiếng nữa em sẽ rời nước Mỹ trở về lại Úc.

Tôi nhìn thấy nàng cười nhưng nước mắt thì ràn rụa trên má.

Anh biết không, khi em trôi dạt trên biển và được một thương thuyền Úc vớt lên, đem về Úc. Lúc đó em vẫn tin rằng chỉ có em là người duy nhất sống sót trên chiếc tàu định mệnh đó. Mãi vài năm sau thì có người liên lạc với em và cho biết anh vẫn còn sống. Anh biết là ai không?

NGƯỜI ĐÓ LÀ CÔ HUYỀN. Chính cô Huyền đã bỏ rất nhiều công sức để truy tìm em trên khắp các trại tị nạn, trong một hy vọng là em còn sống. Và thật không uổng công cho cô ấy. Huyền đã tìm ra em. Cô ấy đã liên lạc với em nhiều lần, kể hết mọi chuyện về anh và nói với em rằng sẽ tạo điều kiện cho hai người gặp nhau nhưng phải chờ anh tốt nghiệp xong. Hai ngày trước cô Huyền mua vé cho em từ Úc bay qua đây và hẹn em đúng giờ này đến ăn cơm chung để mừng anh và em. Nhưng ngồi trên máy bay em đã nghĩ lại rồi. Chính cô Huyền mới là người xứng đáng với anh, cô Huyền là người đã cứu anh ra khỏi cơn khủng hoảng tâm thần, đưa anh qua Mỹ và tạo điều kiện cho anh ăn học thành tài. Anh nên nhớ, nếu không nhờ cô ấy, chắc gì anh còn sống được đến ngày hôm nay. Hồi sáng em đứng ở đây nhìn anh và cô Huyền bước xuống xe, nhìn trong mắt anh lúc đó, anh hiểu không, em là đàn bà mà, em biết liền, trong đôi mắt anh lúc đó đang tràn trề sự hạnh phúc của một người đang yêu. Cô Huyền mới xứng đáng là người được anh trao cái hạnh phúc đó. Cô ấy đã hy sinh cho anh nhiều rồi. Đừng nên để cô ấy hy sinh thêm nữa, vì hơn ai hết chính em biết cô Huyền cũng đang yêu anh. Và em cũng yêu anh dường nào.

Tôi không hiểu Hạ bỏ đi từ lúc nào. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đá bên cạnh, đầu óc vẫn còn choáng váng những lời nói của Hạ hồi nãy. Thật sự đến lúc này tôi vẫn không biết mình nên nghiêng về bên nào. Trời đất ơi! Tôi không ngờ Huyền là người đã âm thầm đi tìm Hạ thay cho tôi. Tôi đã mang ơn nàng nhiều quá, và không biết bằng cách nào để trả được cái ơn đó, trừ phi. Nhưng chỉ có Hạ là người biết được điều khó xử này của chồng mình. Cô ấy đã có một quyết định cũng giống như cái quyết định cách đây chục năm về trước, khi thả nổi đời xuân xanh của mình để đi nuôi một thằng tù không biết ngày nào mới được tha ra. Đó là người đàn bà suốt đời hy sinh cho hạnh phúc của chồng.

Và, trời ơi, Anh biết không. Đó là định mệnh, lại một định mệnh cay nghiệt. Nó vẫn không buông tha cho tôi. Tôi nhận ra ngay khi vừa bước chân vào nhà. Căn nhà vẫn trống rỗng y chang như lúc tôi bước ra.

Hạ đã lầm!

Tôi cũng lầm!

Làm gì có chuyện Huyền mời Hạ đến để ĂN CHUNG với CÔ ẤY bữa cơm mừng ngày tái ngộ.

Làm gì có chuyện Huyền chạy ra chợ mua thêm ít rau.

TẤT CẢ CHỈ LÀ CÁI CỚ.

Tôi đi ngay vào trong phòng nàng. Và tìm thấy một lá thư trên bàn. Chỉ có vài dòng run rẩy:

Chúc mừng hai người tìm lại được hạnh phúc bên nhau

Đừng bao giờ tìm em nữa

Huyền

Những dòng chữ còn ướt đẫm nước mắt của nàng.

Tôi lịm người đi giữa câu chuyện mà Tiến đang kể, giọng kể của hắn nghe đều đều như lời cầu nguyện, đầy cam phận cho một tên tử tù trên đường ra pháp trường.

Một lúc sau đó tôi mới hỏi hắn, một câu thiệt vô duyên:

Sao ông không đi tìm họ???

Theo anh thì tôi nên tìm ai? Nhưng định mệnh không cho tôi làm việc đó. Hai người đàn bà này, người nào cũng cho rằng tôi đang sống trong hạnh phúc với người kia. Hãy để cho họ tin như vậy đi, đừng bao giờ làm họ thất vọng. Đó cũng là một cách trả ơn những sự hy sinh đó.

Chính vì thế tôi bỏ hết tất cả và đến đây – một mình – trong cái xó này.

Salt Lake City-Utah

Nguyễn Đình Liên

In Văn Hóa, Góp Nhặt Đó Đây, Giáo Dục Tags ĐOẠN KẾT CÂU CHUYỆN TÌNH BUỒN, NGUYỄN ĐÌNH LIÊN
Comment

CHÔN MỘT CHẾ ĐỘ (Trần Thiện Phi Hùng)

October 30, 2025 Ninh Tran

Tôi đã khóc khi đọc bài viết này, tại sao quê hương tôi lại bị cộng sản cai trị? Quê hương Việt Nam của tôi đẹp biết bao, tại sao tôi lại yêu quê hương này nhiều như vậy chứ? Bao đau khổ của quê hương bởi hai chữ "cộng sản" mà ra…….

“Tôi vào lính năm 18 tuổi. 12 năm 4 tháng làm lính. Chuyện cải tạo Vườn Đào và người tù về sớm nhất có thật 100% là tôi"……..

"Tượng nào cao bằng tựơng Trần Hưng Đạo

Lính nào xạo cho bằng lính Hải Quân"……

………

Read more
In Giáo Dục, Quán Chiếu Tags CHÔN MỘT CHẾ ĐỘ, Trần Thiện Phi Hùng
Comment
← Newer Posts Older Posts →
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories