• New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc
Menu

Bức Tranh Vân Cẩu

Street Address
City, State, Zip
Phone Number

Your Custom Text Here

Bức Tranh Vân Cẩu

  • New Page
  • Trang Đầu
  • Bài Mới
  • New Gallery
  • Thời Sự
  • Về Bức Tranh Vân Cẩu
  • Văn Hoá
  • Quán Chiếu
  • Góp Nhat Đó Đây
  • Hình ảnh, Video, Audio
  • Liên Lạc

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG (Huỳnh Anh Trần-Schroeder)

March 13, 2026 Ninh Tran

LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG

 Cũng như nhiều người trong chúng ta, trong những ngày tĩnh lặng của tuổi vào thu, tôi mong còn dịp trang trải những điều giữ trong tâm qua bao năm tháng dài của cuộc đời, để tìm thanh tịnh cho tâm thần.

Một trong những hoài vọng này là được gởi lời cảm tạ đến những người đã đi qua đời tôi và đã ít nhiều cho tôi diễm phúc được yêu, dù tôi có biết hay không, dù tôi có nhớ những phút giây hạnh phúc này không, và nhứt là tôi có hình dung họ là ai hay không.

Lý do tôi hơi dài giòng nơi đây vì từ tuổi trưởng thành và đi xây cuộc đời mới trên quê hương thứ hai sau khi phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn một ngày đất thảm trời sầu tháng tư đen, tôi không còn nhớ nhiều về quãng đời trước đó. Không nhớ không phải vì tôi không muốn nhớ, nhưng trong tâm tưởng của tôi, một phần rất lớn của dĩ vãng chỉ là một tờ giấy trắng, không hình ảnh, không ký ức. Tôi không buồn lắm vì quanh tôi còn có người thân, gia quyến đôi khi nhắc nhở hay đem lại cho tôi vài khoảng của dĩ vàng mà tôi đã quên.

 

Một người bạn y khoa biết tôi như thế, có nhã ý giúp tôi nhìn lại những vùng dĩ vãng đã mất bằng y thuật hypnosis nhưng sau khi cân nhắc kỹ càng tôi cảm ơn lòng thành của người bạn này nhưng đành khước từ nhã ý ấy. Theo tôi nghĩ, nếu tiềm thức của tôi đã khiến tôi quên những khoảng thời gian đó chắc nó có lý do rất chính đáng.Trong cuộc sống nhiều cam go này có những trường hợp quá bi lụy khiến con người phải cố mà bỏ qua cho được để còn tiếp tục sống và thích nghi với đời sống mới. Vì thế tôi chấp nhận một đời sống với đầy khoảng trống trong ký ức.

Nhưng có những lúc tôi buồn vì với thích ứng đó tôi đành phải chấp nhận mất đi những khoảnh an vui của thời dĩ vãng vì hình như ký ức tâm tư không lúc nào cũng phân biệt và chọn được phần nào nên quên, phần nào phải giữ lại, nên quên phứt tất cả. Tôi không quá buồn vì không giữ được những kỷ niệm vui nhưng điều tôi buồn nhất là tôi đã không nhớ được nhiều người đã thương tôi, yêu tôi trong dòng đời dĩ vãng, bạn bè, thân quyến gần xa, người yêu, người tình. Nên hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn những người đó đã có thạnh tình với tôi và cũng xin lỗi họ nếu ngày xưa đó họ nghỉ tôi không quan tâm hay trọng tình ý của người chung quanh mình nhứt là nếu tôi, vì lý do nào tôi không nhớ, đã phụ chân tình của họ.

Hôm nay tôi viết bài này vì tháng qua trong một cuộc họp gia đình của chị em chúng tôi lâu năm sống phân tán nhiều nơi trên xứ Mỹ và châu Âu, tình cờ một người em tôi hỏi về một người yêu cũ của tôi ngày vừa mới lớn. Tôi ngẩn ngơ không biết người đó là ai và cô em của tôi rất ngạc nhiên vì không hiểu làm sao mà tôi không nhớ người đó,

Yến bào tôi rằng

“Chị thật tình không nhớ sao. Ngày xưa đó chị khóc cả tuần vì cha chúng mình muốn gả chị đi lấy chồng nhưng chị không chịu vì người yêu của chị vừa ngỏ ý với chị”. Nhưng áo mặc không qua khỏi đầu, tôi phải vâng lời nghiêm đường mà tiến tới cuộc hôn nhân với một người chưa từng quen biết. Đó là một trong những chuyện não lòng mà tôi đã không còn ý thức.

  Lại một lần nữa, cũng trong một cuộc họp mặt gia đình khác, có một người đến, tự giới thiệu là cháu của tôi. Phượng nói "ba cháu mất rồi nhưng mẹ cháu vẫn hằng nhắc đến cô, mẹ mến cô lắm vì ngày xưa khi mẹ về với cha cháu, cô đã đón mẹ cháu vào gia đình rất  nồng hậu, mẹ cháu gởi lời thăm cô". Lại một lần nữa tôi ngần ngơ và khó lòng, khó xử không biết nói gì hơn là lí nhí lời cám ơn, vì tôi không nhớ họ là ai cà. Thật buồn cho những mất mác đó.

Ngày nay tôi tự hỏi nhữngchuyện quan trọng như thế mà tôi không nhớ thì còn những chuyện gì khác mà tôi đã quên. Nhưng thôi, những gì đã qua thì nên cho đi qua, buông xả trên dòng tâm linh.

Đời người là thoáng trăm năm, thoáng đến, thoáng đi trong chốn phù vân. Ai biết ngày mai sẽ ra sao, và biết ai còn ai mất.

Nên hôm nay tôi xin viết lời tạ từ cám ơn về những người đã đi qua đời tôi, đã cho tôi ít nhiều hạnh phúc. Và cùng lúc tôi xin gởi lời chân thành tạ lỗi với những người mà tôi vô ý hay không cố ý làm họ buồn.

Về người yêu mà em tôi vừa nhắc, tôi xin chân thành gởi lời xin lỗi muộn màng vì tôi không vẹn tình nghĩa với anh.

Và những người khác mà tôi không nhớ cũng xin cho tôi gởi lời từ tạ và cám ơn.

   Nhưng, viết để mà viết chứ trên thực tế những lời cảm tạ và xin lỗi này chỉ là làn gió thoảng trong mênh mông không trung hay dải Ngân Hà nhiều tinh tú, vỉ làm sao mà đến được người nhận khi tôi không còn biết họ là ai, những người của dĩ vãng mịt mờ sương khói.

Thành ngữ Pháp có câu “L’homme propose mais Dieu díspose”. Tôi không muốn dịch sát nghĩa nhưng tương tự tiếng mình cùng ý nghĩa “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”phải đồng có cùng lúc thì mới đủ căn duyên cho sự hữu hình của sự việc. Vì thế, dù bao mong muốn nhưng lời cảm tạ và xin lỗi, tôi có cơ duyên được viết nhưng người có nhận được hay không còn tùy duyên nợ của họ đối với tôi.

Dù sao tôi cũng mong rằng những lời chân thành muộn màng này giải tỏa được phần nào nợ duyên của tôi trong dòng đời dâu bể và cho tôi giấc ngủ bình an trong mùa thu đông của cuộc đời.

 Hôm nay, ngồi viết bài này bên giòng liên hoa trên sóng, tôi nghe lòng thanh thản, không buồn không vui, những ước mơ như cánh chim trời hay nước xuôi về biển cả, với lời cầu nguyện thầm lặng, tôi xin buông xả những điều sân si của cuộc sống, để tâm lắngđọng trên dòng thiên nhiên.

Tôi cũng xin cảm tạ ân trời, tình đất mẹ thiên nhiên luôn ban cho ta nguồn tĩnh lặng, những vẻ đẹp đất trời tuyệt mỹ, cho ta được lắng dịu tâm trần lao chao và tìm nguồn chân như trong bể dâu đời sống.

 THƠ: TRÊN SÓNG LIÊN ĐÀI

Đây vùng trời nước rạng vầng dương,

Lững thững thuyền mây cánh buồm trương,

Đôi cánh hạc ngàn đùa mây sóng,

Dịu dàng làn gió vén màn sương,

 

Ríu rít rộn ràng tiếng gọi đàn,

Lành lót trong sương liệng én vàng,

Du dương trên gió trầm bỗng sóng,

Văng vẳng trời xa khúc tiêu ngàn.

 

Trên sóng liên đài sương ngọc ngời,

Áo hoa phơn phớt ánh vàng trời,

Dìu dịu khúc trong vờn đá cuội,

Sơn tuyền trầm mặc tiếng sương rơi.

 

Tĩnh lặng hư không trời bâng khuâng,

Đạt thành ai quảng chốn phù vân,

Ngộ giác duyên phần trong tĩnh mịch,

Chân như huyền ào rạng tâm trần.

 

Trên sóng liên hoa bùn chằng đọng,

Sơn tuyền lờ lững cánh bè rong,

Hồn thiên nghệ sĩ hòa thi nhạc,

Tuyệt mỹ an nhiên vẽ non bồng.

 

Bồng lai tiên cảnh chằng đâu xa,

Chẳng vùng phố thị, chốn phồn hoa,

Dù ai vằng tiếng lời phù ảo,

Chằng chao thanh tịnh tâm an hòa.

 

Sơn lâm đồi núi tiếng quê nhà,

Văng vẳng trong sương lời sơn hà,

Năm châu bốn bể đường vinh nhục,

Giữ rạng vào hồn tiếng mặn mà.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, LỜI CẢM TẠ MUỘN MÀNG
Comment

Hồi Ký Của Một Bác Sĩ ( Võ Tam Anh)

March 8, 2026 Ninh Tran

Một bác-sĩ “cách-mạng” từ Bắc vào, hăm-hở đến tiếp-thu bệnh-viện Vĩnh-long sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã thốt ra câu nói đầu tiên với chúng tôi : "Các anh là kẽ thù của nhân-dân, đáng tội chết..." Tuy mới mấy ngày sau khi "giải-phóng" nhưng tai chúng tôi cũng đã quen với câu nói đó, chỉ có khác là lần này được phát ra từ miệng một bác-sĩ mà chúng tôi chờ đợi để hy-vọng thấy được một nụ cười hay một chút thông-cảm trong tình đồng-nghiệp. Chẳng khác gì những cán-bộ khác, bác-sĩ cũng tuông ra câu học thuộc lòng: "Nhưng Đảng và Nhà-nước khoan-hồng tha tội chết cho các anh..."

May thay, chúng tôi được tha tội chết, nhưng thay vào đó, phải lảnh cái án "dở sống dở chết " kéo dài năm này qua năm nọ trong các nhà tù, nhường sự-nghiệp lại cho các đồng-nghiệp mới, huênh-hoang trong cái độc-quyền nhân-đạo với các bảng hiệu « Lương Y như Từ-mẫu » treo nhan nhản khắp xó xỉnh trong bệnh-viện.

Có lẽ Cụ Hippocrate ở dưới suối vàng cũng không khỏi phẫn-nộ khi các môn-đệ ở Miền Bắc không chịu học lời thề Cụ dạy trước khi ra trường:

"Tôi thề sẽ giúp đở các đồng- nghiệp và gia-đình họ trong cơn ngặt nghèo, tôi sẽ mất hết danh-dự và bị khinh-bỉ nếu tôi không giữ lời thề đó".

Trước mặt thì đồng-nghiệp gọi chúng tôi bằng "anh", nhưng quay lưng lại là "thằng", là "chúng nó" ngay, không hiểu là vì thói quen, vì văn-hóa, vì mặc-cảm hay vì chính-sách.

Ngày đầu tiên mới đặt chân lên đất Bắc trên con đường lưu đày, khi mà tầm mắt đang còn ngỡ-ngàng với rừng sâu núi thẳm, khi mà thể xác và tinh-thần chưa lai tỉnh qua cuộc hành trình định-mệnh kinh-hoàng, thì chúng tôi được đón tiếp vồn-vã bởi một đồng-nghiệp. Vồn-vã không phải để thăm hỏi sức khỏe hoặc để an-ủi một lời nào, mà để tịch-thu thuốc men và dung cụ y-khoa mà chúng tôi mang theo, nhất là để tò mò tìm hiểu những điều mới lạ trong cuộc sống "phồn-vinh giã-tạo" ở trong Nam.

Câu nói đầu tiên và gần như là câu chào hỏi ở cửa miệng mỗi khi gặp nhau: "Anh ăn mấy lạng ?" (gạo mỗi ngày), làm chúng tôi bở ngở không biết đâu mà trả lời. Thì ra cái quan-tâm hàng đầu của nền y-khoa miền Bắc là cái bao-tử, và xã-hội được chia ra làm nhiều loại bao-tử khác nhau tùy theo đẳng-cấp và sự trung-thành với Đảng: 120 lạng ,150 lạng, 170 lạng.... cái hàn-thử-biểu để đo vị-trí mình trong xã-hội. Kế đó là thắc mắc về những phần thịt đươc bồi-dưỡng trong những ngày lể, ngày Tết…

Thấy chúng tôi không ở cùng một tần-số trong cái hội-chứng đường ruột đó, bác-sĩ bèn lên mặt chỉ-đạo: "Chớ có trốn trại nghe, không thoát đâu ". Quả-nhiên lời khuyên có chấp-chứa ít nhiều tình thật đó lại là không sai. Chỉ có vài ngày sau khi đặt chân đến cái nơi núi rừng chằng chịt mang tên Sơn La đó, khi chưa xác định được vị-trí trong cái bản-đồ mênh-mông của miền Thượng-du Bắc Việt, thì một số anh em đã lần lượt trốn trại rồi lần lượt bị bắt lại để gánh chịu những hình phạt ghê gớm đang chờ sẵn. Trong số đó phải kể đến hai đồng-nghiệp, một Thiếu-tá Y-sĩ- trưởng Trung-tâm Hồi-lực ở Sài-gòn và một Y-sĩ Đại-úy Thủy-quân Lục-chiến, đã thoát khỏi lao tù vì đã trốn qua "bên kia thế -giới" sau khi không thành-công trong cuộc tổ-chức trốn qua "bên kia biên-giới".

Sau một thời gian xáo trộn, chúng tôi gồm có 8 bác-sĩ, 1 nha-sĩ, 2 dược-sĩ được tập-trung lại để thành-lập một "trạm-xá " có nhiệm-vu săn sóc sức khỏe cho anh em tù trong vùng. Bằng những phương-tiện của thời-đại đồ...tre, với kỹ thuật từ thời Hoa-đà, chúng tôi cũng được an-ủi bằng một số thành-công trong nhiệm-vụ chửa trị, và đã lưu lại cho chúng tôi nhiều kỹ niệm khó quên. Anh T. bị bệnh phung cùi, bọn cai tù ghê sợ, biệt giam trong một cái chòi giữa rừng, thường ngày chúng tôi đến thăm viếng, theo dỏi bệnh tình, chia nhau từng củ sắn củ khoai, khích lệ cho nhau cho đến ngày về. Anh H. bị mất trí vì trúng độc khi ăn phải trái cây rừng, suốt ngày la hét, phải cách ly trong một túp lều ở giữa rừng, chúng tôi chia phiên nhau túc trực ngày đêm bên cạnh để canh chừng, nhưng cuối cùng anh cũng qua đời.

Phải kể đến những trường hợp giải-phẩu theo kiểu...rừng, với tất cả liều lỉnh rủi may. Trang-bị bằng một bộ trung-phẩu dã-chiến của Trung quốc và một lò hấp ướt (autoclave), với mấy bình ê-te (ether) và cái masque Ombredane là dụng cụ đánh thuốc mê hở (circuit ouvert) cổ lổ sĩ dùng trước thế chiến 1914-1918. Trong những "bloc" được ngăn cách bởi những tấm phên tre và tấm vải mùng, muổi mòng tha hồ bay lượn, dưới ngọn đèn dầu và đèn pin, mà nhờ trời chúng tôi cũng thành-công được trong nhiều trường hợp, những chấn-thương vì tai-nạn lao-động, hay trường hợp anh N. bị tắc nghẻn ruột, phải giải-phẩu để tái tạo một hậu-môn tạm thời, phải theo dỏi và săn sóc từ A đến Z trong nhiều tháng với sự tận-tình của mọi người nên kết quả rất khả-quan, vân vân và vân vân.

Chúng tôi đã đóng tất cả các vai trò trong việc điều trị, từ lao-công, y-tá, phụ mổ, gây mê, cầm dao, rồi hậu-phẩu, vệ-sinh, giặt giủ v...v...bù lại khỏi phải đi lao-động đốn vầu, đốn nứa, đẩy xe trong những lúc đó.

Một sự tình cờ khiến chúng tôi phải giải-phẩu cấp cứu thành-công cho một tên cán bộ bị viêm ruột thừa cấp-tính mà không biết chở đi đâu. Mấy tháng sau, nhân dịp Tết Nguyên-đán 1978, có mấy cán-bộ trong ban chỉ-huy trại đến cám ơn chúng tôi, và tưởng-thưởng bằng một tấm hình chụp chung mấy anh em chuyên-môn trong bệnh-xá, một kỹ-niệm độc nhất vô nhị của những ngày tù ở Sơn La. Tiếng đồn lên tới Bộ chỉ huy Đoàn. Một số cán-bộ có thiện tâm muốn mở tầm hoạt động của chúng tôi cho dân chúng trong vùng Mường Thải, huyện Phù-yên, nơi mà xưa nay dân chúng chưa hề thấy đươc cục xà bông chớ đùng nói chi đến viên thuốc tây. Thế rồi dân chúng đến xin chửa trị mỗi ngày một đông, tuy thuốc men chẳng có gì nhiều nhưng cũng giúp ích được một số lớn trường hợp và ít ra cũng giúp họ làm quen với y-khoa ngày nay thay vì phải uống lá rừng suốt đời. Khi đặt ống nghe vào ngực, có người đã huênh-hoang khoe rằng là được... rọi điện.

Đông nhất là phần chửa răng. Ngậm một cái răng sâu năm này qua tháng nọ như một cái đinh đóng vào óc, nay được nha-sĩ nhẹ nhàng xoi xỉa với một cái máy quay đạp bằng chân, hoặc nhổ đi mà không đau đớn gì, thật là một điều mà dân Mường ở đó không bao giờ mơ tới.

Một đêm nọ, đang lúc giữa khuya, một cán bộ VC cầm cây đèn bảo xăm xăm bước vào phòng giam chúng tôi, bảo rằng một người đàn bà trong bảng Mường đang nguy kịch vì đẻ không ra đã hai ngày nay. Anh Thức, chuyên môn về phụ-khoa được cử đi cấp-cứu. Trong môt gian nhà sàn rộng rải không có vách ngăn, ở giữa là cái bếp lửa cháy suốt ngày đêm, dăm ba người đàn ông ngồi quanh nói chuyện ồn ào tỏ vẻ lo lắng, ở trong góc một người đàn bà đang quằn quại rên la một cách tuyệt-vọng. Trong khi mọi người bu quanh chăm chú và nghiêm-nghị nhìn anh Thức khám bệnh như nhìn một phù thủy đang làm phép, anh Thức bình tỉnh khám thấy rằng đó là một trường hợp song thai, hai đứa bé ôm quàng lấy nhau mà lại nằm ngang, không đẻ ra bằng đường tự-nhiên được. Phải chở đi bệnh-viện để mổ lấy con ra, nhưng anh Thức quên rằng chuyện đó không thể có được ở đây. Không làm gì hơn được, anh bèn tạm thời dẹp sách vở qua một bên mà cố gắng xoay một đứa cho cái đầu ở vị trí thuận-lợi để ra trước, rồi đến đứa kia, cuối cùng được mẹ tròn con vuông, trong sự rối rít cám ơn của mọi người mà trước đó đã được học tập để coi chúng tôi như những kẽ ác ôn, lúc nào cũng sẳn sàng "cho một mũi tên độc".

Từ đó các cô gái Mường trong bản cũng tự -nhiên hơn, cưới đùa mỗi khi tắm suối mà có chúng tôi đi lao động ngang qua, có khi còn chọc ghẹo nửa. Có anh trong phút chốc bốc đồng đã quên mình là tù đang đói rách, cũng gồng mình nhảy xuống tắm theo, chỉ tiếc là không có sẵn cục xà bông để tặng mấy cô Mường, lúc đó hẳn là muôn phần quý giá hơn cả viên kim cương đem tặng đào ở Sài–gòn nửa. Về sau mỗi cô gái Mường lại đươc đặt cho cái tên của một ca sĩ nổi tiếng, nào là Mai-Lệ-Huyền, Phương-Dung, Giao-linh, Phương-Hồng-Quế v…v…, để rồi lúc chiều về, trong khi ngậm-ngùi nhai từng hột bo bo, thường kể cho nhau nghe rằng hôm nay đi rừng gặp được ca-sĩ nào, ai nghe tưởng như mới đi phòng trà về mà tạm quên trong giây lát cái cảnh nước sông công tù mình đang sống.

Một hôm, một cô giáo hớt ha hớt hãi tìm tới chúng tôi, vì chồng cô, một bộ đội công-tác ở trong Nam được về nghỉ phép, bổng nhiên thấy mình mẩy nổi mề-đay lên đỏ rần, ngứa khắp cả người. Chúng tôi đoán là bị dị-ứng với trứng gà, vì thường ngày đi lao-động ngang qua trường học, thấy cô giáo cứ o bế mấy con gà để chờ ngày chàng về mà bồi-dưởng. Chúng tôi bèn lục lạo đươc mấy viên thuốc Phénergan đưa hết cho cô.

Mấy hôm sau đi lao-động gặp lại, chúng tôi hỏi : "Sao ? Anh nhà đã đở chưa ?" Cô vui vẻ trả lời : "Thuốc các anh cho hay quá, khỏi ngay". Chưa kịp hỏi thêm thì bổng thấy cô cúi mặt e thẹn, ấp úng nói thêm như không muốn cho chúng tôi nghe: " Nhưng ngủ li bì, về phép có năm ngày mà ngủ như chết suốt cả năm ngày" .Chúng tôi hối hận vì đã cho thuốc ngủ mà không dặn trước, làm cho cô phải bỏ lở một cơ-hội bằng vàng !

Thế rồi trạm-xá càng ngày càng đông khách, dân chúng từ xa cũng nghe đồn kéo lại để cho trạm-xá được hoạt-động đúng với danh-nghĩa y tế của nó. Thiện-cảm và uy -tín càng tăng thì, ngược đời thay, cấp chỉ-huy Trại càng lo lắng. Cuối cùng, Uỷ-viên Chính-trị trên Đoàn lập tức ra lệnh không được khám bệnh cho dân nửa, vì trái với chính-sách, và ný-nuận rằng từ mấy ngàn năm nay họ đã chửa trị bằng lá rừng thì đã sao đâu !

Chúng tôi trở lại lao-động, cũng đốn vầu đốn nứa như những anh khác.

Phải cái tội cao giò, tôi thường được chọn đi công tác gánh hàng ở xa, để gánh luôn tất cả tủi nhục của kiếp làm… tôi mọi. Buổi sáng ra đi thì còn dể chịu, trời mát, gánh nhẹ. Nhưng buổi trưa lúc trở về, trời nắng gắt miền núi như đốt cháy da, lại phải leo đèo, mồ hôi chảy giọt, bụng đói cồn cào, cái đầu nặng trỉu, chiếc đòn gánh đè nặng trên vai đang nghiền nát da thịt như những con dao. Người cán-bộ đi theo cũng không quên máng thêm vào chiếc nón cối, cái áo trấn-thủ mà hồi sáng mang trong người vì trời lạnh, nay không cần nửa thì tội gì mà không để cho rảnh tay, vì tay đang bận cầm cây roi, một thứ thời trang của cán-bộ quản-giáo khi đi bên cạnh tù. Đã thế mà khi gặp một bạn đồng-hành, cán-bộ cũng không quên niềm-nỡ mời :"Đồng-chí có mang gì không, đưa cho nó gánh luôn". Tôi nghe mà rụng-rời, mắt hoa lên mà không dám nhắm lại vì sợ ngả sẽ không bao giờ dậy lại được, cũng không dám nhìn xa hơn mấy đầu ngón chân vì sợ không đủ can-đảm để bước thêm...

Một hôm vì nhu-cầu cấp-cứu một bệnh-nhân tù đang nguy kịch, tôi được cử theo một cán-bộ đến bệnh-viện Phù-yên để xin mấy chai nước biển. Đã lâu bị giam hãm giữa bốn bức tường núi, nay được dịp thấy lại làng mạc với cảnh sinh-hoạt của nhân-dân, lòng cũng không khỏi thích-thú vì tầm mắt đươc hé rộng ra một chút và thỏa -mãn thêm tánh tò mò nghề-nghiệp muốn biết tổ-chức y-tế miền Bắc ra sao mà các "đồng-nghiệp " đề cao như là đúng hàng đầu trên thế-giới.

Huyện Phù-yên thuộc tỉnh Sơn La, nằm giữa một thung-lũng nhỏ, bốn bề là núi nhưng rất nên thơ. Từ trại tới huyện phải đi qua ngọn đèo Bang xinh xinh, có con đường mòn uốn quanh, có hoa rừng thơm ngát. Từ trên nhìn xuống gần giống như một bức tranh Tàu, mờ mờ ảo ảo., rải rát nơi nơi là nhũng túp lều lụp xụp bám theo sườn núi.. Bước vào huyện phải qua một con suối lớn, mùa khô thì chỉ là một suối đá hiền-hòa thơ-mộng, nhưng khi mưa xuống thì trở nên một thác lũ kinh-hoàng. Bắt ngang qua suối là một cây cầu treo, gió thổỉ đu đưa, mà lại được anh em tù gán cho cái tên rất hấp-dẩn để cho trí tưởng-tượng được nâng cao là cầu Golden Gate. Mỗi khi gánh hàng qua Golden Gate, tôi có cảm-tưởng như mình đang là một nghệ-sĩ đu giây trong một đoàn xiệc mà có thể hụt tay bất cứ lúc nào..

Bên kia cầu là một túp lều không vách, gió lộng bốn phía, đó là trường học với dăm bảy em bé ốm tong teo, bụng ỏng thề lề, mỗi đứa cầm một que củi đang cháy quơ qua quơ lại trước người cho đở lạnh trong những bộ áo Mường mỏng manh. Trong khi các em nghêu ngao hát bài "Hôm qua em mơ thấy Bác Hồ...." thì cô giáo đang chăm chú ngồi vá áo, mắt đăm chiêu, hình như cũng đang mơ thấy những chuyện mà dĩ-nhiên khác hơn là thấy Bác Hồ. Hình ảnh đó làm cho tôi có cảm tưởng rằng Cụ Cao-Bá-Quát đã đi ngang qua đây để cảm-hứng mấy câu thơ:"Một thầy một cô một chó cái, Nửa người nửa ngợm nửa đười ươi."

Bên cạnh trường là một cái "cối giả gạo" có lẽ đã được sáng chế từ đời vua Thần Nông. Nước từ con suối nhỏ đươc dẩn qua một máng xối đục từ một thân cây, chảy xuống một thân cây dài khác, một đầu là cái chày, đầu kia đục thành một máng chứa nước. Hể máng đầy nước thì cái chày tự -động ngóc lên, rồi nước bị đổ ra ngoài để cho chày giả xuống cái cối ở đằng trước. Cứ thế mà tiếp-tục, cối cứ giả ngày giả đêm, tạo nên một tiếng đập nhịp nhàng khô khan để đánh thức cô giáo và lủ học trò khỏi ngủ gật.. Năm thì mười họa, một năm vài lần cối mới có gạo để giả, vì dân phải đóng cho nhà nước hết ba phần tư số thu hoạch, vốn đã nghèo nàn trên những mãnh ruộng bằng bàn tay xếp thành từng tầng trên sườn núi.

Khi đến cổng bệnh-viện, tôi được chứng-kiến một cảnh tấp-nập khác thường, nghỉ bụng rằng chương-trình y-tế ở đây đã thành-công vì được dân-chúng hưởng-ứng đông đảo. Mọi người bu quanh một tấm bảng, hình như để theo dỏi một thông-báo gì quan-trọng của bệnh-viện về một biện-pháp y-tế nào đó chăng. Lại gần, tôi thấy rõ thông-báo như sau "Hôm nay bệnh-viện có mổ lợn, bán theo giá chính-thức. Đồng-bào nào muốn mua xin ghi tên ở phòng ngoại-chẩn". Tôi suýt té ngửa vì sau bao nhiêu năm hoạt động trong ngành y- tế tôi vẫn chưa biết được rằng cung-cấp thực-phẩm cho dân chúng cũng là một khía cạnh trong chương-trình y-tế.

Trái với cảnh xôn-xao ngoài cổng, trong bệnh viện lại vắng tanh. Tìm cho ra người thủ-kho để xin thuốc thì được biết cô gái Mường này bận đi hái bông lau về làm nệm để tặng một cô bạn gái sắp về nhà chồng, một tục-lệ không thể bỏ được của người Mường. Lân la mãi mới gặp được bác-sĩ trực, vị này không mấy niềm-nỡ vì đang bận cải-hoạt (có nghĩa là cải-tiến sinh-hoạt để cho đời sống vui tươi hơn) bằng cách ngốn nghiến mấy củ khoai. Bác-sĩ trực cho biết "Chỉ có bác-sĩ thủ-trưởng mới có quyền quyết-định, nhưng bác-sĩ đang bận mổ."

Tôi thất-vọng chán chường, nghỉ đến bệnh-nhân ở trại đang hấp-hối mong chờ mấy giọt nước hồi-sinh, nghỉ đến con đường về vừa nắng gắt vừa phải leo giốc, nghỉ đến cái dạ-dày đang cồn-cào vì sáng nay không may đọc được mấy chữ "thịt lợn" trên bảng thông-cáo mà nước bọt cứ chảy dài (chẳng lẽ tôi lại biến thành con chó của Pavlov, hể nghe tiếng chuông là dịch tiêu -hóa cứ tuôn chảy, rồi hay sao?) Tôi buồn rầu thất vọng, không biết bao giờ bác-sĩ trưởng mới mổ xong, vã lại áo quần lem-luốc thế này làm sao gặp được bác-sĩ ở khu giải -phẩu. Tôi đánh bạo tìm đến bác-sĩ trực hỏi : "Thế tôi có thể gặp bác-sĩ thủ -trưởng được không ?"

Lần này vị y-sĩ trực vui vẻ trả lời (vì đã ngốn xong mấy củ khoai): " Được chứ, có gì đâu, anh ấy đang bận mổ lợn dưới ao đấy mà". Tôi như từ cung trăng rơi xuống !

Quả nhiên, cách đó không xa, cạnh bờ ao, năm ba người đang bao quanh một con lợn đã cạo lông trắng nõn nằm trên một tấm thớt lớn. Trong khi đó, bác-sĩ thủ-trưởng bệnh-viện, mình trần, quần xắn tới bẹn, áo bờ-lu vắt ở hàng rào, đang nhanh nhẹn ra tay mổ bộ đồ lòng với tất cả sự nhanh nhẹn và khéo léo của một...đại giải -phẩu gia. Lẽ tất nhiên tôi phải chờ cho ông bạn đồng-nghiệp thanh toán xong con lợn để giải -quyết cho mấy chai nước biển rồi mới hân-hoan ra về. Ra tới cổng, tôi gặp lại đám dân-chúng cũng đang hân hoan thở phào nhẹ nhõm như tôi khi được tin bác-sĩ đã mổ xong.... lợn.

Trên đường về, lần này chiếc đòn gánh đè nặng lên vai không còn cho tôi cảm-giác đau đớn như trước nửa, vì đầu óc tôi đang bị ám-ảnh bởi một ý-tưởng muôn phần nặng-nề hơn, vì tôi đã nhìn thấy được sự thật, đã chứng-kiến tận mắt một hiện-tượng sinh-hoạt phản-ảnh lối sống của những "đồng-nghiêp" bên kia bức màn tư-tưởng.

Phương-vũ VÕ Tam-Anh.

In Văn Hóa, Quán Chiếu, Giáo Dục Tags Hồi Ký Của Một Bác Sĩ, Võ Tam Anh
Comment

CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ (VŨ THẾ THÀNH)

March 2, 2026 Ninh Tran

  1. Tôi không hiểu sao, tiếng Việt mình gọi là tình mẫu tử, tình phụ tử - chữ tình bao hàm bản năng trong đó, không thể tách rời. Nhưng hiếu thảo lại là - "lòng" hiếu thảo. Chữ "lòng" mang tính tự nguyện, nên hiếu thảo là lựa chọn của tâm, không phải nghĩa vụ. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học. Tôi chỉ cảm nhận như thế.

   Lòng hiếu thảo có tính phổ quát, dù là tự nguyện, thì hiếu thảo ở đâu, phương Đông hay phương Tây gì cũng thế. Chỉ có điều thể hiện khác nhau.

   Câu chuyện ấy khiến tôi nghĩ, có lẽ mỗi nền văn hóa có một cách riêng để thể hiện lòng hiếu thảo. Tôi đọc được status của một phụ nữ Mỹ chia sẻ chuyện cô đến thăm mẹ ở viện dưỡng lão. Cả tuần cô mới sắp xếp được một ngày đến thăm, tuần nào cũng thế. Khi cô đến, bà cụ đã ngồi chờ sẵn ở sân viện. Hai mẹ con chuyện trò đủ thứ. Khi cô về, bà cụ cũng ngồi ở sân viện, dõi mắt trông theo. Cô lên xe, ngoái lại, vẫn thấy cụ đang nhìn theo. Cô chia sẻ điều này trên Facebook, bằng giọng văn viết vội, không đầu không đuôi, lại sai chính tả. Cô bị ám ảnh bởi đôi mắt "trông theo" của mẹ.

   Tôi cũng bị ám ảnh khi đọc những dòng chia sẻ của cô. Tôi nhớ lại đôi mắt của mẹ tôi, cũng dõi nhìn tôi như thế, khi tôi phải đi công tác xa vài ngày, trong những ngày tháng bà bệnh nặng. Bà sợ không kịp nhìn thấy tôi lần cuối trước khi qua đời.

   Với phương Tây, lòng hiếu thảo không đồng nghĩa với "ở cạnh và tự tay chăm sóc". Bác sĩ và điều dưỡng có chuyên môn chăm sóc tốt hơn. Điều này rất thực tế. Đi làm cả ngày, có khi đi công tác xa, chăm sóc thể nào được, khi tuổi già mong manh.

   Hiếu thảo là làm thế nào để cha mẹ được chăm sóc đúng cách, tự quyết định mà không lệ thuộc con cái. Con cái chỉ cần thỉnh thoảng tới thăm. Và nếu cần, hỗ trợ viện phí cho nhà dưỡng lão.

  Ở ta, ảnh hưởng văn hóa Nho giáo, lòng hiếu thảo bị ràng buộc nặng nề bởi đạo lý và xã hội, và cả sự kỳ vọng của cộng đồng. Chút tiền trợ cấp, theo pháp luật, không nói lên điều gì về hiếu thảo. Chăm sóc cha mẹ già mới là vấn đề.

2.   Thế hệ con cái bây giờ sống trong đô thị, dù làm việc gần hay xa, đều muốn ở riêng. Mô hình gia đình, tam tứ đại đồng đường hầu như biến mất, may ra còn sót lại đâu đó ở nông thôn.

   Cha mẹ sống chung với một đứa con nào đó cũng đang dần thu hẹp. Lập gia đình là ra ở riêng. Vẫn thỉnh thoảng về thăm nom cha mẹ, vẫn hỏi han qua điện thoại hằng ngày. Nếu ở chung, con cái sẽ chăm sóc cha mẹ theo cách riêng của chúng. Áp lực xã hội còn quá nặng nề, chưa đủ để con cái nghĩ đến đưa cha mẹ già vào viện dưỡng lão, dù là đóng phí không rẻ, tùy dịch vụ.

   Bọn già tụi mình cũng thế. Căn nhà không chỉ là căn nhà, mà đó còn là tài sản chắt chiu, chất chứa biết bao ký ức một thời vất vả, vì bổn phận gia đình. Căn phòng ở viện dưỡng lão dù tiện nghi đến đâu cũng chỉ là nhà thuê, không phải là "home", mà là "house".

   Sự xung đột nửa tây nửa ta như thế quả là một thách thức để thích nghi. Thách thức không chỉ với con cái, mà còn với tuổi già. Con cái chăm sóc chúng ta theo kiểu hiện đại. Còn tuổi già bọn mình mong muốn những gì ở tuổi xế chiều? Khi mà đầu óc lãng đãng, chuyện xưa thì nhớ, chuyện nay thì quên.

   Chúng ta chưa đủ tinh thần để tách rời khỏi căn nhà. Hầu hết người già muốn được sống gần con cháu, không chỉ vì cần giúp đỡ vật chất, mà vì là mong muốn được hiện diện, được nghe tiếng người, được thấy đời sống tiếp nối. Mong muốn đó không phải là "lệ thuộc" vào con cái, mà là một cách níu kéo sợi dây với đời.

   Đôi lúc chúng mang con cái về nhà gửi cả ngày, vợ chồng chúng đi chơi. Vừa là nhờ vả, vừa là ân huệ với tuổi già - mà chắc là ân huệ thiệt. Tuổi già thèm thủ thỉ với trẻ thơ. Chẳng phải chúng ta đã mua bánh kẹo sẵn, chờ đợi bọn trẻ đến đấy sao? Vừa chăm sóc, vừa chiều chuộng, vừa hỏi han. Chỉ có già mới kiên nhẫn lắng nghe, những câu hỏi thật nhanh, và quên thật nhanh của trẻ con. Dù sao, đó cũng là chút chứng tỏ mình còn có ích, con cái mới nhờ vả, chứ chưa vô dụng.

   Có khi mình trông con cho chúng, không đúng như chúng dặn, là bị cằn nhằn. Nghĩ cũng buồn!

   Dù sao, con cái còn quan tâm, chăm sóc đến mình là điều đáng mừng. Dù là quan tâm cho có lệ, hay thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi cũng là điều đáng mừng rồi.

   Nếu có đứa nào tới lui chăm sóc là điều vượt quá mong đợi của tuổi già. Hãnh diện chứ! Nhưng mọi chăm sóc của chúng thường theo xu hướng hiện đại. Có điều gì đó mà đôi khi tuổi già miễn cưỡng nghe theo để khỏi phụ lòng.

   Miễn cưỡng nghe như là chịu đựng… Có cách quan tâm, chăm sóc nào khác không?

 3.  Thỉnh thoảng, con cái đặt "món ngon mẹ nấu", ship về tận nhà cho mình, nhưng chẳng bao giờ chúng đãi người già "món ngon con nấu".

   Con nấu thế này, có ngon như hồi xưa mẹ nấu không? Khẩu vị người già dù đã thay đổi ít nhiều, nhưng trong khoảnh khắc sẽ hồi tỉnh lại. Tuổi già sẽ chỉ bảo, phải làm thế này, thêm thứ nọ mới đúng. Già rồi, đi đứng hết nổi, nhưng cũng cảm thấy mình còn có ích đôi chút, còn "truyền nghề" cho chúng. Niềm vui tuổi già chỉ giản dị thế thôi.

   Nhưng có đứa nào chịu làm "món ngon con nấu" đâu. Chúng đặt hàng vài phút là có "món ngon mẹ nấu". Ký ức ẩm thực tuổi già bị lãng quên!

Người già thèm những món ăn quen thuộc. Thèm để nhớ một thời gian khổ, mà sao hồi đó ngon lạ thường. Món phá lấu, chẳng hạn. Hồi trước, ngày nào rủng rỉnh chút đỉnh, tôi mua đĩa phá lấu. Phần chúng nhiều gấp ba bốn phần mình. Nhìn chúng ăn ngon lành, ăn xong còn thòm thèm. Cha mẹ nào nuốt nổi phần mình nữa.

   Bây giờ thèm, mình mua món phá lấu. Chúng cằn nhằn, chê món phá lấu mất vệ sinh. Ăn nội tạng heo bò làm tăng mỡ máu, có hại cho sức khỏe. Chúng ép mình phải ăn "món ngon mẹ nấu" mà chúng đặt hàng. Có đứa còn ép mình ăn kiêng, chỉ toàn món chay hảo hạng. Không ăn đúng như thế lại cằn nhằn.

   Hồi đó mình thèm món phá lấu, nó cũng thèm. Mình nhường hết cho nó. Bây giờ mình thèm phá lấu, chúng lại bắt mình ăn "nem công chả phượng" như cách chúng nó. Món ăn dĩ vãng của tuổi già đã bị bỏ rơi!

   Tôi làm ở phòng lab, điều chỉnh chính xác từng giọt dung dịch từ burette để định lượng. Bây giờ tay chân vụng về, rót nước từ bình đun vào chai, rơi vãi. Con cái cằn nhằn, nói để chúng làm. Không, tôi muốn tự làm những gì có thể làm được. Các bạn già cũng thế, phải không?

   Thế hệ chúng ta làm cật lực, bất kể ngày đêm chỉ để trang trải gánh nặng gia đình. Bây giờ ngồi không, như kẻ vô dụng. Thật khó chịu!

   Không ít bạn già, theo chân các đoàn thể tôn giáo, đóng góp và giúp đỡ những nơi bị thiên tai, những vùng đói kém. Cũng làm được chút gì đó có ích cho đời.

   Tôi cũng vậy. Tôi vẫn viết lai rai về an toàn thực phẩm, chỉ muốn chia sẻ lại chút kiến thức, không chỉ lý thuyết, mà cả những kinh nghiệm tích lũy suốt mấy chục năm. Có được một người nghe, và làm theo cũng là niềm vui.         Không làm được chuyện lớn cho đời thì làm chuyện nhỏ, dù là rất nhỏ. Còn hơn ngồi than thở và phẫn nộ những chuyện chướng mắt ở đời.

   Gần hết cả đời, chúng ta đã cho đi. Già rồi, có cần gì nữa đâu, mà chỉ sợ mình thành gánh nặng hoặc bị lãng quên. Nếu sợ, đó là sợ tình thương pha lẫn lòng thương hại.

   Các bạn trẻ, xin đừng tước đi niềm kiêu hãnh cuối cùng của tuổi già. Đừng "xả láng" báo hiếu, để rồi chăm sóc quá đáng - Hãy để chúng tôi tự làm. Đừng khuấy động mặc cảm vô dụng tuổi già.

 4.  Quê mẹ tôi không trồng lúa được, vì nước sông dâng cao cả vài tháng, chỉ có thể trồng bắp, khoai, vài loại rau ngắn ngày. Năm 1945, quê mẹ tôi chết đói nhiều lắm, tứ tán cả. Ngay từ hồi tôi 4 tuổi, bà đã dạy tôi phải biết quý hạt gạo. Hạt cơm rơi xuống phải nhặt lên.

   Khi mẹ tôi mất, tôi bỏ lên Đà Lạt. Đêm giao thừa đầu tiên, không có bà bên cạnh. Tôi nâng ly rượu, chợt nhớ "hạt cơm rơi". Tôi ngước nhìn bàn thờ, và tự hỏi - Đời bà gian truân thế nào? Nước sông dâng cao như vậy, khi nước rút, làm sao nhận ra mồ mả ông bà? Bà bỏ lên Hà Nội kiếm sống thế nào? Vào Sài Gòn, bà bán xôi. Tôi chưa bao giờ hỏi bà cách đồ xôi thế nào, chọn nếp ra sao? Còn nhiều câu hỏi trong đầu, nhiều điều tôi muốn biết nữa, nhưng không thể…

   Những năm cuối đời, nếu ai hỏi chuyện xưa, mẹ tôi nói cả giờ. Tôi chỉ miễn cưỡng nghe vài phút, rồi lên lầu. Còn nhiều công việc mưu sinh phải làm. Tôi nghĩ, chỉ cần chăm sóc bà đầy đủ là được.

 

   Thế hệ chúng ta lớn lên trong chiến tranh - Khổ! Tàn cuộc chiến - Khổ. Khổ đủ kiểu, tùy môi trường xuất thân. Ở cái thời "rau muống bổ hơn thịt bò" - Thật xấu hổ! Có lẽ mấy bà khổ nhất - Cái khổ ngấm ngầm mà dai dẳng. Đó là cầm giỏ ra chợ với chút xíu tiền. Làm sao thu vén cho bữa ăn gia đình. Những năm tháng đó, làm sao ai biết? Mà có ai muốn biết đâu!

   Tuổi già ở nhà là một thế giới khép kín, cô đơn giữa mọi tiện nghi, giữa những "món ngon mẹ nấu", và những cú điện thoại "chăm sóc" quá kỹ lưỡng của con cái. Muốn được chia sẻ, nhưng có ai lắng nghe để chia sẻ? Con cái ư?

   Tôi chỉ nín lặng chấp nhận "quả báo", không dám cưỡng cầu. Nhưng mấy bà thì tâm tư chất chứa đủ thứ. Về nhà dồn nén, dồn nén… Các bạn marketing rất tinh quái, nếu biết số phone, sẽ gọi lại tỉ tê đủ thứ, và chào bán thực phẩm chức năng. Sa bẫy là điều dễ hiểu. Đừng trách tuổi già! Marketing biết lắng nghe họ hơn con cái.

   Già rồi, cổ lỗ sĩ mọi thứ. Dĩ vãng cũng cổ lỗ sĩ. Nhu cầu lắng nghe nhiều nhất, nhưng cũng mong manh nhất. Tôi thì quá muộn rồi! Ai còn cơ hội thì chớ bỏ lỡ.

   Tuổi già muốn được chăm sóc. Muốn chỉ vì gìn giữ sự kết nối, không phải muốn để lệ thuộc. Muốn được làm theo ý nguyện, muốn được tôn trọng, và muốn được lắng nghe, nhưng bất khả.

   Sự lạc nhịp giữa hai thế hệ, những mong muốn chăm sóc tuổi già chỉ là giấc mơ. Tôi biết - Chỉ là giấc mơ thôi. 

Vũ Thế Thành

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags CHĂM SÓC TUỔI GIÀ - XIN ĐỪNG NỬA THƯƠNG NỬA NỢ, VŨ THẾ THÀNH
Comment

Mùa Xuân Thần Thoại (Nguyễn Thị Thêm)

February 26, 2026 Ninh Tran

Tôi bước xuống phi trường Narita mà tưởng mình còn mơ ngủ.

 Kéo chiếc vali nhỏ tôi cố chạy theo cho kịp mẹ nuôi. Mẹ dừng lại nhìn tôi mỉm cười từ ái.

      Thoáng chốc mẹ đã quên mình là lính đi nhanh. Còn tôi chân có vấn đề và là một đứa bé trong trại mồ côi lần đầu tiên ra khỏi Việt Nam. Mẹ đưa tay định kéo hành lý dùm tôi. Nhưng tôi giữ lại và cương quyết tự làm cho mình. Bề nào tôi cũng là một thanh niên ở độ tuổi đang lớn.

        Mẹ đi sát bên tôi. Hai mẹ con trình giấy tờ ở hải quan và xuống nhận hành lý. Qua khu vực kiểm soát hai mẹ con đẩy xe ra ngoài. Đây là lần đầu tiên tôi được đi máy bay và thật vô cùng tuyệt vời tôi được đến nước Nhật. Một đất nước mà tôi chỉ biết qua sách vở và trong những giấc  mơ.

       Tôi không biết làm sao để diễn tả tâm trạng tôi lúc này. Mọi thứ vượt ngoài tầm hiểu biết và tưởng tượng của tôi. Tôi nhắm mắt lại và thầm thì với chính mình:

-Đây là nước Nhật. Mình đang ở nước Nhật.

       Tôi không thể hình dung được đi máy bay là như thế này. Sự phục vụ của phi hành đoàn lịch sự nhã nhặn như vậy.  Máy bay có đủ những tiện nghi cần thiết cho hành khách. Thức ăn đựng trong những hộp nho nhỏ còn nóng hổi và ngon như thế.Tôi đã đặt chân đến nước Nhật với những con người và phương tiện tân tiến nhất nhì thế giới. Ơn trên đã mở cho tôi cánh cửa của thiên đàng. Tôi bước vào đó ngỡ ngàng với cái chân tàn tật với tâm hồn đầy sẹo của quá khứ.

       Mẹ không để tôi đẩy hành lý mà kêu tôi đi theo. Một người trung niên đã đợi sẵn bên ngoài. Mẹ giới thiệu đây là bạn cùng đơn vị của mẹ.   Tôi run run bắt tay sau lời chúc mừng của bác ấy. Bác đẩy xe và mẹ bấm thang máy để đi lên. Bãi đậu xe ở tầng lầu. Hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Mỹ. Tôi không thể hiểu họ nói những gì, chỉ biết họ rất thân tình, vui mừng gặp lại nhau.

        Để túi xách nhỏ vào xe. Tôi ngồi vào băng sau và thấy mình như say sóng. Mọi việc diễn tiến như chuyện cổ tích mà tôi giống như cô bé Lọ Lem được hoàng tử chọn để kết hôn.

*****

       Tôi là một đứa bé mồ côi từ lúc mới sinh ra đời. Không phải cha mẹ tôi chết mà họ đã vứt tôi trước cửa nhà một vị hảo tâm. Tôi chỉ nghe mẹ nuôi tôi nói như vậy. Người mẹ nuôi tôi không phải là người phụ nữ da trắng đang ngồi phía trước xe. Mà là một người phụ nữ VN đã bị mất con trong một lần sinh khó. Người chồng phản bội đã bỏ bà với cái thai trong bụng để đi theo một người đàn bà khác trẻ đẹp hơn.

       Đau khổ cùng cực vừa mất con lại mất chồng. Mẹ nuôi tôi gục ngã và trở nên loạn trí, lúc nào cũng đi tìm con. Bà nghĩ con mình còn sống và đang bị thất lạc ở một nơi nào đó. Ông Bà ngoại tôi đem con gái về chăm sóc. Với trái tim yêu thương con vô tận, ông bà đã đến bệnh viện xin một đứa bé bị cha mẹ bỏ rơi đem về cho con gái, nói là đã tìm được đứa cháu ngoại bị thất lạc. 

       Đứa con đó cũng không phải là tôi, mà là người con nuôi lớn nhất của mẹ. Mẹ tôi lần hồi bình phục với đứa con còn đỏ hỏn mới đôi ba ngày tuổi. Ông bà ngoại coi đứa bé như ruột thịt. Thương yêu và hết lòng chăm sóc. Rồi tiếng lành đồn xa. Thêm một đứa trẻ mới sinh được vứt trước nhà ông bà ngoại. Rồi đứa thứ hai và tới tôi là đứa thứ ba.

       Mẹ tôi đã vứt tôi trước cửa nhà này và biến mất. Không biết bà có núp ở một góc nhà nào đó để theo dõi tiếng khóc của tôi. Hay rình xem mẹ nuôi tôi đã làm gì với đống vải nhăn nhúm quấn lấy tôi mới sinh được 3 ngày tuổi. Nói chung là bà ra đi không thương tiếc.

        Đương nhiên là tôi không biết gì hết. Tôi không biết cha mẹ mình là ai và vì sao họ bỏ rơi tôi. Tôi không biết lúc đó mình khóc nhiều hay ít? Tôi bú sữa bò hay nước cháo để sống còn.Tôi dễ nuôi hay èo uột, Bốn đứa con nít chỉ biết ăn biết bú khóc mãi không thôi. Hẳn chỉ có những người có trái tim thật nhân từ và nhẫn nại mới mở lòng ra cưu mang như vậy. Ông bà ngoại làm việc nhiều hơn để nuôi bầy cháu nhỏ không ruột thịt với mình. Mẹ nuôi tôi mất một đứa con, nhưng có đến 4 đứa khác để bù trừ. Mẹ quên cả bệnh, mẹ quên cả bản thân mình. Mẹ quần quật cả ngày để chỉ sống vì chúng tôi. Nhà không giàu có mấy, còn ít đất đai ông bà để lại, ông bà ngoại cắt bán dần để nuôi chúng tôi.

      Khi tôi lớn hơn một chút, tôi nhận thức được tôi khác hơn các anh chị của mình. Một cái chân tôi không đi được. Tôi đi từng bước khó nhọc mà người xung quanh gọi tôi là “Thằng thọt”. Tôi buồn lắm mỗi khi chạy chơi với các anh chị trong nhà. Tôi luôn bị thua thiệt vì sự không nguyên vẹn của mình. Trong tôi là sự mặc cảm về thân phận tật nguyền.

      Mẹ nuôi tôi không gì vậy mà hất hủi tôi. Bà yêu thương tôi hơn các anh chị khác. Bà thường gọi đùa tôi là “Con trai đích tôn” Lúc đầu tôi không hiểu gì cả vì trước tôi đã có anh Ba. Sau này trong một lần trò chuyện tôi đã hiểu và thương yêu ông bà ngoại và mẹ hơn bao giờ hết.

       Nguyên do là lúc nhỏ tôi bị sốt tê liệt. Ông bà ngoại đã bán nốt miếng đất hương quả ông bà cố để lại cho cháu đích tôn mà chạy chữa cho tôi.   Tôi thoát chết, nhưng một chân đã bị rút teo lại.Tội nghiệp mẹ tôi đã cố gắng tập cho tôi đi lại, bao nhiêu thuốc thang để cái chân tôi được như bây giờ. Tôi mang một cái chân bất toàn và mang nghĩa tình bất tận của ông bà và mẹ tôi. Những người không hề có dính dáng với máu mủ, ruột thịt.

       Tôi lớn lên trong căn nhà tình nghĩa đó. Ông bà ngoại ngày một già, tiền bạc cũng không còn. Mẹ tôi bôn ba buôn bán không đủ nuôi mấy miệng ăn đang độ tuổi lớn. Chúng tôi không thể đến trường đều đặn mà phải cùng nhau đi làm để phụ kiếm sống. Các anh chị tôi thay nhau vừa bán vé số vừa đi học. Tôi cũng vậy, la lết ở các bến xe, nhà hàng để kiếm cơm .

       Ông ngoại bệnh nặng,  mẹ tôi phải ở nhà chăm sóc. Tôi 8 tuổi ôm tập vé số len lỏi chốn chợ đời. Trái tim nhân hậu của con người dường như bị đánh mất trong xã hội lừa đảo. Tôi thường xuyên bị đánh vì giành mối.   Có lúc về nhà trắng tay, cả xấp vé số lẫn tiền bị trấn lột. Có những cạm bẫy mà xã hội đã đưa anh em chúng tôi lạc bước. Đồng tiền của người nghèo đổi bằng nhiều thứ trong đó có sự gian xảo lọc lừa. Đồng tiền nhàu nát và bẩn thỉu, có khi đổi bằng nước mắt và cả chính máu và mạng sống của mình.

       Bụi đời cũng có lắm phe nhóm, băng đảng, tốt và xấu. Ngoại và mẹ dạy chúng tôi phải lương thiện và nhịn nhục. Lương thiện chỉ từ chết đến bị thương. Bản năng sinh tồn không cho phép con người khoanh tay khi bị đàn áp và ức hiếp. Anh Ba tôi đã không nhịn nổi phải  chống cự và đánh lộn để bênh vực em. Một lần gây ra ẩu đả đổ máu đụng đến công an can thiệp.

       Cuối cùng của bi kịch đời người là tất cả anh em chúng tôi bị lôi ra khỏi vòng tay mẹ nuôi và bị đưa vào trại mồ côi. ( trừ chị Hai tôi có giấy tờ xin nuôi chính thức. )

       Tôi rời xa căn nhà thân yêu đã cưu mang tôi khôn lớn là ngày giỗ đầu ông ngoại. Năm đó tôi vừa 12 tuổi. Một đứa bé tàn tật, mồ côi lăn lóc chợ trời mưu sinh thì thiên hạ nhìn tôi không mấy mỹ cảm. Còn tôi, tôi đã biết mái nhà xiêu vẹo thiếu thốn mọi thứ có tình thương yêu thật sự.   Còn trại mồ côi nơi tiếp nhận những đứa bé bụi đời chỉ là giải quyết vấn nạn của xã hội. Tôi không muốn đi vì mẹ nuôi tôi bây giờ hay đau yếu. Bà ngoại tôi già rồi cần người chăm sóc đỡ đần. Đã đến lúc chúng tôi giúp đỡ họ phần nào, nhưng chúng tôi bị buộc phải xa lìa trong nước mắt. Tôi tự nhủ với lòng sẽ có ngày trở về phụng dưỡng trả ơn.

       Tất cả chúng tôi bị đưa lên xe và bước vào một cuộc sống mới. Nơi đây giống như là nơi tập trung cải tạo, giáo dục thiếu nhi mồ côi lẫn bụi đời. Chúng tôi phải sống với rất nhiều bạn đồng trang lứa. Họ cũng lang thang để kiếm sống như chúng tôi. Tuy nhiên tôi có phước hơn họ là đã từng có một mái nhà, có ông bà và mẹ. Có gia đình ấm cúng thương yêu dù chẳng ruột rà. Còn họ đủ mọi thành phần bị gom bắt đưa về đây . Có bạn hút xì ke lên cơn nghiện la hét cả đêm. Có bạn người đầy những vết sẹo vì đâm thuê chém mướn. Có bạn chuyên nghề móc túi hay dẫn gái ăn sương. Họ thích sống bụi đời. Họ tự do quậy phá quen rồi. Họ không muốn cuộc sống tù túng bó buộc nơi này. Tâm lý của họ là phó cho định mệnh. Họ tin đời họ chẳng bao giờ có tương lai tươi sáng. Họ không hề muốn thay đổi làm lại cuộc đời.

       Nghe lời dặn dò của mẹ nuôi trước lúc ra đi. Tôi siêng năng học chữ, học nghề. Tôi không trốn trại ra ngoài. Tôi chấp hành kỷ luật dù khó đến đâu. Tôi nhịn nhục dù bị bức hiếp rất nhiều của những người bạn chung phòng. Tôi tự nhủ:” Không thể chống trả được, thì đây là cơ hội  để học và thay đổi ” Tôi nhớ lời ông ngoại đã nói” Dù chân con có tàn tật, nhưng đầu óc con minh mẫn. Hãy cố gắng.” Đêm đêm tôi úp mặt xuống gối khóc vì nhớ mẹ nhớ ông bà. Tôi nhớ quá chừng căn nhà nghèo nàn dột nát mà ấm cúng thâm tình. Họ tuy không giàu có, nhưng trái tim và lòng nhân ái của họ thật bao la.

       Một ngày tôi được gọi lên văn phòng. Trước mặt tôi là một người phụ nữ da trắng trung niên. Đây là người đã làm thủ tục để xin con nuôi tại Việt Nam và được giới thiệu tới nơi này. Không hiểu vì lý do gì  mà tôi được chọn ra đây với hai người bạn khác. Những người đạt đủ tiêu chuẩn theo yêu cầu của hai bên. 

       Tôi lặng người đi vì hồi hộp. Tôi có được chọn không? nếu chọn tôi sẽ đi đâu?. Cuộc sống thế nào? Tôi còn có cơ hội để thăm viếng và giúp đỡ mẹ nuôi tôi  không? Tôi run run cúi mặt lo lắng. Người phụ nữ có mái tóc vàng thật đẹp, gương mặt phúc hậu bước lại gần tôi. Bà nắm bàn tay tôi ấm áp. Bà nhìn tôi trìu mến. Có lẽ thành tích của tôi ở trường khiến bà hài lòng. Bà không hề kỳ thị với cái chân tật nguyền của tôi. Trong mắt bà tôi nhìn thấy sự cảm thông, chia sẻ và yêu thương.

       Tôi được mời lên văn phòng nhiều lần để làm thủ tục giấy tờ. Tôi bằng lòng làm con nuôi người phụ nữ có gương mặt phúc hậu ấy. Tôi sẽ có thêm một bà mẹ. Sẽ bước qua một bước ngoặt mới. Tôi sẽ cố gắng học tập và làm tốt bản thân. Còn những gì kế tiếp thật tình tôi không dám nghĩ đến.

        Người nhận nuôi tôi là một người phụ nữ Mỹ độc thân. Bà là nữ Đại Úy không quân trong quân lực Hoa Kỳ. Bà là một người tham gia nhiều chương trình từ thiện tại VN. Hiện tại bà đang công tác tại một căn cứ không quân của Mỹ tại Nhật Bản.

Sau bao nhiêu lần mẹ nuôi tôi đi đi về về, tốn rất nhiều tiền để hoàn tất giấy tờ thủ tục. Tôi chính thức được công nhận làm con nuôi của mẹ Lisa theo đúng luật định. Bà là một người phụ nữ có lòng hảo tâm. Khi nghe tôi kể về quá khứ của mình, bà đã đến nhà mẹ nuôi tôi và giúp đỡ cho họ. Bà cho tôi đi học thêm sinh ngữ và chỉ dạy tôi rất nhiều về cuộc sống ở Mỹ để dễ hội nhập

*****

       Tôi đến nơi này, một căn cứ không quân Hoa Kỳ trong lòng nước Nhật. Hai mẹ con tôi sống trong một căn hộ được chính phủ cấp khang trang. Tôi được giới thiệu với các bạn bè của mẹ. Ban đầu tôi rất mặc cảm vì thân thế của mình. Nhưng dần dà tôi mới thấy rõ những tư tưởng phóng khoáng của người Mỹ. Họ tôn trọng giá trị và tự do của mỗi con người không phân biệt xuất thân. Những người lính nơi đây cho tôi một cảm giác ấm áp tình thân như người trong một gia đình.

       Tôi thấy mình thật hạnh phúc và may mắn có thêm một bà mẹ nuôi hết sức tốt bụng. Bà đã coi tôi như con đẻ, chăm sóc tôi chu đáo, chuẩn bị cho tôi tất cả để tôi không thiếu thốn thứ gì. Bà đã bỏ tất cả thời gian sau giờ công tác để dạy tiếng Anh cho tôi. Trong nhà mọi nơi, mọi chỗ đều có gắn những mẩu giấy nhỏ ghi rõ tên bằng Anh ngữ của đồ vật đó. Bà lấy ngày nghỉ để dẫn tôi đi chơi. Chỉ cho tôi và dạy tôi nói cho đúng. Bà mời cô giáo đến tận nhà dạy tôi học thêm để theo kịp bạn bè khi tới lớp.

       Mỗi ngày bà nấu cho tôi những món ăn Mỹ lẫn Việt Nam mà bà học được trên Internet. Có khi ngon, có khi dở nhưng tôi rất thích vì mẹ đã nấu bằng cả trái tim. Bà đã cho tôi một tấm gương về cuộc sống tự lập và sự tốt đẹp của người quân nhân Hoa Kỳ.

       Tôi đã đến trường và có nhiều bạn. Mỗi sáng tôi ra đón xe bus trước nhà để đến trường trong căn cứ . Tuy hơi khó khăn trong vấn đề ngôn ngữ nhưng tôi cố gắng nghe và cố gắng rèn luyện. Tôi là một thanh niên đầy đủ sức khỏe. Một học sinh trung học có triển vọng. Tôi có một người mẹ tốt bụng xinh đẹp và tài ba. Tôi sẽ đi lên bằng chính đôi chân không được nguyên vẹn của mình. Bằng nghị lực và niềm tin vào ngày mai tôi tin tôi sẽ thành công.

       Con người không ai có thể chọn xuất thân của mình. Tôi đã không may mắn được mẹ ruột thương yêu, đùm bọc. Mẹ bỏ rơi tôi có lẽ vì mẹ có nỗi khổ riêng tư. Tôi cám ơn mẹ không vất tôi ở thùng rác hay bên vệ đường mà đặt tôi vào tay một gia đình nhân đức. Hai người mẹ nuôi cho tôi thấy tình mẫu tử tuyệt vời trong trái tim người phụ nữ. Tôi không trách mẹ ruột và càng yêu kính mẹ nuôi. Trong đời tôi may mắn có đến 3 bà mẹ. Xin ơn trên cho tất cả các bà mẹ của tôi đều được bình an.

       Tôi cũng không mặc cảm mình là người Việt nam nói không rành tiếng Mỹ.Rồi ngày qua ngày tôi sẽ nói rành rọt như họ. Tôi cũng không vì cái chân không được nguyên vẹn mà bỏ rơi ý chí và ước mơ của mình. Tôi sẽ học giỏi và sẽ là một bác sĩ quân y tương lai như mẹ nuôi. Tôi sẽ giúp đỡ những trẻ em khuyết tật, những đứa bé mồ côi từng khổ sở như tôi.

       “Không có gì là không thể thực hiện nếu mình quyết tâm.” Mẹ nuôi tôi đã nói với tôi như vậy. Tôi tin tưởng bà sẽ bên cạnh giúp tôi thực hiện ước mơ của mình. Nơi căn cứ cũng có vài gia đình sĩ quan người Việt. Tôi đã đến đó, đã được cùng họ trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Tôi đã nhận những thân tình và những lời dặn dò khuyên bảo. Đây là đồng hương, là những người cùng chung ngôn ngữ và màu da. Tôi đến với họ thường xuyên mỗi khi rảnh rang. Tôi nghe họ kể chuyện đời họ, chuyện về người cha Sĩ quan đi tù Cộng Sản. Chuyện người mẹ bán hết đồ đạc để thăm nuôi. Chuyện những người anh, người chị vượt biên trên biển cả. Chuyện những ngày đầu đến Mỹ và lý do tại sao họ có mặt ở đây.     Những câu chuyện thật bi thương và cảm động mà những ngày ở VN tôi không hề nghe hay biết. Tôi đã được thấy một lá cờ khác lá quốc kỳ mà tôi được biết. Lá cờ vàng với ba sọc đỏ mà con trai người cựu Sĩ quan VNCH trân trọng cất giữ.

       Tôi đã được ăn những thức ăn VN thật ngon và có những đứa em rất dễ thương để vui đùa và yêu thương. Đất nước Mỹ, quê hương Việt Nam của tôi nằm trong căn cứ này. Một căn cứ ấm áp tình người, tình đồng đội và tình gia đình.

       Tôi không hề cô đơn hay cảm thấy lẻ loi mà tôi thấy mình rất hạnh phúc. Ơn trên đã không bạc đãi mà đã cho tôi rất nhiều ân sủng và phước lành. Tôi phải nắm lấy những may mắn đó mà bước tới bằng tấm lòng biết tri ân và báo đáp. Tôi đã nhờ mẹ Lisa nối đường dây để tôi liên lạc với mẹ và bà ngoại. Vài tháng tôi dành dụm tiền quà để gửi về VN giúp đỡ Mẹ Có lần mẹ Lisa đã gửi số tiền khá lớn để trang trải tiền bệnh viện cho ngoại tôi. Một ngày nào đó trong tương lai tôi sẽ về lại VN. Bằng chính đồng lương của mình kiếm được, tôi sẽ xây nhà cho mẹ nuôi và bà ngoại. Tôi sẽ cho mẹ tôi sống cuối đời no ấm, đầy đủ và hạnh phúc. Đứa con mẹ nhặt trước cửa nhà sẽ không bao giờ quên công ơn của mẹ.

       Tôi đã ở đây một thời gian khá dài. Tôi đã được Mẹ Lisa cho đi thăm viếng những thắng cảnh ở Nhật. Tôi đã thấy hoa Anh Đào rực rỡ trên đất nước Phù Tang. Đã thấy mùa thu tuyệt đẹp trong căn cứ, trong công viên lẫn khắp nẻo đường Nhật Bản. Tôi đã chạm được với tuyết và nhìn tuyết rơi trắng xóa mùa Đông. Tôi đã có bạn học, tôi đã có tất cả những gì tôi từng mơ ước.

Mẹ Lisa lại nói với tôi:

-Mẹ là quân nhân, là lính Mỹ phục vụ nước ngoài, mẹ không được ở một nơi cố định. Chỉ còn hơn một năm nữa chúng ta sẽ đổi đến một nơi khác mà mẹ không biết ở đâu. Cho nên con phải ráng học, chấp nhận và thích ứng khi con sẽ phải đến học một trường khác, quốc gia khác. Mỗi nơi chúng ta đến cho ta một bài học về xứ sở và con người, ngôn ngữ và đời sống nơi đó. Nó sẽ giúp cho con kiến thức và tầm nhìn xa hơn. Hãy thưởng thức và ghi nhận những gì con biết. Không ai dễ có được sự trải nghiệm đó đâu con. 

        Mùa Xuân đã về trong căn cứ. Tôi cùng mẹ tham dự những buổi liên hoan dành cho gia đình binh sĩ. Tôi hãnh diện làm con của mẹ, tôi hãnh diện là con trai một người lính Mỹ.Tôi cố gắng học tập, giúp mẹ những việc nặng nhọc, tôi phụ mẹ cắt cỏ, quét lá, dọn dẹp nhà cửa và nấu cho mẹ những món ăn VN mẹ thích. Tôi sẽ cho mẹ niềm vui để mẹ xóa đi nỗi buồn cô đơn của một người phụ nữ độc thân. Tôi sẽ cho mẹ một tình cảm mẹ con ấm áp. 

       Gia đình chúng tôi lấp lánh ánh đèn trên cây thông Giáng Sinh. Hạnh phúc bao trùm hai mẹ con tôi trong đêm giá lạnh. Tình yêu thương không phân biệt màu da và chủng tộc. Mẹ con tôi hai con người thiếu thốn tình mẫu tử. Chúng tôi sẽ bù đắp cho nhau và xây dựng mái ấm gia đình. 

        Ngày tết Nguyên Đán năm nay rơi vào ngày cuối tuần. Mẹ tôi cũng trang trí trong nhà vài hình ảnh ngày tết mà mẹ mua ở Việt Nam. Ngày mồng một, gia đình thiếu tá Nguyễn mời chúng tôi tới nhà. Năm nay mẹ bác ấy đến thăm và ở lại ăn Tết cùng con. Tôi mặc áo quần lịch sự. Mẹ Lisa mặc áo dài VN màu kem in những cánh mai vàng thật đẹp. Mẹ nói mẹ đã mua khi về VN làm giấy tờ mà chưa bao giờ được mặc.

       Nhà bác Nguyễn mời thêm nhà bác Hiến cũng ở trong căn cứ. Ba gia đình VN vui Tết quê hương. Mẹ bác Nguyễn cũng mặc áo dài, bà khen mẹ Lisa mặc áo dài quá đẹp. Bà vui vẻ nhận những lời chúc của các con cháu và mọi người. Bà chúc mọi người sức khỏe và thành công, chúc tôi học giỏi. Bà tặng chúng tôi những bao lì xì màu đỏ, màu vàng có in hình lá cờ VN hoặc trống đồng rất đẹp. Thú thật lần đầu tiên tôi cầm trên tay phong bao có hình lá cờ vàng với ba sọc đỏ. Thật lạ và đẹp. Một biểu tượng của lịch sử mà tôi cần phải học hỏi. Hôm đó tôi được ăn Tết VN thật sự. Bà đã cho chúng tôi thưởng thức thịt kho tàu, canh khổ qua, nem, chả giò và phở bò thật ngon. Bà nói ở đây không có điều kiện nên bà không thể gói bánh tét hay bánh chưng, bà chỉ gói ít bánh tét chuối ăn cho vui để nhớ. 

       Đây là cái Tết đầu tiên mà tôi đón nhận với tất cả niềm vui hạnh phúc và hy vọng. Đêm nay tôi sẽ ngủ thật ngon với nhiều mộng đẹp tương lai.  Mùa Xuân nơi đây, trong căn cứ này  sẽ là mùa Xuân thần thoại của riêng tôi.

Nguyễn thị Thêm.

(Viết thay cho cháu Tuấn khi gặp cháu trong căn cứ Yokota Nhật Bản)

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Mùa Xuân Thần Thoại, Nguyễn Thị Thêm
Comment

Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ ( Từ Thức)

February 26, 2026 Ninh Tran

“Vào năm giảm tô, ông nội bị bắt giam. Ông bị treo lên, đầu dọng xuống đất. Sao lại dọng đầu ông xuống đất, sau này tôi hỏi mẹ. Mẹ bảo, để cho ông có nuốt vàng vào trong bụng thì nhả ra. Họ dọng đầu ông như thế từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối. Cho đến lúc không tra khảo gì nữa thì tống vào tù”.

Đó là một cảnh đấu tố trong cuốn “GIA ĐÌNH” của Phan Thúy Hà (Nhà xuất bản Phụ Nữ Việt Nam) ra mắt năm 2020. Tác giả đi gặp, ghi lại lời kể của những nhân chứng còn sống sót thời Cải Cách Ruộng Đất kinh hoàng, đẫm máu ở miền Bắc, từ 1953 tới 1956.

“ĐOẠN ĐỜI NIÊN THIẾU” là cuốn thứ hai, cùng một đề tài, vừa được Hội Nhà Văn xuất bản ở Hà Nội (2023). Người đọc, dù đã biết, đã đọc những chuyện tàn khốc, man rợ về những cuộc đấu tố, sẽ sững sờ trước những sự kiện, những kỷ niệm sống, vượt xa sức tưởng tượng của những nhà văn giầu tưởng tượng nhất. Hơn cả cái tàn ác, cái làm cho người đọc kinh hoàng là sự hủy hoại tình người, mà Tô Thùy Yên gọi là cái “thương tổn nặng nề cho nhân phẩm.”

Gấp sách lại, người đọc tự hỏi: Tại sao con người có thể độc ác, tàn tệ với nhau đến như vậy? Nhất là đây không phải là nghĩa vụ “uống máu quân thù”. Đối tượng không phải là giặc Pháp, cũng chưa có “Mỹ Ngụy”.

Đối tượng là những người láng giềng, cha mẹ, anh em, chiến hữu đã cùng nhau vào sinh ra tử, những người cùng đổ máu để xây dựng thiên đường xã hội chủ nghĩa, hôm trước là chiến sĩ gương mẫu, hôm sau bị quy là địa chủ bóc lột, vì có vài sào ruộng, một con trâu, một đàn gà. Hay chỉ vì một chút hận thù, ganh ghét cá nhân.

39 GIA ĐÌNH TAN NÁT

“Mẹ tôi nói: cha đấy con. Cha con là người vừa bị bịt mắt dải khăn đen kia. Cha giật dải khăn đen ra: Tôi không có tội gì cả. Đảng Cộng sản Việt Nam muôn năm. Chủ tịch HCM muôn năm (…) Buổi chiều trước ngày cha bị bắn, mẹ đưa cơm cho cha. Cha ăn cơm xong, người ta trả cái giỏ đựng nồi cơm cho mẹ. Mẹ thấy ở dưới đáy nồi mẩu giấy nhắn của cha: Ai ngờ vô tội mà chết oan. Âu cũng là số kiếp. Gắng mà nuôi con. Sau này Đảng có hỏi thì trình bày tới nơi tới chốn (Gia Đình; trang 171)

Đây không phải là một cuốn sách hư cấu. Dưới hai cái tựa hiền lành, gần như lạnh lùng, tác giả ghi lại lời kể của các nhân chứng, không một lời bình luận. Những dữ kiện trần truồng, không gói ghém, càng khiến cái man rợ man rợ hơn. Sự thực, cũng chẳng cần bình luận. Sự kiện, tự nó nó nói. Khi cái man rợ lên tới tột độ, lời bình luận trở thành thừa thãi.

Gia Đình (274 trang) là chuyện của 19 người; Đoạn Đời Niên Thiếu (250 trang), 20 người, tổng cộng 39 gia đình tan nát. Mỗi trang là một thảm kịch. Mỗi câu chuyện trong hai cuốn sách có cái tựa mang tên người kể chuyện: Lê Xuân Đài, Đặng Thị Dung, Đặng Văn Chương v.v…

Đoạn trích trên đầu bài là lời kể của nhân chứng Võ Tá Tạo (Gia Đình; trang 49-53).

Ngoài ông nội, bị treo ngược đầu, sau đó chết vì bệnh, “bác Võ Tá Cảnh, con trai cả của ông bà, chết trong trại giam. Có người nói bác tự vẫn (…). Anh chết, em phải thế mạng. Cha tôi, Võ Tá Tân, phải đền tội thay Võ Tá Cảnh. Cha về làng để nhận án tử hình thay thế bác Cảnh (…).

Trên quả đồi trọc, những bó đuốc giơ lên. ‘Cho mi nói một lời cuối cùng với bà con nông dân’. Cha nói: Con thưa bà con nông dân, con là một thằng phản dân, phản đảng, phản nước, con xin ông bà nông dân tha tội bắn cho con… Ba phát súng. Ở nhà chúng tôi nghe rõ. Cha tôi gục xuống.”

Trước khi xử tử, người ta quy tội. Có người bị hành hạ vì tội đã học tiếng Pháp, chắc chắn là để làm mật thám cho Tây. Có người bị kết án vì lý do ngớ ngẩn: Thằng Bản (địa chủ bị gọi là thằng, xưng con, bất chấp tuổi tác) chặt cây ngụy trang chỉ điểm cho giặc. Bởi vì có lần bà ta đi ngang ngõ thấy cha tôi bắc thang trèo cây, tỉa bớt cành lá (Gia Đình; trang 27).

Tội trạng như vậy, đủ để bị trói, bị quỳ trên sỏi đá, cho dân làng nhục mạ. “Buổi chiều, tôi gấp một chiếc giẻ may vào phần đầu gối chiếc quần cho cha quỳ đỡ đau buốt. Đứa nào may thêm vải này cho mày? Dạ thưa, con tự may. Lớp giẻ độn sau chiếc quần bị tháo ra. Đêm đó cha bị quỳ lâu hơn, đá nhọn dồn lên đầu gối sắc hơn hôm qua (Gia Đình; trang 28).

Cái đói, cái dã man hơn cả thú vật giữa người với người, cái nhục mạ, hành hạ thân xác, tinh thần những nạn nhân vô tội, và cái chết bi thảm, rùng rợn, của những người bị đạp ra khỏi xã hội hiện diện trên mỗi trang giấy. Một xã hội chỉ có nhu cầu ăn cho no, sẵn sàng đạp lên xác người khác để có bát gạo. Trò giải trí duy nhất là đi coi, hay tham dự đấu tố, cái vui duy nhất là nhục mạ, giết người trước đó là anh em, láng giềng hay ruột thịt.

CÁI TÀN ÁC MAN RỢ

Con đi bộ đội, một bà mẹ bị ép buộc hiến đất, hiến của cho cách mạng:

“Chum, vại, đàn trâu bò mẹ bán hết để mua công trái quốc gia, đóng thuế nông nghiệp (…). Mẹ được tặng bằng “Gia đình vẻ vang”. Con nhà người ta bị bắt đi tù, bị mang ra bắn, con mình được bằng khen. Mẹ bảo tôi tìm cho mẹ một cái ống tre khô, cuộn tròn tấm bằng khen, cất vào ống tre, để lên đầu giường. Một đêm, mẹ đang ngủ, dân quân gọi ra hội quán. Hôm sau tôi mang cho mẹ mấy củ khoai, thấy hai chân mẹ bị cùm, mẹ khóc. Hơn tháng sau, dân quân giải mẹ về, gọi tôi ra quỳ cùng với mẹ. Họ ra lệnh gì mẹ tôi cũng dạ (Đoạn Đời Niên Thiếu).

Ngoài sân như hội trường. Tiếng quát tháo, tiếng giành nhau đồ đạc. Cờ quạt dựng lên từ ngõ vào. Mẹ và bà nội bị bắt đi đâu không ai biết (…). Em tôi đói. Tôi cũng đói. Em lả dần và chết bên cạnh tôi. Người đấm đá vào lưng, vào gáy mẹ. Người ta lấy báng súng tọng lên lưng mẹ (Gia Đình; trang 39).

CÁI CƯỚP GIỰT

Đó là một xã hội cướp bóc, từ trên xuống dưới, công khai.

Nhà nước cướp: “Lúa chưa kịp phơi khô. Phải nộp hết. Gọi là thuế nông nghiệp’’ (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18). Thuế nông nghiệp, thuế khả năng và hàng chục thứ thuế khác. Nhiều người bị kết án tử hình sau khi đã cống hiến tất cả, nhưng vẫn chưa đủ.

“Cha bị bắt đi quản huấn. Ở nhà, thỉnh thoảng mẹ tôi bị bắt đến nhà một cố nông để khai báo còn cất bao nhiêu vàng bạc, lúa gạo. Còn gì mà khai báo. Vàng bạc đã cúng hiến cho kháng chiến trong “tuần lễ vàng”, lúa gạo đã cúng hiến cho chiến dịch ba tháng “góp gạo nuôi quân”, mùa lúa cuối cùng đã nộp hết cho thuế nông nghiệp” (Gia Đình; trang 55)

Mặc dầu vậy, “mẹ tôi bị trói cổ tay bằng sợi dây xỏ mũi trâu bò, treo lên cành cây bưởi ở mé sân, chân không chạm đất. Đàn con ngồi trước mặt mẹ, chứng kiến mẹ bị treo lơ lửng” (Gia Đình; trang 56)

Bị nhà nước cướp sách, dân đói, cướp lẫn nhau. Mang nhau ra sỉ vả, tra tấn, hành hạ hay chém giết chỉ để cướp một cái chiếu sạch, một cái nồi đồng.

-Mẹ dậy nhóm bếp, bẻ nửa nải chuối cho vào niêu luộc. Ánh lửa hất ra đường, cốt cán Hoe Năng đi tuần phát hiện, vào kiểm tra đang nấu gì. Chuối ở đâu ra (…). Tịch thu, của ni không phải của mi. Hoe Vinh bê niêu chuối trên bếp lẫn nửa nải chuối chưa luộc, mang đi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 34).

Cái cảnh cướp giựt, từ một miếng cơm, không biết nên cười hay nên khóc:

-Cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên. Đang ăn, dân quân đứng ngoài nhìn vào. Mẹ nhanh trí làm động tác như đang húp cháo. Nghĩ là ăn cháo, dân quân bỏ đi” (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 50)

-Trước khi đi ngủ, tôi xếp mười chiếc nón vào hai cái thúng. Sáng dậy gánh đi chợ hạ. Ra đầu ngõ bị dân quân tịch thu. Đây là âm mưu của địa chủ phân tán tài sản. Từng là chiến sĩ thi đua, được cả trường tôn trọng, nay gặp những chuyện vô lý như thế, tôi uất ức, khó chịu. Nhiều đêm không ngủ được, tôi nghĩ đến chuyện tự tử (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 70).

Một người cha đi tù, chuyển lời về nhà:

“Các con cứ để cho họ lấy hết. Một cái vung cũng không được giấu. Các con cố giữ lại thứ gì, tội cha to thêm thứ đó. Các con giữ thêm một đồ vật, cha bị kết tù thêm một năm” (Gia Đình; trang 34).

CÁI ĐÓI

Cái đói là một ám ảnh lớn. Trang sách nào cũng có chuyện ăn vỏ khoai, ăn lá cây, giành giựt nhau một nắm cơm, một bát cháo.

-Bán 10 viên (kẹo vừng), lời 4 viên. Các cháu đói quá, ăn vụng mất của o, đang lời thành lỗ. Chị dâu làm bánh tẻ, bánh ít đem ra chợ. Người ta xúm lại bóc bánh ăn rồi đi, không trả tiền (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 18)

–Làm việc cả ngày, được nghỉ trưa một tiếng để ăn cháo. Chị nấu ăn hôm đó dùng thùng thuốc trừ sâu đựng cháo. Thùng chưa vệ sinh sạch. Mấy người ăn bị ngộ độc. Họ nghi tôi, con địa chủ, bỏ thuốc độc vào nồi cháo. Không ai ăn cùng mâm, không nói chuyện với tôi (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 20).

Đôi khi người đọc mỉm cười: Mẹ bị tố, cả nhà đói, người anh đi bộ đội gởi về tặng em một… trái mìn, để đánh cá. Mìn nổ trên mặt nước, chỉ chết vài con cá mương (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 36).

CÁI SỢ

Cai trị bằng cái sợ là một chính sách, một lý thuyết chính trị của Lénine, được Staline, Mao, Pol Pot và những đệ tử Việt Nam trung thành áp dụng triệt để.

Sợ từ khi còn ngồi ghế nhà trường: “Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết sợ gì (Gia Đình; trang 42).

“Văn đệ tứ, phải chọn giữa 3 đề, đề 2: Bình luận một câu của Trường Chinh, đề 3: Phương pháp tả người của Nguyễn Du. Cả lớp làm đề 3. Dại chi làm đề kia, viết hớ hênh một câu mất lập trường là nguy (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 21).

Cái sợ bám vào nhân thân suốt đời, như một người cao tuổi, trong Gia Đình, tới nay vẫn không dám thắc mắc một chuyện gì:

“Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đã tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai, tôi vẫn là một ông già sợ hãi. Tôi không dám thắc mắc một chuyện gì. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông mình, cầm bút lên tôi lại run”.

CÁI CHẾT

Hậu quả của sự tàn bạo là cái chết. Chết vì bị treo cổ, treo đầu ngón chân, bị đánh đập, tra tấn, vì đói, vì tự tử.

-Chị ngồi tựa lưng vào gốc cây dối, dải yếm trễ xuống, thằng con như con nhái bén vẫn đang nhai vú mẹ. Lúc đó chị đã chết rồi mà tôi không biết (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 41).

-Bà nội chết vì rét hay vì đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ, bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà, thấy hai chiếc xương sườn bị gẫy (Gia Đình).

HUẤN LUYỆN CĂM THÙ

Người ta tự hỏi: tại sao những người nông dân, vốn hiền lành, đã trở thành ác quỷ? Con người có thể trở thành thánh, hay thú vật, tùy môi trường sống, tùy giáo dục. Lịch sử đã chứng minh điều đó, với xã hội Đức dưới thời Hitler, Nga dưới Staline, Tàu dưới Mao, Cao Miên dưới Pol Pot. Việt Nam không phải là một ngoại lệ, nếu điều đó có thể an ủi người Việt.

Tất cả trò đấu tố đều học của Tàu, cố vấn Tàu sang dạy cách xử án, quy định tỷ số địa chủ phải mang ra làm thịt. Đó là một xã hội xây dựng trên sự căm thù, được dạy dỗ, tập luyện từ nhỏ, từ ghế nhà trường:

– “Thầy giáo nói hôm nay nghỉ học để tối đi đấu tố địa chủ… Xen vào những buổi đi học bình thường là những buổi nghỉ học để tối đi dự đấu tố. Học sinh đến trường tập trung. Mỗi em một bó đuốc, vừa đi vừa hô. Tôi cũng hô to không thua gì các bạn (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 64).

-Tấm biển “Địa chủ” dựng trước sân. Tôi hất đi thì hôm sau thằng bạn học cùng trường đến dựng lên. Trước đây nó cùng đội thiếu niên, tôi liên đội trưởng, nó liên đội phó (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 49).

Được dạy dỗ như vậy, bọn trẻ thơ ngây trở thành ác quỷ. Có lẽ cái giết sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ, nó còn ghê rợn hơn cả chuyện giết người.

-Bị đuổi dạy, thầy giáo Banh nấu nước chè xanh đi bán ở các làng khác, khi về đến đầu làng bị nhóm trẻ con xúm vào đập vỡ hết bát, ném xuống sông, thầy ngồi khóc trên cầu (Đoạn Đời Niên Thiếu; trang 87).

-Ê, con địa chủ, con địa chủ. Mấy đứa lao vào tôi. Bọn con gái không đánh được thì giật tóc, gõ đầu, cấu véo. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về đến nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này (Gia Đình; trang 41).

NHỤC MẠ

Giết người chưa đủ, đánh tan nát gia đình nạn nhân chưa đủ, chia nhau từng cái chổi cùn chưa đủ, còn phải nhục mạ người sống, người chết:

“Vườn của bác đã là vườn của nông dân. Không được chôn địa chủ trong vườn nông dân” (Gia Đình; trang 23).

Có lẽ cái nhục mạ nạn nhân, cái thú man rợ khi tước đoạt luôn nhân phẩm con người chỉ có dưới chế độ cộng sản, đặc biệt là cộng sản Tàu và đàn em. Dưới những chế độ độc tài khác, thường thường chỉ có cái ác.

SỬA SAI

Năm 1957, Đảng nhận lỗi, sửa sai. Nhưng lỗi là lỗi của những phần tử quá khích. Đảng không thể có lỗi. Tại trường học, những ông hiệu trưởng, giáo viên trước đây được khen ngợi đã thành công trong việc giúp học sinh đấu tố nhau, bị kết tội do địch gài vào để phá hoại.

Nhà nước xin lỗi, thế là xong, yên chuyện, ai về nhà nấy, như không có chuyện gì xẩy ra. Như có người vô tình chạm vào tôi ngoài đường, xin lỗi. Dạ, không có chi.

Dù sao, chuyện Đảng công khai xin lỗi cũng cho phép gia đình nạn nhân được khóc công khai những người đã bỏ mạng. Và cho phép rất nhiều tác phẩm về “Cải Cách Ruộng Đất” ra đời mà tác giả không đi tù hay mất mạng.

Mặc dù vậy, cái sợ hình như vẫn đâu đó.

Đại tá nhà văn Phan Kế Toại, đề tựa cho cuốn Gia Đình, đề cao việc làm của tác giả, coi trọng việc đi tìm sự thực, không quên thòong một câu, cho chắc ăn: “Mọi người cần chung tay cố gắng trân trọng sự đổi mới, gìn giữ thành quả dân chủ để đất nước không bao giờ trở lại thời kỳ ấu trĩ như thế nữa”.

“Thành quả dân chủ”! Câu kết luận politically correct không khỏi khiến người đọc mỉm cười, khi nghĩ đến thực trạng Việt Nam ngày nay về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng…

Trong cùng một bài tựa, ông Toại kể: “Trong gia đình tôi (…), nhiều người đã bị quy địa chủ, phú nông hoặc phản động. Người bị tịch thu tài sản, người tự vẫn, người bị bắt giam, bị cùm chân, người bị xử tử”. Dùng chữ “ấu trĩ” cho một xã hội lở lói khủng khiếp như vậy có lẽ hơi nhẹ.

Bao nhiêu người là nạn nhân của “cách mạng”? Theo BBC, nhà nghiên cứu Mông Cổ Balazs Szalontai khai thác các tài liệu Đông Âu và Liên Xô, đưa ra con số 7,7 triệu người dân và hàng trăm gia đình “buộc phải tham gia và chịu hệ lụy” chỉ trong đợt giảm tô. Trong đợt chính thức Cải Cách Ruộng Đất, 4 triệu người “chịu tác động”. Tác giả Hoàng Minh Chính đưa ra con số nửa triệu người (5% dân số miền Bắc) bị phỉ quyền Hà Nội giết hại.

Riêng “Cải Cách Ruộng Đất”, theo Bernard Fall, 50.000 bị xử tử, ít nhất gấp đôi bị đày đọa đi tù lao động khổ sai. (BBC 3/2/2022)

Le Livre Noir du Communisme (Sổ Đen của Chủ Nghĩa Cộng Sản) do sử gia Stéphane Courtois chủ biên, cũng đưa ra con số 50.000 người bị xử tử, từ 50.000 tới 100.000 người bị đưa đi tù lao động khổ sai. 

Le Livre Noir là một cuốn sách dày 662 trang, do các sử gia, ký giả, giáo sư Pháp biên soạn, tố cáo những tội ác man rợ của cộng sản quốc tế, với 100 triệu nạn nhân đã bỏ mạng để xây dựng “XHCN”.

Từ Thức

 

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Những Nhân Chứng Sống Sót Của Một Thời Man Rợ, Từ Thức
Comment

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH ̣̣ ̣Huỳnh Anh Trần-Schroeder

February 25, 2026 Ninh Tran

HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH

Họ gặp nhau trong một buổi cắm trại hướng đạo vùng Lâm Đồng cao nguyên.

Sáng tinh sương, chàng vừa đưa tay vuốt mái tóc bồng trong gió rừng, ngắm cảnh nước cuốn trên dòng suối róc rách, bỗng nghe tiếng cười khúc khích tiếp theo là”thôi đẹp rồi, khỏi cần trau chuốt”.

Quay lưng lại, chàng thấy nàng cười tươi bên cụm lan rừng ven bờ suối.

Rồi tiếp theo là

Khỏi cần xưng tên, biết anh là Sói tốt tướng, thuộc tráng đoàn Bạch Mã Lam Sơn”

Chàng nheo mắt hỏi

“Giỏi lắm! Nhưng tốt tướng xin xét lại vì còn tùy nhãn quan người nhìn. Thế còn cô tên là gì?”

Chưa có tên rừng, nhưng nếu có chắc là én ranh mảnh, én tào lao hay én chọc quê, tùy người chọn.

Tôi xin chọn “yến mỹ miều”

“Ớ cái anh chàng vô duyên, chưa quen mà đã nịnh đầm rồi.

Én nầy là én lang thang.

Cuối rừng mượn gió trêu chàng tráng sinh,

Nắng lên đẹp lối bình minh,

Nhanh lời thơ mọn, chúc xinh tháng ngày,

Chúc ai thơ thẩn khoan thai,

Ngắm sen trong ánh sương mai ngọc ngà,

Chằng hẹn nhưng trót quen ta,

Xin lời tâm nguyện trên nhà bon chen,

Xa gần trước lạ sau quen,

Nhớ ngày tao ngộ, bờ sen ven rừng.”

 Thế là họ quen nhau một buồi đẹp trời rừng núi cao nguyên.

Thế rồi họ yêu nhau, cùng chung tâm tưởng giúp đời theo lời khuyên của Baden Powell và sau đó theo lời nguyền Hippocrates sau những năm dài học trình y khoa.

Ngày trên quê hương chiến tranh tăng tốc độ khắp quan hà núi sông, chàng vừa học xong năm cuối trường y, “mùa hè đỏ lửa” 1972 anh “xếp áo thư sinh theo tiếng gọi lên đường” vào quân y lăn lóc khắp các vùng hỏa tuyến quê mình. Nàng khoác áo trắng tình thương thêu chữ thập hồng ngược xuôi các trạm y tế hậu phương cùng tiền tuyến đem hành trang học trình đỡ đần chăm sóc thương binh cùng người dân họa hoằn trong những vùng khói lửa quê hương, ngày đêm cầu nguyện cho hòa bình trở lại, cho non nước lại xanh màu, dân tình thôi đau thương và người yêu trở về với mình, dù lành lặn hay mất mác vài khoảng thân hình nhưng vững niềm tin nơi loài người còn nhân tính và xứ quê hết vận mạt.

Họ xây dây cát đằng trong một buổi tinh sương bên bờ suối ở khu rừng họ gặp nhau ngày nào. Họ yêu nhau tha thiết, quên ngày xa cách những lúc chàng hành quân. Những ngày về phép tưng bừng vui nhộn. Cuộc đời rày đó mai đây, họ trân quý từng phút bên nhau, họ cho nhau những gì đẹp nhất trên đời, không bao giờ hờn giận nhau hay hận sầu quê hương vì biết sinh ra trong thời binh biến, chẳng biết ra sao ngày sau, một ngày có nhau là một ngày hạnh phúc vô biên. Họ cảm ơn đất trời, mỗi mùa sao sáng dưới chân Thánh Giá, mỗi buồi quỳ dưới tòa sen Phật Đài, nghe lòng lắng dịu nỗi sầu nhân thế.

Rồi năm tháng dần trôi. Gia đình lại thêm hồng phước với hai con, một trai, một gái, thêm tiếng cười ngày cha về phép.

Rồi tháng tư đen bỗng đến trong nghẹn ngào trên đất nước lầm than.

Rồi gia đình cùng qua cửa thần phù trên Thái Bình Dương khổ ải.

Nơi xứ lạ quê người thành quê hương thứ hai, cuộc sống đầy thử thách lại bắt đầu, tìm tình người trong nỗi sầu vong quốc, tìm ánh tương lai cho đàn con và ngày tĩnh lặng thu đông cuộc đời cho song đường hai bên người còn, người mất.

Bát ngát ruộng vườn ngô lúa mì mang nguồn sống mới, tuy khác lạ với ruộng vườn phù sa, cây trái xum xuê của miền nhiệt đới, nhưng đây là mảnh đất nhiệm mầu có chân tình thiên hạ, tâm hiền người dân làng quê xứ nhỏ của bao la xứ Mỹ. Nơi đây con của họ lớn lên, không nuôi dưỡng hận thù bất đắc dĩ, biết nhận thức nét đẹp thiên nhiên và cao cà lòng người với người dân nhiều hiểu biết văn hóa hơn dân xứ xưa của mình nhưng vẫn giữ lòng chất phác như người dân Việt của những ngày họ vừa lớn, vừa biết yêu thương.

Không như một số người y khoa đồng môn, đồng khóa đã đến bến bờ xứ Mỹ như họ mà vẫn đua đòi công hầu danh tướng sống nơi tụ tập dân Việt nhiều xa hoa như vùng Quận Cam Cali hay thủ đô Hoa Thịnh Đốn, vừa se sua thành tích, vừa nổ miệng khoe của, khoe thành tích con em chức cao đổ đạt, họ cần mẩn làm y sĩ làng quê, vui với sự giúp đỡ y tế cho dân làng và vui thú điền viên. Cuộc đời thật thanh bình, con cái hòa hợp, hòa đồng, trưởng thành với người bản xứ.

 Hôm nay là ngày kỷ niệm thứ  năm mươi  ngày họ gặp nhau.

Tay trong tay, hai bóng người lững thững dạo đường mòn ven núi, trong rạng đông sương gieo thánh thót trên chốn thiên nhiên âm thầm thanh tịnh.

Trên thảm cỏ xanh viền bờ suối vờn bọt sóng, họ ngồi cạnh nhánh cây nửa chìm nửa nổi trên dòng nước. Vuốt tóc nàng, chàng thầm thì trong gió rù rì qua rặng cây:

Cánh én yêu kiều, nhạn rừng hoang,

Hồn thơ lai láng, giấc mơ vàng,

Thương em qua dặm ngàn dâu bể,

Từ bình minh én dựng mùa xuân,

Đến độ thu đông, tuổi ân cần,

Tình sói miên man, dâu bể chẳng nề.

Sáng rạng đông hay cuối dương tà,

Tình ta tha thiết, tình mặn mà,

Thương em như lụa ngà trăng giăng,

Như bóng nguyệt lồng ngọn hải đăng,

Như đường tàu sóng hoa giăng trắng,

Trắng mơ màng người yêu dưới trăng.

Giờ đây sương khói mờ nhân ảnh,

Vẫn thương người em đẹp như tranh,

Bờ rừng ven suối lời ranh mành,

Trộm trái tim anh về chốn vườn thanh.

 

Huỳnh Anh Trần-Schroeder

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Huỳnh Anh Trần-Schroeder, HAI BỜ SUỐI, HAI MIỀN QUÊ, MỘT MỐI TÌNH
Comment

Viên Đạn Cuối Cùng (Bảo Định)

February 13, 2026 Ninh Tran

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trãi qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi dục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẵng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẩn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.

Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngũ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngã tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cải lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cọng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sữ. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giãi tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khoẽ. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.

Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vở. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.

Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL.Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:

- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hãi quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẳn sàng.

- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.

- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.

- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.

- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lữa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.

Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giãi phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:

- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặc khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăng bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra hỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!

Bảo Định - 30/4/2006.

Người lính trận không còn trận để đánh, khi vị Tổng Thống 48 giờ kiêm Tổng Tư Lệnh QLVNCH Dương Văn Minh kêu gọi quân sĩ đâu ở đó, ngưng nổ súng và chuẩn bị bàn giao cho phía bên kia. Thật là khôi hài cho hai chữ “bàn giao” và gọi bọn cộng sản Bắc Việt xâm lược là “phía bên kia” một cách nhẹ nhàng thân ái. Trong lúc chúng chỉ là những tên đồ tể khát máu, mất tính người, là công cụ của bọn Cộng sản Đệ Tam quốc tế, cần phải loại chúng ra khỏi đất nước này, loại chúng ra khỏi tâm tư của mọi người dân Việt. Chúng chỉ là loài sâu bọ biến thành người, hay như chúng tự nhận là con cháu của loài khỉ trên rừng “trãi qua quá trình lao động nên biến thành người”. Tại sao ông Minh có thể ngây thơ đến như vậy! Nếu trong con người của ông còn một chút gì là lính, người lính VNCH chân chính, thì ông đã không hành động như vậy. Hoặc ít ra nếu suy nghĩ nông cạn, bị bọn trí thức khoa bảng ăn hại bu quanh bàn ra tán vào lếu láo, bị tên Dương Văn Nhật, Thiếu tá tình báo cộng sản, em ruột móc nối, bị mấy ông thầy tu xách động xúi dục, sợ dân chúng đổ máu (chỉ là cái cớ để biện minh), thì sau lời tuyên bố dâng đất, dâng dân, dân thành cho Cộng sản, ông phải biết kê khẩu súng vào mang tang để bóp cò một phát cho tròn khí tiết của một người lính, nhất là khi ông đã là một vị Tướng 4 sao! Từng hai lần làm Quốc trưởng (nhưng chẵng nên cơm cháo gì). “Mất thành phải chết theo thành” như Võ Tánh ngày xưa tuẩn tiết tại thành Bình Định, hay Hoàng Diệu tại thành Hà Nội.

Người lính trẻ mệt mỏi, mặt mày bơ phờ vì đã nhiều ngày đêm không ngũ, đang lê đôi chân nặng nhọc từ cầu Sơn hướng về ngã tư Xa lộ Hàng Xanh. Anh định về Thị Nghè, nhà anh ở đó. Anh biết mẹ anh, chị Dung của anh đang chờ tin tức của anh. Anh biết Loan, người yêu của anh, đang trông chờ anh từng giờ, từng phút. Hay nàng đã theo gia đình di tản đang lênh đênh trên mặt nước. Nàng có dám hy sinh, dám cải lời cha mẹ không lên tàu, dám ở lại để chờ chàng, người lính trận của phe thua trận?

Thôi hết rồi khi đài phát thanh Saigon đọc lời tuyên bố của ông Dương Văn Minh, lệnh cho tất cả quân sĩ không được nổ súng, đâu ở đó, chờ phía bên kia vào bàn giao! Việt Nam Cộng Hòa không còn, QLVNCH không còn, đơn vị anh tan hàng, nhưng lần này không “cố gắng” như trước. Đây là lần tan hàng cuối cùng! Vị Tiểu đoàn trưởng của anh tập họp Tiểu đoàn và tuyên bố: “Việt Nam Cộng Hoà không còn, QLVNCH không còn, Tiểu đoàn của chúng ta cũng không còn. Tôi xin cảm ơn các bạn đã đồng cam cọng khổ, vào sinh ra tử, đã cùng nhau chiến đấu trong bao nhiêu năm. Chúng ta đã tạo được nhiều chiến thắng lẫy lừng ghi trong quân sữ. Nhưng ngày hôm nay, vận nước không còn. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối thi hành mệnh lệnh. Dù đó là mệnh lệnh gì. “Thi hành trước, khiếu nại sau”. Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng, tôi tuyên bố giãi tán đơn vị. Các bạn ai về nhà nấy để gặp lại gia đình, sống cuộc đời thường dân lương thiện. Chúc các bạn sức khoẽ. Chào VĨNH BIỆT! Vừa dứt lời, vị Tiểu đoàn trưởng khả kính đã kề khẩu colt 45 vào màng tang và bóp cò.

Buổi trưa ngày 29, tuyến phòng thủ Trảng Bom vở. Một Đại úy Đại đội trưởng chết ngay tại trận tiền. Một vị Tiểu đoàn trưởng bị cộng quân bắt sống. Đoàn quân xâm lăng Bắc Việt đã chiếm cứ Trảng Bom, tiền đồn xa nhất của Saigon lúc đó, chỉ cách Thủ đô yêu dấu miền Nam hơn 30 cây số. Từ đây, súng 122ly, 130ly có thể bắn tới.

Căn cứ Long Bình bị pháo kích nhiều nơi, nhiều kho đạn bị nổ. Phi trường Biên Hòa bị oanh kích bởi chính những chiếc F5E của QLVNCH do Không quân không kịp di tản, để lại tại Đà Nẳng, tại Phan Rang, do chính tên Trung úy phản bội Nguyễn Thành Trung theo giặc hướng dẫn. Dân chúng hoảng hốt, bồng bế nhau dồn về Saigon. Lẫn trong đoàn dân chạy loạn, có những người lính vừa thất trận tại phòng tuyến Trảng Bom. Đơn vị Tuấn phải củng cố tuyến phòng thủ để bảo vệ BTL/SĐ. Kể từ khi rời mặt trận Xuân Lộc, vì là đơn vị sau cùng làm lực lượng chặn hậu cho đại đơn vị rút ra an toàn, đã bị thiệt hại nặng, nên đã được chỉ định làm lực lượng phòng thủ BTL.Công việc tương đối an nhàn, ít nguy hiểm. Ngay trong không khí hổn quân hổn quan và loạn lạc đó, một chiếc xe honda từ Saigon trờ tới trước cửa BTL. Đó là chị Dung, chị ruột của Tuấn và Loan, cô bạn gái, người yêu của chàng.

Vừa gặp mặt Tuấn, chị Dung nói ngay:

- Họ đi hết rồi, cả Saigon đang đi. Anh rể em ở bên Không quân có lệnh đưa gia đình ra Phú Quốc. Bên Hãi quân cũng chuẩn bị cho gia đình xuống tàu ra biển. Còn chị làm trong DAO cũng đã làm danh sách cho cả gia đình mình đi. Mấy ngày chị và Má cứ trông em về để đi, tất cả đã sẳn sàng.

- Nhưng ông Tướng, các cấp chỉ huy và đồng đội của em vẫn còn ở lại, vẫn còn tiếp tục chiến đấu.

- Ông Thiếu Tướng Kỳ, cựu Thủ Tướng, cựu Phó Tổng Thống, chiều ngày 28 tháng 4 còn đến xứ Tân Sa Châu thuộc quận Tân Bình hô hào tử thủ, hô hào sẽ chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, nhưng mới sáng sớm ngày hôm nay, tức 29 tháng 4, ông đã dùng máy bay trực thăng riêng bay ra Hạm đội. Ông Tướng Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn III kiêm Quân khu 3 của em, buổi sáng ghé đây họp với các Tư lệnh Sư đoàn, chỉ thị các vị ấy phải tử thủ, phải chiến đấu, thì sau đó ông bay về Gò Vấp thu gom đồ đạc và bay thẳng ra Hạm đội 7 rồi. Chỉ có ông Tướng của em, các cấp chỉ huy của em điếc không sợ súng, không am hiểu tình thế mới ở lại để tiếp tục chiến đấu.

- Không được, em phải ở lại, em phải cùng đơn vị chiến đấu. Dù là trong tuyệt vọng. Em không thể đào ngũ trong lúc này. Em xin lỗi chị, xin lỗi Má.

- Loan, em hãy nói vài lời với Tuấn đi, em hãy thuyết phục Tuấn dùm chị. Em hãy nói em không thể sống xa Tuấn, sống thiếu Tuấn. Má, chị và cả nhà sẽ mang ơn em nhiều. Nhưng Tuấn vẫn kiên trì. Tình yêu gia đình, tình yêu trai gái, Tuấn đã coi nhẹ hơn tình yêu đơn vị, tình yêu đồng đội, ít ra là trong lúc này, trong hoàn cảnh dầu sôi lữa bỏng này. Nói thế có nghĩa là trong quá, cũng đã nhiều lần Tuấn dù về nhà thăm mẹ, thăm chị Dung, người chị mà chàng thương yêu nhất, và Loan, dĩ nhiên là Loan, mối tình từ thuở học trò của chàng. Không thuyết phục được người em, người tình cứng đầu, Dung và Loan thất vọng trở lại Saigon.

Tuấn đi như người mất hồn. Anh không có một chủ định nào cả. Chân bước đi, đôi chân chàng di động như cái máy. Chàng hướng về Thị Nghè, nơi đó có Má, có chị Dung, có Loan đang chờ chàng.

Một chiếc xe Lam chạy qua. Mui xe cắm lá cờ nửa xanh, nửa đỏ, chính giữa có ngôi sao vàng 5 cánh của bọn Côn đồ “Giãi phóng Miền Nam”. Trên xe đầy lũ nhóc cách mạng 30 tay đeo băng đỏ. Xe vừa chạy qua chổ Tuấn, chúng ngừng lại. Một tên có lẽ là chỉ huy, quát Tuấn:

- Thằng lính ngụy kia! Giờ này mà còn bận đồ lính và cầm súng. Hãy vất súng xuống, cởi mau đồ lính ra không ông cho phát AK bây giờ.

Tuấn như con người máy. Anh vất súng xuống bên vệ đường, ngồi xuống từ từ cởi đôi dày trận – đôi dày đã theo anh dẩm nát biết bao nhiêu là mật khu của VC – sau hết là bộ đồ trận. Giờ này đâu còn trận nữa, thôi thì cởi phắt cho xong – Tuấn vừa cởi vừa suy nghĩ. Rốt cuộc, trên người anh chỉ còn lại cái quần xà lỏn và áo thun ba lá. Thấy Tuấn đã cởi đồ xong, tên chỉ huy ra lệnh cho xe nổ máy tiếp tục chạy.

Người lính ngơ ngác một lúc. Anh bình tĩnh trở lại. Anh vội vàng mặc lại bộ quần áo trận, không kịp mang dày, anh nhặc khẩu súng lên, anh lên đạn và nhắm ngay vào chiếc xe Lam đang từ từ lăng bánh. Anh bóp cò. Nhưng lòng anh không chút hận thù oán trách. Trước mắt anh là lũ địch, bọn VC ác ôn. Anh phải bắn chúng, nếu không chúng sẽ bắn anh. Ai nhanh tay, người ấy sống. Một tràn đạn M16 tuôn ào ào ra hỏi nòng súng. Vài tên chết và bị thương, chiếc xe đảo qua đảo lại, lật nghiêng bên đường. Người lính từ từ kê nòng súng vào cằm như chống gậy. Anh dùng ngón cái tay phải xiết cò súng. “Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Việt Nam Cộng… Câu thứ ba mới phát âm đến chữ “Cộng” thì: Rầm! anh ngã xuống. Máu phun có vòi. Lúc đó là giữa trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975. Vĩnh biệt Tuấn, người con yêu của Tổ Quốc, người lính trận không còn trận để đánh. Người lính trận anh hùng bất khuất của đơn vị anh hùng không chịu hàng giặc. Thà chết vinh hơn sống nhục!

Bảo Định

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Viên Đạn Cuối Cùng, Bảo Định
Comment

Nửa Ổ Bánh Mì (Song Tử - Nguyễn Vân An)

February 13, 2026 Ninh Tran

Đây không phải là một bộ truyện ngôn tình sắc - sủng ướt át ngập cảnh nóng. 
Cũng không phải một bộ truyện teen tình yêu đầy ảo tưởng.
Không tình yêu, không tình dục… tôi chỉ muốn viết về một người mà đối với tôi, tình cảm ấy còn to lớn hơn gấp trăm ngàn lần tình yêu.

Ba mẹ tôi đến với nhau nhờ sự gắn ghép giữa bà nội của mẹ và mẹ của ba. Ý tôi muốn nói ở đây chính là ba mẹ tôi không hề yêu nhau trước khi làm đám cưới.
Mẹ của ba - tức bà nội tôi từng kể rằng ba trước khi kết hôn với mẹ đã có người yêu, nhưng bà nội không thích cô gái kia nên một mực ép ông cưới mẹ… Ba cũng không thể cải lời bà nên ngậm ngùi chia tay mối tình ấy mà cưới mẹ về.

Không bao lâu thì anh trai - người mà tôi muốn nói đến ra đời.

Năm đó hạn hán kéo dài, gia đình tôi đã nghèo lại càng nghèo hơn. Mẹ không còn sữa cho anh tôi uống nữa, khi đói thì khóc thét lên mẹ lại mang nước cháo cho anh tôi uống tạm qua cơn đói, ấy vậy mà anh tôi vẫn lớn lên, tuy hơi ốm một chút… nhưng thật khỏe mạnh.

Nhà tôi không có đất đai gì nhiều, được bà nội cho một ô ruộng để canh tác kiếm gạo sống qua ngày, ba tôi thường đi làm thuê làm mướn bên ngoài để kiếm tiền lo cho gia đình. Anh tôi được gửi sang nhà nội nếu đến ngày làm đồng án, cứ thế cuộc sống trôi qua.

Đến khi tôi được sinh ra, là lúc anh trai tôi lên bảy tuổi. Bà nội thường nói, tôi chính là may mắn của gia đình, vì năm tôi sinh ra cũng là năm mưa thuận gió hòa, lúa trúng đầy đồng. Ba tôi lại được ông chủ nhận làm quản lý của một kho lúa. Gia đình tôi nhờ vậy mà thoát khỏi cảnh đói nghèo, tuy vậy cũng chỉ đủ ăn qua ngày… nói là khá giả thì không đúng.

Năm tôi lên sáu tuổi, cũng đã đủ nhận thức mọi việc xung quanh mình. Tôi và anh trai là hai cực đối lập nhau, anh tôi thì sau khi đến trường đều ở nhà dọn dẹp nhà cửa nấu cơm giúp mẹ rồi học bài, còn tôi thì chỉ thích rong chơi ngoài đường cùng tụi thằng Tý, thằng Tèo. Ấy vậy mà mẹ tôi chẳng mắng tôi câu nào, ba thì mãi lo làm đến tối khuya mới về… người duy nhất thường la mắng và đánh đòn tôi chính là anh tôi.

“Viết bài chưa?” - Giọng nói đầy uy quyền của anh trai tôt thốt lên.

“Đi chơi về sẽ viết.” - Lúc ấy tôi không gọi anh tôi là anh, thường xưng là mày tao.

“Viết bài xong mới được đi chơi.”- Anh vừa ngồi trên bàn học vừa nói. “Bước ra khỏi nhà tao đập gãy chân.”

“Mày giám đánh tao, tao méc ba” - Tôi thách thức rồi cũng chạy ra khỏi nhà.

Tôi mang ba ra hù vì ba rất thương tôi, và có đôi phần lạnh lùng với anh - điều này thì sau này tôi mới nhận ra.

Tôi thường cùng thằng Tý và thằng Tèo chơi bắn bi ngoài sân phơi lúa của nhà thằng Tèo, nhà nó rộng lớn thuộc dạng giàu có trong làng, nó chỉ cho tôi và thằng Tý vào chơi vì có lần nó bị bọn xóm trên đánh trên đường, tôi và thằng Tý đã đánh bọn kia cứu nó, từ đó ba đứa trở thành bạn thân với nhau.

Thường thì tôi thích chơi bắn bi tam giác, còn hai đứa nó thích chơi bắn bi chia mức… Chỉ là tôi bắn bi rất giỏi, bắn bi tam giác một lần sẽ ăn được rất nhiều bi của tụi nó. Có lần xếp chín viên bi vào hình tam giác vẽ trên mặt đất, chỉ một mình tôi bắn đã ăn hết sạch chín viên khiến tụi nó tức lắm, nhưng không làm gì được.

“Chơi bắn bi chán rồi, tao có cái này hay hơn” - Thằng Tèo nói, sau đó nó vào trong nhà mang ra một cái cù tròn tròn được đẽo tỉ mĩ, nó dùng dây tung một cái cái cù liền xoay rất nhanh.

“Ai làm cho mày đó.” - Tôi hỏi.

“Ba tao mua trên thị xã” - Tèo đáp.

“Cho tao mượn coi.” - Thằng Tý thích thú.

Tôi nhìn thấy cũng thích, sau khi chơi chung cùng thằng Tèo con cù của nó tôi về nhà nằng nặc đòi ba tôi mua cho một cái. Nhưng ông tuy thương tôi nhưng thời đó việc mua những thứ này là phung phí, vậy là tôi bị đòn một trận rồi khóc lớn mà đi ngủ.

Hôm sau, khi tôi đi học về đến nhà thì nhìn thấy anh tôi đang cặm cụi làm gì phía sau nhà, tôi tò mò chạy xuống xem, thì ra anh tôi đang tự tay đẽo con cù cho tôi. Tôi cảm thấy vô cùng vui sướng, lúc đó tôi không còn ghét anh tôi nữa, nhưng cũng chỉ là lúc đó thôi.

Cù anh tôi làm quay còn nhanh và lâu hơn của thằng Tèo nữa, nó năn nỉ tôi đổi với nó nhưng tôi nhất quyết không chịu. Đến một lúc nó mang ra năm đồng tiền bảo rằng muốn mua lại con cù của tôi, số tiền năm đồng khi ấy với tôi như một gia tài, tôi đồng ý bán cho nó.

“Thằng Út đâu, mau ra đây.” - Tiếng la rất lớn trước cửa nhà tôi, còn Út chính là tên của tôi.

Mẹ tôi chạy ra trước, còn tôi thì đứng phía sau cửa, tôi nhận ra người đàn bà kia chính là mẹ thằng Tèo đang nắm tay nó qua nhà tôi, trên tay bà ta là con cù mà tôi bán cho thằng Tèo.

“Chị tìm thằng Út có chuyện gì vậy ạ?” - Mẹ tôi bất ngờ hỏi.

“Chị dạy con kiểu gì hả, mới còn nhỏ đã dụ con tôi trộm tiền nhà đề mua cái này của nó… Mau gọi nó ra trả lại năm đồng cho nhà tôi mau.” - Bà ta mắng chửi.

Mặt tôi tái mét, lần này xem ra sẽ bị ăn no đòn.

“Mày có lấy năm đồng của thằng Tèo không?” - Mẹ tôi hỏi.

Tôi từ trong túi móc ra năm đồng đưa về phía trước, giọng rung rung đầy lo sợ: “ Là nó đòi mua, con không có dụ nó ăn cắp tiền.”

Mẹ thằng Tèo sau khi chửi bới đủ thứ, lấy lại năm đồng kia rồi quăng lại con cù của tôi xuống đất bỏ về nhà. Mẹ tôi nhìn hàng xóm bu lại coi thì xem ra rất tức giận, bà lôi tôi vào trong đóng của lại, bắt tôi nằm úp lên giường.

“Lỗi không phải của thằng Út, mẹ không được đánh nó.” - Mẹ tôi đưa cây roi lên, giọng anh trai tôi vang lên.

“Mày còn binh nó, tao đánh cả mày luôn.” - Mẹ tôi vút một roi vào mông tôi, tạo thành một lằn đỏ ửng. Còn tôi thì khóc thét lên.

Đến roi thứ hai thì tôi không cảm thấy đau nữa, mẹ tôi thì tức giận vứt roi xuống đất mà nói: “Đúng là thứ mất dạy.”

Thì ra roi thứ hai kia anh trai tôi đã dùng tay đỡ giúp tôi, lúc đó tôi cũng thấy lạ, thường ngày anh đánh tôi rất ác… nay lại đỡ đòn giúp tôi như vậy.

Lần đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng mẹ tôi đánh tôi cho đến tận bây giờ, bà vẫn không hề ngó ngàng đến tôi, cũng không buồn nói chuyện với tôi quá ba câu.

Năm tôi lên lớp ba, anh trai tôi cũng vừa vào cấp ba nên nhà tôi càng chật vật hơn vì lo cho chúng tôi ăn học. Mặc dù trường cấp ba rất xa nhưng anh tôi hằng ngày vẫn đi bộ từ năm giờ sáng để kịp đến trường, còn tôi thì hằng ngày vì tiện đường đến nơi ba làm việc nên được ba chở đi bằng chiếc xe đạp duy nhất trong nhà.

Tôi vẫn bị anh tôi đánh vì tội ham chơi, lười học. Anh tôi thì học rất giỏi, năm nào cũng được lãnh thưởng và được giấy khen, cũng nhờ có anh tôi kèm cặp tôi hằng ngày mà tôi vẫn thế lên lớp đều đều, tuy nhiên tôi vẫn không gọi anh bằng anh như hiện tại.

Năm đó mẹ tôi không làm ruộng nữa mà theo người ta lên thị xã làm công nhân, vì còn có gia đình nên mẹ đi đi về về không ở lại như các cô chưa chồng. Sáng mẹ thường mua một ở bánh mì rồi cắt làm đôi để trên bàn, để anh em tôi ăn sáng trước khi đi học. Tôi thường dậy trễ hơn anh nên khi dậy tôi chỉ nhìn thấy nửa phần còn lại trên bàn.

Hôm ấy vào tờ mờ sáng, tiếng gà gáy vang dội cả một phương, tôi buồn tiểu nên bật dậy đi ra nhà vệ sinh. Khi quay về phòng đi ngang qua bàn cơm nhìn thấy anh trai tôi đang mở hai phần nửa ổ bánh mì ra xem.

“Mày làm gì đó.” - Tôi hỏi.

“Chưa sáng đâu, vào ngủ đi.” - Anh trai tôi lấy phần nửa ổ bên trái rồi nói.

Tôi lườm lườm anh rồi vào phòng mình ngủ mà ấm ức, tôi lại càng ghét anh trai tôi hơn.

Quả nhiên sáng hôm sau khi ăn nửa ổ bánh mì kia, tôi phát hiện bên trong nó ít thịt hơn bình thường.

Không biết ai nói gì, anh trai tôi bắt tôi gọi anh ấy là “anh” chứ không được hổn láo như trước nửa. Tôi nhất quyết không chịu, cuối cùng bị anh tôi đánh cho một trận tơi bời cho đến khi gọi anh ấy là “anh”. Tôi cứng đầu nhất quyết không chịu gọi, lúc đó anh tôi mới nói: “Mày không chịu gọi là anh, anh cũng sẽ mặc kệ mày giống mẹ.”

Năm đó lúa trúng, ba ở mãi trong kho làm việc, tôi không chịu được đành gọi anh ấy là “anh” cho đến tận hôm nay.

Vỏn vẹn hai năm trôi qua, anh tôi tốt nghiệp cấp ba thì tôi chuẩn bị vào cấp hai. Không nói ra nhưng tôi biết anh muốn thi lên đại học, ba tôi thì nói nhà không có điều kiện nên bảo anh ra kho làm cùng ba. Mẹ tôi và ba tôi cải nhau rất nhiều lần đó, tôi chỉ nhìn thấy mẹ khóc rất nhiều rồi khi nhìn thấy tôi thì ánh mắt rất dữ tợn. Lúc ấy, anh trai tôi đã lôi tôi ra ngoài đồng… tôi chỉ biết đi theo vì không dám ở nhà với mẹ lúc ấy.

“Anh sẽ không đi đâu, dù ba có cho.” - Anh không nhìn tôi, nhìn về phía ánh mặt trời đang lặn phía đằng tây.

Thật ra tôi không thích anh, nói đúng hơn là rất ghét anh nhưng nghĩ đến lúc anh đi học xa nhà tôi lại chột dạ như không muốn. Bởi, tôi sợ tôi không còn ai để ghét, không còn ai mắng chửi, không còn ai bắt tôi học bài.

“Nhưng mẹ muốn anh đi.” - Tôi đáp.

Anh xoa đầu tôi, mái tóc tôi thời ấy còn để hai mái rất ngố, nó xù lên như một thằng dở người.

“Anh đi rồi, ai giành ăn bánh mì với mày.” - Anh cười lớn.

Nhắc đến bánh mì, tôi quên kể cho các bạn nghe một chuyện, buổi sáng hôm ấy, tôi cũng buồn tiểu nên đi tiểu, lần này cũng thấy anh tôi đang làm gì đó trên hai phần bánh mì của tôi và anh. Tôi định bước ra nhưng nghe tiếng mẹ đành thụt lùi.

“Mày làm gì đó.” - Mẹ tôi lên tiếng.

“Không có gì, mẹ để quên đồ ạ? “ - Anh tôi hỏi.

Mẹ tôi bước lại lấy nửa ổ bánh mì trên tay anh, nhìn vào bên trong liền tức giận: “Tao có đối không tốt với nó đâu, tại sao mày phải nhường hết thịt cho nó.”

Anh tôi cười: “Thằng Út còn nhỏ, cần nhiều dinh dưỡng để học… con lớn rồi… chỉ cần no bụng.”

Tôi nhận ra… thì ra… anh tôi nhường cho tôi thịt bên trong ổ bánh mì từ đó tới giờ, lần đó vì bị tôi phát hiện mà không thể trút thịt qua nửa ổ của tôi được. Ngay từ lúc ấy, thật ra tôi đã bớt ghét anh đi nhiều. Và điều đó tôi cũng giấu trong tim cho đến ngày hôm nay. Từ sau ngày đó… tôi lấy lý do muốn được chọn lựa nên dậy rất sớm để lấy phần bánh của mình trước anh, thật ra tôi không muốn anh tôi chỉ ăn mỗi vỏ bánh như vậy.

Vậy là anh không thi lên đại học mà giúp ba ra kho phụ người ta vác lúa vào kho, còn tôi vẫn đến trường hằng ngày vô lo vô nghĩ. Mỗi tối anh tôi vẫn dạy tôi học bài, vẫn không cho tôi đi chơi… và vẫn đánh đòn nếu tôi bị điểm kém.

“Mùi gì lạ vậy?” - Tôi đang học thì nghe mùi rất lạ.

“Lo làm bài đi, đừng nhiều chuyện” - Anh tôi ngồi bên cạnh.

“Nhưng mùi rất khó chịu.” - Tôi nhăng lại.

“Anh đi ra ngoài một chút, khi vào chưa làm xong biết tay anh.”

Khi anh tôi đi ra ngoài, mùi kì lạ kia cũng biến mất… sau này tôi mới biết đó là mùi rượu thuốc trị nhức mỏi người, thì ra anh làm việc nặng nhọc nên bị đau lưng.

Tôi vào cấp ba, mọi người hối thúc anh cưới vợ… anh chỉ cười rồi lắc đầu: “Đợi thằng Út vào đại học, anh cưới vợ rồi ai canh nó học bài.”

Nhờ có anh nên tôi ngày càng học tiến bộ hơn, tôi liên tiếp được học sinh giỏi rồi thi huyện thi tỉnh được giải thưởng rất cao. Ba tôi tự hào lắm hay mang ra khoe với hàng xóm, anh chỉ cười cười khi nhìn thấy thành tích của tôi… còn mẹ tôi, tuyệt nhiên không quan tâm đến.

Tôi nhận ra cái mùi hôi trên người anh ngày càng nồng hơn, cảm thấy lưng anh tôi ngày càng cong hơn… nhưng tôi lại phớt lờ vì nghĩ anh bị đau lưng thông thường.

Ba mẹ tôi thường xuyên cải nhau hơn, tôi cũng không biết nguyên do chỉ vì mỗi khi họ cải nhau anh lại kéo tôi đi ra ngoài ruộng. Nhiều khi anh không nói gì, gương mặt chỉ hiện một nét buồn khắc khổ.

“Mày có người yêu chưa Út.” - Anh tôi hỏi.

“Người yêu gì, em còn nhỏ mà.” - Tôi đáp.

“Bằng tuổi mày, là tao có người yêu rồi đó.” - Anh tôi nằm lên đống rơm vàng ngoài ruộng, đôi môi hơi cười.

“Vậy sao anh không chịu cưới chị ấy đi.” - Tôi cũng nằm bên cạnh anh.

“Cuộc đời này đâu phải muốn là được, mày gáng học biết không… mày mà không đậu đại học thì tao đập gãy chân mày.”

Năm tôi học mười hai, cũng gần đến ngày đăng kí thi đại học… tôi phân vân không biết thi trường nào thì anh tôi lại nói: “Mày thích làm cái gì thì thi cái đó, đừng nghe lời người khác mà phân tâm… Gáng thi đậu, rớt là về làm ruộng thấy cha mày luôn biết chưa.”

Tôi được ba cho tiền đi luyện thi, vì chương trình luyện thi đại học vượt quá hiểu biết của anh. Anh trai tôi - chỉ là một thằng vác gạo ngoài kho… nhưng với tôi anh còn hơn cả một người thầy, hơn cả một người cha người mẹ… bởi vì tôi ghét anh lắm, ghét đến mức không muốn khiến anh thất vọng.

Tôi đậu đại học, ba tôi rất tự hào mang tôi khoe với cả làng. Anh tôi chỉ đứng nhìn giấy gọi nhập học mà mỉm cười hài lòng. Tôi thu xếp quần áo, chuẩn bị lên thành phố lớn để bước vào trường đại học.

“Cầm lấy mà lên đó cần gì thì mua, tiền ba làm ra lúc nào cũng đưa cho mẹ… Mẹ lại tiết kiệm nên có lẽ sẽ khó khăn cho mày.” - Anh tôi đưa cho tôi một số tiền.

“Cảm ơn anh.” - Tôi không biết nói gì ngoài hai từ ‘cảm ơn” bởi vì không có anh tôi sẽ không có ngày hôm nay.

Anh tôi không đáp… đi ra ngoài cho tôi tiếp tục thu dọn.

“Sao mày có thể cầm tiền anh mày để dành cưới vợ mà không suy nghĩ, mày đúng là ích kỉ như thằng cha của mày.” - Mẹ tôi bước vào phòng nói, gương mặt cau có.

Tôi không đáp… nhìn số tiền trên tay… bỗng dưng rơi nước mắt. Nước mắt của một thằng con trai, lần đầu tiên rơi không phải vì mẹ tôi mắng… mà chính là vì tôi cảm thấy tôi rất thương anh trai tôi, anh ấy đã vì tôi mà hy sinh quá nhiều.

Trước khi đi, tôi mang số tiền kia nhét vào dưới gối ngủ của anh. Anh không ra tiễn tôi, chỉ có ba tôi chở tôi ra bến xe rồi đưa tôi đến trường. Lần đầu tiên tôi xa nhà, người tôi nhớ chỉ có anh trai tôi.

Ở trong kí túc xá trong trường, tôi nghe thầy quản sinh gọi tên mình ra cổng có người tìm… tôi cứ ngỡ ba tôi đến tìm nhưng thật bất ngờ người đến tìm tôi lại là anh trai tôi. Dáng người cao cao gầy gầy, cái lưng cong cong theo năm tháng… từ phía xa tôi nhìn anh trai tôi… tự khi nào tôi đã ích kỉ như lời mẹ tôi nói, tôi đã không nhìn thấy nét già đi hơn cái độ tuổi của anh.

“Sao mày không mang theo tiền, để tao phải mang đến cho mày.” - Anh tôi đưa số tiền về phía tôi.

“Tiền anh lấy vợ, em không lấy đâu.” - Tôi từ chối.

“Tao không lấy vợ, mày cầm lấy mua gì thì mua.” - Anh tôi nhét vào túi tôi.

“Sao lại không lấy vợ, anh giữ đi… em ở đây rất tốt.” - Tôi nhất định không lấy.

Tôi ra trường, trở thành một kỹ sư và làm việc ở thành phố lớn… còn anh trai tôi hằng ngày vẫn vác những bao gạo nặng trĩu đôi đôi vai đầy mùi rượu thuốc. Ba tôi vẫn xem tôi như niềm tự hào của ông, anh trai tôi vẫn im lặng để nhìn tôi bước trên con đường thành công.

Vào một ngày nọ, mẹ tôi đến tìm tôi trong căn phòng trọ mà tôi thuê ở, tôi hơi bất ngờ vì suốt bao năm qua mẹ tôi chưa hề đến thăm tôi dù chỉ một lần.

“Mẹ, mẹ vào nhà đi ạ.” - Tôi ái ngại.

“Tôi không có nhiều thời gian nói chuyện với cậu, chỉ muốn cầu xin cậu một việc.” - Mẹ tôi nói, trên khóe mắt bà đã nhăng đi theo thời gian.

“Mẹ nói chuyện gì kì lạ, vì sao lại là cầu xin.” - Tôi hỏi.

“Anh trai cậu bị thận nhưng nhất quyết không chịu đi bệnh viện, giờ nó nằm liệt ở nhà ai nói gì cũng không đi… Nó thương cậu từ nhỏ, cậu hãy nói giúp tôi.” - Mẹ tôi nói, giọng nói rung rung đầy xa lạ.

Tôi ngay lập tức đón chuyến xe sớm nhất về quê, con đường về quê tôi khá xa… tôi lại nóng lòng muốn gặp anh, đã bao lâu vì có quá nhiều việc mà tôi không về thăm anh, tôi dần quen với cuộc sống thành thị mà quên đi sự chăm sóc từ anh. Tôi đã lớn, tự nhận thấy bản thân phải báo đáp anh.

“Mày về làm gì, tao không sao hết.” - Anh trai tôi nói.

“Nghe lời em, đi bệnh viện đi anh.” - Gương mặt anh xanh xao, gầy ốm.

“Từ khi nào mày có quyền đó hả, mày dù có lớn thì mãi mãi cũng là thằng Út em trai tao, hiểu không, dù có chuyện gì xảy ra mày vẫn mãi là em trai tao.”

Tôi không nghe lời anh, tôi nhất quyết không nghe lời anh tôi nữa… anh có đánh gãy chân tôi tôi cũng không muốn nghe lời anh nữa. Tôi và mẹ đưa anh đến bệnh viện, bác sĩ nói anh đã bị suy thận giai đoạn cuối do làm việc lao lực, tuy nhiên đã ủ bệnh quá lâu không điều trị kịp thời… nếu không tiến hành ghép thận sẽ không thể qua khỏi.

Gia đình tôi vẫn nghèo… dù lúc ấy tôi đã có việc làm nhưng chỉ là một sinh viên vừa ra trường, và điều duy nhất tôi có thể cho anh chính là quả thận của tôi.

Tôi không cho anh biết chuyện tôi sẽ cho anh một bên thân của tôi, anh ngồi trên xe lăn để tôi đẩy anh ra ngoài công viên hít thở không khí trong lành. Tôi ngồi bên cạnh anh, không nói gì… tôi biết vì tôi mà anh trai tôi rất đau đớn.

“Út, tao sắp chết rồi phải không?” - Anh tôi hỏi.

Tôi lắc đầu: “Không, anh sẽ không sao?”

“Mày biết vì sao mẹ không thương mày không, tao nghĩ mày đủ thông minh để nhận ra điều đó.” - Anh trai tôi nói.

Tôi lắc đầu: “Em không biết nhưng đối với em… mẹ vẫn mãi là mẹ.”

“Vì bả không phải người sinh ra mày, năm đó ba phát hiện tao không phải con ổng… nên ổng đi tìm cô người yêu trước khi cưới bả. Cuối cùng thì mang mày về… kiểu như trả thù. Và tao với mày lớn lên trong cái gia đình như vậy, cho nên từ nhỏ tao đã bắt mày học… mày phải học thật giỏi thì người khác mới không có cơ hội chê cười mày.”

Tôi có chút bất ngờ, nhưng trên hết là đã giải tỏa được thắc mắc rằng vì sao mẹ luôn lạnh nhạt với tôi.

“Tao với mày không có ruột rà máu mủ gì cả, vậy nên mày không cần ở đây chăm sóc tao.” - Anh tôi lắc đầu: “Tao chết cũng không được phép khóc hiểu chưa.”

Trên đường đến bệnh viện để chuẩn bị thủ tục hiến thận, một y tá đến nói với tôi rằng anh tôi đã trút hơi thở cuối cùng… Lý do chính là anh tự sát. Tôi không hiểu vì sao anh lại làm vậy, nhưng mẹ tôi nói rằng vì anh biết tôi muốn hiến thận cho anh, anh chỉ muốn tôi là một người toàn vẹn, thành công và không bị người đời chê cười.

Tôi lại cãi lời anh, tôi khóc rất nhiều…

Nhưng tôi tin… anh sẽ không đánh gãy chân tôi… vì anh chỉ hù dọa tôi thôi…. anh thương tôi hết luôn cả thương bản thân anh.

Còn tôi… tôi nhận ra… dù tôi và anh không hề có huyết thống… anh vẫn mãi là người tôi tôn trọng và yêu thương nhất. Tình cảm đó… chưa bao giờ tắt... 

 

Song Tử (Nguyễn Vân An)

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Song Tử (Nguyễn Vân An), Nửa Ổ Bánh Mì
Comment

KHÚC HÁT TRONG KHÔNG (Phạm Anh Dũng)

February 5, 2026 Ninh Tran

KHÚC HÁT TRONG KHÔNG

Sắc sắc không không chiều gió lặng 

Vô thường lay bóng chiếc thuyền trăng 

Tham sân si ngủ trong sương mỏng 

Ý khẩu thân về tựa ánh trăng 

 

Vô minh phủ lối mờ nhân ảnh 

Chuông chùa ngân nhẹ động trời xanh 

Hơi thở vào ra như sóng vỗ 

Từ bi thắp lửa ấm mong manh 

 

Buông xuống một niệm thôi 

Nghe lòng nhẹ như mây trôi giữa trời 

Vô thường đi qua rất khẽ 

Mà sen vẫn nở trong đời… lặng thinh 

 

Hỷ xả mở lòng như mây trắng 

Nhân duyên hợp tan tựa khói sương 

Bến giác đâu xa ngoài tự tánh 

Hoa sen còn nở giữa vô thường

--

In Thơ, Quán Chiếu Tags KHÚC HÁT TRONG KHÔNG, Phạm Anh Dũng
Comment

Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi (Lê Diễm Chi Huệ)

January 28, 2026 Ninh Tran

Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi

Khói hương nghi ngút tỏa

Người về trong sương đêm

Cõi trần gian lây lất

Bỗng rơi một vệt sầu!

Từ nhỏ tôi là một đứa trẻ khác với chúng bạn: ốm yếu nhút nhát và thường chơi một mình. Tuổi ấu thơ của tôi gắn liền với khung cảnh núi rừng thâm u. Tôi không nhớ đã yêu trăng tự lúc nào, chỉ nhớ là rất mê ngắm trăng, một cái thú mà lắm lúc làm cho mẹ tôi phải phàn nàn. Mẹ năm lần bảy lượt gọi tôi vô ăn cơm tối, nhưng tôi cứ lưỡng lự vì mải say sưa vân du cùng bóng nguyệt. Giữa núi rừng hoang vu tĩnh mịch, tôi bầu bạn cùng trăng và ánh trăng là niềm an ủi vô tận. Ánh sáng mờ đục rọi xuống sân nhà đã cùng tôi dệt bao mộng mơ. Khung cảnh tứ bề hoang vu. Cả ngày tôi chơi với bóng trăng và lẩn thẩn một mình. Trong khi những đứa trẻ ngang lứa với tôi vui đùa vô tư lự, thì tôi lại thích ngồi một mình trầm ngâm suy nghĩ vẩn vơ hoặc để hồn chu du buồn theo gió sầu theo mây. Tôi hay tưởng tượng những áng mây tích tụ và tan là những hình hài luôn biến đổi. Tâm hồn tôi mẫn cảm, mau khóc mau buồn, và có lẽ đó cũng là lý do tôi trở thành một người nội tâm về sau.

Tôi không biết là những đặc tính của mình khiến cho tôi lọt vào mắt xanh của các vị ở cõi giới vô hình hay tôi có căn duyên với họ, nhưng từ nhỏ tôi có một vài trải nghiệm tâm linh mà tôi thường nghe gia đình kể lại. Tôi không để tâm vào những điều tâm linh xảy ra với tôi cho lắm vì tôi còn quá nhỏ chưa hiểu biết gì nhiều . Qua Mỹ tôi lo vùi đầu vào việc học hành để tiến thân không có thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác, cho đến khi mãi sau này. Dù đã trưởng thành, tôi luôn mang một cảm giác lạc lõng giữa chốn đông người. Có lẽ từ nhỏ tôi quen bầu bạn với chính mình, với tiếng nói tữ bên trong nên nội tâm của tôi là người bạn đồng hành trong sự tĩnh lặng vô biên. Rồi cuộc đời đưa đẩy tôi đứng trước những biến cố đầy rẫy thị phi, những con người mà tôi không gây thù oán nhưng lời nói và hành động đầy ác tâm của họ đã đẩy tôi đến bờ tuyệt vọng. Giữa khổ đau tột cùng, tôi cảm nhận dường như có một lực vô hình chạm vào người mình và vực tôi dậy. Tôi bỗng trở nên mạnh mẻ, sắc bén không như yếu đuối, dễ vỡ trước kia. Những điều cần nói cần viết như có ai rót vào tư tưởng khiến tôi trở nên nhạy bén mà bản thân tôi cũng cảm thấy ngạc nhiên. Đó là lần đầu tiên tôi va chạm những rong rêu bọt bèo trần gian.

Biến cố kéo theo những rối rắm khác khiến tôi cảm giác mình như bị cuốn trôi trong cơn lũ. Bỗng anh xuất hiện, người xưa của tôi đã chết cách đây hai mươi năm, khiến tôi như trời trồng. Anh được giao sứ mệnh bảo hộ tôi. Vốn là người nhạy cảm nhưng cứng đầu, tôi hấp thụ nền giáo dục bên Mỹ nên đầu óc tôi nặng khoa học: phải mắt thấy tai nghe tôi mới tin. Sự xuất hiện của anh, người mang sứ mệnh bảo hộ đã dập cái bản ngã của tôi bao trận và nghiền nát tất cả sự hiểu biết ít ỏi của tôi về cõi giới vô hình, một cõi giới song song với cõi người trần. Và sự tỉnh thức tâm linh dường như tự kích hoạt trong tôi kể từ đó. Tôi cảm niệm sâu xa về sự cứu rỗi vô hình đúng lúc từ các vị trong cõi giới bên kia nên phát nguyện trường chay, và không ngờ đó cũng là bước ngoặc lớn trong cuộc đời tôi.

Mười năm không phải là chuồi thời gian quá dài cũng không phải là quá ngắn nhưng với một người thích chiêm nghiệm như tôi thì có quá nhiều điều để chia sẻ. Ở cái cõi nhân gian mấy ai hiểu, tôi không quan tâm ai nghĩ tôi thế nào, khen hay chê ra sao, tôi làm những điều từ cái biết, cái thấy từ bên trong. Tôi vẫn là một con người bình thường với những hỉ nộ ái ố như bao người khác, tuy nhiên điều khác hơn là những cảm xúc đó luôn đi kèm theo sự quán chiếu. Quan trọng nhất, những cái “tự nhiên biết”, và “tự nhiên thấy” đến với tôi những lúc tôi cần là điều bản thân tôi không thể giải thích được. Bài học lớn nhất mà tôi luôn ghi nhớ là chớ phán xét người . Anh thường nhắc nhở ” em không được phán xét người nghe em. Họ như vậy là do nghiệp quả.”. Lòng trắc ẩn và nhìn căn cơ của người là điều tôi suy xét để có cái nhìn cảm thông hơn về lời nói hay hành động của người khác. Khi lòng trắc ẩn có mặt thì tâm sân hận khó có cơ hội hoành hành.

Những người lấy bên ngoài làm nền tảng hạnh phúc dễ khiến tâm bị mù mờ bởi họ trở thành nô lệ cho bản ngã. Một cái tâm mù mờ sẽ khiến họ khó phân biệt đúng sai, thiện ác, điều này ảnh hưởng đến lời nói và hành động và cuối cùng tự chuốc lấy khổ đau từ sự bất an bên trong. Muốn có trí tuệ tâm linh, chúng ta phải rèn luyện và dọn rác thân tâm mỗi ngày. Thử thách lớn nhất là chúng ta sống trong một xã hội được định hướng sẳn nên khó vượt lên trên để tìm sự chân thật, sự trong suốt đến từ bên trong. Muốn có sự chân thật, trong suốt đó chúng ta bắt buộc phải làm cuộc giải phẩu nội tâm, và bớt quan tâm thói thường thế gian. Carl Jung, nhà tâm lý học nổi tiếng từng nói: “Who Who looks outside, dreams; who looks inside, awakes”. Những người vọng ngoại là người mơ, những kẻ đi vào bên trong là những người tỉnh. Tất cả những điều mà chúng ta hơn thua để có được từ hư danh đến chiếc mặt mạ hoàn hảo cũng chỉ là “giai thị hư vọng”, thấy vậy chứ không phải vậy bởi nó cũng chỉ là những huyễn hóa mà chúng ta ôm chặt bất chấp khổ đau.

Mười năm anh đã cho tôi biết bao kiến thức tâm linh, quán chiếu bản thân, quán chiếu về cõi sống cõi chết để tôi tiếp tục là một lữ khách tỉnh thức giữa trần gian. Anh dìu dắt tôi qua bao biến cố. Anh là bậc thầy tâm linh đầu tiên của tôi. Bên cạnh anh, những lời phỉ báng, mạ lỵ, thị phi, đố kỵ từ những người tôi biết, những người tôi không biết, những người tôi chưa biết là bậc thầy tâm linh thứ hai. Họ cho tôi cơ hội rèn luyện tâm bởi họ hy sinh nhân phẩm, chuốc nghiệp để tôi thực hành hạnh nhẫn nhục, nâng cao trí tuệ tâm linh của mình. Bậc thầy tâm linh thứ ba là người thương của tôi, là Bồ Tát giữa trần gian, che chở cho tôi trước những lầy lụa của người đời. Anh cho tôi thấy ví dụ sống của một cái tâm thiện giữa bể dâu với trùng trùng thử thách và cũng cho tôi không gian để tôi có thể trầm mình trong thế giới riêng, với sự thương yêu và thấu cảm, bởi hơn ai hết anh hiểu căn duyên của tôi trong kiếp này. Và cuối cùng Đức Phật là bậc thầy tâm linh lớn nhất của tôi bởi sau trải nghiệm tâm linh, tôi hay đối chiếu và chiêm nghiệm những giáo lý của Đức Phật với những điều tôi học hỏi từ người bảo hộ vô hình để được thông suốt hơn.

Giữa muôn trùng duyên nghiệp đan xen, chúng ta đã hụp lặn từ bao nhiêu kiếp và mang theo bao chủng tử để mãi trôi lăn trong vòng luân hồi. Những bậc thầy tâm linh của chúng ta là những người góp phần vào việc xây dựng cho chúng ta một ngôi nhà tâm linh nơi mà trí tuệ vượt ra ngoài cái hữu hạn, và cho chúng ta an trú trong tỉnh thức giữa dòng cuồng loạn thế gian. 

01.26.2026

Lê Diễm Chi Huệ

In Quán Chiếu, Văn Hóa Tags Những Bậc Thầy Tâm Linh Của Tôi, Lê Diễm Chi Huệ
Comment

NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE"

January 20, 2026 Ninh Tran

NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE”

hay CHUYỆN TIẾP THEO Ở MỸ 50 NĂM SAU “NGƯỜI Ở LẠI CHARLIE” (1972-2022)

Ngày 5 tháng 7, 2022 tại toà Bạch Ốc, Tổng thống Joe Biden đã trao tặng Huân chương Danh Dự (Medal of Honor)-Huân chương cao nhất của Quân đội cho 4 chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu ở VN trước 1975, trong đó có cựu Thiếu tá John J. Duffy, từng là Cố vấn Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù (TĐ11ND) Quân đội VNCH vào thời điểm “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972.

Lần trao tặng huân chương hôm đó, có sự hiện diện của cựu Trung tá Lê Văn Mễ, nguyên Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND, đơn vị đã tử chiến với một lực lượng quân đội Bắc Việt đông hơn gấp bội trong trận chiến Mùa Hè 1972 tại cao điểm Charlie, thuộc tỉnh Kontum, Quân đoàn II, Quân khu 2. Cựu Thiếu tá Duffy là cố vấn của TĐ11ND và là một trong những nhân vật chính của trận chiến đi vào quân sử ở đồi Charlie, mà Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã sáng tác bản nhạc “Người Ở Lại Charlie” nổi tiếng cho đến tận bây giờ. Bản nhạc ngợi ca Cố Đại tá Nguyễn Đình Bảo, nguyên là Trung tá Tiểu đoàn trưởng TĐ11ND (được mệnh danh là Song Kiếm Trấn Ải). Ngày 12 tháng 4 năm 1972, Trung tá Nguyễn Đình Bảo đã nằm yên trên đỉnh đồi Charlie. Ông ra đi ở tuổi 35 và được truy thăng Đại tá sau khi hy sinh.

Sau khi Trung tá Bảo tử trận, Tiểu đoàn phó TĐ11ND là Thiếu tá Lê Văn Mễ nắm quyền chỉ huy tiểu đoàn, nhận lãnh trách nhiệm chỉ huy đơn vị trong hoàn cảnh hết sức khó khăn.

Ngày tiếp theo, địch quân pháo kích và tấn công dồn dập. TĐ11ND bị thiệt hại nặng nề, lại lâm vào tình cảnh thiếu thốn mọi thứ do tiếp liệu khó khăn: lương thực, thuốc men, kể cả đạn dược cạn dần. Hãy nghe Bác sĩ Tô Phạm Liệu nói với Thiếu tá Mễ: "Hôm nay là ngày 13, con số không lành, thế nào chúng cũng pháo và tấn công mình nữa. Tôi lo cho thương binh quá. Nếu không có thuốc và di tản kịp thì chắc sẽ không qua khỏi… Tôi hết thuốc men rồi…” (Trích “Máu Lửa Charlie” của Đoàn Phương Hải). Cuối cùng, Thiếu tá Mễ, Thiếu tá Duffy và Đại uý Hải quyết định rút khỏi Charlie vào chiều hôm đó. Cố vấn Duffy đã xin được mấy phi vụ B-52 thả xuống ngăn chặn địch quân để cho tiểu đoàn di tản.

Trong những giây phút cuối cùng, những thành viên còn lại của TĐ11ND hầu hết đều đã kiệt lực vì đa số là thương binh, kể cả Thiếu tá Mễ và Thiếu tá Duffy. Mấy chục người còn sống sót được chia thành nhiều toán, và chuyến trực thăng di tản chở những người cuối cùng lại xảy ra một tình cảnh “thập tử nhất sinh" với Đại uý Hải, Trưởng ban 3/TĐ11ND, là người sau cùng leo lên trực thăng. Hãy nghe nhà văn Phan Nhật Nam mô tả tình huống đó trong bài viết “Mặt sau tấm huy chương cấp muộn, gắn trễ!” đăng trên saigonweeklyonline.com mà tôi xin trích đăng: “… Hải lên sau cùng. Máy bay vừa lên cao vài thước thì một loạt AK bắn lên tàu, Hải trúng đạn ở chân phải, rớt từ trực thăng xuống đất, chỉ kịp nhìn đuôi trực thăng vút lên. Thảng thốt Hải ước tính từ đây về Tân Cảnh chỉ còn 5 cây số, nhưng là năm cây sốđồi cao vực thẳm, năm cây số đường rừng và lại đang bị thương ở chân thì làm sao có thể đi được?! Anh sẽ gục chết ở một xó rừng, khe suối và bầy kiến sẽ kéo nhau rúc vào thân thể, thịt xương, sẽ rữa nát hình hài! Tiếng trực thăng trên đầu làm Hải vụt đứng lên bằng bàn chân trái. Anh đưa cao tay vẫy, miệng hét lớn. Trực thăng xà xuống bãi cỏ. Duffy giang tay nắm chặt giây đạn và một tay của Hải kéo mạnh. Máy bay vút lên với một loạt đạn bắn trúng thân tàu. Chiếc trực thăng nghiêng một bên xong bay thẳng. Máu phun có vòi từ anh xạ thủ đại liên người Mỹ làm ướt mặt Hải và Duffy. Duffy chồm tới bịt chặt vết thương trên ngực người xạ thủ đại liên. Mễ kéo Hải vào nằm lên sàn tàu. Hải không thể tin mình còn sống do tình chiến hữu cao cả của hai người lính ở hai đất nước khác nhau. Duffy ôm lấy Hải. Nghẹn ngào trong mắt. Vì vết thương quá nặng, anh xạ thủ đại liên Mỹ qua đời, phi công phụ gục đầu bên cửa máy bay với vết thương ở tay…”

Xin kết thúc bài viết này bằng những lời tâm sự của Mủ Đỏ Đoàn Phương Hải trong “Ký Sự Chiến Trường: Máu Lửa Charlie” viết vào năm 1998 để“Tưởng nhớ Anh Năm Nguyễn Ðình Bảo, Khóa 14 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 11 Nhẩy Dù/QLVNCH”:

“…Anh đã ra đi hơn một phần tư thế kỷ, 26 năm biết bao vật đổi sao rời. Ðểtôi làm lại nhiệm vụ ngày xưa kể lại anh nghe...

"Mễ, Liệu và tôi, những người gần gũi Anh nhất trong trận chiến Charlie đã không còn ở quê nhà và chúng tôi đã nhấp nhô theo vận nước nổi trôi. Ðàn em của Anh đã bỏ quê hương đi về "quê hương mới?!" Mặc dù Anh đã đi thật lâu, con trai của Anh đã là một y sỹ, chiến hữu của Anh kẻ ở người đi, nhưng những người còn lại vẫn nhớ Anh, họ vẫn nhắc đến tên Anh qua bài hát mà Nhật Trường viết tặng riêng Anh, viết cho "Người Ở Lại Charlie."

"Mấy chục năm sau, vượt đại dương muôn trùng sông nước, theo gió bay ngang dọc địa cầu, dù ở nơi đâu, chân trời góc biển, nơi đâu có người Việt thì nơi đó họ hát bài ca bất hủ để nhớ Anh. Ngay cả ở quê nhà, kẻ thù của Anh cũng vẫn nghe dân chúng hát bài ca để nhắc đến tên Anh…”

Mời các bạn xem video về buổi lễ gắn Huân chương Danh Dự tại toà Bạch Ốc và phóng sự về tình bạn cao quý giữa 2 sĩ quan Việt-Mỹ của đài ABC (tôi đã chuyển ngữ từ Anh qua Việt ngữ) theo đường link: https://www.youtub

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Thời Sự, Văn Hóa Tags NHỮNG NGƯỜI “KHÔNG Ở LẠI CHARLIE"
Comment

Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường (Trịnh Bình An)

January 1, 2026 Ninh Tran

Nguyễn Mạnh Tường là một người có những khả năng kỳ lạ, một trong những khả năng ấy là ông có thể tự tách mình ra khỏi chính mình để quay lại nhìn mình. Trong ông là 2 con người: một người bình thường biết sợ, biết đau, biết đói, nhưng người kia lại rất bình thản, ung dung để có thể ngắm nghía và ghi nhận mọi sự kiện, ngay cả nỗi đau đớn của chính mình……

Nguyễn Mạnh Tường là một người nổi tiếng trong giới luật sư nói riêng, giới trí thức Việt Nam nói chung; nhưng vẫn có rất nhiều người không biết đến ông, trong đó có tôi. Và tôi đang có trong tay quyển sách “Kẻ bị khai trừ”(i) của Nguyễn Mạnh Tường do Tủ Sách Tiếng Quê Hương mới xuất bản, vậy mà tôi thấy mình rất ngần ngừ, rất ì ạch, không muốn giở ra đọc. Tôi không muốn mình phải đau lòng và bực tức thêm vì thấy một người học vị đầy mình lại đi theo cộng sản để rồi bị chính cộng sản đầy đọa.

Read more
In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Đọc “Kẻ bị khai trừ” của Nguyễn Mạnh Tường, Trịnh Bình An
Comment

Trại ‘Cải Tạo Ái Tử’ và Mùa Xuân Người Tù (Phạm Văn Tiền)

December 15, 2025 Ninh Tran

Chúng ta đang bước vào những ngày tháng cuối cùng của một năm cũ. Mọi người đang chuẩn bị đón Xuân sang, thêm một mùa Xuân tha hương mà đường về còn xa tít. Ðón Xuân nầy ta lại nhớ Xuân xưa. Mùa Xuân thường là mùa hy vọng, của tuổi trẻ vươn lên và mầm sống đâm chồi. Nhưng không phải chúa Xuân bao giờ cũng bình đẳng với mọi người.

Có mùa Xuân sum họp đầy tiếng cười hạnh phúc bên bếp lửa bập bùng của tuổi thơ đầy kỷ niệm. Nhưng cũng có mùa Xuân khóc hận khổ đau nghẹn ngào bao nước mắt của Mậu Thân 1968, với những cái chết đầy rẫy tình cờ của Ất Mão 1975 mất nước, lưu lạc tù đày. Bao ngày tháng cùng cực khổ đau cho người ở lại quê hương “thiên đường” CS. Riêng Tần vẫn nhớ mãi những ngày tháng bị cùm trong xà lim phân trại 3, vào những ngày Tết Xuân Ðinh Tỵ năm 1977.

Thượng đế hỡi trên trời cao có thấu!

Thân đọa đày của một kiếp tù binh

Chịu khổ đau cùng bao nỗi cực hình

Trong “cũi sắt” của những loài dã thú

Mang con đến một nơi nào ẩn trú

Có mây hồng và nắng ấm rọi ban mai

Có đàn chim tung cánh hót bay dài

Nhưng không được quanh con đường bít lối

Con đang sống trong căn hầm tăm tối

Bao đêm nằm trăn trối nghĩ không ra

Suốt đời con bỗng chốc đã tiêu ma

Giờ còn lại thân tàn trong ngục lạnh

Các câu thơ nầy đã được cảm tác trong những giờ phút đau khổ tuyệt vọng nhất. Tần và một số bạn tù khác đã bị bắt còng tay dẫn đi vào một đêm mưa gió lạnh, cùng với nhiều trận đòn đau. Lòng hoang mang chẳng biết số phận mình sẽ ra sao khi bị lùa lên những chuyến xe đêm bão táp.

Một buổi chiều cuối năm, mọi người đang cố gắng vun thêm những luống khoai lang còn lại cuối cùng để chuẩn bị ăn Tết. Không như thường lệ, các hồi kẻng báo động liên hồi giục giã được người tù gióng lên toàn phân trại. Bao giờ cũng vậy, theo thói quen đây là điềm chẳng lành cho cuộc đời tù tội. Vài tên vệ binh dẫn tù vội vã la hét gom dụng cụ nhanh gọn tập họp trở về. Trại là những dãy nhà tranh vách đất cũ kỹ, do công sức người tù làm ra, trải dài trên ngọn đồi nhỏ, bao bọc bởi dòng suối quanh co, nằm gọn giữa nhiều tầng thép gai dầy đặc.

Tần cẩn thận kín đáo xem lại chiếc nhẫn vàng 24 kara, 2 chỉ mà chính vợ Tần đã cẩn thận nhét sâu vào thẩu ruốc trong chuyến thăm gặp kỳ rồi, nói là để hộ thân vì có tin tất cả tù nhân sẽ bị áp tải ra miền Bắc, được ngụy trang nằm gọn trên đỉnh chiếc mũ cối rách nát.

Lệnh tập họp bày hàng khám xét khẩn cấp được công bố toàn phân trại, chỉ có 10 phút chuẩn bị bên các họng súng AK đen ngòm. Ai cũng hồi hộp lo âu làm bổn phận của mình, thôi thì đủ thứ lọ chai, bao cát, bao bố, khoai khô, sắn độn được bày ra đầy sân, những thứ thật tầm thường nhưng không thể thiếu cho sinh hoạt tù mỗi ngày. Các tên quản giáo, vệ binh chia nhau lục soát thật tỉ mỉ từ trong nhà cho đến mỗi một cá nhân, không từ chỗ nào kể cả lai quần, bâu áo. Có lệnh vất bỏ tất cả những thứ không cần thiết, thu giữ lương thực có tính dự trữ lâu dài, chuẩn bị hành trang sẵn sàng di chuyển. Ngay từ giờ phút nầy đến khi có lệnh mới, không ai được quyền ra khỏi lán của mình, ngay cả tiếp xúc với người cùng trại.

Sở dĩ có chuyển biến đột xuất nầy là vì sau khi Thiếu Tá Nguyễn Ngọc An, trưởng Phòng An Ninh Sư Ðoàn 1 BB, đã tự kết liễu đời mình vì không chịu nổi những trận đòn đau sau nhiều ngày bị thẩm cung liên tục và đồng thời để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Thiếu Tá Bửu Kế đã tự sát trong conex biệt giam vì không chấp nhận sự đày đọa nhục mạ người chiến sĩ Quốc Gia, cùng toán vượt trại đầu tiên của Châu Ðức Thảo, Trần Văn Loan, Mai Ðức Hòa, Lê Văn Cang, Hồ Văn Liệu đã lên đường đêm hôm trước sau nhiều tháng chuẩn bị. Trưởng Toán là Châu Ðức Thảo, người niên trưởng tốt bụng, tốt nghiệp khóa 19 VBQG Ðà Lạt. Thảo ít nói, sống hòa nhã và hay giúp đỡ mọi người. Vợ Thảo lên thăm rất thường nhờ khéo léo quà cáp cho các tên vệ binh trực trại. Chị phát đạt nhờ một nghề mới, nghề buôn lậu thuốc tây. Thức ăn anh bao giờ cũng nhiều và thường hay giúp đỡ kẻ khác. Anh sống rất cương trực hào phóng, mọi vật chất đều tầm thường đối với anh chẳng có gì quan trọng. Chính chị Thảo là người cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men cho chuyến vượt trại nầy.

Hành trình của các anh là vượt dãy Trường Sơn bằng địa bàn và bản đồ, xuyên qua lãnh thổ Lào đến Thái Lan. Ðiều nầy chính Loan K-23 Võ Bị Ðà Lạt, người cùng đơn vị đã nhiều lần gợi ý với Tần. Nghĩ mình sức khỏe kém, không kham nổi đoạn đường dài, thôi thì đành chịu vậy. Cơn suyễn hay lên bất chợt buổi chiều, thêm vào chứng sưng khớp xương hành hạ. Nơi dự trữ lương thực là các hố bí mật dưới chân căn cứ Phượng Hoàng, chỗ mà đơn vị TQLC của Tần, lần đầu tiên dùng hỏa tiễn tầm ngắn M72 hạ nhiều chiến xa địch.

Ðêm vượt trại loay quay sao đó mà Liệu bị lạc toán phải trở về, chỉ còn lại 4 người lên đường giữa cơn mưa bão trong sự mến phục bùi ngùi của bao người còn lại. Tối hôm đó tên quản giáo xuống lán điểm danh sớm hơn thường lệ, kèm theo một danh sách chia phiên nhau gác đêm, ai cũng có tên, ngọai trừ Thức và Tần. Thức cũng như Thảo sống rất ngang tàng, là người miền Bắc di cư 1975 nên anh rất căm thù CS. Anh là Trung Tá Tham Mưu Phó Không Ðoàn 4 đóng tại Cần Thơ, vào những ngày cuối cùng của tháng tư 1975, sẵn phương tiện trong tay nhưng ra đi chẳng đành, tìm về Sài Gòn với gia đình, nhưng vợ và các con anh đã theo người chú họ di tản vào mấy hôm trước.

Thế là tốt, anh cùng người em trai giả dạng bộ đội CS, đi xe đến Ðông Hà, Quảng Trị, men theo quốc lộ 9 đến tận miền Savanakhet Hạ Lào. Việc bại lộ cả hai người đều bị bắt tại đồn biên giới Khe Sanh. Còn Tần, là đơn vị trưởng của một đơn vị tác chiến bị thượng cấp bỏ rơi lại tại miền giới tuyến khi đại bộ phận xuôi Nam, vất vả ngược xuôi tại bãi biển Thuận An vào những ngày cuối cùng của tháng ba sầu thảm, đau lòng phải vứt bỏ súng xuống biển sâu, khi những chiếc T54 của địch bắt đầu tràn vào tuyến. Tần bắt đầu cuộc đời tù đày khi toàn thể miền Nam chưa thất thủ.

Tần thuộc dạng lao động cầm chừng qua loa lấy lệ, hay phát biểu linh tinh, đơn vị TQLC của Tần đã có nhiều nợ máu với “nhân dân” nên bị liệt kê vào danh sách cần quan tâm theo dõi đặc biệt. Có lần đi củi tận rừng sâu, vì đói quá sẵn tiền thu giấu, Tần có lén mua vài lon gạo của dân tại vùng kinh tế mới. Khi ra điểm tập trung, bị tên vệ binh phát giác liền bị kiểm điểm và kết tội “liên hệ” với dân với ý đồ trốn trại, biệt giam Conex nửa tháng trời.

Ðêm ấy là đêm 29 Tết Ðinh Tỵ, trong cơn mưa dai dẳng đáng sợ của miền Trung “khô cằn sỏi đá, của trời hành cơn lụt mỗi năm” ở một quê hương nghèo khó, “mùa Ðông thiếu áo, mùa Hè thiếu ăn” nầy. Cái lạnh tê tái làm buốt lòng người, bão rồi lại bão, hết cơn số 10, rồi 11. Gió thì giật cấp 8, cấp 9. Chiều hôm trước Tần và Liễn cùng nhau lén lút nấu lon gạo còn lại tại nhà bếp, ăn với nhau mặc dầu có lệnh cấm “liên hệ.” Tần đã bị các ăng ten báo cáo, và chắc là họ cho đây là ăn bữa cơm chia tay người bạn cùng khóa, cùng binh chủng với mình.

Không thấy tên mình trong danh sách trực đêm, Tần đoán biết rồi thế nào cũng có điều chẳng lành đến với mình. Trong giấc ngủ chập chờn lo âu chờ đợi, Tần nghe có tiếng xe rì rầm đang đổ dốc hướng về trại. Linh tính cho biết rồi ra sẽ có điềm chẳng lành sẽ xảy đến. Tần vội bật dậy, bấy giờ là khoảng nửa đêm, người bạn tù vừa bàn giao phiên trực. Có nhiều tiếng người và ánh đèn pin soi vào lán, ra lệnh cho Thức và Tần thu gọn hành trang di chuyển. Bố Chi người đội trưởng già tốt bụng, len lén nhét vào túi Tần hai bánh đường và những giọt nước mắt chia ly!

Sống là phải thẳng lưng và chấp nhận, đợi chờ mọi gian nan thử thách kể cả hiểm nguy đang chực sẵn trước mặt, cố gắng mà ngoi lên từ vũng bùn đen, hãy vùng thoát ra cái bóng đêm quái ác đáng nguyền rủa, cho một tương lai tươi sáng hơn. Sân tập họp là bãi đất trống trước nhà kho, nơi lãnh dụng cụ lao động hàng ngày, đã có nhiều tiếng la than khóc của trò “bề hội đồng” đê tiện bỉ ổi. Thêm hàng chục người nữa cũng bị còng tay dẫn đi trong cơn rên rỉ đau nhức. Tần cũng vậy, đây không phải là lần đầu tiên chàng bị hành hạ đánh đập, mà đã có nhiều lần lắm rồi, khổ sở mãi rồi cũng quen, chẳng gì lạ đối với con người sống trong thiên đường Cộng Sản. Chiếc xe Molotova cũ kỷ ráng sức ì ạch, rú lên con dốc ngược, nặng nề uể oải như cuộc đời sầu thảm của hàng chục người tù bị còng tay, mặt mày bị đánh sưng húp đầy máu me, mang đi trong màn đêm u tối.

Bỗng nhiên Tần cảm thấy nhớ nhà, nhớ ba mẹ Tần hiện già yếu đang mòn mỏi trông chờ, nhớ vợ và các con thân yêu trong cơn tuyệt vọng, như những lần đơn vị tan hàng tại Hạ Lào, hay bị bao vây tại mặt trận Cửa Việt. Cảm giác hối tiếc mất mát đã làm Tần lạnh cả người. Lần cuối cùng vợ ra thăm sau thời gian dài chắt chiu dành dụm, một lần bị đuổi trở về khi chúng biệt giam Tần tại nhà “kỷ luật,” và một lần khác đến Quy Nhơn thì bị cướp giật sạch đồ đạc, nhờ một hành khách tốt bụng cho tiền trở về. Từ những biến cố đau thương dồn dập, trong thư mới nhận được vợ Tần bị bệnh lao phổi nặng, cần được chữa trị lâu dài.

Nước mắt Tần đã chảy tự bao giờ, lăn trên đôi gò má gầy làm đôi môi mằn mặn, Tần đã khóc thật sự cho những hối tiếc muộn màng. Phải chi biết sống một chút, biết nhân nhượng cố gắng mà nín thở qua sông, hầu sớm tìm được tờ giấy phóng thích hay ít ra cũng có được những ưu đãi nào đó như các “tên trật tự thi đua.” Phải biết giả khóc như tên Th.. đội trưởng đội mộc, khi ôm ảnh thương tiếc Bác Hồ, hay các tên Trần văn S.. sẵn sàng chỉ điểm anh em, khi tổ chức ăn mừng tròn một năm miền “Nam được giải phóng.” Ôi! Những trò đời bỉ ổi, rẻ tiền của những kẻ bán rẻ lương tâm theo giặc.

Rồi chuyến xe bảo táp đêm nay sẽ đưa chàng về đâu? Có thể thật xa tít nơi miền Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái, tiếp tục cuộc sống đọa đày, hay kết thúc ở một hang hóc nào đó bằng các loạt đạn của những tên đồ tể, sát nhân. Dù thế nào đi nữa thì cũng chẳng còn gì để mà hy vọng. Vài người được lệnh xuống xe, riêng Tần, Thức, Tr.. còn lê lết cho đến trạm cuối cùng. Có tiếng nước chảy rì rào và cơn gió dữ gào thét điên cuồng. Tần bị đạp xuống xe tay bị còng nằm lăn như con vật. Nơi giam chàng là căn hầm kín được đào sâu dưới lòng đất, toàn mùi hôi thối ẩm mốc. Thức và Tr.. bị nhốt ở một nơi khác, gần đó. Có tiếng chửi thề thô tục của tên vệ binh, cùng âm thanh rỗn rẽng của chiếc xích ổ khóa oan nghiệt, trước khi trả lại màn đêm sự cô độc, im lặng hoàn toàn.

Làm sao có thể thản nhiên được trong niềm lo lắng tột cùng nầy, chiếc đũa đã bị tách ra thế nào rồi cũng bị bẻ gãy, bằng cách nầy hay cách khác. Minh và Sang chẳng đã bị xử bắn tận núi rừng Cự Tài khi có lệnh dẫn đi vào buổi sáng đang lao động tại đập Trấm Quảng Trị như vậy đấy sao! Ðối với Tần, cái chết chẳng bao giờ đến dễ dàng, bao năm xuôi ngược hành quân, chàng vẫn còn nguyên vẹn. Làm người ai cũng một lần chết, vậy thì cái chết chỉ có ý nghĩa khi ta hãy làm kẻ thù chết với mình càng nhiều càng tốt. Tần ước mơ về những chuyến vượt ngục của người tù Papillion thuở nào.

Gà đã gáy sáng và các hồi kẻng báo thức liên hồi vang lên sau một đêm dài trăn trở, lo âu. Mặt trời đã ló dạng bao giờ ở phương Ðông, cố gắng mang đến một vài tia sáng yếu ớt xuyên qua kẽ hở của căn hầm tăm tối. Có tiếng mở cửa lách cách và tên vệ binh dẫn người tù mang thức ăn đến, Tần mới biết đây là phần ăn trưa của ngày đầu năm Tết. Nỗi lo sợ đã tan biến khi xác nhận được mình đang ở phân trại 3 và người mang thức ăn cho mình là Trung Úy Ðiểu thuộc đơn vị của Tần. Ðiểu đã ứa lệ khi thấy “ông thầy mình” quá thê thảm trong tình cảnh quá đau lòng nầy.

Thường thì con người hay thương tiếc, thèm khát những gì quý báu nhất mà mình đã đánh mất đi khi chạm trán với thực tế phũ phàng. Tần cũng vậy, cố gắng mà nhớ lại những giờ phút thiêng liêng tuyệt vời với những ngày Xuân nơi đơn vị thắm đượm tình nghĩa thầy trò. Những ngày Xuân đoàn tụ quay quần cùng với gia đình, có pháo nổ đầy hoa và bao lời chúc tụng ngọt ngào. Ðêm hôm qua súng đã nổ giòn giã khắp nơi của bọn vô lại, mừng chiến thắng trong giờ phút giao thừa, họ đang ca khúc khải hoàn cho một sự ăn cướp trắng trợn. Chiến tranh là thế, cái vẻ vang của phe nầy là sự đại bại của nhóm khác, điều chẳng may lần nầy lại xảy đến với tổ quốc thân yêu của chàng.

Sau cơn mưa trời lại sáng, một ngày mới bình minh lại ló dạng, xua tan những đám mây mờ và những cơn bão quái ác. Giờ chỉ còn lại những nhầy nhụa tang thương, đau khổ tận cùng cho biết bao người dân vô tội. Qua cơn gió thoảng chiều nay, Tần được tin có người chết cùng nhiều nhà cửa bị cuốn sạch vì cơn Sóng Thần dữ dội tràn qua từ một chiếc loa phóng thanh đâu đó trong trại. Lại thêm một đại họa nữa đến cho dân tộc nầy sau cái xiềng xích Cộng Sản. Chàng cảm thấy an tâm hơn vì ít ra mình cũng còn cái hầm để trồi lên, trụt xuống, che nắng đụt mưa, một bữa cơm đói cho sự thèm khát mỗi ngày.

Lệnh cho Tần lên cơ quan làm việc những ngày sau Tết, đây là lần đầu tiên họ điều tra thẩm cung chàng từ cái đêm khủng khiếp đó. Dùng đủ mọi hình thức tra tấn để buộc chàng vào tôi âm mưu tổ chức vượt trại, Tần quả quyết với họ rằng chàng chẳng bao giờ có ý nghĩ đó. Biết chẳng có bằng cớ gì để buộc tội chàng, họ quay sang buộc tội Tần cứng đầu không chịu “học tập cải tạo.” Bằng những lời lẽ thật dịu ngọt, họ khuyên chàng hãy an tâm cải tạo để hưởng được chính sách “khoan hồng của Ðảng và Nhà nước.” Thì ra kẻ giết người cũng biết mặc áo thầy tu khi cần thiết, họ nhân danh nhân đạo để làm chuyện vô nhân đạo, đạo đức của họ là “đạo đức cách mạng bác Hồ,” của nền chuyên chính vô sản, của đấu tố dã man và các hầm chôn sống tập thể! Người Cộng Sản hô hào “không gì quý hơn độc lập tự do” để tròng lên cổ người dân thêm cái còng nô lệ, đem địa ngục trần gian để hứa hẹn một thiên đường!

Bộ Chỉ Huy Ðoàn 76 nằm trên dãy đồi cao có cờ đỏ sao vàng và đầy những băng rôn khẩu hiệu. Thức và Tr.. cũng có mặt tại đây từ lúc nào trong phòng chờ đợi, chỉ có Thức và Tần bị còng tay, còn Tr.. trông có vẻ thản nhiên thoãi mái. Thức bơ phờ mệt mỏi, mặt bị đánh sưng húp bầm tím, còn Tr.. vẫn khỏe mạnh bình thường. Mỗi người được cấp phát giấy viết để làm bản tự kiểm điểm sau khi đón nhận biết bao lời lẽ ngọt mật chết ruồi của tên chính trị viên đoàn.

Thời gian kế tiếp là thời gian thê thảm nhất của Thức và Tần. Bị dẫn độ đi hỏi cung nhiều nơi kể cả đánh đập, xỉ vả. Chiêu bài “thành thật khai báo” để sớm được hưởng lượng khoan hồng không bịp được ai, vì đối với kẻ thù “tự thú là tự sát.” Có tin Thức đã mắc bẫy Tr.. khi cùng anh ta đào hầm trốn về Huế và bị bắt tại nhà Tr.. Thức đã bắt đầu một cuộc đời mới, vất vả khốn đốn hơn trong nhiều xà lim với hình phạt biệt giam vĩnh viễn. Còn Tr.. thản nhiên thênh thang với tờ giấy phép 7 ngày rong chơi khắp thành phố Huế, trước khi nhận được giấy ra trại sau khi trại đã chuyển về cho công an Bình Ðiền. Tr.. đã thành công một cách xuất sắc nhiệm vụ của một tên ăng ten cò mồi. Còn Tần vẫn sống khổ sai đọa đày từ trại nầy sang trại khác với chiếc bánh vẽ “tập trung cải tạo.”

Tên trung tá chính ủy đoàn 76 tuyên bố “Các anh giải phóng lòng Hồ sông Mực thì lòng Hồ sông Mực sẽ giải phóng các anh.” Cả vùng đất trũng bao la hàng chục hecta rừng được khai phá cho công trình dẫn thủy nhập điền tại huyện Ðô Lương, Thanh Hóa. Rất nhiều người tù đã ngã bệnh vì sốt rét rừng, hay bị chết vì đói. Nhưng lời nói đó đã bị phản bội sau ba tháng hoàn thành xong công tác, để rồi tất cả cùng bị lùa lên toa xe bịt bùng hạng bét của chuyến tàu hỏa xuôi Nam về một vùng đất mới xa lạ khủng khiếp hơn. Ở đó có sự canh giữ, kềm kẹp hàng ngày của bọn công an mật vụ. Trại tù “cải tạo Bình Ðiền” với biến cố ngày 20 Tháng Tư 1979 lịch sử, chúng thẳng tay đánh đập người tù mà không cần biết phải trái luật lệ là gì. Những cái chết thật bất khuất của Ðại Úy Nguyễn Ngọc Báu, Nguyễn Thuận Cát, Thiếu Úy Nguyễn Thiếu Sơn,… đã minh chứng một cách hùng hồn ý chí bất khuất của lớp người sĩ quan trẻ dưới áp lực bạo quyền.

Thời gian là liều thuốc mầu nhiệm dễ làm phôi phai mọi chuyện. Những đau đớn về thể xác rồi sẽ qua đi dễ dàng, nhưng còn nhiều thứ khác mãi mãi vẫn hằn sâu vào tâm trí không thể nào quên được. Ðó là sự thù hận, lòng ích kỷ, đê tiện gian ác của con người.

Người Cộng Sản vinh danh chiến thắng mùa Xuân 1975 bằng sức mạnh và chủ thuyết ngoại lai, họ chẳng làm gì được sau hơn 32 năm cầm quyền. Có chăng là một đất nước Việt Nam vẫn còn nghèo đói, lạc hậu, bưng bít thông tin với thế giới bên ngoài. Chúng thẳng tay chà đạp quyền sống con người, các nhà đấu tranh vẫn còn trong vòng lao lý. Bán đất dâng biển triều cống ngoại bang, mua bán phẩm giá người phụ nữ, kể cả trẻ em. Các phong trào khiếu kiện của dân oan đang nổi dậy đòi công lý khắp nơi. Liệu họ, những người Cộng Sản Việt Nam, yêu chủ nghĩa Mác Lênin vô địch, có thể tồn tại được bao lâu, khi mà lòng dân đã đến lúc căm phẫn tột độ và sự tan rã của chủ thuyết Cộng Sản toàn cầu.

Hãy hướng về Việt Nam, tổ quốc thân yêu nhất của chúng ta với lời tâm nguyện đẹp nhất, hy vọng một mùa Xuân đoàn tụ sẽ không còn xa nữa.

Mùa Xuân nào là ta về

Về quê hương yêu dấu sống bên mẹ cha

Về sống cạnh giòng sông hiền

Về nghe giọng hò ba miền

Về thăm đôi má, lúm sâu đồng tiền

Sài Gòn ơi!… Bao giờ là ta về?!

Phạm Văn Tiền

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Trại ‘Cải Tạo Ái Tử’ và Mùa Xuân Người Tù, Phạm Văn Tiền
Comment

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI (Kieuanh Tran)

December 14, 2025 Ninh Tran

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI ( Kieuanh Tran)

Các bạn thân mến, 

Watson Bay cách thành phố Sydney độ 11 km.Canh rất đẹp,, có một đoạn gọi The Gap, rất hữu tình với các cặp tình nhân, nhưng cũng là nơi mà nhiều người , khi họ tuyệt vọng, thương đến đo để kết liễu cuộc đời.

Mới các bạn thường thức bài nay.

 

ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI

 

Câu chuyện của Don Ritchie – người đứng giữa sự sống và vực sâu

Ở rìa Watsons Bay – nơi gió biển thổi đến mức tưởng như muốn xé toạc bầu trời, nơi những con sóng từ Thái Bình Dương ngày đêm đập vào vách đá The Gap – có một người đàn ông già đứng đó, lặng lẽ như thể ông sinh ra để canh giữ rìa thế giới.

Tên ông là Don Ritchie.

Ngôi nhà của ông nằm ngay bên con đường dẫn đến The Gap – nơi suốt nhiều thập kỷ là điểm đến cuối cùng của quá nhiều tâm hồn tuyệt vọng.

Từ cửa sổ phòng khách, Don có thể nhìn thấy từng bóng người chậm rãi bước đến sát mép đá. Và mỗi lần như vậy, một nghi thức thầm lặng lại bắt đầu

Ông mở cửa.

Ông bước ra.

Không tiếng chân dồn dập.

Không lời la hét.

Chỉ có sự bình tĩnh hiền hòa của một con người sẵn sàng tiến về phía một con người khác.

Khi đến gần, Don luôn mỉm cười.

Ông nghiêng nhẹ người, tránh tạo cảm giác bị ép buộc, rồi nói bằng giọng dịu đến mức ngay cả gió biển cũng như dừng lại để nghe:

“Can I help you in some way?”

“Tôi có thể giúp bạn bằng cách nào đó không?”

Ông không hỏi “vì sao”.

Không hỏi “có nghĩ lại không?”.

Không giảng giải đạo đức, không phân tích đúng sai.

Ông chỉ mời: “Bạn có muốn vào nhà uống một tách trà không?”

Và bằng một điều kỳ lạ nào đó, rất nhiều người đã bước theo ông – không phải vì bị thuyết phục, mà vì lần đầu tiên sau một thời gian dài, có người thật sự nhìn họ như một con người.

Vì sao ông làm vậy?

Ít ai biết rằng Don từng là lính hải quân trong Thế chiến II. Trên boong tàu HMAS Hobart, ông đã chứng kiến nhiều người rơi vào biển cả trước khi kịp được cứu. Những hình ảnh ấy dường như ăn sâu vào ông – để rồi khi chiến tranh kết thúc, ông chọn dành phần đời còn lại để cứu những người đứng bên một “mép vực” khác.

Ông nói: “You just can’t sit there and watch them”.

“Bạn không thể chỉ ngồi đó và nhìn họ như vậy”.

Hơn nửa thế kỷ, người ta thấy hình ảnh quen thuộc ở The Gap. Khi một người tiến gần mép vực, Don từ trong nhà cũng tiến ra.

Khi người ấy run rẩy giữa gió biển, Don mở lòng.

Ông đưa họ về nhà.

Nấu một bình nước.

Rót trà.

Lắng nghe họ nói.

Và nếu họ không nói được – ông lặng yên ngồi cùng họ.

Ánh mắt của Don không xét đoán.

Giọng nói của ông không cố “sửa chữa” ai.

Ông chỉ tạo một khoảng nghỉ nhỏ cho người tuyệt vọng – một khoảng nghỉ đủ để họ lùi lại khỏi bờ vực.

Chính quyền xác nhận ông cứu được ít nhất 160 - 180 người.

Gia đình ông tin con số thật có thể lên đến 400 - 500 người.

Một kỷ lục mà Don chưa từng nhắc đến.

Khi được hỏi ông có thấy mình là anh hùng không, Don chỉ cười: “No, I just offered them a cup of tea”

“Không, tôi chỉ mời họ một tách trà thôi”.

Năm 2011, Don được vinh danh là “Local Hero” trong giải thưởng Người Úc của năm.

Nhưng sự vinh danh lớn nhất không phải huân chương hay báo chí viết về ông.

Sự vinh danh lớn nhất nằm trong sự thật này: Thế giới này vẫn tồn tại được là nhờ những người bình thường làm những điều phi thường bằng sự tử tế nhỏ bé.

Don Ritchie không thay đổi thế gian bằng tiếng vang lớn nào đó.

Ông thay đổi nó bằng những hành động lặp đi lặp lại, bền bỉ như nhịp sóng vỗ vào vách đá - ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác.

Ông cho thế giới thấy rằng, đôi khi một người tiến đến gần, một lời hỏi han tử tế, một tách trà nóng… cũng đủ để giữ một mạng người ở lại.

Chúng ta thường nghĩ cứu người là việc lớn.

Nhưng Don đã chỉ ra rằng, cứu người đôi khi chỉ là lùi lại một nhịp, mở cửa, và hỏi bằng trái tim: “Bạn có cần tôi không?”

Nếu ai cũng dám hỏi câu ấy một lần trong đời…

Có lẽ thế giới này đã bớt đi rất nhiều vực sâu.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Kieuanh Tran, ĐÔI KHI, MỘT TÁCH TRÀ CỨU ĐƯỢC MỘT MẠNG NGƯỜI
Comment

“MƯA ĐỎ” – SỰ THẤT BẠI CỦA MỘT CHẾ ĐỘ SAU NỬA THẾ KỶ TUYÊN TRUYỀN (Alliance for Vietnam's Democracy)

December 4, 2025 Ninh Tran

ĐÀI PHÁT THANH ĐÁP LỜI SÔNG NÚI PHỎNG VẤN: “MƯA ĐỎ” – SỰ THẤT BẠI CỦA MỘT CHẾ ĐỘ SAU NỬA THẾ KỶ TUYÊN TRUYỀN

1. Ông nhận định thế nào về việc nhà cầm quyền Hà Nội dùng Mưa Đỏ để bóp méo lịch sử sau gần nửa thế kỷ, và liệu đó có phải là dấu hiệu của sự bất an trong nội bộ chế độ?

Khi một chế độ phải dựng phim để xuyên tạc quá khứ, nghĩa là họ đã đánh mất khả năng đối diện với sự thật. Mưa Đỏ không phải là sản phẩm của tự tin, mà là triệu chứng của lo sợ — lo rằng nếu sự thật được nhìn nhận, cả nền tảng chính trị mà họ dựa vào sẽ sụp đổ. Sau gần nửa thế kỷ cầm quyền, việc họ vẫn phải ra sức tuyên truyền cho “chính nghĩa” của mình chứng tỏ rằng, ngay trong nội bộ, vẫn tồn tại nỗi bất an sâu kín: sợ nhân dân thức tỉnh, sợ thế hệ trẻ nhận ra đâu là chính nghĩa thật sự.

2. Vì sao hình ảnh Việt Nam Cộng Hòa, dù đã không còn trên bản đồ, vẫn ám ảnh nhà cầm quyền đến độ họ phải dựng phim để công kích, và điều gì thực sự nằm sau nỗi sợ ấy?

Vì Việt Nam Cộng Hòa không chỉ là một chính thể — đó là biểu tượng của một nền nhân bản, dân chủ, tự do, và pháp trị. Cái mà Hà Nội sợ là tinh thần của một miền Nam từng biết tôn trọng con người. Họ biết rằng ký ức ấy vẫn sống trong lòng dân, vẫn là đối trọng với những gì họ đang áp đặt. Cái “bóng ma” họ sợ chính là sự so sánh: khi người dân nhìn lại, họ sẽ thấy rõ sự khác biệt giữa một xã hội có nghị viện, báo chí độc lập, tự do tín ngưỡng — và xã hội hôm nay, nơi mọi tiếng nói bị kiểm duyệt. Mưa Đỏ chỉ là một nỗ lực tuyệt vọng để giết chết ký ức ấy.

3. Nhiều người cho rằng, Mưa Đỏ dường như phản tác dụng khiến giới trẻ tự tìm hiểu về miền Nam trước 1975. Vì sao thế hệ sinh sau 1975 ngày càng không chấp nhận những điều tuyên truyền mà họ bị nhồi nhét?

Thế hệ trẻ hôm nay sống trong thời đại thông tin mở, nơi mỗi người có thể kiểm chứng mọi điều bằng vài cú nhấp chuột. Khi nhà nước càng cố bưng bít, càng tô đậm tuyên truyền, thì giới trẻ càng tò mò muốn biết sự thật. Khi họ thấy trong sách nói miền Nam “nghèo nàn và nô lệ”, nhưng hình ảnh lưu trữ lại cho thấy Sài Gòn và cả miền Nam từng sầm uất, thanh bình, tự do, ngay cả trong chiến tranh — họ bắt đầu nghi ngờ. Cái mà Mưa Đỏ không lường trước được, là trong khi họ dựng phim để tẩy não, thì internet đang trở thành lớp học lịch sử thật. Giới trẻ ngày nay không còn sợ hãi. Họ tìm đến sự thật, và đó chính là điều khiến guồng máy tuyên truyền thất bại.

4. Việc Hà Nội tiếp tục bóp méo hình ảnh Quân Lực VNCH thay vì minh bạch đối diện quá khứ cho thấy điều gì về tính chính danh của họ, và có phải đây là dấu hiệu cho thấy họ đang thua trong chính cuộc chiến tâm lý của họ?

Một chính quyền chính danh không cần phải sợ lịch sử. Chỉ những kẻ tiếm quyền mới phải bóp méo quá khứ để biện minh cho hiện tại. Khi họ vẫn phải công kích Quân Lực VNCH — lực lượng đã không còn tồn tại hơn 50 năm — điều đó cho thấy họ không thắng nổi ký ức dân tộc. Cuộc chiến hôm nay không còn là cuộc chiến vũ khí, mà là cuộc chiến giữa sự thật và dối trá. Và rõ ràng, họ đang thua. Họ thắng trận 1975, nhưng họ đang thua trong tâm thức của chính người Việt. Một chế độ không dám đối diện với lịch sử của mình thì không thể tồn tại bền lâu.

5. Mưa Đỏ có tạo hiệu ứng ngược trong cộng đồng người Việt tự do hải ngoại, khi vô tình khơi dậy tinh thần quốc gia và những giá trị mà miền Nam từng đại diện như tự do tín ngưỡng, báo chí độc lập, nghị viện dân cử và nhân phẩm con người hay không, thưa ông?

Chắc chắn là có. Mưa Đỏ vô tình làm sống lại một tinh thần tưởng chừng đã lắng xuống. Khi một bộ phim bịa đặt đến mức xúc phạm lịch sử, nó đã chạm vào lòng tự trọng của người Việt Tự Do khắp nơi. Chúng ta thấy một sự đồng lòng hiếm có — 95 tổ chức cùng ký tên phản đối, hàng nghìn người chia sẻ và lên tiếng. Chính điều đó chứng minh rằng ngọn lửa Quốc Gia chưa bao giờ tắt. Mưa Đỏkhông giết được ký ức VNCH; trái lại, nó đã làm cho hình ảnh ấy được nhắc đến, được bảo vệ, và được phục sinh bằng niềm tự hào.

6. Trong khi chế độ tiếp tục bóp méo lịch sử, người Việt tự do trong và ngoài nước cần làm gì để bảo vệ sự thật và gìn giữ ký ức Việt Nam Cộng Hòa cho thế hệ mai sau, và vai trò của các tổ chức cùng truyền thông tự do nên được đặt ở đâu?

Trách nhiệm của chúng ta là bảo tồn ký ức như bảo tồn mạch sống dân tộc. Sự thật phải được viết lại, được dạy lại, và được kể lại cho thế hệ sau — không bằng hận thù, mà bằng lương tri. Các tổ chức trong cộng đồng cần hợp tác để tạo thành một hệ thống lưu trữ, giáo dục, và truyền thông về Việt Nam Cộng Hòa: từ phim tài liệu, sách giáo khoa, bảo tàng số cho đến diễn đàn thanh niên. Truyền thông tự do là lá phổi của xã hội — nếu nó ngưng thở, sự thật sẽ chết. Bảo vệ sự thật chính là bảo vệ tự do, và đó cũng là cách chúng ta tiếp nối con đường của những người đã ngã xuống vì chính nghĩa Quốc Gia.

Kết luận:
Mưa Đỏ không phải là chiến thắng tuyên truyền của Hà Nội, mà là bản cáo trạng vô hình về sự bất an của một chế độ sau nửa thế kỷ thống trị. Trong khi họ lo sợ ký ức bị đánh thức, thì chính ký ức ấy đang hóa thành một nguồn lực mới — sức mạnh của sự thật, của tự do, và của một dân tộc không bao giờ quên cội nguồn chính nghĩa của mình. Một khi sức mạnh tiềm tàng ấy trỗi dậy, sẽ không có áp lực nào, không một guồng máy bạo lực nào đủ khả năng ngăn cản được.

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Alliance for Vietnam's Democracy, “MƯA ĐỎ” – SỰ THẤT BẠI CỦA MỘT CHẾ ĐỘ SAU NỬA THẾ KỶ TUYÊN TRUYỀN
Comment

Kỷ Niệm với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn (Mũ Xanh Nguyễn Đăng Hòa)

December 4, 2025 Ninh Tran

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Nguyễn Đăng Hòa

Chiếc máy bay DC.6 đáp nhẹ xuống phi trường Liên Khương của xứ Anh Đào, bao phủ bởi muôn hoa, muôn màu, muôn sắc. Tôi uể oải cởi dây nịt an toàn, lấy vội cái xách tay, nối gót theo hành khách đang di chuyển dần ra phía cửa phi cơ. Cái lạnh của miền Cao nguyên đã bám chặt lấy tôi. Khoác vội chiếc áo Field Jacket màu ngụy trang Binh chủng, tôi nhập theo đoàn người chờ lấy hành lý. Trở lại Đà lạt lần này cái gì cũng thấy ngỡ ngàng sau gần 10 năm xa cách. Nhìn dãy đồi xanh tươi trước mặt, tôi chợt nhớ đến ngọn đồi Phù cũ, Bình định. Nơi tôi đã để lại máu mình cho cây cỏ thêm xanh bởi một trái pháo 130 ly của Việt Cộng. Sau một ngày và hai đêm mê man, khi tĩnh lại tôi có cảm tưởng như đang lênh đênh trên biển cả.

Tôi lắc đầu thật mạnh để biết rằng mình đang tĩnh. Người y sĩ Hoa Kỳ cấp bậc Trung tá đang nhìn tôi cười và vỗ nhẹ vào tay tôi, ông hỏi:

– Anh thấy trong người có khỏe không?

– Tôi vẫn khỏe, cám ơn. Xin lỗi ông tôi đang ở đâu?

Vẫn nụ cười không tắt trên môi, ông vui vẽ trả lời:

– Đại úy đang nằm trên chiếc tàu Bệnh viện của Đệ thất Hạm đội. Tôi mừng được thấy Đại úy tĩnh lại, đã 2 ngày nay ông thiếp đi vì mất nhiều máu.

Suốt một tháng lênh đênh ngoài khơi bờ biển miền Trung, từ Qui Nhơn đến Đà Nẵng. Cứ mỗi chiều cuối tuần tôi được John vị Y sĩ trưởng của bệnh viện mời xuống chiếc cầu nổi cập sát con tàu để bán giải khát. Mỗi người chỉ mua được một lon bia, uống tại chổ không được mang lên tàu, còn nước ngọt thì uống tự do. Nhìn ông mặc bộ đồ ngụy trang tôi vừa tặng trông thật buồn cười, quần không thể nào cài cúc được vì bụng quá lớn. Ông nói:

– Không sao đâu Đại úy. Mặc áo bỏ ra ngoài chẳng ai thấy đâu. Cái gì ẩn giấu có xấu cũng thành đẹp, không ai hiểu được sự thật bên trong nó như thế nào!

Sau 2 tuần ngắn ngủi, chúng tôi đã thân nhau hơn. Chiều chiều khi hoàng hôn trôi nhạt nhòa trên sóng biển, tôi và John lên boong tàu nhìn đàn hải âu bay lượn cho đến lúc mặt trời chìm sâu dưới mặt biển. Chúng tôi mới trở về phòng ăn với những món ăn thịnh soạn do đầu bếp người Phi luật tân nấu.

Qua tuần lể thứ ba, tôi mập hẳn lên và nước da trở nên hồng hào, không còn sạm nắng như khi nằm trên ngọn đồi Phù cũ đón những cơn gió lửa. John mang ảnh vợ con ra khoe với tôi, vợ John xinh như diển viên màn bạc. Nàng cũng là bác sĩ và đang sống tại San Diego trong một biệt thự xinh xắn nằm sát biển. Nhìn những vì sao mọc sớm trên bầu trời, tôi hướng về John đề nghị:

– John à, ngày mai anh có thể cho tôi xuất viện được không?

John bị hỏi bất ngờ, anh ta vỗ vai tôi thân mật nói:

– Tôi đang định bàn với anh chuyện này, tôi đề nghị cấp trên giữ anh ở lại đây khoảng 3 tháng cho sức khỏe của anh thật bình phục. Như anh đã biết, chúng tôi gặp rất nhiều trở ngại khi thương binh được đưa đến chữa trị đa số không nói được tiếng Anh, chúng tôi lại không có người thông dịch. Hay là anh cứ tạm ở đây cho đến khi chúng tôi có thông dịch viên rồi hãy xuất viện. Thay vì trả lời tôi hỏi John:

– Anh có nhớ vợ con anh không?

– Ơ sao anh lại hỏi thế? Tôi đến Việt Nam mới có 6 tháng mà tôi tưởng như đã xa vợ con cả 6 thế kỷ rồi. Ngày nào tôi cũng viết thư cho nàng.

Chụp lấy cơ hội tôi tấn công John:

– Vậy anh biết tôi xa vợ con tôi bao lâu rồi không? Hai năm kể từ ngày cưới, tôi chỉ về thăm nàng một lần, khi sanh đứa con trai đầu lòng. Vợ tôi dạy học, lúc này đang nghỉ hè, rất tiện cho tôi được về thăm nàng, để được nàng săn sóc.. Hậu cứ của đơn vị tôi lại đóng gần bệnh viện Đại hàn, mỗi ngày tôi sẽ đến nhờ họ chăm sóc vết thương.

John nhìn sâu vào mắt tôi thân mật nói:

– Tôi là Y sĩ của một đơn vị tác chiến trước khi về làm việc tại con tàu này, tôi rất thông cảm với anh. Các anh đã chiến đấu vô cùng anh dũng để giữ lấy tiền đồn của Thế giới Tự do. Thôi được ngày mai tôi sẽ cho anh xuất viện, trực thăng sẽ đưa anh vào đất liền. Khi về gặp gia đình nhớ viết thư cho tôi và tả tỉ mỉ hạnh phúc anh bắt gặp trong những ngày hè..Tôi chắc là tuyệt vời đối với anh sau hai năm lăn lộn trên tuyến lửa nơi miền địa đầu giới tuyến.

Đang nghĩ ngợi miên man, tôi bỗng nghe có tiếng người gọi tên mình.

– Hòa ơi!..Hòa.

Tôi quay lại và ngạc nhiên khi thấy Hồ Ngọc Cẩn, người bạn thân cùng học ở Trường Thiếu Sinh Quân và cùng theo học một khóa Sĩ quan với tôi.

– Bạn trôi dạt từ vùng U Minh lên Đà Lạt hưởng tuần trăng mật phải không?

Cẩn vỗ nhẹ vào chiếc cặp Samsonite và nói:

– Văn ôn võ luyện mà bạn.

Tôi mừng quá run run hỏi:

– Chỉ huy Tham mưu?

Cẩn gật nhẹ, nắm chặt tay Cẩn tôi reo lên như một đứa trẻ:

– Ồ sung sướng quá, mình cũng vậy. Vừa bị thương đang nghỉ dưỡng thương thì có lệnh gởi đi học, thôi thì lên Đà Lạt nghỉ mát một thời gian, để chiến trường lại cho người khác ôm ấp.

Đến Trường Chỉ huy Tham Mưu chúng tôi nhận phòng, hai đứa chỉ ở cách nhau một bức tường. Sau khi tắm rửa, tôi và Cẩn ra phố Đà Lạt để tìm người quen và “rửa mắt”.

Đà Lạt có rất nhiều loài hoa, kể cả loại hoa biết nói, biết hát, biết cười và biết khóc! Sau chai Courvoisier, gout của Cẩn, chúng tôi thấy ấm lòng, cái lạnh đã rời xa…

Thả bộ quanh chợ Hòa bình, xuống con dốc Phan Đình Phùng tìm nhà do một người bạn cùng Binh chủng giới thiệu. Tôi sợ lộn số, phải xem lại địa chỉ rồi mới dám bấm chuông vì ngôi biệt thự lộng lẫy quá. Tọa lạc trên một ngọn đồi riêng biệt, bao phủ bởi một rừng hoa! Tiếng chuông vừa dứt, một người đàn bà Trung hoa nhanh nhẹn ra mở cửa và hỏi chúng tôi:

– Xin lỗi, các ông muốn tìm ai?

– Chúng tôi muốn gặp ông Bảo Vinh.

Nghe nói đúng tên chủ mình, người đàn bà cúi thấp đầu nói:

– Xin mời hai ông vào chờ tôi thưa lại.

Tôi và Cẩn được mời vào phòng khách, tôi có cảm tưởng như mình đang xuất ngoại vì sự sang trọng của ngôi biệt thự. Điều này chứng tỏ chủ nhân phải là một tay “tiền vô như nước”. Trước mặt chúng tôi giờ đây là một cô gái thướt tha đài các trong tấm áo xanh huyền ảo. Nàng chào chúng tôi và lên tiếng trước:

– Xin lỗi hai ông, ba tôi vừa đi dự tiệc, có lẽ đến khuya mới về. Tôi tên là Thu Hương, con gái lớn của gia đình. Ba tôi có nói trước là sẽ có hai người bạn ở Sài gòn lên trọ học. Chúng tôi đã sữa soạn chổ ở cho hai ông và xin mời hai ông vào nghĩ…

Cẩn nhìn tôi nói khẽ:

– Thôi bọn mình về trường, cuối tuần sẽ trở lại.

Chúng tôi từ giã nàng và không quên viết vài hàng để lại cho ông Bảo Vinh. Ra đến đường Cẩn hỏi tôi:

– Này Hòa ơi! Mình phải gọi Bảo Vinh bằng gì, anh hay chú?

Tôi cười:

– Tùy bạn và tùy hoàn cảnh của ngày mai. Que sera, sera..

Trưa thứ bảy, chúng tôi chuẩn bị xuống phòng ăn nhà trường thì được loa phóng thanh báo có người nhà đến thăm và đang đợi ở phòng Tiếp tân. Tôi hỏi Cẩn:

– Ai thăm chúng mình thế Cẩn?

– Chỉ có trời biết, lên đây mới 4 ngày tôi có quen ai đâu!

Rồi Cẩn vỗ mạnh đùi mình ra điều thích thú nói:

– Tôi đóan ra rồi. Gia đình cô Thu Hương.

Chiếc Mercedes bóng lộn đậu trước nhà khách, chúng tôi bước vào trước bao nhiêu cặp mắt đang nhìn mình, có lẽ họ nghĩ bọn tôi ít lắm cũng từ “quan Quận” trở lên. Lần đầu tiên gặp Bảo Vinh, tôi nghĩ đây là một tay thương gia có tầm vóc của Chợ Lớn. Hiện ông đang thầu rau tươi cho Quân đội đồng minh từ DMZ (khu phi quân sự) đến Quân đoàn 4.

Quay sang con gái, Bảo Vinh giới thiệu:

– Đây là Thu Hương, con gái lớn của tôi. Đêm qua tôi được điện thoại của Thiếu tá Hiền, Cảnh sát trưởng Quận 5 cho biết vì phải bận bàn giao công việc nên đến cuối tuần này ông mới tham dự khóa học được. Ông cũng có nói về các anh, những người hùng của Quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Lời nói đó cũng xứng đáng với 6 hàng huy chương nằm hiên ngang trên ngực Cẩn gồm :

1 Đệ tứ đẳng Bảo quốc Huân chương, 25 ngành dương liểu và 45 ngôi sao Anh dũng bội tinh, cộng thêm 3 chiến thương bội tinh và 4 huy chương Hoa kỳ, không có huy chương “ăn giỗ” nào!

Tôi phải giấu thật kỷ số huy chương của mình, chẳng bao giờ tôi dám đeo khi có mặt Cẩn. Cẩn còn được Quân đoàn 4 bầu làm chiến sĩ xuất sắc trong nhiều năm liền và được Quân đội tưởng thưởng cho đi du hành quan sát các nước Á châu.

Qua phần giới thiệu thăm hỏi, Bảo Vinh mời chúng tôi đi nhà hàng dùng cơm. Vì sự mời mọc quá chân tình, chúng tôi khó mà từ chối được, tuy mới gặp nhau lần đầu. Biết tính Cẩn hay mắc cở (tuy là người hùng ở chiến trường nhưng khi gặp gái là chàng rất e dè, có lẽ vì thế mà Cẩn hay bị các cô chiếu cố!) nên tôi nhanh nhẹn ngồi vào ghế trước cạnh Bảo Vinh, để cho Cẩn phải ngồi phía sau với Thu Hương. Không biết Cẩn có thích không, nhưng chắc anh cũng rủa thầm về cái tội gán ghép đáng yêu của tôi.

Trước lạ sau quen, dần dần mọi rụt rè nơi Cẩn đã cất cánh bay xa. Hai người nói chuyện rất tâm đầu ý hiệp. Từ chuyện chiến trường đến chuyện tình đôi lứa.. Tôi và Bảo Vinh nhìn họ và uống rượu. Tôi có cái tật là càng uống càng ít nói, vả lại nói chuyện làm ăn thì tôi mù tịt còn nói chuyện chiến trường với Bảo Vinh thì có khác nào ông ta nói chuyện áp phe với tôi. Vì vậy chúng tôi chỉ biết nâng ly mời nhau.

Đêm Đà Lạt thật êm ả, cái lạnh đã bị đốt cháy bởi hai chai Courvoisier. Nhìn những giọt nước chảy nhẹ trên thành ly, tôi bất chợt nghĩ đến thân phận người lính giữa chiến trường, lấy cái chết làm an bình cho thành phố! Bạn bè của đơn vị tôi giờ này đang lặn lội nơi vùng sình lầy miền Tây. Sáng đi theo đoàn tàu của Lực lượng Đặc nhiệm Thủy bộ 211, phối hợp giữa Hải quân và Thủy quân Lục chiến đổ bộ dọc theo những con kinh, lội nước từ bụng lên đến cổ, có khi ngập đầu của Tỉnh Chương thiện cam go nhất vùng 4.

Những trận đánh cấp Tiểu đoàn, Trung đoàn hầu như dành riêng cho chúng tôi. Đó có phải là điều hãnh diện hay sự “vắt chanh bỏ vỏ” của các Quân khu dành cho những đơn vị Tổng trừ bị?

Họ muốn đem sự yên bình lại bằng con số xác chết cao vút của chúng tôi. Họ đợi khi nào tình hình căng thẳng nhất thì xin chúng tôi đến và không ngần ngại xử dụng như những con vật tế thần. Tìm những nơi nào Quân khu không thanh toán được là đẩy chúng tôi vào. Có khi hành quân 7 ngày, cõng trên lưng nào là thực phẩm, đạn dược, vủ khí, quân trang, khi vừa hết lương thực thì được yêu cầu ở lại chiến trường thêm một kỳ tiếp tế nữa. Cứ như vậy cho đến khi chúng tôi kiệt sức, tinh thần căng thẳng mới cho rời vùng hành quân ra để phòng thủ giữ an ninh vòng đai Quân khu. Sau vài ngày xả hơi lại được tống vào vùng cam go khác cho đến khi nào Bộ Tổng Tham Mưu đòi lại mới thả về.

Nhưng hởi ôi! Quân khu này thả ra thì Quân khu khác bắt lại và chiến thuật cố hữu lại được đem ra xử dụng.

Giờ ngồi hình dung lại, quả thật tội nghiệp cho hai Binh chủng Nhảy dù và Thủy quân Lục chiến. Vì vậy có nhiều cấp chỉ huy chỉ có một con đường duy nhất để chọn nếu họ thương lính. Đôi khi cũng làm ngơ khi lính của họ đánh nhau với lính địa phương để cho người cha ghẻ nơi họ tăng phái buông tha họ ra để họ còn được thấy thành phố, hậu phương, vợ con hay người yêu! Đây không phải là biện luận hay kiêu binh mà là sự thật. Việt cọng chỉ gờm có chúng tôi, vì lần nào chạm trán chúng cũng bị 90% thất bại nặng nề.

Thu Hương đã đưa tôi trở về hiện tại:

– Làm gì mà anh ngồi yên lặng như pho tượng Thương Tiếc ở Xa lộ Biên Hòa vậy anh Hòa?

Tôi chỉ lắc đầu thở dài và uống cạn ly rượu còn lại. Tôi và Cẩn có thể nói là đôi kỳ phùng địch thủ về uống rượu. Chúng tôi gặp nhau, lúc nào cũng 2 chai trở lên, uống đến mềm môi vẫn chưa say. Nhất là khi nghe tin một thằng bạn vừa gục ngã nơi chiến trường! Và cái hơi ngà ngà say của rượu đã giúp tôi làm được nhiều bài thơ ưng ý mà có lẽ lúc bình thường chẳng bao giờ tôi viết được như thế.

Hai giờ sáng chúng tôi trở về trường. Tôi nhận thấy Thu Hương, cô gái có dòng máu nửa Tàu, nửa Việt này hơi lãng mạn. Một sự lãng mạn đáng yêu dễ hòa nhập với lính khi nàng tâm sự:

– Nhìn những chiếc lá bay vô tình trong gió, em ví như những cái chết bất ngờ của những người lính trận! Em biết rằng mình sẽ khổ khi có người yêu là lính, nhưng em cũng rất hãnh diện khi được sánh vai với người hùng đi trong chiều nhạt nắng, giữa rừng thông để nghe tiếng lá reo vi vu hòa với gió chiều. Em thương người lính trận, các anh như những viên sỏi nhỏ lăn theo triền dốc cuộc đời, với những chuyến đi dài mà không biết đến ngày mai đời mình sẽ ra sao?

Những chiều cuối tuần tôi và Cẩn thường hồi hộp đợi điện thoại của Thu Hương. Thỉnh thoảng nàng cũng mời thêm vài người bạn gái. Nhận được điện thoại thì mừng, nhưng đôi khi cũng nhói tim vì hai đứa có lúc sạch nhẵn không còn một đồng dính túi. Chẳng lẽ đi chơi với người đẹp lại để cho họ đài thọ?

Đêm Noel 1969, chúng tôi lại rơi vào cảnh ấy. Tôi lúng túng không biết tháo gỡ bằng cách nào để có tiền chi phí cho đêm Giáng sinh. Riêng Cẩn vẫn ung dung chọn bộ đồ ngụy trang thật đẹp, cạo râu chải tóc cho đúng câu “mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao” rồi hướng về tôi đề nghị:

– Chúng ta đi sớm một chút nghe Hòa.

Thay vì trả lời, tôi chỉ vào cái túi quần lộn ngược. Cẩn cười bảo:

– Yên chí lớn ông bạn.

Ra đến chợ Hòa bình, Cẩn ghé vào một tiệm bán vàng. Một cô bé thật xinh, khoảng 17, 18 tuổi đứng trông hàng e ấp chào chúng tôi và hỏi:

– Hai ông muốn mua gì?

– Tôi muốn bán cái này.

Vừa nói Cẩn vừa chỉ vào cổ áo, chiếc lon Thiếu tá lấp lánh dưới ánh đèn đêm làm nó càng rực rỡ thêm. Cô bé tưởng Cẩn muốn trêu chọc mình nên chạy vào gọi mẹ. Bà cụ ra chào chúng tôi và nói đùa:

– Bộ Thiếu tá muốn chúng tôi đóng cửa tiệm hay sao mà dám mua tới Thiếu tá?

Cẩn vừa cởi lon vừa nói:

– Xin lỗi cụ. Hôm nay kẹt quá phải nhờ đến nó. Đây là vàng thật do mẹ tôi tặng khi tôi vừa được vinh thăng. Lên Trung tá tôi sẽ sắm lại gấp đôi.

Cẩn bẻ đôi cặp lon, phần hoa mai bạc cho vào túi và bán 2 cái đế đáng giá một lượng vàng. Nhờ vậy mà chúng tôi có một đêm Noel tràn ngập tiếng cười, quên đi cái xót xa “bán lon nuôi miệng!” Cẩn có những cái kiên nhẫn và cố gắng tột cùng. Tôi không thể nào quên được, như khi còn là Sinh viên Sĩ quan.

Một đêm Cẩn gọi tôi ra giữa trời nhìn những vì sao lấp lánh Cẩn nói lên cái ước mơ của đời mình và muốn tôi cùng Cẩn đạt được. Một ước mơ với tôi quá xa vời, nhưng Cẩn nói với đầy tham vọng:

– Tương lai chúng ta phải làm tướng!

Tôi chỉ kêu trời, vì thấy quá viễn vông, nhưng khi ra trường, càng về sau tôi mới thấy được cái chí lớn nơi Cẩn. Cuối cùng của cuộc đời, Cẩn cũng đã nhìn thấy và nắm được những vì sao ngút ngàn, tận bên kia cuộc sống!

Sau mùa hè đỏ lửa 1972, Cẩn đã là một Tỉnh Trưởng trẻ tuổi nhất trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa và ở cái tỉnh “nóng” nhất của Vùng 4 Chiến thuật. Chương thiện với những địa danh mà nhiều cơn bão lửa đã tràn qua như: Kiên An, Kiên Hưng, Hiếu Lể, Gò Quao… muôn ngàn kinh rạch chằng chịt. Một cái tên mà không người lính miền Tây nào có thể quên được.

Có một Quận nọ, cứ mỗi chiều là ngài Quận Trưởng gọi máy về Trung tâm Hành quân Tỉnh để xin phản pháo vì Việt cọng pháo kích hoặc tấn công. Một hôm, sau khi Cẩn cho thỏa mãn tối đa, và được báo cáo là quân ta bị thiệt hại một kho xăng và kho lương thực, Cẩn ra lệnh cho Trưởng phòng 3 chuẩn bị lên đường đến Quận nọ (chuyện này do chính vị Trưởng phòng 3 ấy kể lại với Tác giả khi còn cùng ở trại tù ngoài Bắc việt).

Khi gặp Cẩn, ngài Quận trưởng như từ cung trăng rơi xuống. Ngài không ngờ giờ này mà Cẩn dám đi đến Quận với một chiếc jeep không có hộ tống mà cũng chẳng có đơn vị mở đường. Quan Quận đang nằm trên ghế xích đu nhấm Martell, chiếc máy truyền tin được kéo dài đến tận chổ nằm và bên cạnh là người đẹp đang phục vụ.

Cẩn đi thẳng xuống Trung tâm Hành quân của Quận vừa nhìn bản đồ vừa ra lệnh cho Quan Quận:

-Tôi muốn những Ấp loại C sau 3 tháng được nâng lên loại B và những Ấp loại B sau 3 tháng được nâng lên loại A (xếp loại theo tình hình An ninh).

Nói xong, Cẩn quay về Tỉnh. Từ đó Ngài Quận trưởng làm việc trối chết, khi biết rằng Cẩn neo mình bằng một hình phạt không nhẹ hơn cách chức hay đưa ra Tòa án Quân sự. Đúng 3 tháng sau, Cẩn trở lại Quận và ngủ đêm với Quận trưởng ở một số Ấp do Cẩn chỉ định. Kết quả đúng như ý muốn của Cẩn, một thời gian ngắn sau Cẩn đến Quận với cặp lon mới nguyên dành cho công lao của Quận trưởng và không đá động gì đến lỗi cũ.

Công lao và sự hy sinh của Cẩn không giấy mực nào kể hết. Tôi xin dành lại cho những người hiểu rõ về Cẩn nối tiếp tôi thắp sáng việc Cẩn đã làm cho Tổ quốc.

Trở lại chuyện những ngày ở Đà Lạt, tháng ngày qua mau như một giấc mơ đẹp và buồn. Vết thương của tôi đã bình phục hẳn và tâm hồn cũng đã thanh thản.Tôi lại thèm những chuyến đi, tôi nhớ những nơi đèo heo hút gió. Từ vùng sình lầy U Minh như Năm Căn, Cái Nước, Đầm Dơi.. cho đến miền địa đầu giới tuyến Đông Hà, Lao Bảo, Khe Sanh hay miền Cao nguyên trùng điệp Darkto, Darksuk. Nơi nào cũng có dấu chân chúng tôi để lại. Chúng tôi những người lính mà Việt cộng gờm nhất và khi mất nước cũng lại là những người lính bị trả thù nặng nhất.

Tôi còn nhớ năm 1982, khi còn bị giam ở Vĩnh phú, Bắc việt. Một phái đoàn Việt cộng thuộc Bộ nội vụ, bọn chúng đến trại giam chúng tôi. Hôm ấy đến phiên tôi trực cho Đội (1 đội gồm 30 người) nên tôi phải nấu nước và thức ăn cho các bạn tù khác đang xây cất nhà tù kiên cố bằng vật liệu nặng. Gặp tôi chúng làm ra vẻ thân mật hỏi tên, chức vụ, cấp bậc, đơn vị. Sau khi biết tôi là Trung tá Tiểu đoàn trưởng Thủy quân Lục chiến, chúng kéo 3 tên chia nhau quần thảo tôi:

– Anh đi lính từ năm nào? Lúc mấy tuổi? Mãn khóa sĩ quan ngày nào?

Chúng hỏi với giọng trịch thượng. Tôi đang ngồi bên bếp lửa, lon cóng bao quanh thùng nước, khói mù mịt, quạt luôn tay vẫn không cháy. Cộng với cái nóng đang đun sôi bằng lòng căm thù, mắt tôi đã nổ đom đóm. Tôi nói khác đi thay vì trả lời ngày mãn khóa sĩ quan.

– Tôi vào lính lúc 12 tuổi.

Một tên thấy khó chịu hiện rõ ra mặt, hỏi gằn lại tôi theo lối hỏi cung:

– Anh định đùa với chúng tôi hả?Ngoài này khi rất cần cho chiến trường chúng tôi cũng chỉ lấy 13 tuổi.

– Tôi vào Thiếu sinh quân lúc 12 tuổi.

Chúng à lên một tiếng như có xương cá mắc ở cổ.

– Anh tham dự bao nhiêu trận đánh?

– Tôi không nhớ hết, hầu như Quân khu nào cần là có chúng tôi.

– Anh giết bao nhiêu Cán bộ và Chiến sĩ của chúng tôi?

– Phần này thật thà mà nói, chúng tôi có những mục tiêu sau khi thanh toán xong, không thể nào kiểm điểm được hết và đầy đủ.

Sau câu trả lời của tôi, có lẽ nếu giết được tôi lúc đó chắc chúng cũng chẳng tha. Một tên khác lại hỏi:

– Anh thắng bao nhiêu trận và thua bao nhiêu trận?

Sự kiên nhẫn của người tù khổ sai, biệt xứ như tôi đã mất đi, mặc dù biết thân phận mình như cá nằm trên thớt, tôi vẫn trả lời theo sự thật và sự thật bao giờ cũng phủ phàng. Nhận thấy không khí mỗi lúc một căng thẳng, tôi thầm nghĩ: “Bọn này thuộc loại chính trị chứ không phải quân sự, mình nên cẩn thận kẻo chúng cột là vô phương gỡ”.

– Sự thật thì tôi chưa thua trận nào, nếu có thì cũng chỉ là những Tiểu đội tiền đồn hoặc tổ báo động của chúng tôi bị tràn ngập bởi một lực lượng lớn bên phía cán bộ thôi.

– Anh nói thật đấy chứ? Tôi còn kiểm soát lại nữa.

Chưa chi nó đã giở giọng hăm dọa, tôi bèn dẫn chứng cho chúng hiểu câu trả lời của tôi:

– Rất tiếc, cán bộ thuộc về chính trị, còn tôi nói về quân sự chiến thuật, chiến lược có lúc chúng ta không thông cảm được nhau.

Tôi lại đi thêm một đường giải thích tỉ mỉ hơn.

– Chúng tôi là đơn vị Tổng trừ bị, những trận chúng tôi tham dự đều được tổ chức kỷ lưỡng. Có cả Hải, Lục, Không quân yểm trợ. Nếu chúng tôi cầm chân các đơn vị của cán bộ càng lâu thì sự thiệt hại càng nặng vì lúc bây giờ chúng tôi làm chủ tình hình về vùng biển cũng như bầu trời. Riêng về Bộ binh thì hỏa lực của chúng tôi mạnh, quân số đông…

Cuối cùng chúng bề hội đồng tôi:

– Như vậy thì ngày 30/4/1975 các anh thắng đấy chứ?

Đã lỡ ngồi vào bàn cờ tướng, không khéo thì sẽ bị chiếu bí. Tôi tiếp:

– Nói riêng về đơn vị do tôi chỉ huy, tôi chỉ biết thi hành lệnh. Bảo chúng tôi rút lui, chúng tôi lui, bảo tiến chúng tôi tiến. Cuối cùng Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng, đã là lính chúng tôi chỉ biết thi hành kỷ luật quân đội mà thôi.

Chúng vẫn còn bản tính luôn trở mặt như trở bàn tay nhưng vì được huấn luyện chính trị kỹ. Hơn nữa cuộc nói chuyện giữa thanh thiên bạch nhật nên trước khi bỏ đi chúng kết luận:

– “Chả trách chiến tranh kéo dài mãi cho đến 1975! Đáng lẽ nó được kết thúc sớm hơn nếu không có những con người mù quáng, gây nhiều nợ máu với nhân dân như đơn vị của các anh. Ở ngoài này xem các anh là những đứa con bà Sơ, do đế quốc Mỹ tạo ra và nuôi dưỡng để bảo vệ chế độ, đánh phá Cách mạng!”

Chúng đi rồi tôi mới thấy lòng mình thanh thản vì tôi không làm nhục lương tâm mình cũng như bạn bè đồng đội đã một thời cầm súng chiến đấu bảo vệ quê hương.

Xa nhau từ dạo ấy cho đến ngày đất nước điêu linh. Tôi bị tù 13 năm không bản án, còn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã đi vào Quân sử!

Quân thù sẽ mãi mãi cúi đầu trước sự dũng cảm của bạn, Cẩn ơi! Bạn sẽ chẳng bao giờ chết, chúng tôi sẽ thắp sáng tên bạn trong tâm hồn mình và khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam và cả thế giới bao la. Bạn là một trong những anh hùng của Quân Lực Việt nam Cộng hòa. Một tấm gương sáng để truyền lưu cho hậu thế. Xin cho tôi kết thúc phần nói về bạn bằng một bài thơ:

Khóc Đại tá Hồ Ngọc Cẩn!

Mưa trong đêm vắng…

Thánh thoát những giọt buồn

Người lữ hành cô độc đang đi qua đoạn đường dài hiểm trở

Những bước chân thầm lặng mà nghe vang vọng rất xa

Tôi nghe trong gió

Tim anh ngân vang bài ca thế hệ

Dư âm đã gọi mùa thu thức giấc

Những giọt máu trổ bông trong từng khối óc con tim chân thật

Đêm thì dài, dài như thế kỷ đau thương của chúng ta

Anh là trái tim của tuổi trẻ

Là linh hồn của những người yêu nước đấu tranh

Anh cô đơn vây hãm trong bốn bức tường thành

Tôi muốn tìm đến với anh trong những đêm dài trăn trở

Tôi quá thấp hèn bên anh sáng ngời muôn thuở

Xin cho tôi được vun trồng

Những cánh hoa đẹp trên từng dấu chân anh đi

Vì nợ nước gạt bỏ tình nhà

Anh là đảo hoang giữa biển cả bao la

Là vì sao sáng trong đêm huyền ảo

Là ngọn hải đăng hướng dẫn mọi con tàu

Vượt bão táp phong ba trong những chuyến hải hành xa thẳm

Từ vực sâu linh hồn tôi bơ vơ chìm đắm

Nhờ có anh tôi tìm được phương hướng cuộc đời

Cuộc chiến đấu này hình ảnh Anh sẽ ngời sáng trong chúng tôi

Và muôn triệu cánh tay cùng viết lên trang sử mới!

Mũ Xanh Nguyễn Đăng Hòa

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Kỷ Niệm với Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Nguyễn Đăng Hòa
Comment

Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu – Hai con người, hai chiến tuyến, một ‘Mùa Thu Paris’

December 1, 2025 Ninh Tran

Mùa thu Paris, vườn Luxembourg

"Chủ tịch Hội đồng Giải Văn chương Toàn quốc lần thứ ba, học giả Thu Giang
Nguyễn Duy Cần đã nêu lên tiêu chuẩn lựa chọn của Hội đồng là : “Tác phẩm
được chọn sẽ là phản ánh của một nền văn hoá tự do, nghĩa là không bị bó
buộc trong khuôn khổ của một hệ thống tư tưởng nào, hay phải theo một khuynh
hướng văn nghệ hay chính trị nào cả”. Chế độ của miền Nam trước năm 1975 là
thế đó, cũng do chế độ nuôi dưỡng con người mà chúng ta có một kiến thức văn
hóa và văn học, những nhà thơ còn sống ở miền bắc, những người được chế độ
miền Bắc trọng dụng như Huy Cận, Chế lan Viên, Văn Cao, Lưu Hữu Phước hay
các nhà thơ tiền chiến khác như Xuân Diệu, Lưu trọng Lư, Đoàn Chuẩn, Nguyễn
văn Tý vẫn được tự do phổ biến và thưởng thức ở miền Nam cho dù tác giả còn
sống hay đã mất đang sống ở miền nam hay miền bắc.

Những tập thơ của họ tuy không ấn bản thành sách vì miền Nam tôn trọng luật
bản quyền chỉ xuất hiện dưới dạng quay Ronéo cho sinh viên, học sinh nghiên
cứu, hay thỉnh thoảng những bài hay được đăng tải trên những tạp chí.
Cũng vì tính tự do nên những tác phẩm của nhạc sĩ Phạm trọng Cầu vẫn được
lưu hành và nhiều người trong nhiều giới thưởng ngoạn khác nhau đều đã
thưởng thức (Cám ơn nhà văn Sỏi Ngọc đã chuyển đến hắn bài viết) .
Hắn gởi đến các bạn đọc để thưởng thức những chất lãng mạn của mùa thu
Paris.
Ara

Cung Trầm Tưởng đặt chân đến Pháp vào đầu thập niên 1950. Ông ghi tên thi
vào trường Kỹ sư Không quân ở Salon de Provence, ở miền Nam nuớc Pháp. Trong
thời gian học ở Pháp từ 1952 đến 1957, sinh viên Cung Trầm Tưởng cũng hay về
Paris và rất quen thuộc với khu Latin, khu trẻ trung và trí thức, nơi tập
trung các cửa hàng sách lớn của Paris, các tiệm café, nơi có công viên
Luxembourg, các giảng đường của viện Đại học Sorbonne, và đông đảo sinh viên
đủ các nước. Nơi đó Cung Trầm Tưởng có một mối tình với một người bạn gái
tóc vàng mắt xanh.
Một ngày đang giữa niên học, nàng nhuốm bệnh phải về quê tịnh dưỡng dài
ngày. Chàng sinh viên thi sĩ tiễn nàng ra nhà ga để đáp một chuyến xe lửa về
miền Provence.

Lên xe tiễn em đi
chưa bao giờ buồn thế
trời mùa đông Paris
suốt đời làm chia ly

Bài thơ “Chưa bao giờ buồn thế” đã được Phạm Duy phổ nhạc thành một bài hát
mang tên “Tiễn em”. Cung Trầm Tưởng cũng nhắc đến mối tình đó khi nhớ lại
những lúc bồi hồi chờ người yêu trong công viên Luxembourg dưới làn mưa thu
:

Mùa thu Paris
Trời buốt ra đi
Hẹn em quán nhỏ
Rưng rưng rượu đỏ tràn ly
Mùa thu đêm mưa
Phố cũ hè xưa
Công trường lá đổ
Ngóng em kiên khổ phút, giờ
Mùa thu âm thầm
Bên vườn Lục-Xâm
Ngồi quen ghế đá
Không em buốt giá từ tâm
Mùa thu nơi đâu ?
Người em mắt nâu
Tóc vàng sợi nhỏ
Mong em chín đỏ trái sầu
Mùa thu Paris
Tràn dâng đôi mi
Người em gác trọ
Sang anh, gót nhỏ thầm thì
Mùa thu không lời
Son nhạt đôi môi
Em buồn trở lại
Hờn quên, hối cải cuộc đời
Mùa thu! mùa thu
Mây trời âm u
Yêu người độ lượng
Trông em tâm tưởng, giam tù
Mùa thu !… Trời ơi ! Tình thu !

Bài thơ “Mùa thu Paris” của Cung Trầm Tưởng đã được Phạm Duy phổ nhạc thành
một bài hát cùng tên.

Mười năm sau Cung Trầm Tưởng, một sinh viên Việt Nam khác là Phạm Trọng Cầu
cũng đặt chân đến Paris để theo học lớp đào tạo của Học viện Cao cấp Âm
nhạc. Và ông cũng đã có một mối tình sinh viên giữa khung cảnh của khu
Latin. Trong thời gian du học tại Pháp từ 1962 đến 1969, nhạc sĩ Phạm Trọng
Cầu đã sáng tác bài “Mùa thu không trở lại” khi cuộc chia tay xảy ra vào mùa
thu. Ông tâm sự:
“Thời ấy mình có yêu một cô bạn gái có mái tóc đen dài, đôi mắt buồn vời
vợi. Đối với tôi… là một mối tình xa xưa thời còn trai trẻ. Gặp nàng vào mùa
xuân, mùa hạ tình nồng cháy và mùa thu nàng ra đi. Nàng về nước để từ đó
không bao giờ trở lại Paris nữa. Hôm tiễn đưa nàng đi rồi, mình trở về, bước
từng bước như người say rượu, ngang vườn Luxembourg. Khu vườn đó, khi tôi đi
ngang, tôi chợt nhận ra mùa thu, vì chân mình đá rất nhiều lá vàng, trong
tôi tự nhiên vang một giai điệu “Em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại…”
Dù là mùa thu ở Paris rất đẹp, nhưng mà từ mùa thu đó, với tôi,mùa thu không
bao giờ trở lại nữa”.

Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại.
Em ra đi mùa thu,
Sương mờ giăng âm u.
Em ra đi mùa thu,
Mùa thu không còn nữa.
Đếm lá úa mùa thu,
Đo sầu ngập tim tôi.
Ngày em đi,
Nghe chơi vơi não nề,
Qua vườn Luxembourg,
Sương rơi che phố mờ,
Buồn này ai có mua?
Từ chia ly,
Nghe rơi bao lá vàng,
Ngập dòng nước sông Seine,
Mưa rơi trên phím đàn,
Chừng nào cho tôi quên ?
Hôm em ra đi mùa thu,
Mùa thu không trở lại,
Lá úa khóc người đi,
Sương mờ dâng lên mi.
Em ra đi mùa thu,
Mùa lá rơi ngập ngừng,
Đếm lá úa sầu lên,
Bao giờ cho tôi quên ?

Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng đều đã có một thời gian du học tại Paris,
vào một thời buổi mà ít có người có cơ hội xuất ngoại và du học sinh Việt
Nam tại Kinh đô Ánh sáng cũng rất hiếm. Cả hai đều có một bài thơ nói về mùa
thu Paris, với khung cảnh rất giống nhau: cũng công viên Luxembourg với lá
vàng bay trong gió, cũng sương mù và bầu trời âm u, một bên thì buồn vì nàng
đã ra đi, người thì khắc khoải chờ người yêu đến… Tác phẩm của Phạm Trọng
Cầu là một bài thơ gồm những câu ngắn 5 chữ; nhà thơ cũng là nhạc sĩ nên đã
phổ nhạc thành một bài hát rất được mến chuộng tại miền Nam trong các thập
niên 60-70. Bài thơ của Cung Trầm Tưởng gồm những câu ngắn 4 chữ, được Phạm
Duy phổ nhạc. Bài hát cũng rất được ưa thích. Trong cả hai bài đều phảng
phất bầu không khí thơ mộng, lãng mạn, u buồn của thành phố Paris vào mùa
thu với những cơn gió lạnh thổi bay lá vàng giữa cơn mưa lất phất.

Nét giống nhau dừng lại ở chỗ đó, vì Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng có
những định mệnh khác hẳn, vì hai người ở hai bên chiến tuyến, một bên thắng
cuộc và một bên thua cuộc.

Phạm Trọng Cầu và Cung Trầm Tưởng, hai người ở hai bên chiến tuyến
Phạm Trọng Cầu sinh năm 1935 tại Phnom Penh, Campuchia, nhưng nguyên quán ở
Hà Nội. Năm 1943, gia đình ông trở về Sài Gòn, rồi về miền Tây sống tại quận
Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long. Năm 1948, Phạm Trọng Cầu trở lại Sài Gòn, tham
gia phong trào xuống đường đấu tranh của sinh viên học sinh. Một thời gian
sau, ông thoát ly và đầu quân vào Tiểu đoàn 308, rồi Trung đoàn Cửu Long của
Lực lượng kháng chiến Việt Minh.

Trong một trận đánh với quân đội Pháp, ông bị thương phải cưa chân. Gia
đình ông đã tìm cách đưa ông về Sài Gòn cứu chữa. Trong thời gian này ông
viết ca khúc đầu tay “Trường làng tôi”.

Năm 1956, Phạm Trọng Cầu nhập học khóa đầu tiên của trường Quốc gia Âm nhạc
và Kịch nghệ, mới được thành lập dưới thời Đệ nhất Cộng hòa, ở số 112 đường
Nguyễn Du, Sài Gòn
<https://www.google.com/maps/search/s%E1%BB%91+112+%C4%91%C6%B0%E1%BB%9Dng+N
guy%E1%BB%85n+Du,+S%C3%A0i+G%C3%B2n?entry=gmail&source=g
> . Sau khi tốt
nghiệp, năm 1962 ông sang Pháp thi vào Học viện Cao cấp Âm nhạc Paris
(Conservatoire National Supérieur de Musique). Tại đây, ông đã viết bản nhạc
“Mùa thu không trở lại” được xem như là một trong những bài hát tiêu biểu
của “dòng nhạc thính phòng” và được các ca sĩ thượng thặng của Sài Gòn trình
diễn.

Năm 1969, Phạm Trọng Cầu về nước giảng dạy tại trường Quốc gia Âm nhạc và
Kịch nghệ Sài Gòn, tham gia các đoàn văn nghệ như Nguồn Sống, sinh viên Phật
tử Vạn Hạnh… và bí mật hoạt động nội thành. Năm 1972, ông bị bắt và giam cho
đến năm 1975.

Sau khi được trả tự do tháng 4-1975, Pham Trọng Cầu về công tác ở Hội Văn
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Ông cũng phát động phong trào ca hát thiếu nhi,
thành lập các nhóm hợp ca và sáng tác nhiều ca khúc cho thiếu niên.

Ông mất năm 1998 tại Sài Gòn. Ngày nay ở quận 9, trong một khu dân cư mới
có một đường mang tên Pham Trọng Cầu.

Nhà thơ Cung Trầm Tưởng sinh trước Phạm Trọng Cầu ba năm và đặt chân đến
Pháp du học đúng 10 năm trước Pham Trọng Cầu. Cung Trầm Tưởng sinh năm 1932
tại Hà Nội. Năm 1949, gia đình ông rời Hà Nội vào Sài Gòn, ông học tiếp
trung học tại trường Chasseloup-Laubat (sau đổi tên thành Jean-Jacques
Rousseau rồi Lê Quí Đôn).

Năm 1952, sau một năm học đại học, ông sang Pháp du học, thi vào Trường Kỹ
sư Không quân ở Salon-de-Provence, miền Nam nước Pháp. Trường này là một
trong 5 trường đại học có qui chế quân sự có uy tín nhất của Pháp, cùng với
Trường võ bị Saint-Cyr, Trường Bách khoa (Polytechnique), Trường Sĩ quan Hải
quân và Trường Sĩ quan Cảnh binh. Năm 1957, ông tốt nghiệp trở về nước phục
vụ trong Binh chủng Không quân của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Trong khoảng thời gian này, 6 bài trong tập thơ Tình ca của Cung Trầm Tưởng
được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc : “Mùa thu Paris”, “Chưa bao giờ buồn thế”,
“Bên ni bên nớ”, “Khoác kín”, “Kiếp sau”, “Về đây”.

Năm 1962, ông sang Hoa Kỳ học về khí tượng và lấy bằng Tiến sĩ Khí tượng
học tại viện Đại học Saint-Louis, tiểu bang Missouri. Sau đó, ông trở về Sài
Gòn tiếp tục phục vụ trong Binh chủng Không quân VNCH với cấp bực cuối cùng
là Trung tá. Sau biến cố 30-4-1975, ông bị bắt đưa đi cải tạo 10 năm. Sau
khi được trả tự do, ông sang Hoa Kỳ định cư từ năm 1993.

Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu đều được biết gần như cùng thời gian với
những bài hát trở thành bất hủ trong dòng nhạc thính phòng quí phái của miền
Nam các thập niên 60-70. Cả hai đều đã một thời gian du học tại Pháp, Cung
Trầm Tưởng học trong một trong những trường kỹ sư có uy tín nhất nước Pháp,
còn Phạm Trọng Cầu được thụ huấn trong một Học viện Âm nhạc danh tiếng của
Châu Âu.

Năm 1975 là mốc định mệnh ; một người thì ra tù sau ba năm bị giam, người
kia thì vào tù cải tạo rồi bị giam giữ 10 năm.

Phạm Trọng Cầu tuy được đào tạo trong một Nhạc viện Hàn lâm nhưng tác phẩm
để lại rất ít. Tên tuổi của ông được nhớ đến chỉ nhờ có hai bài là “Trường
làng tôi” và “Mùa thu không trở lại”, đều được phổ biến trong miền Nam vào
những thập niên 60-70. Tuy ông đã tham chiến trong hàng ngũ Việt Minh và mất
một chân trong một trận đánh, nhưng ông vẫn được nhận vào học trường Quốc
gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn hình như không khó khăn lắm, và sau đó được
phép đi du học tại Pháp, vào một thời điểm mà số sinh viên xuất ngoại du học
rất ít. Sau khi Phạm Trọng Cầu bị bắt giam vào năm 1972 vì hoạt động gián
điệp nội thành, hai bài hát “Trường làng tôi” và “Mùa thu không trở lại” vẫn
được hát trên đài phát thanh, đài truyền hình, và được tự do phổ biến. Không
có một lệnh cấm nào từ trên đưa xuống.

Chính sách văn hoá của chế độ VNCH vào các thập niên 60-70 tuy không có văn
bản nào ghi xuống rõ ràng, nhưng có thể thấy được qua qui tắc làm việc của
Giải thưởng Văn Chương Toàn quốc được thiết lập năm 1957. Tạp chí Văn Hữu số
21 do Bộ Văn Hoá miền Nam ấn hành năm 1962 có đăng một bài về “Lược sử Giải
Thưởng Văn Chương Toàn Quốc thời Đệ Nhất Cộng Hoà” (1954-1963). Tác giả bài
viết cho biết là trong việc chọn các tác phẩm trúng giải có một nguyên tắc
không thay đổi là không đòi hỏi một điều kiện nào về nội dung hay hình thức
của các tác phẩm. Chủ tịch Hội đồng Giải Văn chương Toàn quốc lần thứ ba,
học giả Thu Giang Nguyễn Duy Cần đã nêu lên tiêu chuẩn lựa chọn của Hội đồng
là : “Tác phẩm được chọn sẽ là phản ánh của một nền văn hoá tự do, nghĩa là
không bị bó buộc trong khuôn khổ của một hệ thống tư tưởng nào, hay phải
theo một khuynh hướng văn nghệ hay chính trị nào cả”.

Cũng do một chính sách văn hoá nhân văn và cởi mở như vậy mà các bài hát
của Phạm Trọng Cầu còn được nhớ đến, cũng như những thơ văn tiền chiến hay
thời kháng chiến chống Pháp của Xuân Diệu, Huy Cận, Quang Dũng, Hữu Loan…
những ca khúc tình cảm hay chiến đấu của Phạm Duy, Đoàn Chuẩn, Nguyễn Văn
Tý, Văn Cao, Lưu Hữu Phước… vẫn được tự do phổ biến và thưởng thức, dù tác
giả còn sống hay đã chết, đang sống ở miền Nam hay miền Bắc.

Tưởng cũng nên nhắc nhở đến tính cách hết sức ôn hoà, vô tư và rộng lượng
của một chính sách văn hoá áp dụng ngay trong lúc đang diễn ra một cuộc
chiến khốc liệt nhất, một chính sách phục vụ cho một nền văn hoá nhân bản
đích thực, không để cho hận thù và ý thức hệ chính trị chi phối.

Vĩnh Đào

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Cung Trầm Tưởng và Phạm Trọng Cầu, Hai con người, hai chiến tuyến, một ‘Mùa Thu Paris’
Comment

Đôi Mắt NGƯỜI THƯƠNG (Đ.Văn) Nguyễn Cát Thịnh

December 1, 2025 Ninh Tran

Đôi Mắt NGƯỜI THƯƠNG (Đ.Văn)

Nguyễn Cát Thịnh

      Nó và tôi không xa lạ. Thời sinh viên, tôi là gia sư của anh em nó. Trái với đứa anh, nó thông minh, có cá tính, nhưng ham chơi biếng học. Tôi mất nhiều thì giờ dạy dỗ nên nhớ nó rất rõ.

       Sau cuộc biển dâu, gặp lại nhau trên đất khách quê người. Dù nó đã lột xác, tôi vẫn nhận ra.

Thật là thích thú được nghe câu chuyện đời tư của nó.

Tôi chỉ viết lại theo lời kể, không thêm bớt. 

Ghi chú: nhân vật xưng “Tôi” chính là nó.

                                              *****                                            

TÀI XẾ VÀ THÁNH NỮ

       Tôi là một người Việt gốc Hoa. Nhà tôi có 3 anh em. Trên tôi là anh Hai, hơn tôi gần 2 tuổi. Dưới tôi là gái út, kém tôi 4 tuổi.

       Thuở nhỏ, tôi và anh Hai học cùng lớp. Anh sáng dạ, học rất khá. Tôi lười học, chỉ giỏi mày mò tháo ráp máy móc, thích đánh lộn...

       Đến tuổi quân dịch, anh Hai nhận được giấy gọi nhập ngũ. Anh buồn lắm, nhìn thấy tương lai mờ mịt, suốt ngày than thở. Thương anh phải bỏ dở chuyện học hành, tôi ngỏ lời tình nguyện đi thay. Tôi và anh hoán đổi lý lịch. Cha mẹ đồng ý.

       Sau này, dù đáo hạn tuổi, anh vẫn được hoãn dịch, lý do gia cảnh, vì anh trở thành con trai duy nhất còn lại trong gia đình.

       Phường khóm chỉ biết chúng tôi với những cái tên ở nhà nên khi tôi cầm giấy tờ của anh trình diện, không ai nghi ngờ.Vả lại anh em tôi nhìn không khác nhau nhiều.

Sau khi mãn khóa quân trường, ông nội lo lót cho tôi về phục vụ trong ban quân xa của một đơn vị ngoại thành.

       Một dịp ngẫu nhiên, tôi được điều động đi sửa chữa khẩn cấp xe jeep của một vị sĩ quan cấp tá chết máy khi đang trên đường công tác. Thấy tôi nhanh nhẹn, tay nghề vững chắc, vị sĩ quan rất hài lòng. Mấy tuần sau tôi nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về làm tài xế cho vị sĩ quan đó. 

       Cuộc đời tôi bước vào một ngã rẽ, và số mệnh đã được định đoạt từ đây.

       Ngoài công tác lái xe, tôi được ông Tá (tên vị sĩ quan) xem như người nhà. Khi rảnh rỗi, tôi tình nguyện giúp sửa chữa những việc lặt vặt tại tư gia của ông. Thỉnh thoảng được mời ngồi ăn cơm chung với gia đình. 

       Ông bà có 4 người con, 2 trai 2 gái. Tất cả đều học trường Pháp. Cô gái lớn tên Sylvie xinh đẹp, có dáng dấp khỏe mạnh tây phương, rất tự nhiên với tôi. Nhưng tôi thì không tự nhiên khi tiếp xúc, có cảm tưởng cô chỉ xem tôi như một gia nhân. Tự ti mặc cảm, tôi chấp nhận, không thắc mắc.

Một ngày nọ, bà Tá bận việc không đón cô tan học như thường lệ nên ông Tá nhờ tôi. 

       Hôm đó trời mưa tầm tã suốt buổi. Chiếc xe jeep nhà binh không có vạt che 2 bên, mưa tạt mạnh vào trong. Trông cô như một tài tử đang diễn cảnh vừa rơi xuống hồ bơi mặc nguyên quần áo, bước lên xe. Run rẩy.

       Chiếc chemise trắng và chiếc jupe vàng dán sát làm phông, nổi bật nội y. Lồ lộ một bông hoa đang hé nở. Toàn thân phác họa sẵn những đường nét hình thành một thần vệ nữ tương lai.

       Tôi không ướt nhiều mà cũng run rẩy. Mặt nóng bừng bừng, mê man trong cơn sốt ảo. Chỉ đến khi cô nhắc cho xe chạy tôi mới sực tỉnh. 

      Tôi cởi chiếc áo khoác lính đưa cô che đậy. Tránh ánh mắt nhìn hau háu, chiêm ngưỡng, ghen tỵ của những chàng trai qua đường.

       Tôi sung sướng suốt mấy ngày. Cười nói huyên thuyên. Chiếc áo khoác tôi treo sát đầu giường, không bao giờ phơi, không bao giờ giặt. Hương thơm phảng phất cho tôi quên hết mệt nhọc sau ngày dài làm việc và ban đêm dìu tôi vào giấc ngủ dễ chịu êm ái nhất. 

Hình ảnh hôm ấy của cô khắc sâu trong tâm trí. Nếu là họa sĩ tôi có thể vẽ không thiếu một chi tiết.

DI TẢN VÀ ĐỊNH CƯ 

       Ngày di tản. Dòng người hối hả chen lấn xô đẩy khi chiếc máy bay chưa kịp ngừng hẳn. Tôi xách 2 chiếc vali định trao cho ông Tá rồi trở về nhưng bị chèn ép, không thoát ra được. Bị nhét vào bên trong máy bay, trở thành người di tản bất đắc dĩ.

Chúng tôi được định cư ở Grand Rapids thuộc tiểu bang Michigan. 

       Tại Mỹ, tôi hội nhập dễ dàng hơn gia đình ông bà. Hội nhà thờ giới thiệu tôi và ông Tá làm công nhân trong một xưởng sản xuất phụ tùng xe hơi.Tôi học thêm nghề hàn,sống khá thoải mái. Bà Tá vẫn còn hoài niệm mệnh phụ phu nhân, không chấp nhận lao động chân tay. 

4 người con được xếp vào các lớp học theo độ tuổi. 

       Trong hãng xưởng có nhiều công nhân Việt Nam thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Buổi ăn trưa chúng tôi thường tách thành nhóm riêng, nói tiếng Việt rôm rã. 

       Một hôm, có một thanh niên không hiểu sao sừng sỏ, nói bóng gió, ở VN làm tướng làm tá hách dịch, qua đây thằng nào cũng như thằng nấy, cũng cu li như nhau. Tôi không dằn được cơn giận, định dạy cho anh ta một bài học nhưng ông can ngăn.

       Tôi lớn tiếng, ông thầy tôi đã ngã ngựa nhưng vẫn khí khái. Không nề hà công việc nào, miễn là lương thiện, anh phải kính phục hơn là khinh thường. Hơn nữa tuổi của ông ta bằng tuổi cha chú của anh, anh không được hỗn xược gọi ông là thằng. Mọi người vỗ tay hoan nghênh, anh ta xấu hổ bỏ đi, từ đó bị tất cả xa lánh. 

       Ông Tá lủi thủi bước, cúi mặt, nói với chính mình: “Thằng ông lưu vong ơi, đã đủ nhục chưa?”

Cô Sylvie bỏ học, theo đám bạn bè cùng lứa, sống bầy đàn khiến ông bà phiền lòng không ít.      Ông vốn sống lặng lẽ lại càng lặng lẽ. Tôi là người duy nhất hầu chuyện ông, giúp ông khuây khỏa. 

Có lần ông nói với bà mà tôi vô tình nghe được: 

- Phải chi con Sylvie chịu lấy thằng... thì đâu đến nỗi.

Bà trừng mắt nói:

- Ông muốn gả con gái ông cho ai? Cho nó ư? Nó chỉ là thằng lính tài xế!

Ông nhỏ nhẹ: 

- Tuy thế nó biết trên dưới,biết lễ độ,biết chí thú làm ăn, không khá hơn cái đám bạn bè ăn chơi của con bà ư? 

      Tôi không khỏi suy nghĩ. Tự nhủ, phải quyết tâm tìm chút công danh cho mở mắt với đời. Tôi dành thời giờ buổi tối, ôn luyện chương trình trung học. Sau đó nhờ bà láng giềng tốt bụng hướng dẫn ghi danh học ở Kalamazoo Valley Community College 2 năm và tiếp theo 2 năm nữa ở University of Michigan-Flint.

       4 năm học tập vất vả rồi cũng qua. Tôi nhận được văn bằng tốt nghiệp Cử nhân Khoa học Kỹ thuật Cơ khí. Ông Tá chúc mừng, đãi tôi bữa cơm thân mật. 

Ông nói với bà:

- Bà thấy chưa? Mỹ là đất nước của cơ hội. Mọi người đều bình đẳng. Có ý chí phấn đấu sẽ thành công. Từ thằng tài xế nó đã trở thành ông kỹ sư. Không tiến thủ, ỷ lại, sẽ bị bỏ rơi phía sau như con gái bà. Đấy! Cô tiểu thư của bà,dân trường tây trường đầm bây giờ có ra gì!

Bà Tá tỏ vẻ bất cần, không đáp trả.

      Tôi tìm được công việc mới, phù hợp với khả năng. Ông Tá thay đổi công việc vài lần rồi tới tuổi hưu trí. 

      Mỗi cuối tuần tôi đều rủ ông đi uống cà phê, đi câu cá, đi ăn ngoài hoặc đi gặp các bạn già của ông. 

      Ông rất quý mến tôi. Riêng tôi vẫn kính trọng ông như ngày xưa, nói với ông, tôi lúc nào cũng là lính của ông.

     Tôi âm thầm theo dõi sinh hoạt của cô Sylvie, vẫn tôn thờ thánh nữ của tôi. Đồng thời cùng chia sẻ sự lo lắng của ông bà Tá. 

      Tôi hứa với cô, bất cứ khi nào cô cần đều có tôi, không điều kiện. Những lần cô gọi tôi giúp giải vây đám côn đồ, tôi đều hăng hái. Cô xem đó như là nhiệm vụ của tôi phải bảo vệ cô. Buồn ít nhưng vui nhiều.

ĐÔI MẮT NGƯỜI THƯƠNG 

       Những năm sau này tôi nhận ra mắt thường bị khô, cộm. Đôi lúc nhạy cảm với ánh sáng, nhất là với ánh sáng chói. Tôi nghĩ, có lẽ do hậu quả của thời gian làm nghề hàn nên không quan tâm.

      Tôi hối hận đã không mua thêm bảo hiểm cho dịch vụ khám mắt định kỳ, ngoài Medicaid của tiểu bang. Nếu được phát hiện sớm tôi đã không lâm vào hoàn cảnh ngặt nghèo.

       Cho đến khi thị lực giảm, nhìn mờ. Soi gương thấy có đốm trắng trên giác mạc, tôi hoảng hốt, đến bệnh viện nhãn khoa khám thì tình trạng đã khá nghiêm trọng. 

Bác sĩ chẩn đoán thoái hóa giác mạc nặng, thị lực có thể suy giảm theo thời gian. Nguy cơ mù vĩnh viễn nếu không được điều trị kịp thời. 

       Các loại thuốc nhỏ mắt và thuốc nhỏ nước mắt nhân tạo chỉ giúp giảm khô mắt và bảo vệ giác mạc tạm thời.

       Hai giải pháp được bác sĩ đưa ra. Hoặc cấy ghép mô nhân tạo bằng phương pháp hiện đại giúp tái tạo giác mạc, hoặc phẫu thuật ghép giác mạc của người hiến tặng. Giải pháp thứ hai có lẽ thích hợp với tôi hơn, nhưng danh sách chờ ghép quá dài, vì hiếm nguồn hiến tặng. Tôi được giới thiệu ghi danh tại chi nhánh của tổ hợp “Northwest Eye Surgeons” ở Chicago, với hy vọng rất mỏng manh.

       Tin dữ ập đến với gia đình ông bà Tá. Cô Sylvie bị tai nạn giao thông! Tình trạng nguy kịch. Bệnh viện tiên liệu xấu, khó qua khỏi. Gia đình họp khẩn cấp. Không ai giữ nổi bình tĩnh ngoại trừ ông Tá. 

         Tôi nghe tin mà bất lực, mắt đã mờ hẳn, không thể di dịch xa như ý muốn. Cậu em trai của cô chở tôi đến bệnh viện gặp mọi người. 

          Cô Sylvie đã chết não. Bà Tá khóc lóc thảm thiết, ôm con nói trong nước mắt ràn rụa, con tôi chết trẻ, chết oan uổng, làm sao có thể nhắm mắt. 

       Ông Tá nghe thế, đột nhiên có một ý nghĩ nảy sinh trong đầu. Ông đề nghị hiến giác mạc của cô Sylvie cho tôi để cặp mắt của cô sẽ sống mãi.

         Bà Tá không đồng ý nhưng dưới áp lực và lời khuyên chân thành cuối cùng chấp nhận. 

Quá bất ngờ, tôi không kịp suy nghĩ, bất động, cảm kích không nói nên lời. 

       Việc lấy giác mạc phải được thực hiện trong vòng 6-24 giờ sau khi người hiến qua đời để bảo đảm chất lượng mô nên xe cứu thương đưa xác cô Sylvie và tôi đến bệnhviện nhãn khoa“Northwest Eye Surgeons”tức thời. 

Cuộc phẫu thuật thành công như mong đợi. Ghép giác mạc là một phẫu thuật ngoại trú. 

       Sau khi theo dõi vài giờ, không thấy có nguy cơ biến chứng, tôi đã được xuất viện cùng ngày. Phải giữ băng mắt trong 2 ngày và dán nắp kính bảo hộ khi ngủ, để tránh vô tình chạm dụi mắt. 

       Sau 2 ngày thì tháo băng. Không có cảm giác khó chịu và sưng nên tôi lại nhờ cậu em trai đưa về nhà ông bà Tá để cảm ơn tấm lòng nhân đạo bao la của ông bà và cũng để đến trước di ảnh cô Sylvie thành tâm tưởng nhớ. Ông bà muốn xem đôi mắt tôi nhưng không được vì vẫn còn mang kính do nhạy cảm với ánh sáng và chảy nước mắt. Chỉ khi thị lực ổn định mới được để mắt trần.

       Điều kỳ lạ, mỗi khi nhìn vào gương, tôi không thấy chính mình, mà thấy hình bóng cô Sylvie. Đôi mắt ấy, cái nhìn ấy – là của cô! Mỗi lần nhắm mắt, tôi đều cảm nhận như cô vẫn ở bên cạnh, cười với tôi, nói chuyện với tôi bằng chính đôi mắt đó.

       Bà Tá vẫn chưa hoàn toàn chấp nhận sự thật. Bà không biểu lộ thiện cảm với tôi vì nghĩ tôi không xứng với con gái bà. Nhưng giờ đây, mỗi lần nhìn tôi, bà lại thấy đôi mắt ấy – đôi mắt của cô Sylvie, trong veo mà day dứt. Có lần bà buồn bã nhìn tôi, chợt hỏi:

– Dạo này... con có nhớ Sylvie nhiều không?

Tôi sững lại. Bà chưa từng gọi tôi là “con”. 

Tôi khẽ gật đầu:

– Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút bà ạ.

       Bà Tá im lặng nhìn tôi. Gọi tôi là con nhưng có bao giờ bà xem tôi như con đâu. Giờ đây, từng ánh nhìn, từng cử chỉ của tôi đều gợi cho bà hình bóng cô Sylvie. Có lẽ, định mệnh đã sắp xếp để chàng trai này cùng chung sống với một phần cơ thể của con gái bà.

       Một buổi chiều muộn, tôi ghé thăm nhà. Ông Tá ra mở cửa, vỗ nhẹ lên vai tôi, vẫn ánh mắt ấm áp:

– Vào đi con, lâu rồi sao con không tới ăn cơm với gia đình?

       Căn nhà từng đóng kín cửa vì nỗi đau mất con, hôm nay lại mở rộng với tôi. Bước vào, thấy trên bàn thờ di ảnh cô Sylvie, rạng rỡ như ngày nào. Tôi khẽ cúi đầu, thì thầm trong lòng:

- Cô... cô vẫn đang đồng hành cùng tôi trên con đường đời, đúng không?

Ngoài hiên, gió nhẹ lay lay những chùm hoa giấy, nghe như tiếng động gật đầu.

      Từ ngày bước vào căn nhà của ông bà với tư cách một người thân, tôi dần quen với sự hiện diện của bà và ông trong cuộc đời mình. 

      Bà Tá vẫn không thể gọi tôi là “con rể”, nhưng sự quan tâm của bà dành cho tôi không khác gì mẹ lo cho con. 

       Bà kín đáo quan sát tôi. Mỗi lần đến thăm, bà đều cho tôi thưởng thức những món ăn Sylvie từng thích. 

        Đôi khi bà hỏi han chuyện công việc của tôi, rồi chuyện nọ chuyện kia. Nhắc nhở tôi giữ gìn sức khỏe.

Tôi không biết từ khi nào tôi đã trở thành một thành viên của gia đình ấy. 

       Mỗi khi ở bên ông bà, tôi cảm thấy gần cô Sylvie hơn, như thể cô vẫn hiện diện đâu đây, qua từng món ăn, từng bức ảnh, từng kỷ niệm nhỏ mà mọi người kể lại.

       Sau ca ghép giác mạc, tôi phát hiện ra một điều lạ lùng. Đôi mắt tôi không chỉ giúp tôi nhìn rõ hơn mà dường như còn chứa đựng một phần ký ức. 

       Có những lúc mơ màng, mơ mà như thực. Tôi thấy mình lái xe dưới cơn mưa tầm tã đón cô ở cổng trường, thấy bàn tay mình cầm một cuốn sổ nhỏ với những dòng chữ quen thuộc tôi chưa từng viết.

       Một đêm nọ, tôi giật mình tỉnh dậy, tim đập thình thịch. Trong giấc mơ, tôi thấy mình đang đứng trước gương, nhưng khuôn mặt phản chiếu không phải của tôi, mà là của cô. Cô cười vui, hàm răng trắng bóng, ánh mắt tràn đầy yêu thương. Tôi lẩm bẩm, nhìn chằm chằm vào gương:

- Cô vẫn ở đây, bên tôi, đúng không? 

       Đôi mắt trong gương lóe lên ánh nhìn linh động. Không có tiếng trả lời, nhưng tôi có cảm giác như cô đang mỉm cười với tôi qua chính đôi mắt ấy.

       Tôi không kể điều này với ai. Tôi sợ nếu nói ra, người ta sẽ bảo tôi bị bệnh hoang tưởng. Dần dần cảm giác đó không ám ảnh nữa. Nó trở thành một sự hiện hữu quen thuộc, một niềm an ủi đích thực. Tôi không còn thấy cô đơn, vì biết rằng cô vẫn ở bên tôi, theo một cách đặc biệt.

       Bà Tá lúc đầu vẫn giữ khoảng cách với tôi, nhưng càng ngày, bà càng thấy hình ảnh của chính con gái mình rõ nét hơn trong từng ánh mắt, từng cử chỉ của tôi. 

       Bà lặng lẽ nhìn tôi chăm sóc chậu hoa giấy con gái bà từng yêu thích, thấy tôi cẩn thận lau chùi từng món đồ kỷ niệm của Sylvie, thấy tôi thỉnh thoảng lặng người nhìn về phía bàn thờ, như đang trò chuyện với cô.

       Một hôm trong bữa cơm, bà bỗng giật mình, dí sát, nhìn vào mắt tôi, rơi cả đũa. Ảo giác khiến bà lạc giọng:

- Đúng rồi! Đúng đứa con gái bé nhỏ của mẹ đây rồi! Con tôi đã trở về! Con tôi! Mẹ đã thấy con trong đôi mắt con. Mẹ... mẹ muốn... cho mẹ ôm con vào lòng...

       Bà giang hai tay ôm một chiếc bóng vô hình rồi hôn lên mắt tôi. Bà nếm những giọt nước mắt lăn dài mà tôi không biết chảy từ lúc nào. Bà nói trong nước mắt:

- Cứ khóc đi con! Mẹ và con cùng khóc ! Những giọt nước mắt hạnh phúc của hai mẹ con mình!

Qua cơn xúc động, bà trìu mến hôn lên mắt tôi một lần nữa:

- Hay là con dọn về ở đây đi. Mẹ muốn thấy con của mẹ mỗi ngày.

Rồi giọng bà mềm đi:

- Ừ! mẹ biết... con thương Sylvie. Con hãy xem nơi này như nhà nghe con.

       Tôi nghẹn lời. Đã vài lần bà gọi tôi là “con”, nhưng lần này gọi con xưng mẹ một cách tự nhiên. Cảm giác nhận được chân tình của bà tràn ngập trong lòng, tôi khẽ gật đầu.

       Từ hôm đó, tôi qua lại nhà ông bà hàng ngày. Tôi chăm sóc họ như cha mẹ mình, còn họ xem tôi như con trong gia đình. Bà không khách sáo, mà dần chấp nhận sự thật. Bằng tâm linh, con gái bà vẫn tiếp tục sống trong thế giới này, với đôi mắt ấy, thông qua chàng trai trước mặt bà.

        Thời gian trôi qua, tôi vẫn không yêu ai khác. Trong lòng tôi, cô chưa bao giờ rời xa. Tôi vẫn giữ thói quen đi dạo trên những con đường cô từng đi, vẫn giữ quyển sổ nhật ký của cô bên mình, dù chưa một lần mở ra. Tôi sợ biết những điều không muốn biết.

Một buổi chiều, khi đang ngồi bên hiên nhà ngắm nhìn hoa giấy bay trong gió, bà Tá chợt hỏi:

- Con vẫn không định tìm một ai khác sao?

Tôi mỉm cười lắc đầu. Không cần phải nói gì thêm, vì bà đã hiểu.

- Thôi được rồi... 

Bà thở nhẹ, không còn băn khoăn như trước: 

- Dù sao thì, con vẫn là con của gia đình.

       Tôi nhìn bà, cười tươi. Tôi biết, dù cô đã không còn, nhưng tôi thay chỗ cô trong gia đình, vẫn cùng cô đi đi về về. 

       Và dẫu cuộc sống có ra sao, tôi vẫn luôn mang theo đôi mắt người thương, để nhìn thế gian này bằng ánh mắt của cô, để yêu thương mọi thứ theo cách cô từng yêu thương.

Hoàng hôn buông xuống, nhuộm vàng cả khung trời. Qua làn gió thoảng, dường như có ai đó đang cười bằng mắt.

*****

Đồng cảm, người viết gửi tặng người trong truyện mấy câu:

Một đôi mắt, nhập hai tâm hồn,

Vui buồn cười khóc với thế nhân.

Sống-chung đời-lòng thề không đổi,

Nhắm mắt cùng nhau lúc lìa trần.

Nguyễn Cát Thịnh

Ngày 10 tháng 2 năm 2025

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Đôi Mắt NGƯỜI THƯƠNG, Nguyễn Cát Thịnh
Comment

NẾU CÓ THỂ ĐI VỀ QUÁ KHỨ TÔI SẼ ĐI THĂM ĐẤT NƯỚC TÔI…(Huynh Wynn Tran, MD.)

November 25, 2025 Ninh Tran

NẾU CÓ THỂ ĐI VỀ QUÁ KHỨ TÔI SẼ ĐI THĂM ĐẤT NƯỚC TÔI…

Khi phỏng vấn vào chương trình Tuyển Sinh Y Khoa, có một câu hỏi từ giáo sư tuyển sinh làm tôi nhớ mãi:

 - Nếu em có thể đi về quá khứ để thăm một người hay đến một nơi nào đó, em sẽ đi đâu?

- Thưa thầy, em sẽ đi thăm đất nước của em: VIỆT NAM CỘNG HÒA 

 Khi tôi được sinh ra, VIỆT NAM CỘNG HÒA đã không còn nữa.

 Từ nhỏ, tôi nghe nói về VNCH từ ba tôi và những người bạn. Tôi chỉ hiểu rõ hơn về VNCH khi tôi lớn lên và qua Mỹ sau này. Càng tìm hiểu, tôi càng nhìn rõ hơn một thời bi thương oanh liệt của người miền Nam Việt Nam trong cuộc nội chiến nồi da xáo thịt, sự bất lực của những nước bé trong cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa những cường quốc.

 Tôi sẽ về lại Sài Gòn, Hòn Ngọc Viễn Đông, nhảy lên một chiếc xích lô máy dạo phố. Tôi muốn nghe tiếng máy nổ phịt phịt giòn tan trộn mùi xăng pha nhớt trong buổi sáng tinh sương Đô Thành. Tôi sẽ ghé chợ Bến Thành ăn một tô phở gà, ngắm nhìn các cô thiếu nữ Sài Gòn mặc áo dài bó eo, đeo kính mắt to tròn đèo nhau trên chiếc xe Honda Cub ở bùng binh trước chợ.

 Ăn xong, tôi sẽ thả bộ dọc đường Duy Tân, ghé qua toà Đô Chánh và toà nhà Hạ Nghị Viện, phác lại vài nét kiến trúc bằng bút chì trước khi tản bộ ra sông Sài Gòn ngắm tượng Đức thánh Trần Hưng Đạo. Sau đó, tôi sẽ nhảy xe lên lambro về Nhà Bè nước chảy chia hai, ghé qua vườn trái cây Lái Thiêu bẻ măng cục, bóp nát vỏ xám đen lòi múi thịt trăng trắng ngọt lịm bỏ vào miệng.

 Buổi tối, tôi sẽ ghé thăm phòng trà Tự Do nghe Khánh Ly hát.

 Có thể nói nhạc vàng (bolero) từ thời VNCH là dòng nhạc đẹp nhất của âm nhạc hiện đại Việt Nam.

 Đến nay, dòng Bolero tại Viêt Nam tuy ngày càng nở rộ nhưng những ca khúc hay nhất đều sáng tác thời VNCH.

 Nhưng cái tôi muốn cảm nhận rõ nhất ở VNCH là tính nhân văn và tình người Việt Nam, có được do nền giáo dục đậm chất nhân bản.

 Thời VNCH, các trường ĐH tuy mới bắt đầu chập chững nhưng đã để lại những nền tảng vững chắc cho các trường đại học lớn ở Việt Nam sau này.

 Ở đó, học trò được dạy về trên 3 nguyên tắc:

 - Nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

 Tôi sẽ ghé qua bộ giáo dục VNCH để thăm hỏi vì sao chỉ trong một vài năm... đã thành lập một hệ thống giáo dục Đại học tiến bộ gồm Đại học quốc gia và Đại học cộng đồng địa phương.

 

Đại học thời VNCH hoàn toàn tự chủ về chuỵên môn, không chịu sự quản lý của bộ giáo dục.

 Ngân sách của trường ĐH do quốc hội chuẩn duyệt hàng năm, nhân viên và giáo sư thuộc Tổng uỷ công vụ.

 Tôi sẽ ghé thăm Viện ĐH Sài Gòn (có 8 phân khoa Y, Dược, Nha, Sư Phạm, Khoa Học, Văn Khoa, Luật, và Kiến Trúc).

 Dĩ nhiên tôi chỉ thăm được đại học xá (ký túc xá) Minh Mạng dành cho nam vì đại học xá Trần Quý Cáp dành cho nữ.

 Nếu có thời gian, tôi sẽ ghé thăm Viện Đại Học Cần Thơ, nơi tôi đặc biệt thích chất miền Tây phóng khoáng trong từng sinh viên.

 Thời Đệ Nhất Cộng Hoà, nền giáo dục nhân bản đã để lại cho bao thanh thiếu niên Việt Nam lòng yêu nước mãnh liệt, muốn góp tay xây dựng đất nước phú cường bằng trao dồi kiến thức học hành để mang đất nước ra tầm thế giới.

 Tôi vẫn còn cảm nhận được đều này khi gặp lại những thanh niên ngày ấy là những ông bà lão tại Mỹ sau này.

 Ba tôi, một sĩ quan VNCH, cùng là một trong những thanh niên ngày ấy.

 Và dĩ nhiên, tôi sẽ gặp Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu để hiểu rõ về những gì xảy ra với đất nước.

 Vì những gì tôi đọc được và nghiên cứu từ nhiều phía vẫn chưa đủ để tôi trả lời câu hỏi vì sao một đất nước Nhân văn, đề cao tính Dân tộc, và phồn vinh như VNCH lại bị bức tử.

 Ngày 30/4 hằng năm, tôi vẫn nhớ về 200,000 người Việt Nam đã bỏ mạng trên biển trên đường tìm Tự do, hàng triệu người Việt đã chết trong cuộc chiến, vẫn nghĩ về sự ngạo mạn của kẻ chiến thắng, sự khốc liệt và dơ bẩn của chính trị.

 Tôi vẫn nhớ về VNCH phồn vinh, thịnh vượng, và nhìn lại đất nước Việt Nam ngày hôm nay mà không khỏi đắng lòng.

 Huynh Wynn Tran, MD.( Tác giả ) 

In Giáo Dục, Quán Chiếu, Văn Hóa Tags NẾU CÓ THỂ ĐI VỀ QUÁ KHỨ TÔI SẼ ĐI THĂM ĐẤT NƯỚC TÔIHuynh Wynn Tran, MD., Huynh Wynn Tran, MD
Comment

Thoảng Chút Hương Ngâu (Quyên Di)

November 20, 2025 Ninh Tran

Ngâu vàng rụng xuống lòng ai, 
Hương ngâu chưa dứt, dặm dài khuất xa…”

Người ta kể rằng: Thuở xa xưa có một thư sinh họ Trần, tục gọi là Trần
sinh, nhà ở ven đồi Tịch Liêu, đất phủ Thiên Trường.
Sinh mồ côi từ nhỏ, sống thanh bạch, lấy việc đọc sách, làm thơ, viết thư
pháp làm vui. Mỗi ngày dâng hương tổ tiên, mỗi đêm thắp đèn đọc sách. Lòng
Sinh như gương, ý Sinh như suối, không màng danh lợi, chỉ yêu cái đẹp trong
câu văn, nết người, và cây cỏ.

Trước hiên nhà Sinh có một cây ngâu, chẳng rõ ai trồng, chỉ biết từ ngày
Sinh dọn về, cây thêm xanh mướt lạ thường, lá nhỏ như móng tay con gái, hoa
vàng li ti, ẩn trong lùm lá rậm rạp. Mỗi lần gió thổi, hoa ngâu không rơi lả
tả, mà rụng từng bông một, nhẹ như tiếng ai thở dài.

Sinh lấy làm lạ, ngày ngày ra quét hoa, tưới gốc, rửa lá, đôi khi còn ngồi
dưới gốc cây mà ngâm thơ Đường, bình văn cổ. Khi ấy gió nổi hương bay, lòng
Sinh khẽ động.

Cây chẳng nói mà như nghe, 
Người không hỏi mà như được đáp. 
Mỗi buổi hoàng hôn, hoa vàng lặng lẽ rụng,
Mỗi buổi trăng lên, khói hương âm thầm bay.

Một đêm đầu thu, Sinh đang đọc sách trong thư phòng, thì thấy thoảng qua
cửa sổ một dáng người yểu điệu, áo lụa vàng nhạt như hoa ngâu mới hé. Người
ấy bước vào, thắp lư hương trầm, nhóm lò củi quế, rót trà, không nói lời nào.

Sinh kinh ngạc, chưa kịp lên tiếng, nàng đã cúi đầu thi lễ:
-Thiếp là khách không mời, đến nghe chàng đọc sách. Nếu có quấy quả, xin
nhận một búp trà này làm lễ bồi tạ.
Nói rồi, nàng bưng chén trà đặt lên án thư. Hương trà ngọt thanh, lạ lẫm mà
sâu, như từng đi qua cõi trời rồi mới về nhân thế. Sinh ngồi lặng, không đuổi, không giữ, chỉ rót nước, đọc sách. Từ đó, mỗi đêm nàng lại đến, lặng như sương, ấm như lửa, bền như khói trà.

Sinh có lần hỏi nàng:
-Nàng lấy đâu ra những hương liệu quý như trầm Hương Sơn, củi quế Trà Mi,
trà Bích La, Vân Cốc?

Nàng chỉ mỉm cười, đôi mắt sâu như chén ngọc không đáy, không nói một lời.

Có người yêu không bằng lời,
Có người hiện không để lại vết.
Lửa đỏ mà không nóng,
Hương bay mà không vướng áo.

Đêm nọ, sau buổi Sinh đọc sách bình thơ, nàng ngồi lặng dưới ánh đèn mờ, nghe gió lùa qua tàn ngâu, rơi xuống sân từng bông vàng nhỏ như lời thì thầm của trời.
Nàng lắng lòng. Một ý nghĩ dâng lên, dịu như làn hơi:
Nếu có thể dâng chàng một thức trà riêng, chỉ của riêng nàng, thì đời này, dù không làm vợ, cũng không tiếc xót. Nhưng nàng không học ướp hương, không quen đợi lửa; chỉ biết lặng lẽ lượm từng bông hoa ngâu vừa rụng – không hái, không vội – như nhặt từng ký ức vụn. Nàng đâu biết chính nàng là hồn của cây ngâu ngưng tụ trong không gian trầm lắng mà thành.
Mỗi bông hoa nàng hái bằng hai ngón tay, là một mảnh lòng nàng dành cho Trần Sinh từ kiếp trước. Mỗi chiếc khăn lụa nàng dùng để gói hoa, là một nếp thở nàng đã giấu đi mỗi lần nghe Sinh đọc thơ tình mà không gọi tên ai.

Nàng không ướp hoa bằng than hồng, mà ủ trong hộp gỗ hoàng đàn, đặt cạnh gối suốt bảy đêm; mỗi đêm nghe thơ, nghe Trần Sinh thở, nghe lòng mình lặng lẽ dậy hương.

Trời tháng Bảy có một đêm mưa rất nhẹ. Không sấm, không gió. Chỉ là mưa như
giọt nhớ từ một cõi khác nhỏ xuống thế gian.
Sáng hôm sau, nàng mở hộp hoa.
Mùi ngâu không còn là ngâu.
Mà là một thứ hương chưa từng có trong đất trời.
Vàng. Dịu. Sâu. Và mang theo tiếng ai đang chờ…
Thiếu nữ lấy ngâu ấy ủ với lá trà còn búp nõn, hái trên đỉnh đồi vào những buổi sáng còn mờ sương.

Trời tháng Bảy lại có một đêm mưa rất nhẹ. Không sấm, không gió. Thiếu nữ
áo vàng ngồi trong thư phòng, nghe tiếng mưa rơi qua mái ngói cũ, lòng chợt
nhớ đến một lời người đời thường kháo nhau: “Mưa tháng Bảy là nước mắt của
Ngưu Lang – Chức Nữ, mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần trên cầu Ô Thước, rồi
lại chia tay giữa nghìn sao lạnh.”
Nàng nghĩ: Nếu những giọt mưa ấy là nước mắt của một cuộc tình quá đẹp, thì
sao ta không hứng lấy mà pha trà dâng người mình yêu? Biết đâu, trong một
chén trà ngâu, sẽ có một giọt duyên chưa nói thành lời.

Nàng bèn mở cửa, bước ra sân. Cây ngâu lặng lẽ rơi từng bông vàng xuống mái
tóc nàng đang dần ướt. Nàng không mang ô. Không phủ khăn. Chỉ đưa đôi tay lên trời, hứng lấy từng giọt mưa, như hứng lấy hơi ấm của một mối tình không cần được gọi tên. Áo ướt. Tóc ướt. Cả thân người như tan vào màn mưa ấy; mỏng như lụa, trong như ngọc, nhẹ như một tấm lòng không lời.
Đêm ấy, nàng không thấy lạnh. Chỉ thấy mình đang tắm trong thứ nước tinh khiết của yêu thương.

Mỗi giọt mưa là một lời thì thầm của trời, bảo rằng:
“Nếu yêu mà không thể nói, thì hãy rót vào trà. Người nhận sẽ biết.”
Thiếu nữ lấy thứ nước mưa tinh khiết ấy mà pha trà ngâu. Trà ấy trong như lưu ly, màu vàng sóng sánh như tơ trời chưa dệt. Hương thơm không qua khứu giác, mà len vào trí nhớ như một câu thơ cũ đọc lại giữa chiều yên.

Nàng dâng Trần Sinh. Không nói.
Sinh vừa nhấp một ngụm, lòng khựng lại.
Không phải vì ngon, mà vì trong khoảnh khắc ấy, Sinh biết mình đang được
yêu. Uống xong, mắt Sinh chợt mờ sương, tim nhẹ đi một nhịp.

Từ đó, Sinh không uống loại trà nào khác ngoài trà Hương Ngâu.

*

Năm Sinh tròn ngũ tuần. Buổi chiều hôm ấy, nàng tặng Sinh chiếc áo bào tơ
tằm màu vàng nhạt, tự tay nàng dệt, may, không một đường kim lệch. Sinh mặc
vào, ngồi dựa gốc ngâu mà đọc sách như mọi chiều, tay cầm chén trà Hương
Ngâu thơm lặng.
Ánh tà dương xiên qua cành lá, hắt xuống tấm áo vàng.
Một bông ngâu rơi vào sách. Sinh khẽ mỉm cười.
Rồi… ngủ thiếp đi.

Sáng hôm sau, người ta không thấy Trần Sinh đâu nữa.
Sách còn để mở, trà còn bốc hương, áo còn treo trên ghế.

Có người bảo Sinh cưỡi hạc vàng bay về trời cùng Ngưu Lang, Chức Nữ, hoá
thành vì sao thứ ba trên dải ngân hà.

Người khác lại nói: Sinh đã hoà mình vào cây ngâu. Mỗi khi hoa nở, hương
thơm chính là Sinh đọc sách trong gió.

Không ai rõ. Chỉ biết từ đó về sau, thiếu nữ áo vàng không còn xuất hiện.
Nhưng hễ đêm nào gió đưa mùi ngâu thoảng vào thư phòng, người ta thấy một
ánh lửa mờ sau rèm giấy, và tiếng ai đang ngâm một bài thơ cổ…

Ngâu rụng không vang, nhưng thơm lâu,
Người đi không gọi, mà nhớ mãi.
Một chén trà vàng, hương chưa cạn,
Một mối duyên ngâu, mộng chưa tan.

Người ta bảo bài thơ cổ ấy như sau:

黃衣一別未重逢

香碎花殘夢尚濃

書在茶中人不見

風前猶有半聲鐘

Phiên âm Hán-Việt:

Hoàng y nhất biệt vị trùng phùng
Hương toái hoa tàn mộng thượng nùng
Thư tại trà trung nhân bất kiến
Phong tiền do hữu bán thanh chung

Dịch Nôm:

Áo vàng biệt một lần, chẳng gặp lại
Hương vỡ, hoa rơi, mộng hãy còn sâu
Sách nằm trong trà, người đâu không thấy
Trước gió vẫn còn tiếng chuông chưa tan.

*
Ngày nay, ở một góc vườn cổ trong một làng nhỏ phương Nam, có một cây ngâu
già. Cành rậm. Lá xanh đậm. Hoa nở thưa, nhưng mỗi khi gió tháng Bảy thổi qua, người ta đều dừng lại, ngẩn ngơ.

Không vì hoa rơi.
Mà vì hương thoảng vào lòng như một dòng thơ chưa viết hết.


Cũng có một thư sinh sống cô tịch, mỗi năm đúng ngày mưa ngâu đầu mùa, lại
mặc áo vàng nhạt, ngồi dưới cây mà pha một chén trà ngâu.

Không nói.
Không đón khách.
Chỉ ngồi, và khẽ đặt tay lên mặt bàn, như chạm vào một bàn tay đã rụt về từ
kiếp trước.

Họ bảo: người xưa đã nhập vào hoa.
Hương là giọng nói của người ấy.
Mỗi khi ngâu nở, trà ngâu ướp… là người xưa đang lãng đãng trở về.

Quyên Di

In Giáo Dục, Văn Hóa, Quán Chiếu Tags Thoảng Chút Hương Ngâu
Comment
Older Posts →
Tag Cloud Block
This is an example. Double-click here and select a page to create a cloud of its tags or categories. Learn more
  • Cats
  • Inspired
  • Playlist
  • Pro Tip
  • Studio
  • Theories